BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ NƯƠNG
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ METHADONE VÀ MỘT
SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI
TRUNG TÂM PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS TỈNH NINH BÌNH
NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CƠNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI , 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ NƯƠNG
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ METHADONE VÀ MỘT
SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI
TRUNG TÂM PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS TỈNH NINH BÌNH
NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CƠNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. Đỗ Văn Dung
HÀ NỘI, 2018
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt q trình học tập và hồn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều
sự giúp đỡ của các đơn vị, các thầy cô giáo, các anh chị đồng nghiệp, bạn bè và người thân
trong gia đình.
Tơi xin bày tỏ lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS. TS Đỗ Văn Dung, Ths
Lê Bảo Châu, hai người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt cho tôi những
kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo Trường Đại học Y tế
công cộng đã trang bị kiến thức, tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập tại trường.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Giám đốc và cán bộ, công chức Văn phịng Sở Y tế - nơi
tơi đang cơng tác đã ủng hộ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tơi trong suốt q
trình học tập.
Tơi xin chân thành cảm ơn các cán bộ làm việc tại Phòng khám chuyên khoa và
điều trị nghiện chất, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Ninh Bình đã tạo thuận lợi và
giúp đỡ tơi trong quá trình thu thập số liệu tại thực địa, đặc biệt là tư vấn viên Trần Thị
Thúy Duy đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong việc thu thập số liệu tại cơ sở điều trị.
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, chia sẻ và đóng
góp nhiều ý kiến q báu để tơi hồn thành tốt luận văn này.
Tơi vơ cùng biết ơn những người thân trong gia đình đã ln ln giúp đỡ, động
viên để tơi có thể hồn thành tốt q trình học tập và nghiên cứu.
Một lần nữa tơi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2018
Học viên
Nguyễn Thị Nương
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ..............................................................................................................i
MỤC LỤC.................................................................................................................. ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................... iv
DANH MỤC BẢNG ................................................................................................... v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ............................................................................................vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU..................................................................................... viii
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................. 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ....................................................................................... 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU......................................................................... 4
1.1. Các khái niệm........................................................................................................................................ 4
1.2. Tuân thủ điều trị Methadone ................................................................................................................ 8
1.3. Thực trạng sử dụng CDTP và điều trị nghiện CDTP bằng Methadone.......................................... 9
1.4. Tổng quan nghiên cứu về tuân thủ điều trị Methadone ................................................................... 13
1.5. Phương pháp đánh giá tuân thủ điều trị Methadone trong một số nghiên cứu ............................. 22
1.6. Thông tin về địa bàn nghiên cứu........................................................................................................ 24
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................... 27
2.1. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................................................... 27
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu..................................................................................................... 27
2.3. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................................................ 28
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu.................................................................................................. 29
2.5. Phương pháp thu thập số liệu............................................................................................................. 30
2.6. Nhập liệu và phân tích số liệu ............................................................................................................ 31
2.7. Biến số nghiên cứu.............................................................................................................................. 31
2.8. Các tiêu chuẩn trong nghiên cứu ....................................................................................................... 32
2.9. Đạo đức nghiên cứu............................................................................................................................ 33
2.10. Sai số và biện pháp khắc phục sai số.............................................................................................. 34
iii
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..................................................................... 35
3.1. Thông tin chung về bệnh nhân điều trị Methadone tham gia nghiên cứu ..................................... 35
3.2. Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone của bệnh nhân tham gia nghiên cứu .............................. 37
3.3. Mô tả thực trạng các yếu tố liên quan ................................................................................................ 38
3.3.1. Yếu tố thuộc về cá nhân của bệnh nhân tham gia nghiên cứu ............................ 38
3.3.2. Mô tả thực trạng các yếu tố thuộc về gia đình, cộng đồng ................................ 46
3.3.3. Các yếu tố thuộc về cơ sở điều trị Methadone ................................................... 48
3.4. Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị .................................................................................... 53
Chương 4. BÀN LUẬN............................................................................................. 61
4.1. Thông tin chung về bệnh nhân tham gia nghiên cứu ...................................................................... 61
4.2. Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone ........................................................................................... 62
4.3. Thực trạng các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị...................................................................... 63
4.4. Một số yếu tố liên quan với tuân thủ điều trị .................................................................................... 70
4.5. Điểm mạnh của nghiên cứu............................................................................................................... 75
4.6. Hạn chế của nghiên cứu ..................................................................................................................... 75
4.7. Ý nghĩa/tính ứng dụng của nghiên cứu ............................................................................................ 76
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 77
1. Thực trạng tuân thủ điều trị................................................................................................................... 77
2. Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ........................................................................................... 77
KHUYẾN NGHỊ ....................................................................................................... 79
1. Đối với bệnh nhân ................................................................................................................................. 79
2. Đối với cơ sở điều trị ............................................................................................................................. 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 80
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AIDS: Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người
ATS: Ma túy tổng hợp
ARV: Thuốc kháng virus HIV
BKT Bơm kim tiêm
CBYT: Cán bộ y tế
CDTP: Chất dạng thuốc phiện
CGN Chất gây nghiện
COWS: Thang điểm đánh giá mức độ hội chứng cai
CSĐT: Cơ sở điều trị
CSYT: Cơ sở y tế
DALYs: Những năm sống khỏe mạnh bị mất
ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu
PKCK: Phòng khám chuyên khoa
PVS: Phỏng vấn sâu
NCMT: Nghiện chích ma túy
MMT: Chương trình điều trị thay thế nghiện CDTP bằng Methadone
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thơng
TPNB: Thành phố Ninh Bình
TTĐT: Tn thủ điều trị
TT PC AIDS: Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS
UNODC: Cơ quan Kiểm soát ma túy và tội phạm của Liên Hợp quốc
WHO: Tổ chức Y tế thế giới
VAS: Visual Analog Scale (Thang đo mức độ)
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Kết quả điều trị Methadone tại CSĐT tại TT PC HIV/AIDS ……………...28
Bảng 3. 1: Phân bố bệnh nhân theo đặc điểm nhân khẩu học ...................................... 35
Bảng 3. 2: Phân bố bệnh nhân theo nơi cư trú, người sống cùng và mức thu nhập ...... 36
Bảng 3. 3: Thực trạng bỏ liều điều trị trong 3 tháng qua ............................................. 37
Bảng 3. 4: Phân bố bệnh nhân theo tình trạng mắc một số bệnh.................................. 38
Bảng 3. 5: Phân bố bệnh nhân theo thời gian tham gia chương trình, liều điều trị
Methadone và tác dụng phụ của bệnh nhân trong 3 tháng qua..................................... 39
Bảng 3. 6: Thực trạng sử dụng CDTP trước khi tham gia chương trình điều trị MMT 40
Bảng 3. 7: Tiền sử sử dụng chung BKT, quá liều và tiền án tiền sự ............................ 41
Bảng 3. 8: Tỷ lệ sử dụng các CDTP trong 3 tháng qua................................................ 41
Bảng 3. 9: Tỷ lệ và tấn suất sử dụng rượu bia, thuốc lá 03 tháng qua .......................... 42
Bảng 3. 10: Kiến thức của bệnh nhân về chương trình MMT ...................................... 43
Bảng 3. 11: Thực trạng kiến thức của bệnh nhân về tuân thủ điều trị .......................... 45
Bảng 3. 12: Phân bố bệnh nhân theo đối tượng và đặc điểm hỗ trợ ............................. 47
Bảng 3. 13: Khoảng cách và phương tiện đi lại đến CSĐT ......................................... 48
Bảng 3. 14: Mức độ hài lịng về các quy trình chun mơn, quy định của bệnh nhân .. 49
Bảng 3. 15: Mức độ hài lòng về CBYT....................................................................... 51
Bảng 3. 16: Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học - xã hội và TTĐT ................ 54
Bảng 3. 17: Mối liên quan giữa mắc HIV, viêm gan B, C và TTĐT............................ 54
Bảng 3. 18: Mô tả mối liên quan giữa liều điều trị, hội chứng cai và TTĐT ................ 55
Bảng 3. 19: Mối liên quan giữa tiền sử sử dụng CDTP và TTĐT................................ 55
Bảng 3. 20: Mối liên quan giữa sử dụng heroin và rượu bia với TTĐT ....................... 56
vi
Bảng 3. 21: Mối liên quan với kiến thức về chương trình MMT, TTĐT Methadone .. 57
Bảng 3. 22: Mối liên quan giữa hỗ trợ kinh tế và TTĐT Methadone ........................... 57
Bảng 3. 23: Mối liên quan giữa bạn bè NCMT và TTĐT Methadone ......................... 58
Bảng 3. 24: Mối liên quan giữa khoảng cách tới CSĐT và TTĐT ............................... 59
Bảng 3. 25: Mối liên quan giữa hài lòng về dịch vụ điều trị và TTĐT ........................ 59
vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 3. 1: Tỷ lệ TTĐT Methadone của bệnh nhân trong 3 tháng qua .......................... 37
Biểu 3. 2: So sánh tỷ lệ TTĐT giữa các nhóm bệnh nhân điều trị theo thời gian ......... 38
Biểu 3. 3: Phân bố bệnh nhân theo kiến thức chung về chương trình .......................... 44
Biểu 3. 4: Phân bố bệnh nhân theo kiến thức về TTĐT ............................................... 45
Biểu 3. 5: Tỷ lệ đạt về kiến thức về chương trình MMT và TTĐT Methadone ........... 46
Biểu 3. 6: Tỷ lệ hài lòng chung về quy định của CSĐT .............................................. 50
Biểu 3. 7: Tỷ lệ hài lòng chung về CBYT tại TT PC HIV/AIDS ................................. 51
viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone đem lại nhiều lợi ích
đối với bệnh nhân nghiện, gia đình của họ và cộng đồng. Tuy nhiên, để tối đa hóa hiệu
quả điều trị thì việc tuân thủ điều trị là hết sức cần thiết. Phòng khám chuyên khoa và
điều trị nghiện chất tại Trung tâm phịng chống HIV/AIDS Ninh Bình đang quản lý
điều trị 215 bệnh nhân nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone. Trong năm
2017, tỷ lệ bệnh nhân tiếp tục sử dụng heroin trong vòng 6 tháng điều trị ở mức cao, tỷ
lệ bỏ liều điều trị tăng lên. Kể từ khi có sự thay đổi về dịch vụ từ miễn phí sang thu phí
chưa có nghiên cứu tìm hiểu vấn đề tn thủ điều trị Methadone tại cơ sở điều trị này.
Nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng tuân thủ điều trị Methadone và một số
yếu tố liên quan với tuân thủ điều trị của bệnh nhân tại Trung tâm Phòng, chống
HIV/AIDS tỉnh Ninh Bình. Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11/2017- 9/2018 bằng
phương pháp mơ tả cắt ngang có phân tích, sử dụng phương pháp định lượng kết hợp
định tính. Nghiên cứu đã hồi cứu bệnh án của 164 bệnh nhân đã duy trì điều trị từ 3
tháng trở lên và phỏng vấn bằng bộ câu hỏi bán cấu trúc, bên cạnh đó, cũng tiến hành
phỏng vấn sâu 06 bệnh nhân và 05 cán bộ y tế tại cơ sở điều trị.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ tuân thủ điều trị Methadone của bệnh nhân
tại cơ sở điều trị này là 64,6%, số ngày bỏ liều trung bình của những người khơng
TTĐT là 3,2 ngày/đối tượng. Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân
gồm: Thu nhập trung bình hàng tháng, tiền sử điều trị cai nghiện, sử dụng rượu bia
trong 3 tháng qua, tình trạng nhiễm HIV, liều điều trị duy trì, tiền sử sử dụng chung
bơm kim tiêm, sự hỗ trợ kinh tế đối với bệnh nhân, sự kì thị, phân biệt đối xử của gia
đình và thái độ, trách nhiệm của cán bộ y tế.
Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị: Cơ sở điều trị cần tăng cường cung cấp thông
tin về tác hại, hậu quả của sử dụng rượu bia trong quá trình điều trị Methadone cho
bệnh nhân đa ng điều trị tại cơ sở.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tệ nạn ma tuý là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm
suy thối nịi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia [16]. Nghiện ma
túy nói chung và nghiện chất dạng thuốc phiện nói riêng gây ra những tác hại
nghiêm trọng đối với sức khỏe. Hầu hết người nghiện bị suy sụp sức khoẻ, giảm trí
nhớ, rối nhiễu tâm thần, mất hoặc giảm khả năng lao động và nguy hiểm nhất là
mắc các bệnh truyền nhiễm đặc biệt là HIV/AIDS [17].
Trên thế giới, ước tính có 275 triệu người tương đương với 5,6% dân số
trưởng thành (từ 15-64 tuổi) sử dụng ma túy vào năm 2016 [55]. Tính đến 2015, có
35,1 triệu người sử dụng chất dạng thuốc phiện [54]. Tại Việt Nam, tính đến năm
2014, có trên 204.000 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, trong đó 72% sử dụng
heroin [19]. Ninh Bình là một tỉnh có tình hình ma túy diễn biến phức tạp, số lượng
người sử dụng ma túy tiếp tục tăng và khó kiểm sốt, loại ma túy sử dụng ngày càng
đa dạng. Tính đến năm 2017, tồn tỉnh có 2.408 người nghiện có hồ sơ quản lý [6].
Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone là
phương pháp đem lại nhiều lợi ích về sức khỏe, kinh tế và an ninh trật tự xã hội;
giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, C, đồng
thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hoà nhập
cộng đồng [26]. Để tối đa hóa hiệu quả can thiệp trong điều trị nghiện chất dạng
thuốc phiện bằng Methadone thì việc TTĐT lâu dài đối với bệnh nhân mang tính
chất bắt buộc [35]. Việc khơng tn thủ điều trị có thể làm tăng nguy cơ bị các hội
chứng cai nghiện, tái nghiện và sử dụng ma túy quá liều do mất khả năng chịu đựng
[56]. Tại Việt Nam, chương trình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng
Methadone đã được triển khai từ 2008, đến nay đã mở rộng tại 63/63 tỉnh thành phố
với 294 cơ sở điều trị, 185 cơ sở cấp phát thuốc và điều trị cho 51.979 bệnh nhân
(số liệu tính đến tháng 6/2017).
2
Ninh Bình nằm trong số 20 tỉnh đầu tiên trong cả nước triển khai chương
trình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone vào năm 2012. Cơ sở
điều trị Methadone thuộc Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS là cơ sở đầu tiên
được thành lập tại tỉnh vào tháng 9/2012 - hiện nay là phòng khám chuyên khoa
HIV/AIDS và điều trị nghiện chất, điều trị cho bệnh nhân tại Thành phố Ninh Bình
và các huyện lân cận. Hiện nay, cơ sở điều trị này đang quản lý 215 bệnh nhân.
Theo số liệu báo cáo chương trình năm 2017, tỷ lệ bệnh nhân tiếp tục sử dụng
Heroin trong vòng 6 tháng điều trị ở mức trên 30%, cao hơn so với kết quả nghiên
cứu tại Hải Phịng và Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ bỏ liều điều trị trong các tháng
gần đây tăng lên, dao động ở mức 31-39% bệnh nhân và tỷ lệ bệnh nhân bỏ liều
không rõ lý do tiếp tục tăng lên [3]. Bên cạnh đó, kể từ khi triển khai chương trình
điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone đến nay đã có sự thay đổi về
chính sách chi trả dịch vụ từ miễn phí hồn tồn sang đồng chi trả. Tuy nhiên, tại
Ninh Bình chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu vấn đề này.
Xuất phát từ thực tiễn tại địa phương, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực
trạng tuân thủ điều trị Methadone và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân điều trị
tại Trung tâm phịng chống HIV/AIDS tỉnh Ninh Bình năm 2018” nhằm tìm hiểu
thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị
Methadone, từ đó, đề xuất những giải pháp khả thi để cải thiện/nâng cao tình trạng
tuân thủ điều trị ở bệnh nhân tại Trung tâm Phịng, chống HIV/AIDS tỉnh Ninh
Bình cũng như các cơ sở điều trị khác trên địa bàn tỉnh.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị Methadone của bệnh nhân đang điều trị
tại Phòng khám chuyên khoa và điều trị nghiện chất, Trung tâm Phịng chống
HIV/AIDS tỉnh Ninh Bình năm 2018.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị Methadone của
bệnh nhân đang điều trị tại Phòng khám chuyên khoa và điều trị nghiện chất, Trung
tâm Phòng chống HIV/AIDS năm 2018.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Chất gây nghiện (CGN) là chất hóa học sau khi được hấp thu sẽ làm
thay đổi chức năng thực thể và tâm lý của người sử dụng [27].
1.1.2. Ma túy là CGN bất hợp pháp bao gồm: chất dạng thuốc phiện (thuốc
phiện, morphine, heroin, ...), cocain, ATS, cần sa, ...[27].
1.1.3. Chất dạng thuốc phiện
Chất dạng thuốc phiện (CDTP) (opiate, opioid) là tên gọi chung cho nhiều
chất như thuốc phiện, morphine, heroin, methadone, buprenophine, codein,
pethidine, fentanyle, … có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm
tiếp nhận tương tự ở não [27].
CDTP như thuốc phiện, morphin, heroin là những CGN mạnh (gây khoái cảm
mạnh); thời gian tác dụng nhanh nên người bệnh nhanh chóng xuất hiện triệu chứng
nhiễm độc hệ thần kinh trung ương; thời gian bán hủy ngắn do đó phải sử dụng
nhiều lần trong ngày và nếu khơng sử dụng lại sẽ bị hội chứng cai. Vì vậy, người
nghiện CDTP (đặc biệt heroin) luôn dao động giữa tình trạng nhiễm độc hệ thần
kinh trung ương và tình trạng thiếu thuốc (hội chứng cai) nhiều lần trong ngày, là
nguồn gốc dẫn họ đến những hành vi nguy hại cho bản thân và những người khác
[26].
Thuốc phiện là nước ép của cây thuốc phiện được cô lại [27].
Heroin là chế phẩm của morphine (bán tổng hợp), tồn tại dưới dạng bột trắng
hoặc hạt mầu trắng, mầu be hoặc hồng, sử dụng: tiêm tĩnh mạch, hút, hít [27].
1.1.4. Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như
các CDTP khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và
khơng gây khối cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là 24 giờ)
nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai.
Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài.
Methadone được hấp thu hồn tồn và nhanh chóng qua đường uống (Methadone
được hấp thu khoảng 90% qua đường uống). Tác dụng khoảng 30 phút sau khi uống
5
và đạt nồng độ tối đa trong máu sau khoảng 3-4 giờ. Thời gian đạt nồng độ ổn định
trong máu khoảng 3-5 ngày sau mỗi lần thay đổi liều điều trị [26].
Methadone được dùng để điều trị thay thế nghiện CDTP nhằm ngăn chặn
tình trạng “thèm nhớ” CDTP vốn là yếu tố chính dẫn tới tái sử dụng các chất này,
ngăn các tác dụng của CDTP khi nó được đưa vào cơ thể (khơng có cảm giác “phê”
nếu sử dụng CDTP), kiềm chế các triệu chứng cai CDTP trong khoảng 23-36 tiếng
và không gây “phê” khi sử dụng. Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc
methadone là một điều trị lâu dài, có kiểm sốt, giá thành rẻ, được sử dụng theo
đường uống, dưới dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu
như HIV, viêm gan B, C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã
hội, lao động và tái hoà nhập cộng đồng [26].
1.1.5. Nghiện CDTP
Người nghiện CDTP là người sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần CDTP với liều
lượng ngày càng tăng, dẫn đến trạng thái nhiễm độc chu kỳ, mạn tính, bị lệ thuộc về
thể chất và tâm thần vào chất đó. Các đặc điểm chẩn đốn nghiện CDTP: Có 3 trở
lên trong 6 nhóm triệu chứng lâm sàng sau trong vòng 1 năm trở lại đây: thèm
muốn mãnh liệt phải dùng CDTP, mất khả năng kiểm soát dùng CDTP, khi giảm
hay ngừng sử dụng CDTP xuất hiện hội chứng cai, có hiện tượng tăng dung nạp
CDTP, sao nhãng những nhiệm vụ và thích thú khác, ln tìm kỳ được CDTP [27].
1.1.6. Hội chứng cai
Hội chứng cai là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc giảm chất ma
tuý đang sử dụng ở những người nghiện ma tuý. Biểu hiện lâm sàng của hội chứng
cai khác nhau phụ thuộc vào loại ma tuý đang sử dụng [26]. Thang đánh giá mức độ
của hội chứng cai dựa trên quy định của Bộ Y tế dựa trên các biểu hiện lâm sàng
bao gồm: nhẹ, trung bình, trung bình nặng và nặng (Cụ thể tại Phụ lục 8).
1.1.7. Các quy định về điều trị nghiện CDTP bằng Methadone
1.1.7.1. Các giai đoạn trong quá trình điều trị
Mỗi bệnh nhân tham gia chương trình đều trải qua 03 giai đoạn của q trình
điều trị. Giai đoạn dị liều thường là 02 tuần đầu điều trị, giai đoạn điều chỉnh liều
6
từ tuần thứ 3 của quá trình điều trị và có thể kéo dài từ 1 đến 3 tháng và giai đoạn
điều trị duy trì là khi đạt được liều mà người bệnh được sử dụng liều có hiệu quả tối
ưu duy trì trong ít nhất 4 tuần liên tục và khơng tái sử dụng CDTP trong ít nhất 4
tuần liên tục thì được xác định là giai đoạn duy trì [26].
1.1.7.2. Quy định về khám lâm sàng và xét nghiệm
Khám lâm sàng nhằm xác định được tình trạng và mức độ lệ thuộc CDTP
của người bệnh, các bệnh lý kèm theo, các yếu tố tâm lý, xã hội ảnh hưởng đến quá
trình điều trị, các vấn đề cấp bách về sức khỏe và tâm lý, xã hội của người bệnh cần
phải giải quyết. Các nội dung thăm khám cụ thể như sau: Đánh giá sức khỏe toàn
trạng: Thăm khám toàn diện, đặc biệt các bệnh lý: viêm gan, suy gan, lao và bệnh
phổi, HIV/AIDS, bệnh tim mạch, tình trạng dinh dưỡng và tình trạng thai nghén.
Đánh giá sức khỏe tâm thần: Hoang tưởng, ảo giác, kích động, trầm cảm, ý tưởng
và hành vi tự sát, tự huỷ hoại cơ thể, các rối loạn ý thức, đặc biệt là tình trạng lú lẫn.
Đánh giá những dấu hiệu liên quan đến sử dụng ma túy: Các vết tiêm chích, viêm
da, áp xe, tắc mạch, viêm nội tâm mạc bán cấp, dấu hiệu suy tim, loạn nhịp tim.; các
biểu hiện nhiễm độc hệ thần kinh trung ương: ngủ gà, đi loạng choạng, nói ngọng,
tái xanh, nơn, vã mồ hơi; các dấu hiệu của nhiễm độc hoặc hội chứng cai liên quan
đến sử dụng các CDTP. Các rối loạn cơ thể liên quan đến sử dụng rượu và các CGN
khác. Đối với xét nghiệm, ngồi các xét nghiệm thường quy như cơng thức máu, xét
nghiệm men gan: ALT (SGPT), AST (SGOT); xét nghiệm nước tiểu tìm CDTP
bằng test nhanh; bệnh nhân cần thực hiện các xét nghiệm cần thiết khác: xét nghiệm
phát hiện nhiễm HIV (khi người bệnh tự nguyện), xét nghiệm chẩn đốn nhiễm
viêm gan B, C (nếu có điều kiện) và một số xét nghiệm chuyên khoa khi có chỉ
định: chẩn đốn lao, các bệnh tim mạch, chẩn đốn có thai [26].
1.1.7.3. Quy định về tư vấn điều trị
Người nghiện CDTP khi tham gia chương trình điều trị Methadone cần phải
trải qua quá trình tư vấn, mỗi giai đoạn điều trị có mục tiêu tư vấn khác nhau.
Ở giai đoạn chuẩn bị trước điều trị, bệnh nhân được tham gia tư vấn, giáo
dục nhóm nhằm đánh giá tiền sử sử dụng ma túy, các vấn đề liên quan đến pháp
luật, tài chính và các vấn đề tâm lý xã hội khác, tìm hiểu động cơ tham gia điều trị,
7
mức độ cam kết và sẵn sàng tham gia điều trị, mục đích và mong đợi khi tham gia
điều trị, cung cấp kiến thức cơ bản về điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc
methadone: tác dụng của điều trị bằng methadone, quy trình điều trị, tác dụng
khơng mong muốn, ưu và nhược điểm; các quy định khác có liên quan, cung cấp
các thông điệp, tư vấn về giảm nguy cơ; cung cấp các phương tiện giảm nguy cơ
như tài liệu, bơm kim tiêm (BKT), bao cao su; chuẩn bị cho điều trị, giới thiệu
chuyển gửi các dịch vụ dự phòng, chăm sóc điều trị HIV/AIDS và dịch vụ xã hội
khác. Tần suất tư vấn là 01 lần tư vấn cá nhân và 01 lần giáo dục nhóm.
Trong q trình điều trị, bệnh nhân chủ yếu được tư vấn cá nhân nhằm cung
cấp thông tin về các tác dụng của methadone, tác dụng khơng mong muốn và cách
xử trí thơng thường, các biểu hiện thiếu thuốc, quá liều, nguy cơ sử dụng đồng thời
các chất ma túy khác, một số tương tác thuốc đặc biệt là thuốc kháng vi rút HIV
(ARV); tư vấn về tuân thủ điều trị (TTĐT), dự phòng tái nghiện và các biện pháp
giảm tác hại khác như sử dụng bao cao su, BKT sạch. Đồng thời, được hướng dẫn
những kỹ năng cần thiết để xây dựng lối sống lành mạnh và tham gia vào các hoạt
động xã hội, tránh xa các mối quan hệ có nguy cơ cao dễ dẫn đến sử dụng ma túy:
quản lý thời gian, tránh căng thẳng, kiềm chế sự nóng giận, giải quyết các vấn đề
khó khăn về tâm lý cá nhân và đề ra mục tiêu phấn đấu…; tư vấn về những vấn đề
liên quan đến: y tế, tâm lý-xã hội, việc làm. Tần suất tư vấn như sau: Tuần đầu tiên
điều trị: tư vấn cá nhân về TTĐT 2 lần. Tuần thứ 2 đến tuần thứ 4: mỗi tuần 1 lần.
Từ tháng thứ hai đến tháng thứ 6: 1 tháng 1 lần. Từ tháng thứ 7 trở đi: tùy thuộc
tình hình thực tế của bệnh nhân để tiến hành tư vấn nhưng ít nhất là 3 tháng 1 lần.
Khi giảm liều và tiến tới kết thúc điều trị, bệnh nhân được đánh giá mức độ
phục hồi chức năng tâm lý, xã hội và điều kiện để giảm liều, hỗ trợ trong lập kế
hoạch và thực hiện việc giảm liều tiến tới ngừng điều trị, giúp đỡ phát hiện sớm các
biểu hiện thiếu thuốc, nguy cơ tái sử dụng các chất ma túy khác và dự phòng tái
nghiện, hỗ trợ về mặt y tế, tâm lý và xã hội và hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để
quay lại điều trị ổn định bằng methadone với những trường hợp gặp khó khăn trong
việc giảm liều và kết thúc điều trị. Sau khi kết thúc điều trị, bệnh nhân vẫn có thể
được tiếp tục tư vấn và hỗ trợ ít nhất 06 tháng sau đó; có thể quay lại tham gia điều
8
trị trong vòng 2 năm kể từ khi kết thúc điều trị nếu họ thèm nhớ mãnh liệt hoặc có
nguy cơ tái nghiện; có thể quay lại điều trị bất cứ thời điểm nào nếu họ tái nghiện
[26].
1.2. Tuân thủ điều trị Methadone
1.2.1. Khái niệm tuân thủ điều trị
Một số tài liệu của Bộ Y tế có đưa ra định nghĩa về TTĐT, tuy nhiên, tùy vào
mục đích của tài liệu mà khái niệm được nêu ra rộng hẹp khác nhau. Trong Quyết
định 3140/QĐ-BYT có nêu: TTĐT là người bệnh phải uống thuốc Methadone hàng
ngày dưới sự giám sát của CBYT để đảm bảo điều trị hiệu quả và an toàn [26]. Tài
liệu tập huấn tư vấn viên điều trị Methadone lại nêu ra khái niệm TTĐT rộng hơn,
bao gồm cả việc tuân thủ các quy định về chuyên môn khác: TTĐT là việc hàng
ngày đến phòng khám và điều trị Methadone để được uống thuốc đúng liều, đúng
giờ mỗi ngày trong suốt quá trình điều trị bằng MMT. Đến đúng lịch hẹn để bác sĩ
khám, tư vấn, xét nghiệm và một số lịch hẹn khác [30] [26]. Trong nghiên cứu này,
TTĐT được hiểu là uống thuốc hàng ngày (tức là không bỏ uống thuốc ngày nào)
với liều lượng theo đúng chỉ định của bác sỹ điều trị.
1.2.2. Tầm quan trọng của tuân thủ điều trị Methadone
TTĐT Methadone nhằm đảm bảo nồng độ huyết tương được duy trì và tránh
hội chứng cai, khóa tác dụng của heroin. TTĐT Methadone là yếu tố đóng vai trị
vơ cùng quan trọng giúp người bệnh ngừng sử dụng CDTP và góp phần chủ yếu
vào sự thành cơng của chương trình điều trị. Nếu khơng uống thuốc Methadone
hàng ngày sẽ làm nồng độ Methadone trong huyết tương khơng được duy trì, tác
động dung nạp chéo với heroin giảm, làm giảm tác dụng của điều trị duy trì trong
giảm tác động “phê” của đồng sử dụng heroin, đồng nghĩa với việc xuất hiện hội
chứng cai, thèm nhớ heroin, tăng nguy cơ tái sử dụng heroin và tái nghiện [28].
1.2.3. Hỗ trợ tuân thủ điều trị
TTĐT đối với bệnh nhân điều trị Methadone là việc khó khăn do bệnh nhân
phải đến cơ sở điều trị (CSĐT) để uống thuốc hàng ngày. Do vậy, việc hỗ trợ TTĐT
đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên liên quan.
9
Cán bộ y tế (CBYT) bao gồm: bác sĩ, dược sĩ, y tá, tư vấn viên, nhân viên hỗ
trợ điều trị đóng vai trị quan trọng trong hỗ trợ TTĐT. CBYT tư vấn cho người
bệnh và gia đình, hướng dẫn người bệnh và gia đình biết cách xử trí tác dụng không
mong muốn và các diễn biến bất thường trong quá trình điều trị; phối hợp với gia
đình, cộng đồng và các tổ chức xã hội động viên, giúp đỡ người bệnh TTĐT [22] .
1.2.4. Xử trí uống lại Methadone khi bỏ trị
Theo quy định, mỗi ngày bệnh nhân phải đến cơ sở điều trị (CSĐT) để uống
thuốc 01 lần, nếu bệnh nhân bỏ uống thuốc thì xử trí như sau:
- Bỏ uống thuốc 01 đến 03 ngày: Không thay đổi liều methadone đang điều trị.
- Bỏ uống thuốc 04 đến 05 ngày: Đánh giá lại sự dung nạp thuốc của người
bệnh. Cho 1/2 liều methadone bệnh nhân vẫn uống trước khi dừng điều trị đồng thời
khám lại và cho liều methadone thích hợp.
- Bỏ uống thuốc trên 5 ngày (từ ngày thứ 6 trở đi): Khởi liều lại từ đầu.
- Bỏ uống thuốc trên 30 ngày (phải rời khỏi chương trình): muốn điều trị lại
thì phải làm hồ sơ mới [26].
1.3. Thực trạng sử dụng CDTP và điều trị nghiện CDTP bằng
Methadone
1.3.1. Trên thế giới
1.3.1.1. Thực trạng sử dụng CDTP và hậu quả
Theo báo cáo của Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp
quốc (UNODC), trên tồn thế giới ước tính có 275 triệu người tương đương với
5,6% dân số trưởng thành (từ 15-64 tuổi) trên tồn cầu sử dụng ma túy bất hợp pháp
ít nhất một lần vào năm 2016 [55]. Theo thống kê năm 2015, có 35,1 triệu người sử
dụng CDTP (17,1 triệu người sử dụng thuốc phiện và heroin) [53]. Tại khu vực
châu Á, ma túy tiếp tục là điểm nóng so với tất cả các châu lục, trong đó, khu vực
Trung Đơng và Tây Nam Á có số lượng người sử dụng nhiều nhất; số người sử
dụng CDTP tại khu vực là 12,9 triệu người, chiếm 36,5% của toàn cầu. Trong
những năm gần đây, số lượng CDTP tiêu thụ đang có xu hướng tăng, đặc biệt ở các
10
quốc gia láng giềng với Afganistan, trong đó phải kể đến Pakistan, Iran và các nước
Trung Á [54].
Lệ thuộc hay nghiện CDTP là một trong những nguyên nhân chính gây ra
bệnh tật và tử vong sớm. Hàng năm, có khoảng 1-3% người nghiện heroin tử vong
do không được điều trị, trong đó trên 50% tử vong do sử dụng heroin quá liều. Tỷ lệ
này cao hơn gấp 13 lần so với những người khơng sử dụng heroin có cùng độ tuổi
và giới tính [53]. Theo báo cáo của UNODC, khoảng 12 triệu năm sống khỏe mạnh
bị mất đi tương đương với 70% gánh nặng bệnh tật toàn cầu do các rối loạn liên
quan đến sử dụng ma túy là từ các CDTP [54]. Bên cạnh đó, thách thức lớn nhất
đối với người NCMT hiện nay là nhiễm HIV. Ước tính có 11,8 triệu người NCMT
trên tồn thế giới chiếm 0,25% dân số từ 15-64 tuổi. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm
này là 13,1% tương đương cứ 8 người có 1 người nhiễm HIV. Theo tính tốn, hiện
có khoảng 1,55 triệu người NCMT đang sống chung với HIV [52].
1.3.1.2. Tình hình điều trị CDTP bằng Methadone
Điều trị thay thế CDTP bằng Methadone là một phương pháp điều trị nghiện
CDTP đã được triển khai khá rộng rãi trên toàn thế giới. Kể từ thành công trong
việc sử dụng Methadone để điều trị lệ thuộc heroin và dùng chung BKT của hai
nhà khoa học người Mỹ là Dole và Nyswander vào năm 1965, chương trình đã được
nhiều quốc gia áp dụng như: Mỹ, Úc, Hà Lan, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc,
...[38]. Hiện nay, có hơn 82 quốc gia trên thế giới đang áp dụng phương pháp điều
trị thay thế CDTP bằng Methadone [33]. Đã có ít nhất 580.000 bệnh nhân ở châu
Âu và 200.000 bệnh nhân tại châu Á được tham gia điều trị bằng phương pháp này
[29] .
Mỹ là nước đầu tiên áp dụng rộng rãi chương trình methadone. Kết quả đầu
tiên mà Mỹ đạt được là giảm được đáng kể tỷ lệ tội phạm liên quan đến mua bán,
tàng trữ CDTP, ổn định trật tự xã hội. Sau năm 1980, tỷ lệ lây nhiễm HIV, viêm
gan B, C trong nhóm nghiện heroin giảm hẳn. Hiện nay tại Mỹ có 750 Trung tâm
Methadone điều trị cho trên 210.000 người nghiện heroin vào năm 2012 [36].
11
Ở Australia, điều trị nghiện heroin bằng methadone triển khai từ năm 1993,
đến năm 2009 có 70% bệnh nhân nghiện CDTP được điều trị bằng Methadone [25].
Tại khu vực châu Á, rất nhiều quốc gia đã triển khai chương trình. Tuy
nhiên, quy mơ triển khai và hiệu quả chương trình ở các nước khá khác nhau. Hồng
Kông, Trung Quốc, Indonesia là những quốc gia triển khai từ khá sớm, chương
trình ngày càng mở rộng và đạt được nhiều lợi ích. Hồng Kơng triển khai chương
trình năm 1972 trong nỗ lực đối phó với tình trạng tội phạm có xu hướng gia tăng.
Đến năm 2012, có 20 phịng khám đưa vào hoạt động với hơn 9.000 người được
điều trị. Việc mở rộng chương trình đã có những ảnh hưởng đáng kể giúp giảm mức
độ hành vi phạm tội trên quốc đảo này và từ đó ngăn ngừa đại dịch HIV/AIDS [15].
Trung Quốc khởi động chương trình năm 2004, đến năm 2008 đã có 500 phịng
khám với 80.000 người được điều trị. Indonesia bắt đầu chương trình năm 2003 và
có khoảng 1.300 người được điều trị vào năm 2012. Một số quốc gia cũng đã triển
khai chương trình nhưng khơng đạt hiệu quả. Thái Lan đưa chương trình điều trị
nghiện CDTP bằng thuốc Methadone năm 1979. Tính đến 2012, có khoảng 4.000 10.000 người đang được điều trị. Thái Lan là một nước khơng quan tâm mở rộng
chương trình, do đó, tỷ lệ nhiễm HIV tiếp tục tăng trong nhóm nghiện chích ma túy
(NCMT) [29]. Myanmar đã triển khai thí điểm chương trình điều trị Methadone tại
6 điểm trên tồn quốc với 400 người tham gia. Sự cam kết của quốc gia này chưa
thực sự mạnh mẽ mặc dù 80% trong số 195.000 người NCMT nước này dương tính
với HIV [29].
1.3.2. Tại Việt Nam
1.3.2.1. Thực trạng sử dụng CDTP và hậu quả
Do đặc điểm nước ta rất gần vùng "Tam giác vàng" nên chịu tác động trực
tiếp của tình hình tệ nạn ma tuý từ khu vực này. Tại tam giác này, khơng chỉ tồn tại
nhiều diện tích trồng cây có chất ma túy như thuốc phiện, cần sa, các cơ sở sản xuất
điều chế bất hợp pháp các loại ma túy, mà còn là nơi vận chuyển heroin, thuốc
phiện, cần sa và ma túy tổng hợp (ATS) đi các nước [24]. Trong năm 2016, cả nước
đã bắt hơn 31.000 đối tượng tội phạm ma túy, thu giữ hơn 600kg heroin, 92 kg
12
thuốc phiện. Theo nhận định của Bộ Cơng an, tình hình sử dụng ma túy có chiều
hướng giảm nhưng vẫn đang diễn biến phức tạp. Tính đến năm 2017, tổng số người
nghiện ma túy có hồ sơ quản lý trên toàn quốc là 222.582 người,tăng 11.386 người
so với cuối năm 2016. Trong tổng số người có hồ sơ quản lý, 96% là nam giới, độ
tuổi từ 16-30 chiếm 49% và từ 30 tuổi trở lên chiếm 50,9%. Số người nghiện ma
túy tổng hợp và các chất hướng thần tiếp tục gia tăng [32]. Người nghiện ma túy
xuất hiện ở 100% các tỉnh, thành phố, gần 90% quận, huyện và khoảng 70% số xã,
phường, thị trấn trong cả nước. Cả nước có 10 tỉnh, thành phố trọng điểm về tệ nạn
ma túy, trong đó có 3 tỉnh, thành phố có số người nghiện cao nhất là thành phố Hồ
Chí Minh, Hà Nội và tỉnh Sơn La [19]. Về con đường sử dụng, theo ước tính
khoảng 85% người sử dụng theo đường tiêm chích. Số lượng người tiêm chích là nữ
chiếm khoảng 5% tổng số [9].
Nhiễm HIV là vấn đề nổi cộm nhất trong các vấn đề sức khỏe của nhóm
NCMT tại Việt Nam. Hiện nay, NCMT vẫn là 1 trong 2 nhóm đối tượng chính có tỷ
lệ lây nhiễm HIV cao tại nước ta. Theo kết quả giám sát trọng điểm năm 2016, tỷ lệ
nhiễm trong nhóm này là 9,3% (cao nhất trong các nhóm giám sát trọng điểm) [10].
Bên cạnh đó, người NCMT cũng gặp một số vấn đề sức khỏe như: tử vong do sốc
quá liều khoảng 1.600 người/năm, khoảng 50% người nghiện đã có các vấn đề về
sức khỏe tâm thần và thể chất, 38% đã có tiền án hoặc tiền sự [28].
1.3.2.2. Tình hình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone
Việt Nam đã thực hiện thí điểm chương trình điều trị thay thế các chất dạng
thuốc phiện bằng thuốc Methadone từ năm 2008 tại Hải Phịng và TPHCM. Sau
một thời gian triển khai chương trình đã cho thấy những hiệu quả rõ rệt với chi phí
tiết kiệm so với cai nghiện bắt buộc như: Tại thời điểm 3 tháng và 6 tháng, việc sử
dụng heroin và các hành vi nguy cơ lây truyền HIV giảm rõ rệt. Việc sử dụng ma
tuý trong số những người nghiện ma túy đã giảm từ 100% khi bắt đầu điều trị xuống
27,5% ở tháng thứ 3 và tiếp tục giảm còn 15,9% sau 24 tháng; giảm nguy cơ lây
truyền các bệnh qua đường máu như HIV và viêm gan B, C; 4 trong tổng số 956
người bệnh điều trị methadone chuyển thành HIV dương tính sau 24 tháng điều trị
methadone; giảm tội phạm liên quan đến ma túy; tỷ lệ người bệnh tự báo cáo có các
13
hành vi vi phạm pháp luật đã giảm từ 40,8% xuống 1,34% sau 24 tháng điều trị;
mâu thuẫn với những thành viên trong gia đình và hàng xóm giảm từ 41% xuống
còn 1% sau 1 năm; tỷ lệ người bệnh có việc làm trước điều trị là 64,04% và sau 24
tháng điều trị là 75,9%; điểm chất lượng cuộc sống theo thang điểm của WHO có sự
cải thiện về mặt thể chất (81 so với 69); về mặt tinh thần (69 so với 56); và tình
trạng xã hội (56 so với 50). Chi phí điều trị Methadone ước tính từ 10,000-15,000
VNĐ/người bệnh/ngày nhưng người bệnh được hồn tồn miễn phí điều trị [8].
Với những kết quả đạt được, chương trình được chấp thuận để mở rộng ra
các tỉnh, thành khác trong cả nước. Trong những năm qua, chương trình đã phát
triển nhanh chóng từ 06 cơ sở năm 2009 đã tăng lên 127 cơ sở năm 2014 tương ứng
với số bệnh nhân được điều trị từ 1.735 người lên 23.160 người. Tính đến hết
30/6/2017, chương trình đã được triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố, với 294 cơ sở
điều trị, 185 cơ sở cấp phát thuốc và điều trị cho 51.979 bệnh nhân. Trong 6 tháng
đầu năm 2017, đã mở mới thêm 11 cơ sở điều trị và 36 cơ sở cấp phát thuốc
Methadone, điều trị thêm cho 1.747 bệnh nhân so với cuối năm 2016. Trong số 294
cơ sở điều trị Methadone có 25 cơ sở điều trị Methadone do ngành Lao độngThương binh và Xã hội quản lý tại 16 tỉnh thành phố [11].
1.4. Tổng quan nghiên cứu về tuân thủ điều trị Methadone
1.4.1. Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone
1.4.1.1. Trên thế giới
Có nhiều nghiên cứu về TTĐT Methadone trên thế giới đã được tiến hành.
Các nghiên cứu sử dụng định nghĩa về TTĐT khác nhau nhưng nhìn chung tỷ lệ
TTĐT tuyệt đối trong các nghiên cứu nước ngoài ở mức dưới 75%.
Năm 2008, Haskew và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu mơ hình TTĐT uống
Methadone trên 91 bệnh nhân điều trị tại cộng đồng ở Luân Đôn, Anh bằng phương
pháp phỏng vấn trực tiếp. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ TTĐT tối ưu là 58%,
tuân thủ một phần là 24% và tuân thủ kém là 18% [46].
Năm 2013, Zhou K và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu nhằm xác định thực
trạng TTĐT và các yếu tố ảnh hưởng trong số bệnh nhân đang điều trị tại 14 cơ sở
14
điều trị Methadone tại Tây An, Trung Quốc. Trong nghiên cứu này, số liệu được thu
thập từ Hệ thống thông tin quốc gia về AIDS. Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ TTĐT tốt
là: 11,8% [34].
Cũng tại Trung Quốc, Gu J và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu thuần tập trên
158 bệnh nhân tham gia chương trình điều trị lần đầu tại 03 trong số 09 CSĐT
Methadone tại Quảng Châu. Mục tiêu nghiên cứu nhằm tìm hiểu những quan niệm
sai lầm dẫn đến bỏ trị và TTĐT kém ở bệnh nhân tham gia chương trình điều trị
nghiện CDTP lần đầu. Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ khơng TTĐT trong vịng 6 tháng
kể từ khi tham gia chương trình điều trị là 62% (95% CI: 54.2-69.6%) [41].
Nghiên cứu của Jiang H và cộng sự nhằm mô tả thực trạng TTĐT và xác
định yếu tố liên quan ở bệnh nhân HIV đang điều trị duy trì Methadone tại Vân
Nam từ năm 2005 đến 2013. Cơ sở dữ liệu của 480 bệnh nhân được thu thập từ hệ
thống thông tin quốc gia quản lý điều trị Methadone. Kết quả chỉ ra: Tỷ lệ TTĐT
Methadone của bệnh nhân dương tính với HIV là 58,11% [37].
Tại Nepal, ViKas Sharma và cộng sự cũng tiến hành một điều tra cắt ngang
nhằm xác định tỷ lệ TTĐT và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ chương trình
điều trị duy trì bằng methadone trong số những người NCMT tại hai quận
Kathmandu và Lalitpur vào năm 2015. Trong nghiên cứu này, 165 bệnh nhân có độ
tuổi từ 20-54 đã được thu thập thông tin bằng phiếu phỏng vấn cấu trúc. Kết quả có
72,2% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) TTĐT tốt, 18,8% TTĐT trung bình và 9,1%
TTĐT kém [45].
Tại Pháp, Roux P và cộng sự đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Các dự đốn về
khơng tn thủ điều trị thay thế Methadone ở những người nghiện CDTP: những
gợi ý cho bác sỹ điều trị”, 145 bệnh nhân đã được chọn vào nghiên cứu để tìm hiểu
TTĐT ở thời điểm 3, 6, 12 tháng. Kết quả: Ở thời điểm 12 tháng điều trị, 35,2%
ĐTNC tuân thủ tốt, 55,9% không tuân thủ và 9% rất không tuân thủ.
1.4.1.2. Tại Việt Nam
Kể từ khi triển khai chương trình điều trị nghiện CDTP tại Việt Nam, nhiều
nghiên cứu đã tìm hiểu về thực trạng TTĐT/không TTĐT:
15
Một nghiên cứu tiến cứu được tiến hành từ tháng 1/2009-10/2009 để tìm hiểu
tác động của điều trị Methadone và vai trị của nó trong việc nâng cao hiệu quả điều
trị của tác giả Trần Vũ Hoàng và cộng sự trên 965 bệnh nhân tại 06 cơ sở điều trị tại
Hải Phịng và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: Tỷ lệ TTĐT theo thời gian là giảm
dần. Tỷ lệ bệnh nhân TTĐT tốt là 79,5% trong giai đoạn 0-3 tháng đầu, 75,3%
trong giai đoạn 4-6 tháng, 68,5% trong giai đoạn 7-9 tháng, 63,1% giai đoạn 10-12
tháng, 55,3% trong giai đoạn 13-18 tháng và 51,7% trong giai đoạn 19-24 tháng
[51].
Tại Thái Nguyên, năm 2015, Nguyễn Hoàng Long và Đào Thị Minh An đã
thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang tại 06 CSĐT của tỉnh để xác định tỷ lệ bỏ
điều trị, ra khỏi chương trình, lý do ra khỏi chương trình và tỷ lệ quay lại điều trị
trên 2.638 bệnh nhân. Kết quả, có 18,2% bệnh nhân bỏ điều trị trên 30 ngày trong
thời gian nghiên cứu [21].
Tại Hải Dương, một nghiên cứu mơ tả cắt ngang nhằm tìm hiểu kết quả điều
trị của bệnh nhân đang điều trị Methadone từ tháng 3/2015 đến tháng 6/2015 cho
thấy: Tỷ lệ TTĐT trong bệnh nhân có thời gian điều trị duy trì từ 3 tháng trở lên là
71,7% [1]. Năm 2017, một nghiên cứu khác được tiến hành tại cơ sở điều trị của TT
PC HIV/AIDS Hải Dương chỉ ra tỷ lệ TTĐT ở cơ sở này là 87% [31].
Tại Đà Nẵng, tác giả Nguyễn Dương Châu Giang tiến hành nghiên cứu nhằm
tìm hiểu kiến thức, thực hành về TTĐT Methadone và một số yếu tố liên quan tại 02
CSĐT trên địa bàn vào năm 2015, 274 bệnh nhân điều trị duy trì từ 3 tháng trở lên
được chọn vào nghiên cứu. Kết quả: Tỷ lệ TTĐT trong 3 tháng qua là 73,4% [59].
Tại Cần Thơ, với mục tiêu tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến bỏ trị ở
khách hàng điều trị Methadone tại Cần Thơ, Nguyễn Ái Hồng đã tiến hành hồi cứu
hồ sơ bệnh án của 309 bệnh nhân đã bỏ trị tại 02 cơ sở điều trị tại Thành phố Cần
Thơ gồm: Ninh Kiều, Ơ Mơn, kết hợp phỏng vấn định tính trên một số bệnh nhân
đã bỏ trị. Nghiên cứu được tiến hành từ năm 2010- 2014. Kết quả: Tỷ lệ TTĐT tốt
trước khi bỏ trị là 63,2% [39].
Năm 2016, Nguyễn Hoàng Long và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu cắt
ngang nhằm tìm hiểu thực trạng TTĐT Methadone của bệnh nhân điều trị tại 03 cơ