Tải bản đầy đủ (.pdf) (50 trang)

Nghiên cứu đặc điểm thực vật và thành phần hóa học của tinh dầu loài Vương tùng (Murraya glabra (Guillaumin) Swingle) thu hái ở Sơn La

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.08 MB, 50 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC


--------


ĐỖ MINH HIẾU


NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT VÀ THÀNH PHẦN


HĨA HỌC CỦA TINH DẦU LỒI VƯƠNG TÙNG


(MURRAYA GLABRA (GUILLAUMIN) SWINGLE)



THU HÁI Ở SƠN LA



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC


--------


Người thực hiện: Đỗ Minh Hiếu


NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT VÀ THÀNH PHẦN HÓA
HỌC CỦA TINH DẦU LOÀI VƯƠNG TÙNG (MURRAYA
GLABRA (GUILLAUMIN) SWINGLE) THU HÁI Ở SƠN LA


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
(NGÀNH DƯỢC HỌC)


Khóa



Người hướng dẫn


: QH2015.Y


: PGS. TS. Phạm Thanh Huyền
PGS. TS. Đinh Đoàn Long


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

LỜI CẢM ƠN


Để hồn thành khóa luận này, tôi đã may mắn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
quý báu cả về vật chất, tinh thần của thầy cô, bạn bè. Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ sự
kính trọng và lịng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Đinh Đồn Long - Phó Chủ nhiệm
Khoa Y dược (Đại học Quốc gia Hà Nội), PGS.TS. Phạm Thanh Huyền - Trưởng
Khoa Tài nguyên dược liệu (Viện Dược liệu), những người thầy cô đã trực tiếp hướng
dẫn tơi, chỉ dạy tận tình trong suốt q trình thực hiện nghiên cứu và hồn thành khóa
luận.


Tơi xin chân thành cảm ơn ThS. Phạm Thị Ngọc, ThS. Nguyễn Quỳnh Nga và
các cán bộ Khoa Tài nguyên dược liệu (Viện Dược liệu) đã giúp đỡ, hỗ trợ tơi trong
q trình làm khóa luận. Trong q trình học tập và làm việc tại đây, tôi đã học tập
và tích lũy được nhiều kiến thức, kinh nghiệm và được truyền cảm hứng về tình yêu,
niềm say mê và nhiệt huyết với công tác nghiên cứu về cây thuốc.Tôi xin chân thành
cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Y Dược học cơ sở đặc biệt là ThS. Phạm Thị Hồng
Nhung đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tơi thực hiện nghiên
cứu và hồn thành khóa luận tốt nghiệp này.


Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lịng biết ơn và sự u thương đến gia đình,
người thân và bạn bè, những người đã luôn ở bên cổ vũ, động viên và tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài khóa luận này.



Hà Nội, ngày 09 tháng 06 năm 2020
Tác giả


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT


Chữ viết tắt
GC-MS


Viết đầy đủ


Gaschromatography – mass spectrometry (sắc ký khí kết
hợp khối phổ)


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

DANH MỤC CÁC BẢNG


STT Tên bảng Trang


1 Bảng 2.1: Chương trình nhiệt độ 20


2 Bảng 3.1: Kết quả phân tích tinh dầu
Vương tùng


30-31


DANH MỤC CÁC HÌNH


STT Tên hình Trang


1 Hình 1.1: Cấu trúc một số thành phần



thường gặp trong tinh dầu chi Murraya 6
2 Hình 1.2: Tổng quát về Vương tùng 12
3 Hình 1.3: Một số hợp chất chính trong tinh


dầu Vương tùng


13
4 Hình 1.4: Phân bố Vương tùng ở Việt Nam 14
5 Hình 2.1: Bộ dụng cụ cất tinh dầu 19
6 Hình 3.1: Hình thái chung của Vương tùng


(Murraya glabra (Guillaumin) Swingle) 21
7 Hình 3.2. Lá kép Vương tùng (Mặt trên


(A), Mặt dưới (B))


22
8 Hình 3.3: Các dạng lá chét của Vương tùng


(Murraya glabra (Guillaumin) Swingle).
(Mặt trên (A), Mặt dưới (B))


22


9 Hình 3.4: Gân lá chét mặt trên (A); mặt


dưới (B) 22


10 Hình 3.5: Lỗ tiết tinh dầu trên bề mặt lá,


Mặt trên (A), Mặt dưới (B)


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

11 Hình 3.6: Lỗ tiết tinh dầu ở mép lá, Mặt


trên (A), Mặt dưới (B) 23


12 Hình 3.7: Cuống lá 23


13 Hình 3.8: Chùm hoa cấp 1 (A), cấp 3 (B),


bông hoa (C) 24


14 Hình 3.9: Giải phẫu hoa (Mặt dưới (A),
Mặt trên (B))


24
15 Hình 3.10: Nhị vịng trong (A), nhị vịng


ngồi (B)


24


16 Hình 3.11: Chùm quả non 25


17 Hình 3.12: Mặt cắt ngang quả non (A), Hạt
(B)


25
18 Hình 3.13: Vi phẫu lá Vương tùng 26



19 Hình 3.14: Phần gân lá 26


20 Hình 3.15: Phần phiến lá 27


21 Hình 3.16: Vi phẫu thân Vương tùng 28
22 Hình 3.17: Vi phẫu thân Vương tùng phóng


to


28
23 Hình 3.18: Vi phẫu rễ Vương tùng 29


24 Hình 3.19: Vi phẫu rễ phóng to 30


25 Hình 3.20: Kết quả sắc ký khí Vương tùng 30
26 Hình 3.21: Một số thành phần chủ yếu


trong tinh dầu Vương tùng Murraya glabra
(Guillaum.) Swingle


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

Mục lục


ĐẶT VẤN ĐỀ ... 1


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ... 2


1.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới ... 2


1.1.1.Chi Murraya ... 2



1.1.2.Cây Vương tùng - Murraya glabra (Guillaumin) Swingle ... 9


1.2.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam ... 10


1.2.1.Chi Murraya ... 10


1.2.2.Các nghiên cứu về loài Vương tùng - Murraya glabra (Guillaumin)
Swingle ... 11


1.3.Giới thiệu về phương pháp sắc ký khí khối phổ ... 14


1.3.1.Nguyên tắc ... 14


1.3.2.Ứng dụng trong kiểm nghiệm tinh dầu ... 14


CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ... 16


2.1.Vật liệu nghiên cứu ... 16


2.1.1.Đối tượng nghiên cứu ... 16


2.1.2.Hóa chất sử dụng ... 16


2.1.3.Thiết bị sử dụng ... 16


2.2.Nội dung nghiên cứu ... 16


2.3.Phương pháp nghiên cứu ... 17


2.3.1.Phương pháp khảo cứu, kế thừa tài liệu ... 17



2.3.2.Phương pháp hình thái so sánh ... 17


2.3.3.Phương pháp nghiên cứu giải phẫu ... 17


2.3.4.Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học ... 18


CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ... 21


3.1.Xác định tên khoa học của loài Vương tùng thu hái ở Sơn La ... 21


3.2.Đặc điểm hình thái ... 21


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

3.3.1.Lá ... 26


3.3.2.Thân ... 28


3.3.3.Rễ ... 29


3.4.Thành phần hóa học trong tinh dầu ... 30


CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ... 33


4.1.Kết luận ... 33


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

1


ĐẶT VẤN ĐỀ


Việt Nam là nước có khí hậu nóng ẩm mưa nhiều. Đây là điều kiện thuận


lợi cho các loài thực vật sinh trưởng và phát triển, tạo nên một thảm thực vật
vô cùng phong phú và đa dạng với rất nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực. Đặc
biệt trong số đó là họ Cam với gần 30 chi, 140 loài trải rộng khắp Việt Nam.
Các cây trong họ này khơng chỉ mọc hoang mà cịn có thể được trồng để lấy
quả như: Cam, bưởi, quýt, chanh, … hay làm cảnh như Cam canh, quất, …
hoặc làm gia vị như hồng bì, sẻn, chanh, …. Đặc biệt hơn có một số lồi thường
được dùng làm thuốc như ba chạc, bưởi, chanh, hoàng bá, kim sương, phật thủ,
cửu lý hương, ….


Trong số các chi thuộc họ Cam, có một chi được biết đến với với khả năng
chiết suất tinh dầu rất cao từ lá. Đặc biệt nhất là cây Murraya Glabra, hay còn
được gọi là Vương tùng. Từ năm 1965, cụ Đào Đình Khuê đã sử dụng tinh dầu
của Vương tùng để chữa cảm mạo, sốt rét, đau nhức. Khơng chỉ thế, tinh dầu
Vương tùng cịn có trong công thức cao xoa Lam Sơn (Công ty dược phẩm
Thanh Hóa) và dầu xoa Thăng Long xuất khẩu (Viện Dươc liệu và Xí nghiệp
dược phẩm trung ương 2 kết hợp sản xuất).


Cho đến nay, loài này mới chỉ được ghi nhận là phân bố ở Việt Nam. Tuy
có nhiều ứng dụng như vậy nhưng Vương tùng vẫn chưa được nghiên cứu một
cách cụ thể. Vì vậy chúng tôi thực hiên đề tài “Nghiên cứu đặc điểm thực vật
và thành phần hóa học của tinh dầu loài Vương tùng (Murraya glabra
(Guillaumin) Swingle) thu hái ở Sơn La” nhằm mục đích:


1. Xác định đặc điểm hình thái và đặc điểm vi phẫu của Vương tùng
(Murraya glabra (Guillaumin) Swingle.


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

2


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới



1.1.1. Chi Murraya
1.1.1.1. Vị trí phân loại


Qua nghiên cứu các tài liệu [2, 41, 47, 58] về chi Murraya, các tác giả đều
thống nhất xác định vị trí phân loại của chi Murraya theo hệ thống phân loại
của A. Takhtajan (1997) [46] như sau:


Giới Thực Vật (Plantae)


Ngành Thực Vật Hạt Kín (Magnoliophyta)
Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida)


Phân Lớp Hoa Hồng (Rosidae)
Bộ Cam (Rutales)


Họ Cam (Rutaceae)
Chi Murraya
1.1.1.2. Đặc điểm thực vật


Theo 2 tác giả Dianxiang Zhang và Thomas G. Hartley trình bày trong
Thực vật chí Trung Quốc [53] là tài liệu đầy đủ nhất về chi Murraya hiện nay,
chi Murraya được mô tả đầu tiên bởi J. Koenig ex Linnaeus vào năm 1771, có
đặc điểm chung như sau:


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

3


bên phẳng, không cuộn vào cũng không gập lại, thân cây mầm phân ra ở giữa
gắn các lá mầm.



Ngoài ra chi Murraya cịn được Guillaumin mơ tả trong Thực vật chí Đơng
Dương năm 1912 với 3 lồi là M. alata, M. koenigii và M. exotica [55].


1.1.1.3. Phân loại chi Murraya


Theo Dianxiang Zhang và Thomas G. Hartley trình bày trong Thực vật chí
Trung Quốc [53], khóa phân loại chi Murraya được thể hiện như sau:


1a. Cánh hoa 1-2 cm, hạt có lơng nhỏ


2a. Cuống lá chét cấp 1 có cánh……….……..1. M. alata
2b. Cuống lá chét cấp 1 khơng có cánh


3a. Phiến lá chét hình từ gần trịn đến hình ovan đến hình elip rộng
1,5 đến 6 cm ………2. M. paniculata


3b. Phiến lá chét hình trứng, ngọn phiến lá rộng hơn phần gốc
phiến lá, rộng từ 0,5 đến 3 cm ………3. M.
exotica


1b. Cánh hoa không dài quá 0,8 cm, hạt khơng có lơng
4a. Tràng hoa 4 (hoặc 5) – nhiều, bộ nhị 8 hoặc 10


5a. Phiến lá chét hình mũi mác, rộng 0,8-2 cm, gân phụ không rõ
………4. M. tetramera


5b. Phiến lá chét hình ovan đến elip hoặc hiếm khi là hình mũi mác
hoặc hình trứng ngược; rộng từ 2-4 cm, gân phụ ở mặt trên hơi nhô ra


………5. M. euchrestifolia


4b. Tràng hoa 5 - nhiều, bộ nhị 10.


6a. Lá kép 11-31 lá chét


7a. Phiến lá chét rộng 3-6 mm, đỉnh lá tròn 6. M.microphylla
7b. Phiến lá chét rộng 5-20mm, đỉnh lá có một mũi nhọn ngắn
nhô ra ………7. M. koenigii


6b. Lá kép 3-11 lá chét


</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

4


9a. Phiến lá chét 5-6 x 2-3 cm. 8. M.crenulata
9b. Phiến lá chét 7-18 x 4-10 cm 9. M. kwangsiensis
Tuy nhiên, hiện nay người ta đang đề xuất một hệ thống phân loại mới
cho chi này đó là chia chi Murraya ra làm 2 phân chi là Murraya và Bergera
[26, 29, 49, 57]. Sự phân đôi này được chứng minh bằng sự khác biệt đáng chú
ý của các chất chuyển hóa thứ cấp với 3-prenylindoles ở Murraya và carbazole
ở Bergera. Đối với các chấtchuyển hóa khác của chi Murraya, coumarin được
tìm thấy trong cả 2 phân chi, nhưng khác nhau rõ ràng về thành phần,
8-prenylcoumarin được tìm thấy trong tồn bộ phân chi Murraya trong khi fur
furmarin geranylated được biết đến từ một số loài của phân chi Bergera. Về
tính chất hóa học, phân chi Bergera gần với chi Clausena hơn phân chi
Murraya. Đây chính là yếu tố quyết định để phân biệt M. exotica và M.
panticulata.


1.1.1.4. Thành phần loài và phân bố


Trên thế giới có khoảng 12 lồi thuộc chi Murraya J. Koenig ex Linnaeus
phân bố ở phía Đơng, Nam và Đông Nam của châu Á, Australia, khu vực Tây


Nam Thái Bình Dương gồm : Murraya alata Drake, Murraya crenulata,
Murraya euchrestifolia Murraya koenigii (L.) Sprengel, Murraya
kwangsiensis, Murraya microphylla, Murraya ovatifoliolata (Engl.) Domin,
Murraya paniculata (L.), Murraya stenocarpa (Drake) Swingle, Murraya
tetramera [53].


1.1.1.5. Thành phần hóa học


Thành phần hóa học được nghiên cứu nhiều nhất trong chi Murraya là các
nhóm hợp chất sau: tinh dầu, alcaloid, flavonoid, coumarin.


Tinh dầu


</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

5


50% tinh dầu nhưng các hợp chất sesquiterpene cũng rất phong phú, đáng chú
ý là t-caryophyllene và y-elemene. Ngược lại, ba loài từ phân chi Murraya đã
cho các loại dầu chủ yếu hoặc hoàn toàn là Sesquiterpene. Hợp chất chính
(30%) từ M. alata được xác định là l-gurjunene trong khi 50% dầu của M.
exotica là caryophyllene. Tinh dầu từ M. paniculata chứa y-elemene là thành
phần chính (30%) với nerolidol và t-caryophyllene đều đóng góp hơn 10% [29].
Nghiên cứu này cho thấy thành phần dễ bay hơi trong lá của chi Murraya cung
cấp 1 đặc điểm hóa học khác để phân biệt 2 phân chi trong chi này.


</div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14>

6


Hình 1.1: Cấu trúc một số thành phần thường gặp trong tinh dầu chi
Murraya


Alkaloid



</div>
<span class='text_page_counter'>(15)</span><div class='page_container' data-page=15>

7


Đặc biệt là các carbazole alkaloid đầu tiên được phân lập từ M. koenigii,
hơn nữa M. euchrestifolia là nguồn carbazole rất dồi dào. Rất nhiều cacbazole
đều được phân lập từ loài này [18].


Người ta đã phát hiện ra được Yuehchukene – 1 indol alkaloid ở trong 4
loài thuộc chi Murraya là M. paniculata, M. paniculata var. omphalocarpa
(Hay.) Tanaka, M. exotica và M. alata Drake. Ở một số lồi cịn lại thì gần như
khơng thấy được thành phần này [52].


Flavonoid


Flavonoid được tìm thấy trong 1 số lồi thuộc chi Murraya điển hình như
trong lá, quả của M. paniticula [20, 27, 39]; lá của M. koenigii [21, 22]; lá, thân
của M. tetramerrra [54], M.exotica [25]. Tuy đã có một số nghiên cứu về
flavonoid thuộc chi này nhưng người ta không đi vào quá sâu mà chỉ nghiên
cứu qua về cấu tạo và một vài tác dụng sinh học của flavonoid.


Courmarin


Cũng như Flavonoid thì Courmarin cũng được tìm thấy trong hầu hết các
loài thuộc chi Murraya như: lá của M. paniculata[43], M. koenigii [45], M.
exotica [15], Murraya siamensis [24], M. alata [31] và M. tetramera [50] nữa.
1.1.1.6. Tác dụng


Kháng khuẩn


Mini Priya Rajendran và các cộng sự đã nghiên cứu về tinh dầu của M.


koenigii vào năm 2014 và nhận ra rằng khả năng kháng khuẩn cũng được thấy
là rất mạnh với các chủng Corynebacterium tuberculosis, Pseudomonas
aeruginosa, Streptococcus pyogenes, Klebsiella pneumonia và Enterobacter
aerogenes [37]. Các carbazole alcaloid từ M. koenigii cho thấy khả năng ức chế
mạnh mẽ chống lại các vi khuẩn kháng kháng sinh như Staphylococcus aureus,
Psedomonas aeruginosa, Klebsiella , Escherchia coli và các dòng tế bào ung
thư [35]. Cả trên lồi M. exotica cũng có khả năng kháng khuẩn rất mạnh, có
thể so sánh với một số kháng sinh như gentamicin, erythromycin và nystatin
[19]. Dựa trên nghiên cứu về tính kháng khuẩn của tinh dầu M. paniculata với
4 loại vi khuẩn là Staphylococcus aureus , Escherichia coli, Salmonella
typhimurium và Enterococcus faecallis cho thấy hoạt động kháng khuẩn yếu
đối với Staphylococcus aureus và kháng khuẩn trung bình cho tất cả các chủng
vi khuẩn khác với kết quả MIC lần lượt là 1,0;0,5;0,5;0,5 (mg/mL) [42].


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16>

8


Cũng trên thử nghiệm kháng khuẩn của tinh dầu M. paniculata người ta
thực hiện kiểm tra khả năng kháng nấm của nó với 4 loại nấm là Aspergillus
niger, Aspergillus fumigatus, Aspergillus parasiticum và Fusarium Solani thì
thu được MIC là 0,2;0,2;0,1;0,2 (mg/ml). Từ đó có thể thấy được khả năng
kháng nấm mạnh của tinh dầu này [33].


Theo một nghiên cứu khác, dịch chiết methanol của lá M. koenigii có
khả năng ức chế tăng trưởng sợi nấm với Rhizoctonia solani (70%) và
Fusarium oxysporum (58%), còn dịch chiết ethanol thì là Fusarium


oxysporum (61,07%) và Rhizoctonia solani (53,77%). Trong khi đó thì tinh
dầu của M. koenigii chỉ có khả năng ức chế trung bình với 2 loại nấm là
Fusarium oxysporum (55,69%) và Rhizoctonia solani (48,38%) [38].



Chống viêm


Tác dụng của các nhóm hợp chất khác: Yuehchukene – một indol
alcaloid được phát hiện chỉ trong bốn trong số chín lồi thuộc chi Murraya
được phân tích (M. paniculata , M. paniculate var. omphalocarpa, M. exotica
và M. alata) với hoạt tính chống viêm nổi bật [17, 52] .


Các thử nghiệm trên chuột đã chứng minh được rằng dịch chiết của M.
koenigii có khả năng chống viêm, giảm đau [23], có được các tác dụng này là
do nó có khả năng chứa nguồn alkaloid carbazole rất phong phú [14].


Ngoài M. koenigii thì cịn có 2 lồi M. paniculate [36] và M. exotica [48]
cũng có khả năng giảm đau và chống viêm đáng kể.


Chống oxi hóa


Năm 2015, Tejal K Gajaria, Dipak K Patel, Ranjitsinh V Devkar và các
cộng sự đã chỉ ra rằng dịch chiết của M. koenigii đã ngăn chặn q trình oxy
hóa, cải thiện về khả năng sống của tế bào và điện thế màng ty thể của các tế
bào được điều trị Ox-LDL. Sự gia tăng Ox-LDL trong khi mất cân bằng oxy
hóa nội bào, ngưng tụ nguyên tử và chết rụng tế bào đã được ngăn chặn một
cách hiệu quả nhờ dịch chiết M. koenigii có thể có các chất chống oxy hóa và
gốc tự do được coi là sự hiện diện của flavonoid có trong chiết xuất. Điều này
cung cấp bằng chứng sơ bộ về tiềm năng chống xơ vữa động mạch của nó và
đảm bảo làm sáng tỏ và xác nhận thêm cho việc sử dụng in-vivo và có thể hữu
ích như một thực phẩm chức năng bổ sung và một loại thuốc thay thế để ngăn
chặn q trình oxy hóa LDL và độc tính gây ra oxy hóa LDL [21].


</div>
<span class='text_page_counter'>(17)</span><div class='page_container' data-page=17>

9



nhận ra được rằng dịch chiết từ phân đoạn ethyl acetat có khả năng chống gốc
tự do rất tốt cũng như giảm khả năng đột biến của gen [25].


Diệt côn trùng


Từ các mẫu của 6 loài thuộc chi Murraya: Murraya tetramera, Murraya
euchrestifolia, Murraya koenigii, Murraya kwangsiensis, Murraya exotica và
Murraya alata, các thành phần tinh dầu của chúng đã được phân tích và chứng
minh tác dụng chống lại Tribolium castaneum [51].


Lá của M. koenigii làm giảm buồn nơn, khó tiêu, nơn mửa. Ngồi ra, người
ta cịn ăn như một phương thuốc chữa tiêu chảy và kiết lỵ [17]. Lá của M.
paniculata có chứa các nhóm chất kích thích có tác dụng làm se được sử dụng
trong điều trị tiêu chảy, kiết lỵ và các bệnh về răng và nướu; phòng chống bệnh
thấp khớp, ho và hysteria, nó cịn được chứng minh là có khả năng kháng khuẩn
vừa phải và kháng nấm rất mạnh [42].


Nghiên cứu so sánh tinh dầu giữa M. paniculate và M. exotica đã chứng
minh rằng β-caryophyllene có trong 2 lồi này có tác dụng gây tê cục bộ có thể
so với procaine. Ngồi ra nó cịn có tác dụng chống viêm và giảm đau do viêm
[30].


Một số nghiên cứu đã chỉ ra hoạt tính kháng khuẩn, chống tiểu đường,
chống oxy hóa, chống bài tiết, chống ung thư từ M. paniculata [33, 40]. Hoạt
tính chống viêm bởi các coumarin và benzocoumarin chiết xuất từ loài M. alata
cũng đã được chứng minh [31].


Tác dụng khác


Ngồi việc sử dụng để chữa bệnh thì một số lồi trong chi Murraya cịn


thường được sử dụng làm gia vị, cây cảnh hoặc hương liệu.


1.1.2. Cây Vương tùng - Murraya glabra (Guillaumin) Swingle


Trên thế giới hiện chỉ có một số tài liệu đề cập đến cây M. glabra và chỉ
ra tiêu chí để phân biệt chứ chưa thấy có tài liệu chi tiết nào về đặc điểm thực
vật, vi phẫu, tinh dầu của lồi này [41].


Lồi này cịn được cho là có tên khoa học là Micromelum glabrum
Guillaumin. Nó được mơ tả lần đầu năm 1910 trong thực vật chí Đơng dương
bởi Guillaumin như sau:


</div>
<span class='text_page_counter'>(18)</span><div class='page_container' data-page=18>

10


có răng cưa; gân lá 6-9 đơi, nhơ ra bên dưới, tĩnh mạch không chặt lắm và
không nhơ ra bên dưới; cuống lá hình trụ, nhẵn, dài 3-4 mm; cuống lá hình trụ,
nhẵn, tuyến. Cụm hoa ngắn hơn lá, có lơng rất ngắn; cuống nhỏ dài hơn hoa,
được cung cấp ở gốc hoặc ở phần dưới thấp hơn với 2 nhánh nhỏ; Hoa dài 4
mm, màu trắng. Tràng với 4 lá đài hợp nhất, giống nhau, rất ngắn. Cánh hoa
dài 4-6 mm, nhẵn, hình mũi mác. Nhị 8, gồm 4 nhị dài và 4 nhị ngắn; chỉ nhị
mở rộng và có lơng; bao phấn đính lưng, hình bầu dục, có một số lơng. Đĩa
ngắn. Bầu hình trụ, nhiều nốt sần, khơng có lơng; vịi nhụy dài hơn bầu, ở đỉnh
là nhụy hình cầu [55].


Tuy nhiên tên này khơng được chấp nhận và sau đó lồi này được Walter
T. Swingle nhắc đến lần đầu trong bài báo "A new taxonomic arrangement of
the orange subfamily, Aurantioideae" và được đăng lần đầu vào ngày
3/11/1938 trên tạp chí Journal Of The Washington Academy Of Sciences [44].
Theo tác giả Tyozaburo Tanaka thì M. glabra có chỉ nhị dài và có lông
mịn. Lá kép gồm 5-11 lá chét, rất lớn, làm cho nó khác với các loại cây khác


[56]. Ngồi ra, thành phần hóa học của M. glabra được dự đoán là sẽ chứa
carbazole [28].


1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1. Chi Murraya


1.2.1.1. Đặc điểm thực vật


Cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, khơng có gai. Lá kép lơng chim lẻ, lá chét mọc
cách, cuống lá đơi khi có cánh. Cụm hoa xim hình ngù, mọc ở đỉnh hoặc nách
lá. Nụ hoa hình trụ hay trứng-thn. Đài gồm 5(4) thùy, dính nhau ở gốc. Tràng
5(4) cánh hoa, có tuyến tinh dầu ; tiền khai hoa lợp. Bộ nhị có 10(8) nhị, chỉ
nhị hình sợi dài, rời nhau ; bao phấn nhỏ ; triển mật rõ. Các lá nỗn dính nhau
hồn tồn ; bầu 2-5 ơ, mỗi ơ có 1-2 nỗn ; vịi nhụy dài hơn bầu, nhẵn, tồn tại;
đầu nhụy phồng; cuống bầu rất ngắn hoặc khơng có. Quả mọng,khơng có lơng
hình túi mọng nước (tép) ; vỏ hạt nhẵn hoặc có lơng dài, màu trắng, mềm ; lá
mầm màu xanh sẫm, có tuyến tinh dầu [2].


1.2.1.2. Phân loại


Hiện nay, chi Murraya mới ghi nhận được 4 loài có ở Việt Nam. Trong
luận văn nghiên cứu về phân loại các loài trong họ Cam – Rutaceae, TS. Bùi
Thu Hà đã phân loại chi Murraya của họ này như sau :


</div>
<span class='text_page_counter'>(19)</span><div class='page_container' data-page=19>

11


2a. Số lượng hoa trong cụm hoa ít, cánh hoa dài hơn 1,5cm M.
paniculata


2b Số lượng hoa trong cụm hoa nhiều, cánh hoa ngắn hơn 1cm


3a. Số lượng lá chét từ 17-31………M. koenigii
3b. Số lượng lá chét từ 5-9………..M. glabra
1.2.2. Các nghiên cứu về loài Vương tùng - Murraya glabra


(Guillaumin) Swingle


1.2.2.1. Đặc điểm thực vật


Đặc điểm thực vật của Vương tùng được mô tả ở nhiều sách, cụ thể là:
Theo Danh lục thực vật Việt Nam do Nguyễn Tiến Bân làm chủ biên thì
Vương tùng là cây dạng bụi nhỏ, cao 1-1,5m. Mọc rải rác trên núi đá vôi.


Theo cuốn Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (2004)
thì đặc điểm thực vật của Vương tùng là cây nhỏ mọc thành bụi, cao 1-2m, đặc
biệt có thể cao từ 3-4m. Lá kép lơng chim lẻ gồm 9 lá chét có cuống dài
5-7mm, màu tía, trên cuống lá chét dơi khi có đốt, phiến lá hình trứng dài
4-6,5cm, rộng 1,8-3,8cm mặt trên màu xanh xám, mặt dưới xanh nhạt, nổi rõ ở
mặt dưới, mép lá có rang cưa giả do túi tiết tinh dầu gợn lên. Hoa nở vào mùa
xuân, mọc thành chum xim, hoa rất nhỏ. Quả chin già vào tháng 8-9, to bằng
hạt ngô. Vỏ quả chứa rất nhiều tinh dầu. Lá, vỏ quả rất thơm, mùi dễ chịu.


Theo Sách đỏ do Nguyễn Tiến Bân làm chủ tịch hội đồng biên soạn thì
Vương tùng là cây gỗ nhỏ, thường mọc thành bụi, cao 2 - 4m. Ngọn cành và
cuống lá non màu đỏ tím. Lá kép hình lơng chim, mọc so le, dài 10 - 25cm, có
3 - 9 lá chét. Lá chét hình mũi mác, dài 3,5 - 7,5cm, rộng 1,5 - 3,5cm, đầu lá
thuôn hẹp tạo thành mũi nhọn, cuống lá dài 3 - 5mm. Mặt trên phiến lá bóng,
soi lên ánh sáng thấy rõ nhiều túi tiết tinh dầu. Mép lá nguyên, có nhiều túi tiết
nằm sát mép lá trơng như có răng cưa nhỏ. Cụm hoa là một chùm xim ở đầu
cành, mang nhiều hoa nhỏ màu trắng, mùi thơm. Hoa mẫu 4. Cánh hoa dài 4 -
6mm, rộng 1,5mm. Nhị 8, bốn nhị ngoài dài 5mm, bốn nhị trong dài 4mm. Bộ


nhuỵ dài khoảng 3mm, bầu sần sùi. Quả hình cầu hay bầu dục, đường kính 7 -
9mm, chứa 1 - 2 hạt; vỏ quả có nhiều túi tiết tinh dầu, khi chín màu đỏ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(20)</span><div class='page_container' data-page=20>

12


nguyên, có nhiều túi tiết nằm sát mép lá trơng như có răng cưa nhỏ. Cụm hoa
là một chùm xim ở đầu cành, mang nhiều hoa nhỏ màu trắng, mùi thơm. Hoa
mẫu 4. Cánh hoa dài 4 - 6mm, rộng 1,5mm. Nhị 8, bốn nhị ngoài dài 5mm, bốn
nhị trong dài 4mm. Bộ nhuỵ dài khoảng 3mm, bầu sần sùi. Quả hình cầu hay
bầu dục, đường kính 7 - 9mm, chứa 1 - 2 hạt; vỏ quả có nhiều túi tiết tinh dầu,
khi chín màu đỏ. Mùa ra hoa tháng 3-4, quả chín vào tháng 9-10. Tái sinh bằng
hạt. Ưa sáng chịu hạn.


Hình 1.2: Tổng quát về Vương tùng ([3])
1.2.2.2. Thành phần hóa học


Theo Đỗ Tất Lợi, trong Vương tùng có các nhóm hợp chất: tinh dầu,
imperatozin, dentatin, nondetatin [3].


</div>
<span class='text_page_counter'>(21)</span><div class='page_container' data-page=21>

13


Năm 1989, Lê Tùng Châu và các cộng sự đã sử dụng một số phương pháp
như sắc ký khí, sắc ký khí chế tạo, đo phổ khối tử ngoại, hồng ngoại, cộng
hưởng từ piroson, sắc ký khí khối phổ, sắc ký khí hồng ngoại và làm các phản
ứng hóa học và đã xác định được trong tinh dầu Vương tùng có chứa menthon,
isomenthon, limonen, p.cymen và hydroxymenthon [5, 6].




Menthon Isomenthon Limonen P. cymene Hydroxymenthon


Hình 1.3: Một số hợp chất chính trong tinh dầu Vương tùng


1.2.2.3. Tác dụng dược lý và ứng dụng


Lê Tùng Châu và cộng sự đã cơng bố trên tạp chí dược học (1989) tinh
dầu Vương tùng có tác dụng diệt khuẩn khá mạnh, diệt được nhiễm trùng vi
khuẩn ở nồng độ 50 L/ml môi trường nuôi cấy được xác định bằng phương
pháp khuếch tán và phương pháp nồng độ. Ngồi ra tác giả cịn nhận thấy tinh
dầu này cịn có thể chữa cảm cúm, thấp khớp,nhức xương [6].


Theo tài liệu khác thì lá Vương tùng có khả năng chữa cảm cúm, sốt rét,
đau khớp, nắn bó gãy xương. Rễ chữa tê thấp, phù thũng [5, 12].


1.2.2.4. Phân bố


Theo Sách đỏ Việt Nam – Phần 2: Thực vật do Nguyễn Tiến Bân làm chủ
biên thì phân bố của lồi Vương tùng là:


Thế giới: Trung Quốc (Vân Nam) [8, 10]


</div>
<span class='text_page_counter'>(22)</span><div class='page_container' data-page=22>

14


Hình 1.4: Phân bố Vương tùng ở Việt Nam ([10])
1.3. Giới thiệu về phương pháp sắc ký khí khối phổ


Tinh dầu là một hợp chất chứa các chất thơm dễ bay hơi [16]. Vì vậy, để
có thể phân tích được thành phần của tinh dầu, người ta thường dùng sắc ký khí
khối phổ, vốn là phương pháp được tạo ra nhằm xác định được thành phần của
những chất dễ bay hơi.



1.3.1. Nguyên tắc


Sắc ký khí là một phương pháp tách dựa trên sự phân bố khác nhau của
các chất giữa hai pha không trộn lẫn vào nhau, trong đủ pha động là chất khí
(khí mang) đi qua pha tĩnh chứa trong cột. Sắc ký khí được áp dụng để tách
những chất hoặc dẫn xuất của chúng mà có thể hóa hơi ở nhiệt độ phân tích.
Phương pháp sắc ký khí dựa trên cơ chế hấp phụ, phân bổ hoặc loại theo kích
thước (dùng rây phân từ) [1].


Nguyên tắc của MS: Chất phân tích được chuyển sang thể khí và ion hóa,
tạo thành các ion dương hoặc âm. Phương pháp phổ khố dựa trên việc đo trự
tiếp tỉ số m/z, là tỉ số giữa khối lượng m và điện tích z của ion phân tích. Từ
phổ khối ta có thể có được thơng tin về khối lượng phân tử và cấu trúc các mảnh
thu được giúp định tính hay định lượng [1].


1.3.2. Ứng dụng trong kiểm nghiệm tinh dầu


</div>
<span class='text_page_counter'>(23)</span><div class='page_container' data-page=23>

15


và độ phù hợp của nó. Bất chấp thiết bị đắt tiền và tốn nhiều thời gian hơn so
với một số kĩ thuật khác. Hiếm có kỹ thuật nào có độ chính xác khi phân tích
tinh dầu như sắc ký khí khối phổ[16].


Sự phù hợp của sắc ký khí đối với kiểm nghiêm tinh dầu: Do thành phần
tinh dầu chủ yếu là các terpenoid, dễ bay hơi, nên đặc biệt phù hợp để sử dụng
sắc ký khí phân tích. Sau khi đi qua cột sắc ký các tinh dầu phức tạp có thể cho
các peak chồng chất, khi đó, khối phổ trở nên hiệu quả vì có thể nhận ra các
peak chồng chất [32].


</div>
<span class='text_page_counter'>(24)</span><div class='page_container' data-page=24>

16



CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu


2.1.1. Đối tượng nghiên cứu


Mẫu thực vật tươi và khô được thu hái ở Bản Lụa, Phường Chiềng An,
TP. Sơn La. Mẫu được cung cấp bởi khoa Tài nguyên Dược liệu, Viện Dược
liệu.


2.1.2. Hóa chất sử dụng


Hóa chất sử dụng trong nghiên cứu đạt tiêu chuẩn tinh khiết phân tích bao
gồm:


- Hóa chất làm tiêu bản: nước cất, nước Javen, acid acetic, dd xanh
methylene 0,05%, dd đỏ carmin 0,5%.


- Dung môi chiết xuất: cloroform, ether dầu hỏa, EtOH 96%, nước cất.
- Dung mơi pha lỗng tinh dầu: n-hexan


- Pha động trong GC-MS: Heli
2.1.3. Thiết bị sử dụng


Nghiên cứu đặc điểm thực vật:


- Chụp ảnh mẫu nghiên cứu bằng máy ảnh Canon IXY 30S.
- Kim mũi mác, dao lam, chổi lơng, phiến kính, lamen, …
- Kính hiển vi soi nổi Nikon SMZ 745T kết nối camera Nikon
DS-Fi2 và máy tính.



- Kính hiển vi Nikon Eclipse Ci kết nối camera Nikon DS-Fi2 và
máy tính.


- Tủ sấy WiseVen.


Nghiên cứu thành phần hóa học:
- Cân kỹ thuật Sartorius.


- Cân phân tích hiện số Shimadzu AY 220.


- Máy sắc ký khí khối phổ GC-MS-QP2010 Shimadzu (Nhật Bản),
2.2. Nội dung nghiên cứu


- Xác định tên khoa học của mẫu thu thập được.


</div>
<span class='text_page_counter'>(25)</span><div class='page_container' data-page=25>

17


- Nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu lồi Vương tùng thu hái ở
Sơn La.


2.3. Phương pháp nghiên cứu


2.3.1. Phương pháp khảo cứu, kế thừa tài liệu


- Tham khảo tài liệu để nắm được các thơng tin cơ bản về:
+ Vị trí phân loại và danh pháp loài


+ Nguồn gốc và vùng phân bố(ở Việt Nam và trên thế giới)
+ Đặc điểm hình thái và sinh thái lồi



+ Giá trị sử dụng của loài


+ Một số thành phần trong tinh dầu


- Kế thừa tài liệu và các phương pháp nghiên cứu:


+ Kế thừa số liệu, kết quả từ các bài báo, các nghiên cứu trong và
ngoài nước


+ Các phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, nghiên cứu vi
phẫu, tách chiết tinh dầu


2.3.2. Phương pháp hình thái so sánh


Sử dụng phương pháp phân loại so sánh hình thái theo Nguyễn Nghĩa Thìn
(2007) [7] để xác định tên khoa học, nghiên cứu đặc điểm hình thái và phân
loại các taxon của các loài thu thập được. Phương pháp này không đồi hỏi
những thiết bị phức tạp, dễ tiến hành, đảm bảo độ chính xác và phù hợp với
điều kiện trong nước.


Đối chiếu các mẫu thu được với mẫu lưu trữ tại phòng tiêu bản Dược liệu
của Viện Dược liệu và ảnh type của mẫu tại Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Quốc
gia Pháp.


2.3.3. Phương pháp nghiên cứu giải phẫu


Nghiên cứu giải phẫu các phần lá, thân, rễ của các mẫu thu được theo
phương pháp nghiên cứu của Nguyễn Bá [4], Trần Văn Ơn [11].



Các bước thực hiện:


 Cắt mẫu và tẩy nội chất


</div>
<span class='text_page_counter'>(26)</span><div class='page_container' data-page=26>

18


thân, lá. Thân cắt ngang, ở phần gần ngọn; rễ cắt ở rễ chính, có thiết diện
phù hợp; lá cắt ngang thân giữa và một phần phiến lá hai bên, đoạn 1/3 kể
từ cuống lá, lá được chọn là lá bánh tẻ không quá già hoặc quá non, khảo
sát trên nhiều lá để ghi nhận, mô tả đặc điểm chung. Mẫu tươi được cắt
trực tiếp không qua xử lý. Tuy nhiên để lưu mẫu vật cho việc kiểm định
sau này, mẫu được ngâm trong dung dịch Carnoy I trong 24h sau đó
chuyển sang dung dịch bảo quản gồm cồn 700<sub> + glycerin tỷ lệ 1:1. </sub>


- Ngâm mẫu ngay sau khi cắt trong dung dịch Cloramin B 5%
hoặc dung dịch natri hypoclorit (nước Javen) trong 20-30 phút. Rửa mẫu
qua nước.


- Ngâm mẫu trong dung dịch acid acetic 1% trong 10-15 phút để
tẩy Cloramin cịn sót lại. Rửa qua mẫu với nước.


- Nhuộm mẫu


+ Nhuộm xanh methylene 0,05% trong khoảng 5 phút đến
khi bám màu xanh  rửa nước.


+ Nhuộm đỏ Carmin 0,5% trong 15 phút cho đến khi thấy
bám màu đỏ là được  rửa nước.


- Gắn mẫu lên lam kính


- Đậy lamen


- Soi mẫu: Tiến hành soi mẫu trên kính hiển vi ở thị kính 10x, vật
kính 5x,10x và chụp lại bằng máy ảnh.


2.3.4. Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học
2.3.4.1. Phương pháp định lượng tinh dầu trong dược liệu


Bộ cất tinh dầu được thể hiện trong hình 2.1.


</div>
<span class='text_page_counter'>(27)</span><div class='page_container' data-page=27>

19


Hình 2.1: Bộ dụng cụ cất tinh dầu


Chú thích: 1. Bộ cất tinh dầu theo Dược điển Việt Nam 5 2. Bộ cất tinh dầu
tại phịng thí nghiệm Hóa Phân tích tiêu chuẩn - Viện Dược liệu


Mở vòi M và tiếp tục cất, điều chỉnh nhiệt độ đun để có tốc độ cất theo
quy định, cất trong 30 min. Ngừng cất, đọc thể tích xylen trong ống hứng chia
độ khi nhiệt độ ống hứng trở về nhiệt độ phòng. Cho vào bình cất một lượng
mẫu theo qui định và tiếp tục cất với thời gian và tốc độ cất như quy định của
chuyên luận riêng. Ngừng cất, đọc thể tích hỗn hợp tinh dầu và xylen trong ống
hứng chia độ khi nhiệt độ ống hứng trở về nhiệt độ phịng. Thể tích đọc được
lần này trừ đi thể tích xylen sẽ cho thể tích tinh dầu trong lượng mẫu định lượng
[1].


Tinh dầu sau khi cất được đem đi thực hiện sắc ký khí khối phổ để xác
định thành phần.


2.3.4.2. Phương pháp phân tích thành phần hóa học trong tinh dầu


Thực hiện:


- Làm khan mẫu thử tinh dầu Vương tùng bằng Na2SO4.


- Hút chính xác 0,1 ml mẫu thử tinh dầu Vương tùng đã làm khan,
pha loãng 10 lần bằng n-hexan (Merck) thu được dung dịch mẫu thử (A) có
nồng độ 0,1 ml tinh dầu/ml dung dịch.


- Lặp lại quá trình pha loãng 3 lần (10x10x10 = 1000 lần) để thu
được dung dịch mẫu thử (B) có nồng độ 0,1µl/ml dung dịch phù hợp cho phân


</div>
<span class='text_page_counter'>(28)</span><div class='page_container' data-page=28>

20


tích GC-MS. Dung dịch B được lọc qua màng lọc 0,22 µm trước khi tiêm vào
hệ thống GC-MS.


- Điều kiện sắc ký:


+ Pha tĩnh: Cột Rxi-5LMS


+ Chương trình nhiệt độ thể hiện ở bảng:
Bảng 2.1: Chương trình nhiệt độ
Tốc độ tăng nhiệt


(o<sub>C/phút) </sub> Nhiệt độ (


o<sub>C) Thời gian lưu giữ (phút) </sub>


0 60 2



1 10 120 3


2 15 240 5


+ Khí mang: Heli, tốc độ: 1 ml/phút
+ Nhiệt độ buồng hóa hơi: 250o<sub>C </sub>


- Điều kiện khối phổ:
+ Tỉ lệ chia dòng: 1/20


+ Nhiệt độ bộ nguồn: 200o<sub>C, nhiệt độ bộ phận giao tiếp 250</sub>o<sub>C; </sub>


</div>
<span class='text_page_counter'>(29)</span><div class='page_container' data-page=29>

21


CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Xác định tên khoa học của loài Vương tùng thu hái ở Sơn La


Để có cơ sở cho việc xác định tên khoa học, chúng tôi đã thu thập các mẫu
so với khóa phân loại chi Murraya kết hợp với việc so sánh các mẫu thu được
với tiêu bản của chi Murraya đang lưu trữ tại phòng tiêu bản dược liệu, khoa
Tài nguyên Dược liệu, Viện Dược liệu (Danh sách mẫu chi tiết ở phụ lục 1).
Qua nghiên cứu, phân tích mẫu thu được có các đặc điểm hình thái đặc trưng
như: Dạng cây bụi nhỏ, thân gỗ; lá kép lông chim, mọc so le, có từ 5-9 lá chét,
trên lá có nhiều túi tiết tinh dầu, mùi rất thơm; cụm hoa mọc ở đầu cành, dạng
chùm xim, nhị 8, 4 nhị dài 4 nhị ngắn, bao phấn đinh lưng, vòi nhụy dài hơn
bầu, bầu sần sùi. Các đặc điểm này hồn tồn giống với các mơ tả ban đầu của
loài Murraya glabra (Guillaumin) Swingle và các bản mơ tả bổ sung sau đó.
Do đó, chúng tơi khẳng định tên khoa học của mẫu nghiên cứu là Murraya
glabra (Guillaumin) Swingle.



3.2. Đặc điểm hình thái


Hình 3.1: Hình thái chung của Vương tùng (Murraya glabra (Guillaumin)
Swingle)


</div>
<span class='text_page_counter'>(30)</span><div class='page_container' data-page=30>

22


Hình 3.2. Lá kép của Vương tùng (Mặt trên (A), Mặt dưới (B))


Hình 3.3: Các dạng lá chét của Vương tùng (Murraya glabra (Guillaumin)
Swingle) (Mặt trên (A), Mặt dưới (B))


Hình 3.4: Gân lá Vương tùng (Mặt trên (A), Mặt dưới (B))


A <sub>B </sub>


A B


</div>
<span class='text_page_counter'>(31)</span><div class='page_container' data-page=31>

23


Hình 3.5: Lỗ tiết tinh dầu trên bề mặt lá (Mặt trên (A), Mặt dưới (B))


Hình 3.6: Lỗ tiết tinh dầu ở mép lá (Mặt trên (A), Mặt dưới (B))


Hình 3.7: Cuống lá


Lá kép hình lơng chim, mọc so le, dài 10 – 40 cm, có 5 - 9 lá chét. Lá chét
hình mũi mác, mọc sole nhau đơi khi đối xứng, dài 3,5 – 20 cm, rộng 1,5 – 5
cm, đầu lá thuôn hẹp tạo thành mũi nhọn, cuống lá dài 3 - 5mm. Mặt trên màu
xanh đậm, bóng, mặt dưới màu xanh nhạt, soi lên ánh sáng thấy rõ nhiều túi


tiết tinh dầu. Mép lá ngun, có nhiều túi tiết nằm sát mép lá trơng như có răng
cưa nhỏ. Lá có mùi rất thơm. Cuống lá cũng có thể thấy nhiều túi tiết tinh dầu.
Gân lá hình chân chim, gồm từ 4-6 cặp gân chính lồi rõ ở mặt dưới.


A B


</div>
<span class='text_page_counter'>(32)</span><div class='page_container' data-page=32>

24


Hình 3.8: Chùm hoa cấp 1 (A), cấp 3 (B), bơng hoa (C)


Hình 3.9: Giải phẫu hoa (Mặt dưới (A), Mặt trên (B))


Hình 3.10: Nhị vịng trong (A), nhị vịng ngồi (B)


Cụm hoa mọc ở đỉnh thân, dạng chùm xim, cấp 1 dạng chùm, cấp 2, 3
dạng xim hai ngả mang nhiều hoa. Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 4-5. Đài gồm 4
hoặc 5 răng nhỏ, màu trắng, hai mặt nhẵn. Tràng 4, màu trắng, hai mặt nhẵn,
dài khoảng 5mm, rộng 0,2-0,3 cm, có mùi thơm nhẹ. Nhị 8, chỉ nhị thẳng dài
0,4-0,8 cm, ít khi có khuỷu, nhị vịng ngồi dài hơn nhị vòng trong, bao phấn


A B C


</div>
<span class='text_page_counter'>(33)</span><div class='page_container' data-page=33>

25


hình bầu dục, hai ơ, đính lưng. Bầu trên, hình bầu dục, đường kính 0,4 cm,
bầu 1 ơ, 4 nỗn, đính nỗn bên.


Hình 3.11: Chùm quả non


Hình 3.12: Mặt cắt ngang quả non (A), Hạt (B)



Quả đơn, mọc thành chùm xim, hình trứng, quả màu xanh dài 1.3 cm,
rộng 1 cm, vỏ quả màu xanh nhạt, sần sùi, bề mặt nhẵn, mang nhiều túi tiết
tinh dầu. Bên trong quả chứa 4 hạt lớn, màu xanh nhạt. Mùa hoa tháng 4-6,
mùa quả tháng 6-9.


A


</div>
<span class='text_page_counter'>(34)</span><div class='page_container' data-page=34>

26
3.3. Đặc điểm giải phẫu


3.3.1. Lá


Hình 3.13: Vi phẫu lá Vương tùng


Chú thích: 1. Biểu bì trên 2. Mơ dày trên 3. Mơ mềm trên 4. Bó sợi (mô cứng),
5. Libe trên 6. Gỗ trên 7. Mô mềm ruột 8. Gỗ dưới 9. Libe dưới 10. Mô mềm
dưới 11. Mơ dày dưới 12. Biểu bì dưới


Hình 3.14: Phần gân lá


Chú thích: 1. Bó sợi 2. Libe trên 3. Gỗ trên 4. Mô mềm ruột 5. Mô mềm dưới
6. Mô dày dưới 7. Biểu bì dưới


Phần gân lá được thể hiện trên hình 3.14: Gân dưới lồi, gân trên hơi lồi.
Biểu bì trên gồm 2 hàng tế bào, biểu bì dưới cấu tạo từ một hàng tế bào, xếp
đều đặn, vách đã bị cutin hóa. Ở phần mặt trên phiến lá thì mơ dày ngay dưới
lớp biểu bì. Tiếp đến là mơ mềm với các tế bào trịn, xếp xen kẽ nhau. Còn ở


1


2
3


4


8
5


6
7


9
10
11


12


1
2
3


4


6
7


</div>
<span class='text_page_counter'>(35)</span><div class='page_container' data-page=35>

27


mặt dưới thì mơ dày ngay sát biểu bì sau đó đến các tế bào mô mềm. Ở giữa
gân lá là các tế bào mô mềm ruột cấu tạo từ những tế bào đa giác thành mỏng,


kích thước lớn, tế bào càng vào trong càng to dần. Xung quanh là các Xylem
bắt màu xanh, có từ 6-8 hàng tế bào. Bao ngồi là các libe bắt màu hồng đậm.
Nằm rải rác xung quanh xylem. Phía ngồi của libe lại là các bó sợi gồm từ
6-8 sợi tụm lại với nhau.


Hình 3.15: Phần phiến lá


Chú thích: 1. Biểu bì trên 2. Mô giậu 3. Túi tiết tinh dầu 4. Mơ xốp 5. Biểu bì
dưới


Phần phiến lá (hình 3.15): biểu bì trên và dưới gồm 1 lớp biểu bì. Sát lớp
biểu bì phía trên có lớp mơ giậu gồm 2-3 hàng tế bào hình chữ nhật xếp đứng,
các tế bào này xếp vng góc với bề mặt lá. Rải rác có các túi chứa tinh dầu
hình trịn khá lớn xếp cả ở vùng mơ giậu và vùng mô xốp. Mô xốp gồm các tế
bào thành mỏng cùng với các bó sợi nằm lộn xộn phía dưới mơ giậu.


1
2
3


</div>
<span class='text_page_counter'>(36)</span><div class='page_container' data-page=36>

28
3.3.2. Thân


Hình 3.16: Vi phẫu thân Vương tùng


Chú thích: 1. Biểu bì 2. Mơ dày 3. Mơ mềm vỏ 4. Libe sơ cấp 5. Gỗ 6. Libe
thứ cấp 7. Mô mềm ruột 8. Túi tiết tinh dầu


Hình 3.17: Vi phẫu thân Vương tùng phóng to
1



2
3


4
5
6
7


8


1
2


3


4


5
6


</div>
<span class='text_page_counter'>(37)</span><div class='page_container' data-page=37>

29


Chú thích: 1. Biểu bì 2. Mơ dày 3. Mơ mềm vỏ 4. Libe sơ cấp 5. Gỗ 6. Libe
thứ cấp 7. Mô mềm ruột


Mặt cắt ngang hình trịn, từ ngồi vào trong có: Biểu bì thường gồm 1
hàng tế bào trịn xếp đều đặn. Sau đó là các tế bào mơ dày hình trịn, nhỏ, đều
từ 3-4 hàng. Mơ mềm cấu tạo bởi những tế bào thành mỏng, hình trứng hoặc
hình đa giác xếp lộn xộn. Trong mơ mềm rải rác có các túi chứa tinh dầu lớn.


Libe sơ cấu tạo từ những tế bào nhỏ bao quanh gỗ. Gỗ tạo thành hình thoi gồm
từ 3-5 hàng tế bào, bắt màu xanh. Mô mềm ruột cấu tạo từ những tế bào đa giác
thành mỏng, kích thước lớn, tế bào càng vào trong càng to dần.


3.3.3. Rễ


Hình 3.18: Vi phẫu rễ Vương tùng


Chú thích: 1. Lớp bần 2. Tầng sinh bần 3. Mạch gỗ 4. Mơ mềm ruột


Mặt cắt ngang hình trịn, từ ngồi vào trong có: Lớp bần ở ngồi cùng, bắt
màu xanh. Tiếp đến là mô mềm vỏ bắt màu hồng. Trong nữa là các gỗ nằm rải
rác. Trung tâm là các mô mềm ruột đã bị gỗ hóa bắt màu xanh.


1
2


3


</div>
<span class='text_page_counter'>(38)</span><div class='page_container' data-page=38>

30


Hình 3.19: Vi phẫu rễ phóng to


Chú thích: 1. Lớp bần 2. Mô mềm vỏ 3. Mạch gỗ 4. Sợi 5. Mô mềm ruột.
3.4. Thành phần hóa học trong tinh dầu


Hình 3.20: Kết quả sắc ký khí Vương tùng


Kết quả phân tích tinh dầu Vương tùng được thể hiện ở bảng 3.1.
Bảng 3.1 Kết quả phân tích tinh dầu Vương tùng


TT Tên Kết quả (% diện tích <sub>pic trên GM-MS) </sub>


1 α-Pinene 0,65


2 β -Phellandrene 0,18


3 β -Myrcene 2,15


4 (+)-2-CAREN 0,19


5 I-Phellandrene 0,47


6 Δ-3-Carene 0,22


4


1


3
5


</div>
<span class='text_page_counter'>(39)</span><div class='page_container' data-page=39>

31


7 Chưa xác định được 0,10


8 D-Limonene 1,85


9 Sabinene 6,72


10 Trans- β-Ocimene 0,16



11 Linalool 1,70


12 I-Terpineol 0,10


13 Citronella 1,53


14 p-menthone 37,16


15 Isomenthone 45,30


16 (+)-neomenthol 0,12


17 menthol 0,25


18 I1-4-Terpineol 0,13


19 Linalyl propionate 0,27


20 Carone 0,30


Từ kết quả trên có thể thấy được thành phần chính trong tinh dầu Vương
tùng gồm 20 hợp chất, trong đó chiếm nhiều nhất là: Sabinene (6,72%),
p-menthone (37,16%) và isop-menthone (45,30%). Có thể thấy được nguồn
methone trong tinh dầu Vương tùng rất dồi dào (82,46%), chiếm gần hết
thành phần tinh dầu của nó.


Menthone

Isomenthone

Sabinene

D-Limonene





Citronella Mycyren Linalool


</div>
<span class='text_page_counter'>(40)</span><div class='page_container' data-page=40>

32


Có thể thấy được thành phần tinh dầu Vương tùng chủ yếu là các
monoterpene. Điều này khá trùng khớp với kết quả của QianLi, Liang-FengZhu
và các cộng sự [29] và kết quả phân loại của Takeshi Kinoshita [57] khi phân
loại Vương tùng vào phân chi Berbega.


3.5. Bàn luận


Sau khi đọc một số tài liệu về phân bố của loài Vương tùng thì có thể thấy
được rằng chưa có tài liệu nào đề cập rằng Vương tùng phân bố ở Sơn La. Có
thể thấy được rằng đây là lần đầu tiên cây này được tìm thấy ở Sơn La. Đây có
thể là một vùng phân bố mới của lồi này.


Kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái của mẫu nghiên cứu khi so sánh
với các tài liệu vể thực vật có uy tín ở Việt Nam cho thấy: loài này đã được
nhắc đến trong Luận án tiến sĩ “ Nghiên cứu phân loại họ Cam (Rutaceae Jus.)
ở Việt Nam” của Bùi Thu Hà (2012) với tên khoa học là Murraya glabra
(Guillaum.) Swingle, qua so sánh về tiêu bản và hình ảnh trong luận án thì thấy
có sự trùng khớp. Tuy nhiên, trong nhiều tài liệu như Sách đỏ Việt Nam, Những
cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Danh lục các loài thực vật Việt Nam đều đề
cập đến một synonym của loài này là Murraya tetramera. Sau khi đối chiếu với
một số tiêu bản ở Viện Dược liệu và so sánh với đặc điểm thực vật của Murraya
tetramera được mô tả trong Thực vật chí Trung Quốc bởi Dianxiang
Zhang và Thomas G. Hartley thì có thể thấy đây là 2 lồi hồn tồn khác biệt.
Ngồi ra thì trong “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” có mơ tả 1
loài Vương tùng với tên khoa học là Clausena indica với các mô tả về đặc điểm


thực vật và thành phần tinh dầu rất giống với mẫu đang nghiên cứu. Tuy nhiên
sau khi tham khảo một số tài liệu thì có thể thấy rằng rất có khả năng cây Vương
tùng trong cuốn “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam” có thể là lồi
đang nghiên cứu chứ không phải Clausena indica.


</div>
<span class='text_page_counter'>(41)</span><div class='page_container' data-page=41>

33


CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. Kết luận


Sau khi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm thực vật và thành phần
hóa học của tinh dầu loài Vương tùng (Murraya glabra (Guillaumin) Swingle)
thu hái tại Sơn La”, chúng tơi có một số kết luận sau:


- Đã giám định tên khoa học của mẫu nghiên cứu: loài Vương tùng -
Murraya glabra (Guillaumin) Swingle.


- Đã xác định được một số đặc điểm hình thái của cây như: cây gỗ,
mọc dại bụi, cao từ 2-4m, thân tròn, lá kép lơng chim lẻ, có từ 5-9 lá chét, lá có
nhiều tuyến tinh dầu nhìn rõ trên bề mặt, mùi rất thơm. Cụm hoa mọc ở đỉnh
thân, dạng chùm xim, đều, lưỡng tính, 8 nhị, 4 nhị dài, 4 nhị ngắn; bầu trên, vòi
nhụy dài hơn bầu. Quả dạng chùm, màu xanh, nhiều túi tiết tinh dầu ở vỏ quả.


- Đã nghiên cứu đặc điểm vi phẫu lá, thân, rễ của cây góp phần làm cơ
sở cho việc kiểm nghiệm và tiêu chuẩn dược liệu.


- Đã định lượng được tinh dầu trong lá Vương tùng và phân tích được
thành phần tinh dầu gồm 20 hợp chất, trong đó menthone và isomenthone là
thành phần chinh, chiếm 37,16% và 45,30%.



4.2. Kiến nghị


Trong các nghiên cứu tiếp theo, để hồn thiện nghiên cứu và có thể ứng
dụng lồi này, chúng tôi kiến nghị tiếp tục nghiên cứu:


- Nghiên cứu về tác dụng dược lý của loài Vương tùng nhằm định hướng
tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc từ loài cây thuốc quý này.


- Thu thập mẫu ở nhiều nơi khác nhau vào những thời điểm khác nhau
nhằm mục đích xác định hàm lượng tinh dầu có phụ thuộc vào vị trí địa lý và
thời gian không.


</div>
<span class='text_page_counter'>(42)</span><div class='page_container' data-page=42>

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt


1. Bộ Y Tế (2017), Dược điển Việt Nam 5. Tập 2. Nhà xuất bản Y Học,
phụ lục 4.5,5.2 tr PL-125, PL-145.


2. Bùi Thu Hà (2012), Nghiên cứu phân loại họ cam (Rutaceae Juss.) ở
Việt Nam.


3. Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, tr. 1276.
4. Nguyễn Bá; (2005), Hình thái học thực vật, Nhà xuất bản giáo dục.
5. Nguyễn Hoàng Anh Lê Tùng Châu Nguyễn Chiều Ngô Văn Trại Lê


Văn Hồng Phạm Phương Thành Vương Thúc Lan Mai Văn Nghị


Nguyễn Minh Quý Phạm Phương Thành (1986), Nghiên cứu cây vương
tùng ( Murraya sp.) họ Rutaceae và tinh dầu vương tùng, Cơng trình
NCKH Viện Dược liệu (1972-1986), tr. 222-227.



6. Nguyễn Hoàng Anh Lê Tùng Châu Phạm Thương Thành (1984),
Nghiên cứu thành phần hóa học một số tinh dầu làm thuốc, Tạp chí
Dược liệu, số 1+2, tr. 63-68.


7. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu thực vật,
Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội.


8. Nguyễn Tiến Bân (2003), Danh lục các loài thực vật Việt Nam. Tập 2.
NXB Nông nghiệp. tr 978.


9. Phạm Hoàng Hộ; (2003), Cây cỏ việt nam. Tập 2. Nhà xuất bản Trẻ. tr.
423.


10. Tập thể các tác giả; (2007), Sách đỏ Việt Nam. Vol. 2. Nhà xuất bản
khoa học tự nhiên và công nghệ. tr. 326-327.


11. Trần Văn Ơn (2004), Thực tập thực vật và nhận biết cây thuốc, Trường
Đại học Dược Hà Nội.


12. Viện dược liệu (1990), Cây thuốc Việt Nam, NXB Khoa học và kĩ
thuật. tr. 276-277.


Tiếng anh


13. Atwood Jerry L và JE Davies (2012), Inclusion Phenomena in
Inorganic, Organic, and Organometallic Hosts: Proceedings of the
Fourth International Symposium on Inclusion Phenomena and the
Third International Symposium on Cyclodextrins Lancaster, UK, 20–25
July 1986. Vol. 4. Springer Science & Business Media. tr. 441.



</div>
<span class='text_page_counter'>(43)</span><div class='page_container' data-page=43>

phytochemistry, and pharmacological activities of Murraya koenigii
and its primary bioactive compounds, Antioxidants, số 9(2), tr. 101.
15. Barik Bikash Ranjan, AK Dey, PC Das, A Chatterjee, và JN Shoolery


(1983), Coumarins of Murraya exotica—absolute configuration of
auraptenol, Phytochemistry, số 22(3), tr. 792-794.


16. Baser K Husnu Can và Gerhard Buchbauer (2015), Handbook of
essential oils: science, technology, and applications, CRC press. tr.
17. Bhuiyan Md Nazrul Islam, Jasim Uddin Chowdhury, và Mohammed


Yusuf (2008), Chemical composition of the leaf essential oils of
Murraya koenigii (L.) Spreng and Murraya paniculata (L.) Jack,
Bangladesh Journal of Pharmacology, số 3(2), tr. 59-63.


18. Chakraborty DP (1993), Chemistry and biology of carbazole alkaloids,
in The Alkaloids: Chemistry and Pharmacology257-364.


19. El‐Sakhawy FS, ME El‐Tantawy, SA Ross, và MA El‐Sohly (1998),
Composition and antimicrobial activity of the essential oil of Murraya
exotica L, Flavour and Fragrance Journal, số 13(1), tr. 59-62.


20. Ferracin Ricardo J, M Fátima das GF da Silva, João B Fernandes, và
Paulo C Vieira (1998), Flavonoids from the fruits of Murraya


paniculata, Phytochemistry, số 47(3), tr. 393-396.


21. Gajaria Tejal K, Dipak K Patel, Ranjitsinh V Devkar, và AV



Ramachandran (2015), Flavonoid rich extract of Murraya Koenigii
alleviates in-vitro LDL oxidation and oxidized LDL induced apoptosis
in raw 264.7 Murine macrophage cells, Journal of food science and
technology, số 52(6), tr. 3367-3375.


22. Ghasemzadeh Ali, Hawa ZE Jaafar, Ehsan Karimi, và Asmah Rahmat
(2014), Optimization of ultrasound-assisted extraction of flavonoid
compounds and their pharmaceutical activity from curry leaf (Murraya
koenigii L.) using response surface methodology, BMC complementary
and alternative medicine, số 14(1), tr. 318.


23. Gupta Shailly, Mathew George, Manmohan Singhal, Ganesh N
Sharma, và Vikas Garg (2010), Leaves extract of Murraya Koenigii
linn for anti-inflammatory and analgesic activity in animal models,
Journal of advanced pharmaceutical technology & research, số 1(1), tr.
68.


</div>
<span class='text_page_counter'>(44)</span><div class='page_container' data-page=44>

Murraya siamensis: three coumarins and their anti-tumor promoting
effect, Phytochemistry, số 66(5), tr. 567-572.


25. Kaur Davinder, Arvinder Kaur, và Saroj Arora (2016), Delineation of
attenuation of oxidative stress and mutagenic stress by Murraya
exotica L. leaves, SpringerPlus, số 5(1), tr. 1037.


26. Kinoshita Takeshi (2014), A new taxonomic system of the genus
Murraya (Rutaceae) based on integration of morphology-based
taxonomy and chemotaxonomy; and a philological survey on M.
exotica in view of the relationship between Okinawa and China,
Yakugaku zasshi: Journal of the Pharmaceutical Society of Japan, số
134(12), tr. 1265-1286.



27. Kinoshita Takeshi và Kurnia Firman (1997), Myricetin 5, 7, 3′, 4′,
5′-pentamethyl ether and other methylated flavonoids from Murraya
paniculata, Phytochemistry, số 45(1), tr. 179-181.


28. Kong Yun-Cheung, Kin-Fai Cheng, Kam-Hung Ng, Paul Pui-Hay But,
Si-Xao Yu, Hung-Ta Chang, Richard C Cambie, T Kinoshita,
Wei-song Kan, và Peter G Waterman (1986), A chemotaxonomic division of
Murraya based on the distribution of the alkaloids yuehchukene and
girinimbine, Biochemical systematics and ecology, số 14(5), tr.
491-497.


29. Li Qian, Liang-Feng Zhu, Paul P-H But, Yun-Cheung Kong, Hung-Ta
Chang, và Peter G Waterman (1988), Monoterpene and sesquiterpene
rich oils from the leaves of Murraya species: chemotaxonomic


significance, Biochemical systematics and ecology, số 16(5), tr.
491-494.


30. Lv Hai-Ning, Xiao-Yu Guo, Peng-Fei Tu, và Yong Jiang (2013),
Comparative analysis of the essential oil composition of Murraya
paniculata and M. exotica, Natural product communications, số 8(10),
tr. 1934578X1300801035.


31. Lv Hai-Ning, Shu Wang, Ke-Wu Zeng, Jun Li, Xiao-Yu Guo, Daneel
Ferreira, Jordan K Zjawiony, Peng-Fei Tu, và Yong Jiang (2015),
Anti-inflammatory coumarin and benzocoumarin derivatives from Murraya
alata, Journal of natural products, số 78(2), tr. 279-285.


32. Marriott Philip J, Robert Shellie, và Charles Cornwell (2001), Gas


chromatographic technologies for the analysis of essential oils, Journal
of Chromatography A, số 936(1-2), tr. 1-22.


33. Menezes Irwin RA, Temistocles I Santana, Victor JC Varela, Rogerio
A Saraiva, Edinardo FF Matias, Aline A Boligon, Margareth L


</div>
<span class='text_page_counter'>(45)</span><div class='page_container' data-page=45>

(2015), Chemical composition and evaluation of acute toxicological,
antimicrobial and modulatory resistance of the extract of Murraya
paniculata, Pharmaceutical biology, số 53(2), tr. 185-191.


34. Mimica-Dukić Neda, Biljana Božin, Marina Soković, Biserka


Mihajlović, và Milan Matavulj (2003), Antimicrobial and antioxidant
activities of three Mentha species essential oils, Planta medica, số
69(05), tr. 413-419.


35. Nagappan Thilahgavani, Perumal Ramasamy, Mohd Effendy Abdul
Wahid, Thirukanthan Chandra Segaran, và Charles S Vairappan (2011),
Biological activity of carbazole alkaloids and essential oil of Murraya
koenigii against antibiotic resistant microbes and cancer cell lines,
Molecules, số 16(11), tr. 9651-9664.


36. Narkhede MB, PV Ajmire, và AE Wagh (2012), Evaluation of
antinociceptive and anti-inflammatory activity of ethanol extract of
Murraya paniculata leaves in experimental rodents, Int J Pharm Pharm
Sci, số 4(1), tr. 247-250.


37. Rajendran Mini Priya, Blessed Beautlin Pallaiyan, và Nija Selvaraj
(2014), Chemical composition, antibacterial and antioxidant profile of
essential oil from Murraya koenigii (L.) leaves, Avicenna journal of


phytomedicine, số 4(3), tr. 200.


38. RAJNIKANT SAIMA KUMAR và AMIT CHATTREE (2015),
Antioxidant and antifungal potential of Murraya koenigii leaves
extracts (crude) and essential oil, Chemical Science, số 4(1), tr.
222-226.


39. Rodanant Pirasut, Pichit Khetkam, Apichart Suksamrarn, và Jintakorn
Kuvatanasuchati (2015), Coumarins and flavonoid from Murraya
paniculata (L.) Jack: Antibacterial and anti-inflammation activity,
Pakistan Journal of Pharmaceutical Sciences, số 28(6).


40. Sayar K, M Paydar, và B Pingguan-Murphy (2014), Pharmacological
properties and chemical constituents of Murraya paniculata (L.) Jack,
Medicinal and Aromatic Plants, số 3(4), tr. 1-6.


41. Sciences. College of Natural and Agricultural. Citrus Variety
Collection,
42. Selestino Neta Maria Cipriano, Catia Vittorazzi, Aline Cristina


Guimarães, João Damasceno Lopes Martins, Marcio Fronza, Denise
Coutinho Endringer, và Rodrigo Scherer (2017), Effects of


</div>
<span class='text_page_counter'>(46)</span><div class='page_container' data-page=46>

43. Shabbir Muhammad, S Ziauddin Sultani, Abdul Jabbar, và M Iqbal
Choudhary (1997), Cinnamates and coumarins from the leaves of
Murraya paniculata, Phytochemistry, số 44(4), tr. 683-685.


44. Swingle Walter T (1938), A new taxonomic arrangement of the orange
subfamily, Aurantioideae, Journal of the Washington Academy of
Sciences, số 28(12), tr. 530-533.



45. Tahia Faiza, Md Al Amin Sikder, Mohammad Rashedul Haque, Jamil
A Shilpi, Khalijah Awang, Md Abdullah Al Mansur, và Mohammad A
Rashid (2015), Alkaloids, Coumarin and Cinnamic Acid Derivative
from Murraya koenigii (Linn.) Spreng, Dhaka University Journal of
Pharmaceutical Sciences, số 14(1), tr. 29-33.


46. Takhtadzhi︠a︡n Armen Leonovich, Leon Arminovich Takhtajan, và
Armen Takhtajan (1997), Diversity and classification of flowering
plants, Columbia University Press.


47. Wheeler J. R.; Rye, B. L.; Koch, B. L.; Wilson, A. J. G. (1992),


Western Australian Herbarium (1992). Flora of the Kimberley region,
Western Australian Herbarium. Como, W.A. tr.


48. Wu Longhuo, Pei Li, Xiao Wang, Zhenjing Zhuang, Farzin Farzaneh,
và Ruian Xu (2010), Evaluation of anti-inflammatory and


antinociceptive activities of Murraya exotica, Pharmaceutical biology,
số 48(12), tr. 1344-1353.


49. Wu Tian-Shung, Meei-Ling Wang, và Pei-Lin Wu (1996), Seasonal
variations of carbazole alkaloids in Murraya euchrestifolia,


Phytochemistry, số 43(4), tr. 785-789.


50. You Chun-Xue, Kai Yang, Cheng-Fang Wang, Wen-Juan Zhang, Ying
Wang, Jiao Han, Li Fan, Shu-Shan Du, Zhu-Feng Geng, và Zhi-Wei
Deng (2014), Cytotoxic compounds isolated from Murraya tetramera


Huang, Molecules, số 19(9), tr. 13225-13234.


51. You Chun-xue, Wen-juan Zhang, Shan-shan Guo, Cheng-fang Wang,
Kai Yang, Jun-yu Liang, Ying Wang, Zhu-feng Geng, Shu-shan Du, và
Zhi-wei Deng (2015), Chemical composition of essential oils extracted
from six Murraya species and their repellent activity against Tribolium
castaneum, Industrial Crops and Products, số 76, tr. 681-687.


52. Yun-Cheung Kong, Ng Kam-Hung, But Paul Pui-Hay, Li Qian, Yu
Si-Xao, Zhang Hong-Ta, Cheng Kin-Fai, Soejarto Djaja Doel, Kan
Woei-Song, và Peter G Waterman (1986), Sources of the anti-implantation
alkaloid yuehchukene in the genus Murraya, Journal of


</div>
<span class='text_page_counter'>(47)</span><div class='page_container' data-page=47>

53. Zhang D và TG Hartley (2008), Murraya J. Koenig ex Linnaeus, Flora
of China, số 11, tr. 85-87.


54. Zhou Ying, Haining Lv, Wenguang Wang, Pengfei Tu, và Yong Jiang
(2014), Flavonoids and anthraquinones from Murraya tetramera CC
Huang (Rutaceae), Biochemical Systematics and Ecology, số 57, tr.
78-80.


Tiếng Pháp


55. A. Guillaumin (1912), Rutaceés Flore Génerale de l'Indochine. tr.
657-660.


56. Tanaka Tyozaburo (1928), Revisio Aurantiacearum.—I, Bulletin de la
Société Botanique de France, số 75(4), tr. 708-715.


Tiếng Nhật



57. 木下武司 (2014), 形態分類学と化学分類学の統合によるミカン科


ゲッキツ属の新分類並びに沖縄・中国間の関係から見たゲッキ


ツの文献学的考察, YAKUGAKU ZASSHI, số 134(12), tr.
1265-1286.


Tiếng Tây Ban Nha


58. Casado Martín C. M., et al (2011). Acercamiento al género Murraya
(Rutaceae) ya la especie Murraya paniculata (L.) Jack, Revista Cubana
de Plantas Medicinales 16:


</div>
<span class='text_page_counter'>(48)</span><div class='page_container' data-page=48>

PHỤ LỤC


Phụ lục 1: Danh sách tiêu bản chi Murraya tại Viện dươc liệu
STT Số hiệu


tiêu bản


Tên khoa học Ngày tháng
năm thu


mẫu


Người thu Người giám định Nơi thu


1



1428A Murraya glabra <sub>Guill </sub> 6.11.1976 Nghị, Lan Đỗ Huy Bích Đơng Sơn, Thanh Hóa
2


1428B Murraya glabra <sub>Guill </sub> 6.11.1976 Nghị, Lan Đỗ Huy Bích Đơng Sơn, Thanh Hóa
3


1428C Murraya glabra <sub>Guill </sub> 6.11.1976 Nghị, Lan Đỗ Huy Bích Đơng Sơn, Thanh Hóa


4 <sub>2001 </sub> <sub>Murraya </sub> <sub>6.11.1978 </sub> Nguyễn Thị


Nga Nguyễn Hữu Hiếu Bình Châu, Xuyên Mộc, Đồng Nai
5 <sub>2473a </sub> Murraya glabra


Guill 18.II.79 Tùng Châu- Ngơ Trại Đỗ Huy Bích Cát Bà, Quảng Ninh
6 <sub>2614A </sub> Murraya glabra


Guill 26.3.1975 Lê Tùng Châu Đỗ Huy Bích Đơng Hưng, Thanh Hóa
7 <sub>2614B </sub> Murraya glabra


Guill 26.3.1975 Lê Tùng Châu Đỗ Huy Bích Đơng Hưng, Thanh Hóa
8 <sub>2614C </sub> Murraya glabra


Guill 26.3.1975 Lê Tùng Châu Đỗ Huy Bích Đơng Hưng, Thanh Hóa
9 <sub>2614d </sub> Murraya glabra


Guill Thanh Hóa


10


</div>
<span class='text_page_counter'>(49)</span><div class='page_container' data-page=49>

11



2615B Murraya glabra <sub>Guill </sub> 13.6.1976 Nguyễn Chiến Đỗ Huy Bích Núi Ngựa, Thanh Hóa
12


2615C Murraya glabra <sub>Guill </sub> 13.4.1976 Nguyễn Chiến Đỗ Huy Bích Núi Ngựa, Thanh Hóa
13


3154A Murraya glabra <sub>Guill </sub> 30.IV.1986 Lê Tùng Châu Nguyễn Bá Hoạt Trường đại học Dược <sub>Hà Nội </sub>
14 <sub>3154B </sub> Murraya glabra


Guill 30.IV.1986 Lê Tùng Châu Nguyễn Bá Hoạt Trường đại học Dược Hà Nội
15 <sub>3154C </sub> Murraya glabra


Guill 30.IV.1986 Lê Tùng Châu Nguyễn Bá Hoạt Trường đại học Dược Hà Nội


16 5210A Murraya 20.XII.2000 Trại, Tập


17 5210B Murraya 20.XII.2000 Trại, Tập


18 5210C Murraya 20.XII.2000 Trại, Tập


19 <sub>8118 </sub> Murraya paniculata


(L) Jack 28.06-05


Trại, Thuật,


Lĩnh


Nghĩa Mai, Nghĩa Đàn,


Nghệ An


20


9165 Murraya sp 20.1.07 Tập, Lê Thanh Xã Vĩnh Lộc, Lục Yên, <sub>Yên Bái </sub>
21


9645B Murraya tetramera <sub>C.C.Huang </sub> 23.X.2009 TS. Bùi Hồng <sub>Cường </sub> Mua ở chợ Tx Cao Bằng
22


</div>
<span class='text_page_counter'>(50)</span><div class='page_container' data-page=50></div>

<!--links-->

×