Tải bản đầy đủ (.pdf) (106 trang)

Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giái dục quận 9, thành phố hồ chí minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (814.03 KB, 106 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC QUẬN 9,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

NGHỆ AN - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC QUẬN 9,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chun ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS. TS. BÙI VĂN DŨNG


NGHỆ AN - 2017


2
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp luận văn được bảo vệ, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám
hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Vinh, các thầy cô giáo,
Trung tâm Thông tin - Thư viện Nguyễn Thúc Hào đã tạo điều kiện giúp đỡ
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới thầy giáo, PGS.
TS. Bùi Văn Dũng, người đã tận tình hướng dẫn tơi trong suốt q trình nghiên
cứu để tơi hồn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các phòng, ban chức năng, tập
thể đồng nghiệp phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 9 và gia đình đã động viên,
tạo điều kiện cho tơi trong suốt q trình học tập và nghiên cứu.
Trong những thể nghiệm ban đầu, chắc hẳn ḷn văn sẽ cịn nhiều thiếu
sót. Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cơ và các bạn đồng nghiệp.
Xin chân thành cám ơn!
TP. Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2017

Nguyễn Thị Thu Hiền


3
MỤC LỤC
Trang
TRANG BÌA PHỤ ................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ...................................................................... 4
DANH MỤC CÁC BẢNG.................................................................................... 5

A. MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 6
B. NỘI DUNG..................................................................................................... 15
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ...................... 15
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài ......................................... 15
1.2. Tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về nâng cao
trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ............... 24
1.3 Mục đích, nội dung, hình thức nâng cao trình độ lý luận chính trị cho
đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục .............................................................. 27
1.4. Ý nghĩa cấp thiết của việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ
cán bộ quản lý giáo dục hiện nay............................................................. 38
Kết luận chương 1 ............................................................................................ 41
Chương 2. THỰC TRẠNG CƠNG TÁC NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ở QUẬN 9,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ........................................................................... 42
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội quận 9, thành phố
Hồ Chí Minh ............................................................................................ 42
2.2. Thực trạng trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
trên địa bàn quận 9, thành phố Hồ Chí Minh .......................................... 46
2.3. Tình hình nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ
quản lý giáo dục trên địa bàn quận 9, thành phố Hồ Chí Minh............... 52
Kết luận chương 2 ............................................................................................ 66
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Ở QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY................................... 67
3.1. Quan điểm nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ
quản lý giáo dục ở quận 9, thành phố Hồ Chí Minh ............................... 67
3.2. Một số giải pháp nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ
quản lý giáo dục ở quận 9, thành phố Hồ Chí Minh ............................... 72
Kết luận chương 3 ............................................................................................ 95

C. KẾT LUẬN .................................................................................................... 96
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 99
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 104


4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNXH

:

Chủ nghĩa xã hội

MN

:

Mầm non

Nxb

:

Nhà xuất bản

TH

:


Tiểu học

THCS

:

Trung học cơ sở

TP

:

Thành phố

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa


5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Trình độ lý luận chính trị và chuyên môn của cán bộ quản lý
giáo dục tại các bậc học trên địa bàn quận 9, TP Hồ Chí Minh ....... 47
Bảng 2.2. Nhận thức của cán bộ quản lý giáo dục về vai trò của lý luận
chính trị............................................................................................. 52
Bảng 2.3. Các hình thức tổ chức bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ
quản lý giáo dục của các trường trên địa bàn quận 9, TP Hồ Chí Minh ... 56



6
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác giáo dục lý luận chính trị tư tưởng ln là nhiệm vụ quan trọng
của công tác xây dựng Đảng. V.I.Lênin đã dạy: Khơng có lý luận cách mạng thì
khơng có phong trào cách mạng; Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thực tiễn
mà khơng có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù qng, lý luận mà khơng
có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [33; tr.496]. Nhờ nắm vững lý luận chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân vượt
qua thách thức trong bối cảnh thế giới diễn biến cực kỳ phức tạp, giữ vững ổn
định chính trị, xã hội; bảo đảm an ninh, quốc phòng, tăng liên tục nhịp độ phát
triển kinh tế, cải thiện dần đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nâng cao
dần vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, sẽ là thiếu sót lớn nếu khơng thấy hoặc thấy khơng hết những
mặt yếu kém, những hiện tượng xa lạ với lý luận, tư tưởng của Đảng đang tồn
tại hiện nay. Đó là những hiện tượng suy thối về tư tưởng chính trị, về đạo đức,
lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý giáo dục. Nghị quyết Trung
ương 4 (Khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã
chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý giáo dục, trong đó có những
Đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ Cao cấp, suy thối về
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai
nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo
danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vơ
ngun tắc...” [18].
Hơn bao giờ hết, nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ trở thành một
nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống cịn, quyết định vai trò lãnh đạo
của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Nghị quyết số 32 - NQ/TW của Bộ Chính
trị khẳng định: Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị là nhiệm vụ quan trọng của



7
Đảng. Mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về
học tập suốt đời, học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, gắn học tập với
rèn luyện phẩm chất đạo đức, tư cách người cách mạng; đổi mới nâng cao chất
lượng cơng tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị phải luôn bám sát mục tiêu,
yêu cầu, nhiệm vụ của chiến lược cán bộ và gắn kết chặt chẽ với các khâu của
công tác cán bộ.
Cán bộ quản lý giáo dục là người đứng đầu trường học, có vị trí quan
trọng nhất trong việc quản lý, điều hành nhà trường và chịu trách nhiệm trước
tiên trước các cơ quan có thẩm quyền về mọi hoạt động của trường học. Xuất
phát từ vị trí đó, có thể thấy, người cán bộ quản lý giáo dục có vai trị quyết định
đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ, giáo viên và chất lượng
học tập, rèn luyện đạo đức của học sinh. Vai trò này được thể hiện qua các quyết
định quản lý; qua công tác tổ chức, điều khiển, thiết kế, liên kết các mối quan hệ
của cá nhân, bộ phận, các yếu tố trong nhà trường thành một cơ cấu thống nhất
để bộ máy vận hành, phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ, đạt hiệu quả cao hơn so với
nỗ lực riêng lẻ, trên cơ sở phát huy năng lực cá nhân và tiềm năng hợp tác của
tập thể. Đối với xã hội, cán bộ quản lý giáo dục đóng vai trị hạt nhân trong q
trình xã hội hóa giáo dục, thể hiện qua cơng tác sử dụng, khai thác các nguồn lực
cho giáo dục, tuyên truyền các chủ trương, chính sách, quan điểm của ngành,
đồng thời thiết lập các mối quan hệ để huy động các lực lượng xã hội tham gia
thực hiện các chủ trương, đóng góp cho sự nghiệp giáo. Để làm được điều ấy,
người cán bộ quản lý phải có trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị
Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở các trường chủ yếu trưởng
thành thông qua thực tiễn, chưa được đào tạo cơ bản, nhìn chung còn yếu và hạn
chế trên nhiều mặt. Hạn chế cơ bản của đội ngũ này là trình độ nhận thức chính
trị. Nhiều cán bộ được đề bạt, bổ nhiệm vào chức vụ lãnh đạo nhưng chưa đạt
chuẩn quy định về lý luận chính trị. Bởi thế, trong nhận thức và chỉ đạo thực tiễn

họ thường mắc phải bệnh kinh nghiệm, giáo điều, điều hành công tác lãnh đạo,


8
quản lý cũng như xử lý công việc một cách máy móc, kém hiệu quả. Việc nâng
cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ quản lý giáo dục trở thành vấn đề bức
thiết, cần phải được nghiên cứu nghiêm túc và triển khai chặt chẽ trên thực tế.
Để khắc phục tình trạng trên cần phải giải quyết nhiều vấn ñề liên quan đến đội
ngũ cán bộ quản lý giáo dục, trong đó, vấn đề có ý nghĩa cấp bách là phải đổi
mới, tăng cường hơn nữa công tác đào tạo, nâng cao trình độ lý luận chính trị
nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng cho họ trong
quá trình chỉ đạo thực tiễn ở địa phương. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, khảo
sát, đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp cụ thể thiết thực nhằm nâng cao
trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện có ý nghĩa hết
sức quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn, nhằm góp phần đẩy nhanh q
trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước.
Vấn đề bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đã
được Đảng, ngành giáo dục, ngành tuyên huấn, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
trong thời gian vừa qua. Chỉ thị số 25 - CT/TW của Ban Bí thư ngày 12 tháng 10
năm 1983: Về việc cải cách giáo dục lý luận chính trị trong các trường Đại học
và Cao đẳng [3]; Chỉ thị 34 - CT/TW ngày 30/5/1998 của Bộ Chính trị (khóa
VIII) Về tăng cường cơng tác chính trị tư tưởng, củng cố tổ chức Đảng, đồn
thể, quần chúng và cơng tác phát triển Đảng viên trong các trường Đại học [9];
Chỉ thị số 20 - CT/TW ngày 27/1/2003 của Ban Bí thư Về nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác xuất bản, phát hành sách lý ḷn, chính trị trong tình hình
mới [4]. Thơng báo số 181 - TB/TW của Ban Bí thư ngày 3/9/2008 Về đổi mới,
nâng cao chất lượng hoạt động của Trường chính trị cấp tỉnh và Trung tâm Bồi
dưỡng chính trị cấp hụn [5]; Thơng tư số 12/2012/TT - BKHCN của Bộ Khoa
học và Công nghệ Về tổ chức quản lý hoạt động Chương trình khoa học xã hội
trọng điểm cấp Nhà nước “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn

2011 - 2015”, mã số KX.04/11 - 15 [11]; Hướng dẫn số 84 - HD/ BTGTW của
Ban Tuyên giáo trung ương Về nhiệm vụ công tác giáo dục chính trị năm 2010


9
[8]; Thông báo số 214 - TB/TW ngày 3/5/1999 của Thường vụ Bộ Chính trị
(khoa VIII) về Đề án nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy, học tập các
bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường Đại học,
Cao đẳng [10]; Nghị quyết 494/QĐ - TT ngày 24/6/2002 của Thủ tướng chính
phủ phê duyệt đề án Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả công tác
giảng dạy, học tập các bộ mơn Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các
trường Đại học, Cao Đảng, mơn chính trị trong các trường Trung học chuyên
nghiệp và dạy nghề [46]; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X) Cơng tác
tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới [6]; Nghị quyết Hội nghị lần thứ
7 (khóa X) về Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước; Đề án "Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn
khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường Đại học và Cao
đẳng" (năm 2007); Nghị quyết 25 - NQ/TW ngày 25/7/2008 của Ban chấp hành
Trung ương về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên
trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa [12]; Nghị quyết số 16 NQ/TW ngày 1 tháng 8 năm 2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tại
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khố X) về Cơng tác tư
tưởng, lý ḷn và báo chí trước yêu cầu mới; Nghị quyết số 12 - NQ/TW - Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về Một số
vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay [18]…
Tác giả Nguyễn Thái Sơn (2001) trong cơng trình Đổi mới công tác đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội đã chỉ ra
rằng một trong những nội dung cần phải tập trung bồi dưỡng để phát huy năng
lực của người cán bộ lãnh đạo trong thời kỳ mới chính là lý luận chính trị. Bên
cạnh đó, tác giả cũng đề xuất việc đổi mới nội dung chương trình, hình thức đào
tạo, bồi dưỡng để nâng cao hiệu quả của công tác này [38].

Cũng trong năm 2001, tác giả Trần Thành trong công trình Tư duy lý luận
đối với người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị đã


10
khẳng định vai trò quan trọng của tư duy lý luận đối với hoạt động của đội ngũ
cán bộ chủ chốt. Tác giả cho rằng năng lực tư duy lý luận là khả năng tư duy về
những vấn đề chung, tổng thể, tồn vẹn, nắm bắt đối tượng trong tính chỉnh thể
của sự tồn tại, vận động và phát triển. Đó là khả năng tư duy khoa học, sáng tạo
trong sử dụng các khái niệm, phạm trù để phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu
tượng hoá, khái quát hoá nhằm đem lại những tri thức mới mang tính chính xác,
sâu sắc, chặt chẽ, lơgíc và có hệ thống..., phù hợp với quy luật khách quan của
hiện thực. Năng lực tư duy lý luận có sức mạnh đưa lý luận vào cuộc sống, cụ
thể hoá lý luận thành mục tiêu, phương hướng, giải pháp khả thi để giải quyết
các vấn đề của cuộc sống một cách có hiệu quả [41].
Năm 2004, tác giả Ngơ Ngọc Thắng với cơng trình Đào tạo, bồi dưỡng lý
luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trong thời kỳ đổi mới, Nxb Lý luận
chính trị. Tác giả bằng sự phân tích vai trị, nhiệm vụ, thực trạng chất lượng đội
ngũ cán bộ cấp cơ sở thời kỳ hiện nay đã chỉ ra rằng việc đào tạo, bồi dưỡng lý
luận chính trị cho đội ngũ này là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Tất nhiên, theo tác giả, việc cần thiết là phải xây dựng được nội dung chương
trình đào tạo phù hợp, gắn hết được lý luận với vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ
cán bộ cơ sở trên thực tế [43]. Điều này đã được tác giả Vũ Ngọc Am nhắc tới
trong một cơng trình trước đó Đổi mới cơng tác giáo dục chính trị tư tưởng cho
cán bộ cơ sở, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2003). Cuốn sách đã trình bày về
cơng tác giáo dục chính trị tư tưởng với việc nâng cao tính tự giác cách mạng
cho cán bộ quản lý giáo dục. Qúa trình đổi mới, nâng cao chất lượng cơng tác
giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ quản lý giáo dục nhằm chống “diễn biến
hịa bình” [1].
Về vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị bằng việc đổi

mới nội dung chương trình, phương pháp và hình thức dạy học, năm 2008, Ban
Tuyên giáo Trung ương đã có cơng trình Phương pháp giảng dạy lý ḷn chính
trị, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội [13]. Sau đó 1 năm, năm 2009, tác giả Vũ


11
Ngọc Am tiếp tục cụ thể hóa điều này trong cơng trình Một số vấn đề về đổi mới
phương pháp giáo dục lý ḷn chính trị, Nxb Thơng tấn, Hà Nội. Cuốn sách
được coi như cẩm nang nghiệp vụ của những người làm cơng tác giáo dục lý
luận chính trị nói chung và những người trực tiếp làm cơng tác giảng dạy lý luận
chính trị nói riêng. Nội dung chủ yếu của cuốn sách gồm 3 phần chính. Đặc biệt,
trong phần thứ hai (phần trọng tâm nhất của cuốn sách) có một nội dung rất mới,
đó là đề cương một số bài giảng cho giảng viên tham khảo [2].
Ngoài các cơng trình kể trên, cơng tác giáo dục lý luận chính trị cho đội
ngũ cán bộ quản lý giáo dục còn được đề cập đến trong một số bài viết như:
Lê Hanh Thơng (2000), “Tăng cường giáo dục lí luận chính trị cho cán bộ
Đảng viên, yếu tố quan trọng hàng đầu đảm bảo sự vững mạnh của Đảng”,
Tạp chí Khoa học Chính trị, số 6, Phân viện TP Hồ Chí Minh, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh [45]; Nguyễn Tĩnh Gia (11/2001), “Giáo dục
lí luận chính trị và đạo đức cho cán bộ hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 22
[23]; Hồ Bá Thâm (2002), “Phát triển năng lực tư duy của người lãnh đạo
quản lý hiện nay”, Tạp chí Cộng sản số 23/2002 [44]; Nguyễn Khoa Điềm
(2004), “Nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả cơng việc giáo dục lý luận
chính trị trong tình hình mới”, Tạp chí Thơng tin cơng tác tư tưởng lý luận, số
01 [22]; Đoàn Thế Hanh (2007), “Tăng cường nhận thức lý luận chính trị đối
với cán bộ quản lý giáo dục theo tinh thần nghị quyết TW 5 khoá X”, Tạp chí
Cộng sản, số 6 [25]…
Thực hiện đề tài, chúng tơi cũng tiếp cận với một số cơng trình luận án,
luận văn của một số tác giả nghiên cứu về việc nâng cao trình độ lý luận chính
trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục. Năm 1996, tác giả Đỗ Cao Quang có

nghiên cứu đề tài Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp xã miền núi hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh [36]; Năm 2001, tác giả Nông Văn Tiềm nghiên cứu đề tài Nâng cao
trình độ lý ḷn chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý cấp huyện ở tỉnh Cao Bằng


12
trong giai đoạn hiện nay [47], Luận văn Thạc sĩ, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Hồng Lê (2014), Nâng cao trình độ lý ḷn chính trị
cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn
hiện nay [26]; Nguyễn Viết Trường (2010), Nâng cao trình độ lý luận chính trị
cho cán bộ cấp cơ sở ở Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ
Khoa học giáo dục, Trường Đại học Vinh [48]; Nguyễn Thị Lệ Hà (2011), Nâng
cao chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho Đảng viên mới ở Đảng bộ khối
các cơ quan tỉnh Hà Tỉnh trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Trường
Đại học Vinh [24]… Những cơng trình này đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lý
luận và thực tiễn trong vấn đề bồi dưỡng lý luận chính trị với nhiều khía cạnh,
góc độ khác nhau; đã đi sâu phân tích nghiên cứu về giảng dạy lý luận Mác Lênin nói chung và lý luận chính trị nói riêng; đặc biệt có cơng trình cịn đi sâu
nghiên cứu về phương pháp giảng dạy cho từng nhóm đối tượng cụ thể để nâng
cao hiệu quả công tác của họ trên thực tiễn. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có
cơng trình nào nghiên cứu chun sâu về nâng cao trình độ lý luận chính trị cho
đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, đặc biệt là ở phạm vi các trường THPT trên địa
bàn Quận 9, TP Hồ Chí Minh. Đây là cơ hội và cũng là thách thức cho chúng tơi
trong q trình tiến hành nghiên cứu tìm ra những giải pháp: Nâng cao trình độ
lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở quận 9, thành phố Hồ
Chí Minh.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở luận giải các tiền đề lý luận và thực tiễn, mục đích nghiên cứu
của luận văn là đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm góp phần nâng cao
trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở quận 9, thành

phố Hồ Chí Minh hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn hướng đến giải quyết
các nhiệm vụ trọng tâm:


13
- Phân tích, làm rõ bản chất đặc trưng của lý luận chính trị, tầm quan
trọng và yêu cầu của việc nâng cao trình độ lý luận chính cho đội ngũ cán bộ
quản lý giáo dục hiện nay.
- Đánh giá đúng thực trạng trình độ lý luận chính trị, cơng tác bồi dưỡng
trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở quận 9, thành
phố Hồ Chí Minh và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu khả thi nhằm nâng cao
trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở quận 9, thành
phố Hồ Chí Minh hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về cơng tác nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ
cán bộ quản lý giáo dục.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: nghiên cứu việc nâng cao trình độ lý luận chính trị
cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục.
- Phạm vi không gian: nghiên cứu việc nâng cao trình độ chính trị cho đội
ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở quận 9, thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu thực trạng nâng cao trình độ chính trị cho
đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở quận 9, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2010 - 2016 và đề xuất các giải pháp nâng cao trình độ chính trị cho đội ngũ này
giai đoạn 2016 - 2020.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận
Việc nghiên cứu đề tài dựa vào: cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, những quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin,
của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về trình độ lý luận chính trị,
cơng tác nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục


14
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp lịch sử - logic
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp thống kê
6. Những đóng góp mới của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể tham khảo vận dụng trong việc
nghiên cứu để xây dựng tiêu chuẩn, kế hoạch đào tạo lý luận chính trị cho cán
bộ quản lý giáo dục; xác định mục tiêu, phương pháp đào tạo, đổi mới nội dụng,
phương pháp giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị, các Trung tâm
Bồi dưỡng chính trị cấp quận, thành phố… nhằm nâng cao chất lượng đào tạo,
bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ quản lý giáo dục.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn có
kết cấu gồm 3 chương.


15
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1. Lý luận và Lý luận chính trị
*) Khái niệm lý luận
Lý luận là một phạm trù khoa học phản ánh hiện thực khách quan, tồn tại
và phát triển cùng với sự phát triển của trí tuệ lồi người trên mọi lĩnh vực tự
nhiên và xã hội. Theo Từ điển Triết học: “Lý luận là sự tổng hợp các tri thức về
tự nhiên và xã hội tích lũy được trong q trình lịch sử”; là “Hệ thống tư tưởng
chủ đạo trong một lĩnh vực tri thức”[37; tr.526].
Lý luận là sự tổng hợp về những tri thức tự nhiên và xã hội được tích lũy
trong quá trình lịch sử nhân loại. Hồ Chí Minh cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết
những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã
hội tích trữ lại trong q trình lịch sử” [33, tr.497].
Mọi lĩnh vực đời sống tự nhiên, xã hội, tư duy khi đã trở thành đối tượng
nghiên cứu của con người thì kết quả của quá trình nghiên cứu ấy đều được thể
hiện dưới hình thức tri thức lý luận với trình độ khái qt hóa nhất định. “Lý
luận hiểu theo nghĩa chung nhất là các khái niệm, phạm trù, quy luật được khái
quát từ nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn của con người. Lý luận là
kết quả nhận thức chủ quan của con người về những hiện tượng khách quan
trong tự nhiên, xã hội và tư duy” [14; tr.183].
Lý luận xuất phát từ thực tiễn và có vai trị định hướng, soi đường cho
hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn. Theo Từ điển tiếng Việt: “Lý luận là tổng
kết có hệ thống những kinh nghiệm của loài người phát sinh từ thực tiễn để chi
phối và cải tạo thực tiễn” [35; tr.496].


16
Như vậy, lý luận được hiểu là hệ thống tri thức được khái quát từ thực
tiễn khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy của con người, được biểu đạt
đưới dạng các khái niệm, phạm trù, quy luật, tư tưởng, quan điểm,...nhằm giúp
con người chi phối và cải tạo thực tiễn.

*) Lý luận chính trị
Lý luận chính trị là bộ phận quan trọng trong kho tàng lý luận của nhân
loại giới hạn trong lĩnh vực chính trị, phản ánh mối quan hệ của các giai cấp
trong việc giành và giữ chính quyền. Nói cách khác, lý luận chính trị là hệ thống
tri thức về lĩnh vực chính trị thể hiện thái độ và lợi ích giai cấp đối với quyền lực
Nhà nước trong xã hội có giai cấp, là kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa
học và thực tiễn chính trị của nhiều người, qua nhiều thế hệ.
Về nguồn gốc, lý luận chính trị là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu về
lý luận và thực tiễn chính trị của giai cấp trong việc đấu tranh giành, giữ và xây
dựng chính quyền Nhà nước.
Về bản chất, lý luận chính trị phản ánh tính quy luật của các quan hệ kinh
tế - chính trị - văn hóa - xã hội, thể hiện lợi ích và thái độ của giai cấp đối với
quyền lực Nhà nước.
Về mục đích, lý luận chính trị nhằm trang bị thế giới quan và thúc đẩy
hành vi thực hiện mục tiêu, lý tưởng chính trị của giai cấp. Lý luận chính trị của
giai cấp vô sản là sự khái quát tri thức nhân loại và tổng kết kinh nghiệm của
phong trào công nhân thế giới làm công cụ đắc lực cho việc giành và giữ chính
quyền của giai cấp cơng nhân ở mỗi quốc gia, dân tộc. Theo Lênin, lý luận có
vai trị hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách mạng: “Khơng có lý luận cách
mạng thì cũng khơng thể có phong trào cách mạng” và “chỉ Đảng nào được một
lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm trịn vai trị chiến sĩ tiên
phong” [27; tr.30-32]. Hồ Chí Minh cũng cho rằng: “Đảng khơng có chủ nghĩa
cũng như người khơng có trí khơn, tàu khơng có bàn chỉ nam” [31; tr.268].
Lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay là hệ thống những nguyên lý của


17
chủ ngĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước cùng những tinh hoa tư tưởng chính trị của
dân tộc và nhân loại. Nó phản ánh tính quy luật của các quan hệ kinh tế - chính

trị - xã hội, thể hiện lợi ích và thái độ của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, là công cụ quan trọng
cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Theo các cấp độ, kiến thức lý luận chính trị gồm: những quy luật vận động
của tự nhiên và xã hội, hệ thống quan điểm, luận điểm về thế giới (thế giới quan),
hình thành hệ tư tưởng của một giai cấp (hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin
là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân); những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin, sự thể hiện của chúng trong các điều kiện của thời đại; các mơ hình,
phương pháp luận vận dụng các nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác - Lênin vào
điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi giai đoạn phát triển của cách mạng, qua đó
xây dựng, phát triển cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản (Đảng
Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo vào hồn cảnh cụ thể của nước mình
phát triển hệ tư tưởng của giai cấp vô sản); cơ sở lý luận của đường lối, quan điểm
của Đảng nói chung và của mỗi ngành, địa phương, lĩnh vực cụ thể và kết quả
tổng kết thực tiễn trong quá trình thực hiện đường lối của Đảng.
Chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống lý
luận khơng thể tách rời, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học trong quá
trình cách mạng Việt Nam, nhất là trong quá trình đổi mới vừa qua. Đại hội lần
thứ VII của Đảng ta lần đầu tiên đã chính thức khẳng định sự song hành gắn kết
giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh tạo thành nền tảng tư
tưởng vững chắc: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[15; tr.127]. Nghị quyết 09
của Bộ Chính trị (khóa VII) tiếp tục khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của
Đảng ta và cho cách mạng Việt Nam. Bởi vì, Đảng ta là đại diện cho lợi ích


18
quốc gia, dân tộc và có vai trị lãnh đạo cách mạng bảo vệ lợi ích thiêng liêng
đó. Đại hội lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định nước ta kiên trì đi lên con

đường XHCN dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh: Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo
con đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh. Có thể nói, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam. Thực tế cách mạng Việt Nam
cũng chứng minh rằng, khi nào chúng ta vận dụng nhuần nhuyễn và sáng tạo hệ
thống lý luận này thì gặt hái được nhiều thành quả, và ngược lại. Trong cách
mạng dân tộc, dân chủ nhờ vận dụng sáng tạo lý luận này mà chúng ta đã đánh
bại các thế lục thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai; từ một nước thuộc đại bị xâm
chiếm, chia cắt trở thành một quốc gia độc lập, thống nhất đang trên đà phát
triển. Trong thời kì cả nước cùng tiến hành cách mạng XHCN, đã có lúc chúng
ta vận dụng chưa đúng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nên đã có
giai đoạn rơi vào khủng hoảng kinh tế xã hội kéo dài (1975 - 1985). Sau đó cũng
chính nhờ nhận thức đúng đắn về vai trò nền tảng của lý luận này và vận dụng
sáng tạo nó trong thực tiễn mà chúng ta đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng
và từng bước phát triển vững chắc.
Lý luận chính trị bao gồm những tri thức tổng hợp, liên ngành mang tính
Đảng, tính giai cấp rõ rệt, đồng thời có tính khái qt hóa, trừu tượng hóa và
tính dự báo khoa học cao. Điều này khẳng định vai trò và tầm quan trọng to lớn
của nó đối với nhận thức và hành động của từng cá nhân nói riêng và sự phát
triển của tồn xã hội nói chung, đồng thời cho thấy sự khó khăn, phức tạp của
quá trình sáng tạo, nhận thức và vận dụng lý luận chính trị.
1.1.2. Trình độ lý luận chính trị
Trình độ là: “mức độ về sự hiểu biết, về kỹ năng được xác định hoặc đánh
giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó” [35; tr. 1037] hoặc là: “dung lượng, mức
độ và chất lượng của hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ cảm xúc và đánh


19
giá tương ứng trong cấu trúc nhân cách. Trình độ chung của con người cấu thành

từ học vấn phổ thông, chuyên nghiệp; từ cuộc sống, kinh nghiệm ứng xử, thông
qua con đường chủ đạo là dạy học, giáo dục và hoạt động "nhận thức - thực tiễn
xã hội" của chính người đó” [49].
Trình độ lý luận chính trị là mức độ về sự hiểu biết hệ thống những tri
thức được khái quát từ kinh nghiệm hoạt động chính trị thực tiễn của một giai
cấp hoặc một chính Đảng. Hiểu biết về những mối quan hệ bản chất, tất nhiên,
mang tính quy luật của hoạt động chính trị của một giai cấp hoặc một chính
Đảng. Hiểu biết về hệ thống những khái niệm, phạm trù, ngun lý, quy
luật…có liên quan.
Ngồi ra, trình độ lý luận chính trị cịn là kỹ năng vận dụng hệ thống
những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm hoạt động chính trị thực tiễn của
một giai cấp hoặc một chính Đảng. Vận dụng những mối quan hệ bản chất, tất
nhiên, mang tính quy luật của hoạt động chính trị của một giai cấp hoặc một
chính Đảng. Vận dụng hệ thống những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy
luật… có liên quan.
Trình độ lý luận chính trị của cán bộ quản lý giáo dục được quy định tại
Quy định số 12/TC - TTVH ngày 9/1/2004 của Ban Tổ chức Trung ương - Ban
Tư tưởng Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) như sau:
- Đối tượng được cơng nhận có trình độ Cao cấp lý luận chính trị:
+ Những người có bằng Đại học chính trị, Đại học chuyên ngành Mác Lênin (Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin, CNXH khoa học,
Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Chính trị học, Lịch sử Đảng), Đại
học chuyên ngành Tư tưởng văn hoá, Đại học chuyên ngành Tổ chức.
+ Những người đã tốt nghiệp chương trình đào tạo cán bộ cấp chiến thuật
- chiến dịch nhóm ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn, Quản lý - Chỉ huy quân
sự (Học viện Quốc phịng, Học viện Chính trị Qn sự, Học viện Lục quân, Học
viện Khoa học quân sự).


20
+ Những người có bằng Thạc sĩ, Tiến sỹ, Tiến sỹ khoa học chuyên ngành

Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Đối tượng được cơng nhận có trình độ Trung cấp lý luận chính trị.
+ Những người đã tốt nghiệp ở các học viện, trường Đại học, Cao đẳng
của các trường thuộc chuyên ngành Kinh tế - Quản trị, kinh doanh, Khoa học xã
hội và Nhân văn ở trong nước.
+ Những người đã tốt nghiệp hoặc đã học xong chương trình trung học
chính trị tại các trường chính trị tỉnh, thành và ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ được cấp có thẩm quyền giao trách nhiệm đào tạo Trung cấp lý luận
chính trị.
+ Những người đã tốt nghiệp hoặc đã học xong chương trình đào tạo cán
bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền, đồn thể nhân dân ở cơ sở tại các trường chính
trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
+ Những người tốt nghiệp hệ dài hạn (từ hai năm trở lên) không phải chuyên
ngành Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tại các phân hiệu Nguyễn Ái Quốc và
các trường Đảng khu vực (trước đây) và Phân viện Hà Nội, Phân viện Đà Nẵng,
Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền.
+ Những người tốt nghiệp các ngành khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên
đã bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ và Tiến sỹ khoa học (Phó Tiến sỹ và Tiến
sỹ cũ) ở trong nước và ở các nước XHCN.
+ Những người có bằng Thạc sĩ chuyên ngành khoa học Xã hội và Nhân
văn, chuyên ngành Kinh tế - Quản trị, kinh doanh ở trong nước.
+ Những người đã tốt nghiệp hệ dài hạn trường đào tạo sĩ quan, Quản lý Chỉ huy quân sự, công an, các học viện đào tạo cán bộ cấp chiến thuật - chiến
dịch ngành hậu cần, kỹ thuật.
- Đối tượng được cơng nhận có trình độ Sơ cấp lý luận chính trị:
+ Những người đã tốt nghiệp ở các học viện, trường Đại học, Cao đẳng
trong nước (trừ những trường được quy định ở điểm 2 tại văn bản này), những


21
người tốt nghiệp các trường trung học chuyên nghiệp khối ngành kinh tế, những

người tốt nghiệp các trường Trung cấp quân đội, công an.
+ Những người đã tốt nghiệp các học viện, trường qn đội cấp phân đội
khơng thuộc nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn, quản lý, chỉ huy quân
sự, công an.
1.1.3. Cán bộ quản lý giáo dục
Cán bộ quản lý bản chất là cán bộ nhưng họ được phân công công việc
chuyên biệt đặc thù là quản lý. Khái niệm này được dùng tương đương với từ
manager - người quản lý, điều hành trong tiếng Anh. Trên thực tế, khái niệm
này và khái niệm cán bộ lãnh đạo thường gắn liền với nhau, đều được hiểu là
những người có chức vụ, có trách nhiệm điều hành và đứng đầu trong một tổ
chức. Người cán bộ lãnh đạo thường đồng thời phải thực hiện luôn chức năng
của người quản lý.
Tuy nhiên, hai khái niệm trên khơng hồn toàn đồng nhất với nhau. Cán
bộ lãnh đạo thường bao quát công việc ở một phạm vi rộng hơn, là người chủ
yếu đề ra các chủ trương, chính sách, đường lối và tổ chức, động viên mọi người
cùng thực hiện. Trong khi đó, cán bộ quản lý thường bao quát công việc ở một
phạm vi hẹp hơn (chủ yếu là một khâu, một công đoạn, một lĩnh vực trong cả
tổng thể), giám sát, điều hành, định hướng công việc trong thực tế cho phù hợp
với những định hướng của cán bộ lãnh đạo đã đề ra. Trong quá trình lãnh đạo,
hoạt động chủ yếu là định hướng cho khách thể thơng qua hệ thống cơ chế,
đường lối, chủ trương, chính sách. Cịn hoạt động quản lý mang tính điều khiển,
vận hành thơng qua những thiết chế có tính pháp lệnh được quy định trước.
Người lãnh đạo có thể đồng thời kiêm chức năng quản lý nhưng người cán bộ
quản lý chưa chắc đã là lãnh đạo. Phân biệt được điều này để có sự rạch rịi khi
đánh giá hiệu quả công tác quản lý ở cơ sở.
Căn cứ vào các khái niệm trên ta có thể hiểu: cán bộ quản lý giáo dục là
những người có chức vụ, có vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức


22

thuộc hệ thống giáo dục. Người cán bộ quản lý giáo dục là người có trách
nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một
bộ phận hay toàn bộ tổ chức giáo dục, để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt
đến mục đích.
Trong đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục của một trường học, người
Hiệu trưởng thường được biết đến với vị trí trung tâm, có vai trị đề ra các
chính sách, đường lối và định hướng, giám sát việc thực thi các công việc
trong trường.
Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục là người đại diện cho Nhà nước về mặt
pháp lí, có trách nhiệm và thẩm quyền về mặt hành chính và chun mơn, chịu
trách nhiệm trước các cơ quan quản lý cấp trên về tổ chức và các hoạt động giáo
dục của nhà trường, có vai trị ra quyết định quản lý, điều khiển các thành tố
trong hệ thống nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo
được quy định bằng pháp luật hoặc bằng các văn bản, hướng dẫn do các cấp có
thẩm quyền ban hành.
Trên thực tế, số lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở các trường
thường không nhiều, chủ yếu là Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng. Đội ngũ
này được phân cấp quản lý, ở các phạm vi với các vai trị, vị trí khác nhau nhưng
cùng hướng đến mục đích là đảm bảo sự vận hành thuận lợi và có hiệu quả của
tổ chức. Đây là những người có trách nhiệm phân bố nhân lực và nguồn lực
khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức giáo dục, để tổ
chức hoạt động có hiệu quả và đạt được mục đích đề ra.
1.1.4. Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý
giáo dục
Sự hiểu biết của con người về thế giới là kết quả của quá trình phản
ánh liên tục hiện thực sinh động vào bộ óc thơng qua hàng loạt hoạt động
sáng tạo. Đến lượt nó, sự hiểu biết sẽ mở đường để con người tiếp tục khám
phá, sáng tạo, đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn. Khi thực tiễn thay đổi, vốn



23
hiểu biết đã có sẽ trở nên lạc hậu, xa rời cuộc sống, cản trở bước tiến lên của
xã hội. Do đó, để đáp ứng sự thay đổi đó, con người phải không ngừng
nghiên cứu thực tiễn để chắt lọc, kế thừa, phát triển những tri thức còn phù
hợp, phát triển chúng trong những điều kiện mới và loại bỏ những kiến thức
đã cũ kỹ, lạc hậu. Nâng cao trình độ lý luận chính trị là cập nhật kiến thức
cịn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc thêm về nghiệp vụ, củng cố các kỹ năng
nghề nghiệp để làm cho người được bồi dưỡng tốt hơn. Đây là quy luật của
lý luận nhận thức.
Nâng cao trình độ lý luận chính trị là một q trình tác động có chủ
đích đến đối tượng nhằm làm cho đối tượng nắm vững hơn, đầy đủ hơn tri
thức lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, truyền thống lịch sử, văn hóa của
dân tộc, của thời đại. Từ đó, hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh
quan cộng sản, phương pháp tiếp cận và xử lý các vấn đề thực tiễn nảy sinh
tốt hơn. Mặt khác, làm cho đối tượng có phương pháp tự nghiên cứu, tự tìm
hiểu để bổ sung kiến thức mới. Nói cách khác, bồi dưỡng lý luận chính trị
chính là việc trang bị, củng cố thêm tri thức về các lĩnh vực chính trị và
phương pháp tổng kết thực tiễn để rút ra kiến thức lý luận mới. Vì vậy, bồi
dưỡng lý luận chính trị là việc làm thường xuyên, liên tục với những nội
dung, hình thức và phương pháp phù hợp.
Cơng tác giáo dục, nâng cao trình độ lý luận chính trị là một bộ phận cơ
bản trong công tác tư tưởng của Đảng, thực hiện việc truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cán bộ quản lý giáo dục và nhân dân.
Công tác giáo dục lý luận chính trị nhằm hình thành thế giới quan, phương pháp
luận khoa học, nhận thức tư tưởng, bản lĩnh chính trị, niềm tin và năng lực hoạt
động thực tiễn cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và nhân dân, đáp ứng yêu
cầu của từng thời kỳ phát triển của đất nước.



24
1.2. Tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về
nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
Một trong những vấn đề mà Hồ Chí Minh mong mỏi và dành sự quan tâm
là vấn đề lý luận, học tập lý luận; bởi vì "khơng có lý luận thì lúng túng như
nhắm mắt mà đi" [32; tr.234]. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ sự cần thiết của việc học
tập lý luận đối với cán bộ quản lý giáo dục khi đã có chính quyền Nhà nước.
Người cho rằng "Đảng ta đã hy sinh tranh đấu, đoàn kết, lãnh đạo nhân dân
giành lại thống nhất và độc lập. Công việc đã có kết quả vẻ vang" [32; tr. 232]
nhưng bước vào thời kỳ mới, cán bộ quản lý giáo dục còn mắc "nhiều khuyết
điểm". Theo Người, nguyên nhân của các khuyết điểm ấy có nhiều, trong đó có
nguyên nhân quan trọng là do sự yếu kém, hạn chế về lý luận của cán bộ quản lý
giáo dục.
Khơng có lý luận cách mạng thì khơng có phong trào cách mạng. Người
cách mạng khơng thể làm trịn nhiệm vụ của người chiến sĩ tiên phong, người
lãnh đạo, dẫn dắt phong trào nếu như không được vũ trang bởi lý luận tiên
phong. Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển luận điểm mac - xít ấy vào thực
tiễn cách mạng Việt Nam ở giai đoạn cán bộ quản lý giáo dục đã là người có
chức có quyền, nhân dân lao động đã là người làm chủ xã hội. Cán bộ quản lý
giáo dục khơng biết lý luận, kém lý luận thì "khơng biết xem cho rõ, cân nhắc
cho đúng, xử trí cho khéo" mọi cơng việc, do đó kết quả thường thất bại.
Chỉ sau hai năm tiến hành tổ chức, xây dựng xã hội mới, những cán bộ,
Đảng viên đã từng đi tiên phong, lãnh đạo nhân dân làm nên Cách mạng Tháng
Tám vĩ đại, đã sớm bộc lộ những hạn chế về mặt lý luận trước yêu cầu của cách
mạng trong giai đoạn mới. Cách mạng càng phát triển, yêu cầu ngày càng cao,
thì sự kém lý luận ở cán bộ quản lý giáo dục càng trở nên nguy hại. Sự "thất bại"
do thiếu lý luận mà Hồ Chí Minh nói đến, khơng cân đong, đo đếm được, nhưng
nguy hại khó lường, có thể dẫn đến mất "phương hướng", lạc hướng. Cán bộ ở
cương vị càng cao mà thiếu lý luận thì mức độ nguy hại càng lớn. Từ đó, Hồ Chí



×