Tải bản đầy đủ (.docx) (44 trang)

conduongcoxua welcome to my blog

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.92 MB, 44 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>MỤC LỤC</b>


<b>NỘI DUNG</b> <b>TRANG</b>


<b>A. MỞ ĐẦU ……….</b>
I.Đặt vấn đề………
1. Thực trạng của vấn đề……….
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới………...
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài………...
II.Phương pháp tiến hành...
1. Cở sở lí luận và thực tiễn………
2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp...


02
02
02
10
10
10
10
12
<b>B. NỘI DUNG : ...</b>


I. Mục tiêu...
II. Mô tả giải pháp của đề tài:...
1.Thuyết minh tính mới...
1.1. Kinh nghiệm chuẩn bị kiến thức cho tiết học ...
<i><b> 1.2. Kinh nghiệm tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp bài Chương trình</b></i>
<i><b>địa phương...</b></i>
<i> 1.3. Kiến thức cơ bản trong các bài dạy Chương trình địa phương...</i>
<i> 1.4. Kinh nghiệm tổ chức hoạt động ngoại khóa...</i>


1.5. Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh thuyết trình, trình bày vấn đề trước
lớp...
2. Khả năng áp dụng...
3. Lợi ích kinh tế- xã hội...


13
13
13
13
13
14
17
38
39
39
40
<b>C. KẾT LUẬN :</b>


I. Kinh nghiệm áp dụng, sử dụng giải pháp...
II. Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển giải pháp...
III. Đề xuất, kiến nghị...


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

<b>ĐỀ TÀI: </b>



<b>MỘT VÀI KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY BÀI “CHƯƠNG TRÌNH</b>


<b>ĐỊA PHƯƠNG” (PHẦN VĂN VÀ TẬP LÀM VĂN)</b>



<b>A. MỞ ĐẦU</b>
<b> I. Đặt vấn đề:</b>



<b> 1 Th ực trạng của vấn đề địi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết :</b>
<b> 1.1. Cơ sở</b>:


<i><b> Trong chương trình Ngữ văn có nhiều tiết dạy Chương trình địa phương như:</b></i>


<b>Lớp 6</b> <b>Lớp 7</b> <b>Lớp 8</b> <b>Lớp 9</b>


Tiết 70:


<i> Chương trình địa</i>
<i>phương phần Tiếng</i>
Việt.


Tiết 7:


<i>Chương trình địa</i>
<i>phương phần Văn.</i>
Tiết 87:


<i> Chương trình địa</i>
<i>phương phần Tiếng</i>
Việt.


Tiết 139-140:
<i>Chương trình địa</i>
<i>phương. </i>


Tiết 70:


<i> Chương trình địa</i>


<i>phương phần Tiếng</i>
Việt.


Tiết 74:


<i> Chương trình địa</i>
<i>phương phần Văn</i>
và phần Tập làm
văn.


Tiết133-134 :
<i>Chương trình địa</i>
<i>phương phần Văn</i>
và phần Tập làm
văn.


Tiết 137-138 :
<i>Chương trình địa</i>
<i>phương phần Tiếng</i>
Việt.


Tiết 31:


<i> Chương trình địa</i>
<i>phương phần Tiếng</i>
Việt.


Tiết 52:


<i> Chương trình địa</i>


<i>phương phần Văn.</i>
Tiết 92:


<i> Chương trình địa</i>
<i>phương phần Tập</i>
làm văn.


Tiết 121:


<i> Chương trình địa</i>
<i>phương phần Văn</i>
Tiết 137:


<i> Chương trình địa</i>
<i>phương phần Tiếng</i>
Việt.


Tiết 42:


<i> Chương trình địa</i>
<i>phương phần Văn.</i>
Tiết 63:


<i> Chương trình địa</i>
<i>phương phần Tiếng</i>
Việt.


Tiết 102:


Hướng dẫn chuẩn


<i>bị cho Chương trình</i>
<i>địa phương phần</i>
Tập làm văn( làm ở
nhà).


Tiết 133:


<i> Chương trình địa</i>
<i>phương phần Tiếng</i>
Việt


Tiết 143:


<i> Chương trình địa</i>
<i>phương phần Tập</i>
làm văn.


Như vậy học sinh học bài Chương trình địa phương 121 tiết trong đó phần Văn và Tập làm
văn tổng cộng là 12 tiết: lớp 6 là 3 tiết ( tiết 71,139,140), lớp 7 là 3 tiết (74,133,134) lớp 8 là
3 tiết( 52, 92,121) lớp 9 là 3 tiết (tiết 42, tiết 102,143). Nội dung kiến thức của các tiết học đi
từ thấp đến cao, sát với các dạng văn bản mà các em đã học trong chương trình( lớp 6 học
truyện dân gian, lớp 7 học ca dao - dân ca, lớp 8 là Thơ mới - văn học hiện đại 1930-1945,
lớp 9 văn học hiện đại giai đoạn (1945-1975). Và phần Tập làm văn cũng tương tự, các tiết
học cũng được sắp xếp từ thấp đến cao, thực hành các kiến thức các em đã học trong chương
trình: văn tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh. Cụ thể:


<b> * Lớp 6:</b>
<b> Tiết 71: </b>


- Hãy tìm hiểu xem q hương nơi mình đang sống có các thể loại truyện dân gian đã


học khơng? Nếu có hãy ghi chép lại và nắm chắc nội dung của một vài truyện thể hiện rõ
màu sắc địa phương nhất.


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

- Ngồi truyện dân gian địa phương em cịn có các sinh hoạt văn hóa dân gian nào độc
đáo.


- Tập kể lại một truyện dân gian hay giới thiệu một trị chơi dân gian địa phương mà
em u thích.


<b> Tiết 139- 140:</b>


- Tìm hiểu xem quê hương em có những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử nào?
Nếu có hãy ghi chép lại và nắm chắc nội dung của các di tích lịch sử và các danh lam thắng
cảnh đó.


- Tìm hiểu vấn đề về mơi trường và việc bảo vệ gìn giữ mơi trường ở quê hương em.
- Tập giới thiệu bằng miệng văn bản đã sưu tầm hay viết thành bài văn miêu tả cảnh đẹp
các di tích lịch sử hay danh lam thắng cảnh của quê hương em?


<b> * Lớp 7:</b>


<b> Tiết 74: Sưu tầm ca dao, dân ca tục ngữ lưu hành ở địa phương mình (Sự vật, di tích,</b>
thắng cảnh, danh nhân, sự tích, từ ngữ…. )


<b>Tiết 133-134: Tổng kết đánh giá bài tập sưu tầm ca dao, tục ngữ dân ca địa phương. </b>
<b> * Lớp 8:</b>


<b>Tiết 52: Lập bảng thống kê danh sách các nhà văn nhà thơ ở thành phố, tỉnh nơi em đang</b>
sống( chỉ thống kê các tác giả có sáng tác trước năm 1975)



<i><b> Tiết 92: Chương trình địa phương phần Tập làm văn. </b></i>
Giới thiệu di tích, thắng cảnh địa phương.


<b> Tiết 121: Các văn bản nhật dụng đã học đề cập đến vấn đề gì? Tìm hiểu một vài khía cạnh</b>
của một trong những vấn đề trên quê hương hoặc nơi em đang sinh sống, trình bày vấn đề
tìm hiểu thành một trang.


<b>* Lớp 9:</b>
<b>Tiết 42:</b>


- Tìm đọc sách báo, tạp chí văn nghệ địa phương để nắm được những tác giả người địa
phương và những tác phẩm viết về địa phương (tỉnh, thành phố quê em hay nơi em đang sinh
sống. )


- Bổ sung vào bảng thống kê tác giả văn học địa phương mà em đã lập ở lớp 8( bài 14)
những tác giả có sáng tác được công bố từ năm 1975 đến nay.


- Sưu tầm một số tác phẩm hay (thuộc bất kì thể loại nào) viết về địa phương mình (kể
cả tác phẩm của những tác giả không phải là người địa phương)


- Viết một bài văn ngắn giới thiệu và nêu cảm nghĩ của em về một trong những tác
phẩm viết về địa phương mình mà em sưu tầm được hoặc viết một bài văn hay một bài thơ về
địa phương mình.


<i><b> Tiết 102 Hướng dẫn chuẩn bị cho Chương trình địa phương phần Tập làm văn (làm ở</b></i>
nhà).


<i><b> Tiết 143: Chương trình địa phương phần Tập làm văn nghiên cứu về hai sự việc, hiện</b></i>
tượng mang tính phổ biến ở địa phương hiện nay: an toàn giao thông, vệ sinh môi trường
<i> Các nội dung trong bài Chương trình địa phương góp phần nâng cao kiến thức, hiểu biết</i>


về quê hương cho học sinh, từ đó hình thành cho các em tình cảm yêu mến, tự hào về quê
hương của mình. Mặt khác từ những liên hệ thực tế rất gần gũi, tạo được hứng thú mới cho
HS học môn Ngữ văn, một môn học mà do xu hướng phát triển của xã hội ít được các em
đầu tư, quan tâm.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

Vây nguyên nhân nào đã dẫn đến những hạn chế trong tiết dạy? Nguyên nhân nào đã làm
cho học sinh chưa thật sự hứng thú với tiết học?


<b> 1.2. Nguyên nhân:</b>
<b> a. Về phía giáo viên: </b>
* Thuận lợi:


- Môn Ngữ văn là một mơn học chính, có nhiều tiết/tuần nhất trong các mơn học nên
giáo viên có nhiều thời gian tiếp xúc, gần gũi với học sinh để dặn dò, nhắc nhở và đôn đốc
các em thực hiện yêu cầu mà giáo viên giao, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc của các em
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Mặt khác, giáo viên luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo
của Ban giám hiệu nhà trường.


- Trong trường giáo viên bộ mơn Ngữ văn có số lượng khá nhiều nên có thể bàn bạc,
trao đổi các vấn đề còn khúc mắc và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình dạy học.


* Khó khăn:


<i>- Trong thực tế các bài Chương trình địa phương phần Văn trong sch gio khoa, sch gio</i>
vin hướng dẫn chung cho tất cả các địa phương trên cả nước, khâu biên soạn có phần sơ sài,
đơn giản, chủ yếu đặt ra những vấn đề chung chung, khái quát. Bộ Giáo dục giao cho Sở biên
soạn nhưng Sở chưa có hội thảo để thơng nhất chương trình. Điều này sẽ có tác động hai
mặt: nó vừa là phần mở, phần chủ động, linh hoạt trong dạy và học, kích thích sự tìm tịi,
sáng tạo của thầy và trị nhưng đồng thời cũng dễ tạo tâm lí thả nổi, bng xi. Vì vậy nếu
giáo viên nào khơng có thời gian, tâm huyết với nghề để sưu tầm, tổng hợp, lựa chọn những


kiến thức tiêu biểu trọng tâm thì trong tiết học, người dạy và kể người học sẽ “bơi” trong đại
dương mênh mơng của kiến thức, thầy dạy, trị học sẽ gặp khó khăn, lúng túng, mơ hồ.


- Mặt khác trong quá trình tự tìm tài liệu để lựa chọn kiến thức cho tiết dạy bài
<i><b>Chương trình địa phương giáo viên cũng gặp khơng ít khó khăn vì cơ sở dạy học còn thiếu,</b></i>
tài liệu tham khảo ở thư viện rất ít, các tài liệu viết về địa phương Bình Định rất hiếm, tài liệu
về huyện xã hầu như khơng có, chưa đáp ứng đủ nhu cầu cho giáo viên.


- Thời lượng dành cho một tiết học khá hạn chế nên giáo viên chưa quan tâm đúng
<i><b>mức đến mục dặn dò HS chuẩn bị cho bài học Chương trình địa phương. </b></i>


- Nhà trường cũng khơng có đủ kinh phí để tổ chức thường xuyên những buổi ngoại
khóa, tham quan cho học sinh.


<b>b. Về phía học sinh:</b>


- Thực tế trong những năm gần đây cho thấy số lượng HS yêu thích mơn Ngữ văn
khơng cịn nhiều. Học sinh bị lơi cuốn theo cơ chế thị trường, thời đại bùng nổ thơng tin nên
các em ít đầu tư vào học bộ mơn, các em ít cĩ “độ lắng” để cảm thụ một ý văn, lời thơ vì vậy
để các em cảm thụ các tác phẩm văn chương hay, các áng văn bất hủ trong chương trình là
một điều khĩ khăn, mà cịn tìm hiểu thêm văn học địa phương, quả là quá sức với các em.
- Học sinh cĩ thĩi quen thụ động, quen nghe, chép, ghi nhớ và tái hiện lại những gì giáo
viên nĩi, chưa cĩ thĩi quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học. Chính vì vậy khi giáo viên
giao nhiệm vụ thì các em cịn lúng túng trong việc giải quyết vấn đề.


- Khi chuẩn bị bài học học sinh còn bị lệ thuộc vào các tài liệu, sách văn mẫu không dám
thốt li những gì viết trong tài liệu dẫn đến hạn chế năng lực chủ động nghe, đọc, nói viết.
Học sinh chưa tự thân bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của cá nhân trước tập thể, nếu phải
nói và viết các em sẽ cảm thấy khó khăn, nhiều khi kiểm tra câu hỏi có khác hơn trong vở
<i><b>học là các em tỏ ra lúng túng và dễ bị lạc hướng. Trong khi đó kiến thức trong bài Chương</b></i>


<i><b>trình địa phương lại khơng có sẵn trong sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo bán trên thị</b></i>
trường. Muốn có một bài nói, viết để trình bày trước tập thể theo đúng yêu cầu trong sách
giáo khoa thì học sinh phải tự tìm tịi, nghiên cứu. Đây là một khó khăn rất lớn đối với các
em.


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

- Là học sinh nơng thơn nên các em có rất ít thời gian và tài liệu để tham khảo, đầu tư cho
việc học, các em ít có điều kiện tham quan các vùng trong tỉnh.


<b>1.3. Những hạn chế khi tiến hành dạy-học bài </b><i><b> Chương trình địa phương</b></i><b> :</b>


<i><b> Để dạy một tiết Chương trình địa phương sinh động, phát huy được tính chủ động, tích</b></i>
cực, sáng tạo của học sinh thì tiết học phải đảm bảo các yêu cầu sau:


- Kiến thức của tiết học phải phong phú, đa dạng đúng nội dung sách chuẩn kiến thức kĩ
năng yêu cầu cho tiết học. Các tư liệu kiến thức học sinh sưu tầm phải sắp xếp theo một thứ
tự. Các bài trình bày trước tập thể lớp phải được học sinh chuẩn bị kĩ, bố cục phải đầy đủ ba
phần, giữa các phần phải có sự liên kết,...


- Hoạt động của thầy và trị phải nhịp nhàng. Khơng khí của lớp học phải sơi nổi. Học
sinh phát huy được tính chủ động, tích cực sáng tạo của bản thân.


<i><b> Tuy nhiên, trong thực tế tiết dạy bài Chương trình địa phương trên lớp chưa đảm bảo</b></i>
các yêu cầu trên, vẫn còn một số hạn chế nhất định. Cụ thể:


<b> 1.3.1. Phần chuẩn bị của giáo viên và học sinh còn sơ sài:</b>


<i><b> Để tiết dạy bài Chương trình địa phương đạt hiệu quả cao thì khâu chuẩn bị của giáo</b></i>
viên và học sinh là rất quan trọng vì nội dung kiến thức khơng có trong sách giáo khoa và các
sách hướng dẫn cho giáo viên. Giáo viên và học sinh phải tự tìm tài liệu cho tiết dạy và học.
Muốn có được đầy đủ tài liệu phục vụ cho tiết dạy thì giáo viên và học sinh phải tự tìm tư


liệu trong một thời gian dài.


Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh chuẩn bị với một
<i><b>thời gian ngắn, thường là chỉ dặn dò học sinh trong tiết học liền kề tiết Chương trình địa</b></i>
<i><b>phương, thời lượng để giáo viên hướng dẫn cho HS chỉ khoảng hai, ba phút nên không</b></i>
hướng dẫn cụ thể, cũng có khi do thời gian dạy tiết trước bị “cháy giáo án” nên giáo viên
khơng có thời gian hướng dẫn mà chỉ dặn học sinh chung chung là “Các em về soạn bài
<i><b>Chương trình địa phương để hơm sau học”, không chỉ cho học sinh chuẩn bị nội dung gì,</b></i>
chuẩn bị như thế nào? Tìm tài liệu ở đâu? Không phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đối
tượng học sinh trong lớp. Đồng thời trong tiết dạy trên lớp giáo viên cũng khơng kiểm tra kết
quả tìm hiểu của mỗi cá nhân, nhóm, tổ nên chưa tuyên dương, khuyến khích những em học
sinh chuẩn bị tốt và nhắc nhở những em khơng hồn thành nhiệm vụ giáo viên đã giao cho.
<i><b> Ví dụ : Dạy tiết 70 bài Chương trình địa phương lớp 6, giáo viên chỉ hướng dẫn HS như</b></i>
sau:


<i><b> - Chuẩn bị cho bài: Ngữ văn địa phương. </b></i>
<i> + Sưu tầm văn học địa phương. </i>


<i> + Các hình thức nghệ thuật đặc trưng của địa phương. </i>


mà không hướng dẫn các em cụ thể là sưu tầm văn học địa phương bao gồm những thể loại
nào? Các hình thức nghệ thuật đặc trưng của địa phương là nghệ thuật nào? Giáo viên không
cần liệt kê hết nhưng phải nêu cụ thể để các em tìm hiểu.


<i><b> Dạy tiết 74 bài Chương trình địa phương lớp 7, một số giáo viên chỉ hướng dẫn HS</b></i>
như sau:


<i><b> - Chuẩn bị tiết 74 : “ Chương trình địa phương phần Văn – Tập làm văn” </b></i>
<i> + Sưu tầm nhữmg câu ca dao, tục ngữ lưu truyền ở Bình Đinh </i>



<i> + Tìm hiểu về nội dung và nghệ thuật cuả một số câu ca dao hay. </i>


- Chưa hướng dẫn học sinh lập sổ tay sưu tầm ca dao, tục ngữ địa phương Bình Định,
nguồn sưu tầm, cách ghi chép, sắp xếp ca dao tục ngữ như thế nào là khoa học để khi cần tìm
hiểu thì dễ tra cứu. Chưa giới hạn học sinh thời gian tìm hiểu là bao lâu? Chưa nêu yêu cầu
kiểm tra đánh giá, xếp loại của giáo viên như thế nào về phần chuẩn bị của học sinh để các
em có động cơ sưu tầm tài liệu phục vụ cho tiết học.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

tầm không đúng địa chỉ địa phương Bình Định. Có em khơng làm mà chỉ lên lớp mượn vở
chép lại của bạn, hoặc mượn bài của lớp học trước để đối phó với giáo viên nên hiệu quả của
tiết học không cao.


<i><b> Ví dụ : Tiết 133-134, (Lớp 7): “Chương trình địa phương- phần Văn và phần Tập làm</b></i>
văn”. Nội dung của tiết học này là tổng kết đánh giá bài tập sưu tầm ca dao, dân ca, tục ngữ
địa phương của học sinh. Thời gian sưu tầm của các em là 15 tuần. Tuy nhiên kết quả sưu
tầm của các em chỉ được như sau:


<i> * Bài sưu tầm của em Lê Thị Thoa, lớp 7A1, năm học 2007-2008:</i>
1. Ai về Bình Định mà coi


Con gái Bình Định bỏ roi đi quyền.
2. Công đâu công uổng công thừa
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.


3. Bình Định có núi Vọng Phu
Có Đầm Thị Nại, có Cù Lao Xanh.


4. Muốn ăn bánh ít lá gai


Có chồng Bình Định cho dài đường đi.



<i> *Bài sưu tầm của em Nguyễn Gia Long, lớp 7A1, năm học 2010-2011:</i>
1. Công cha như núi ngất trời


Nghĩa mẹ như nước ở ngồi biển Đơng
Núi cao biển rộng mênh mơng
Cù lao chín chữ ghi lịng con ơi!


2. Ngó lên nuộc lạt mái nhà


Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.
3. Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn


Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn,
Hỏi ai gây dựng nên non nước này.


4. Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Nhớ về quê mẹ ruột đau chín chiều.


5. Chập chập thơi lại cheng cheng
Con gà trống thiếng để riêng cho thầy


Đơm xơi thì đơm cho đầy


Đơm lưng thì thánh nhà thầy mất thiêng.
6. Thân em như trái bần trơi,
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.
7. Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.



8. Cậu cai nón dấu lơng gà
Ngón tay đeo nhẫn mới là cậu cai


Ba năm được một chuyến sai
Áo ngán đi mượn, quần dài đi thuê.


9. Cây khô chưa dễ mọc chồi
Bác mẹ chưa dễ ở đời với ta


Non xanh bao tuổi mà già
Bởi vì sương tuyết hóa ra bạc đầu.


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

<i><b> - Học tiết 52 bài Chương trình địa phương lớp 8, học sinh chỉ chuẩn bị như sau:</b></i>
<b> Bài của Nhóm 1, l p 8A2 n m h c 2009-2010:</b>ớ ă ọ


TT Tên Năm sinh-mất Bút danh Quê quán Tác phẩm


1 Nguyễn Thị Như Cẩm <sub>1938</sub> Thức Thành


858- Trần
Hưng Đạo,
Thành phố
Quy Nhơn
-Nỗi nhớ.
-Thi nhân.


2 Võ Thị Đào 1953 Thi Trang


81 -Trần


Bình Trọng,
Thành phố
Quy Nhơn
-Mưa.
-Lối vào.
-Mơ


3 Nguyễn Vinh 1934 Nguyễn <sub>Vinh</sub>


Bùi Thị
Xn, thị trấn
Bồng Sơn,
Hồi Nhơn,
Bình Định


-Đất nước và
thơ.


-Bão hạ.
-Chuyển vụ


4 Nguyễn Văn Sinh 1967 Nhất Sinh Hồi Nhơn, Bình Định -Cảm tác.-Tự lập.
-Hạnh phúc.


`5 Phạm Hổ 1926-2008 Phạm Hổ


An Nhơn.


-Những ngày
thân ái



-Ra khơi
-Đi xa
6 Tăng Bạt Hổ 1806-1956 Tăng Bạt


Hổ
Bồng Sơn,
Hồi Nhơn,
Bình Định
-Thân phiêu
bạt


<b> Bài của Nhóm 3, lớp 8A1, năm học 2010-2011:</b>


TT Tên Năm sinh-mất Bút danh Quê quán Tác phẩm


1 Lê Công Đạo. 1921-<sub>1992</sub> Vương <sub>Linh</sub> Tuy Phước, <sub>Bình Định. </sub>


Phương Thanh (Thơ,
1944); Mai Phương
(Kịch thơ, 1945); Biến
đổi (thơ, 1959); Quy
Nhơn (thơ, 1962);
Thêm những niềm vui
(Thơ, 1965);


2 Hồ Thế Phất 1941 Phù Cát,


Bình Định



Chứng tích (1972)
- Hái mộng (1972)
- Cõi niềm u u (1974)
- Bước giữa chiêm bao
(1975)


3 Mang Viên <sub>Long </sub> 1944 An Nhơn


-Trên đỉnh sa mù (tập
truyện, XB Nhị Hồng,
1969)


-Mùa thu trống trải (tập
truyện, NXB Nhị Hồng,
1970)


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

4 Lâm Thanh <sub>Lang</sub> 1918- <sub>1998 </sub> Yến Lang An Nhơn, <sub>Bình Định</sub>


- Bóng giai nhân (thơ,
1940)


- Những ngọn đèn (thơ,
1957)


- Tôi đến tôi yêu (thơ,
1962)


- Lẵng hoa hồng (thơ,
1968)



- Cương lĩnh Mặt trận
Tổ quốc diễn ca (1956)


5 Phan Ngoïc <sub>Hoan </sub> 1920-1990 Chế Lan <sub>Viên</sub> Cam Lộ, Quảng Trị


- Điêu tàn (1937)
- Gửi các anh (1954)
- Ánh sáng và phù sa
(1960)


- Hoa ngày thường-
Chim báo bão (1967)
Nhìn vào kết quả sưu tầm của HS ta thấy các em chuẩn bị rất sơ sài, kết quả rất ít và chưa
tìm được những tác giả tiêu biểu.


<b>1.3.2. Tiết học trên lớp đơn điệu, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của học</b>
<b>sinh:</b>


<i><b> Các tiết dạy bài Chương trình địa phương chưa được quan tâm đúng mức, Ban Giám</b></i>
hiệu, tổ trưởng và giáo viên khi dự giờ giáo viên trong trường thường tránh những tiết học
<i><b>này và bản thân giáo viên giảng dạy cũng “ngại” khi có người dự giờ tiết Chương trình địa</b></i>
<i><b>phương nên giáo viên ít đầu tư, nghiên cứu nội dung bài dạy, chưa lựa chọn phương án tổ</b></i>
chức lớp học tối ưu. Tiết học trên lớp đơn điệu, chỉ đơn thuần là giáo viên hỏi, học sinh trả
lời. Một vài em học sinh khá giỏi lên trình bày, các em học sinh cịn lại trong lớp thì thụ
động chờ kết quả trình bày của bạn và lời tổng kết của thầy cơ giáo. Chính vì vậy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh chưa được phát huy đặc biệt là học sinh trung bình và
học sinh yếu. Các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực khơng được áp dụng, nếu có thì
chỉ là phương pháp thảo luận nhóm nên giáo viên chưa khơi dậy được hứng thú học tập của
học sinh đối với tiết học.



<b> Ví dụ</b><i><b> : Dạy Chương trình địa phương (phần Văn) , giáo viên thường tổ chức tiết dạy như</b></i>
sau:


L


ớp 6 : Tiết 70


Hoạt động 1: GV yêu cầu HS nhắc lại các thể loại truyện dân gian.
Hoạt động 2: Kể về những truyện dân gian của địa phương đã sưu tầm.
Hoạt động 3: Tổng kết.


L


ớp 7 : Tiết133.


Hoạt động 1 : Hướng dẫn HS báo cáo kết quả sưu tầm một số câu tục ngữ, ca dao, dân
ca theo chủ đề đã học:


Hoạt động 2: Hướng dẫn HS trình bày kết qủa sưu tầm.
L ớp 8 :Tiết 121


Hoạt động 1: Lập bảng thống kê các văn bản nhật dụng đã học?


Hoạt động 2: Trình bày những tài liệu ở địa phương đã sưu tầm về các vấn đề đã xác
định.


Hoạt động 3: Nhận xét.


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực vào tiết dạy nên chưa phát huy được tính chủ động,
tích cực sáng tạo của học sinh. Học sinh chưa thể hiện được là “Người làm chủ kiến thức”


của mình.


<b> 1.3.3. Kiến thức trong tiết học sơ sài, chưa phong phú: </b>


<i><b> So với các bài học khác, thì bài Chương trình địa phương ở sách giáo khoa cũng như</b></i>
sách giáo viên, khâu biên soạn có phần khái quát, đơn giản hơn các dạng bài khác trong
chương trình. Hơn nữa về cách biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn các nhà soạn sách đã rải
<i><b>đều bài học Chương trình địa phương ở các lớp, với thời lượng từ 5- 6 tiết trên năm học.</b></i>
Tài liệu tham khảo kiến thức về Văn học địa phương Bình Định khơng tập trung, mà nằm rải
rác ở những tài liệu, những bài báo của nhóm tác giả hoặc cá nhân. Hơn nữa, trên các tài
liệu, các báo và tạp chí địa phương nếu có đề cập thì cũng chỉ nói tới một vài khía cạnh nhỏ.
Trong khi đó Sở Giáo dục- Đào tạo Bình Định lại chưa biên soạn sách để làm tài liệu dạy
<i><b>riêng cho bài Chương trình địa phương như các tỉnh thành khác trong nước. Chính vì vậy</b></i>
giáo viên nào biết nhiều thì dạy nhiều, giáo viên nào biết ít thì dạy ít, thậm chí có giáo viên vì
hạn chế về kiến thức nên dạy khơng đảm bảo yêu cầu, gây ra nhiều cách hiểu khác nhau.
<b> Ví dụ:</b>


<i><b>Dạy tiết 70 Chương trình địa phương Ngữ văn lớp 6: Khác với mảng ca dao dân ca khá</b></i>
phong phú và có tài liệu để tham khảo, mảng truyện dân gian khó tìm kiếm hơn nên nhiều
giáo viên cũng chưa xác định được các truyện dân gian của địa phương Bình Định là gồm
những truyện nào vì vậy trong giáo án soạn chung chung cịn trên lớp thì lướt qua, có khi
khơng dạy, HS có thể kể bất kì truyện nào cũng được có khi kể lại các truyện đã học trong
sách giáo khoa giáo viên cũng khơng góp ý sửa chữa.


<i><b> Dạy tiết 121 Chương trình địa phương Ngữ văn lớp 8: Trình bày các vấn đề được địa</b></i>
phương quan tâm hiện nay. Kiến thức trong tiết học là những vấn đề nổi trội của địa phương
(mơi trường, dân số, an tồn giao thơng), vấn đề đĩ cĩ liên quan đến nội dung của các văn
bản nhật dụng được học trong chương trình. Để dạy tốt tiết học này địi hỏi giáo viên và học
sinh phải điều tra tìm kiếm thơng tin, đưa ra các số liệu chính xác để thuyết phục được
người nghe. Tuy nhiên trong thực tế do điều kiện khách quan và chủ quan nên giáo viên và


học sinh tìm được thơng tin rất ít vì vậy trình bày vấn đề chưa sâu sắc, chưa cụ thể cịn
chung chung, những số liệu đưa ra đã cũ khơng cịn phù hợp với tình hình hiện tại.


1.3.4. Kĩ năng thuyết trình, trình bày trước tập thể của học sinh còn nhiều hạn chế<b> :</b>
Phần thuyết trình, trình bày trước tập thể có một vai trị rất quan trọng trong tiết dạy
<i><b>bài Chương trình địa phương . Vì nó đánh giá được kiến thức và kĩ năng của học sinh trong</b></i>
tiết học: Kĩ năng sưu tầm tài liệu, kĩ năng tổng hợp kiến thức và viết bài, kĩ năng trình bày
trước tập thể. Một bài thuyết trình hay, hấp dẫn sẽ lơi cuốn được sự chú ý của học sinh trong
lớp học. Vì vậy hiệu quả của tiết học sẽ cao hơn. Học sinh có điều kiện để phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của mình. Tuy nhiên trong thực tế kĩ năng này của học sinh cịn hạn
chế chỉ có những học sinh khá giỏi mới có thể thuyết trình, trình bày các vấn đề trước tập thể
còn học sinh trung bình và yếu thì thực hiện chưa tốt, có em không thực hiện được.


Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này một phần là do giáo viên. Thời lượng một tiết
học tương đối ngắn, sợ không đủ thời gian nên giáo viên thường gọi những học sinh khá giỏi
trình bày vấn đề cịn các học sinh trung bình và yếu ít có điều kiện thể hiện nên chưa phát
huy được năng lực của bản thân. Về phiá học sinh thì các em học sinh khá giỏi chuẩn bị phần
ở nhà khá tốt, kĩ năng viết bài của các em cũng tốt hơn còn các em học sinh trung bình, yếu
ít có sự chuẩn bị đúng mức cho tiết học, kĩ năng viết bài của các em chưa tốt, viết lủng củng,
sơ sài có khi lạc đề chính vì vậy mà các em khơng thể trình bày tốt được.


<b> 1.3.5. Chưa tổ chức được các hoạt động ngoại khố văn học, tham quan,…</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

ngoại khóa văn học,…..sẽ rút ngắn được khoảng cách giữa cái trừu tượng, chung chung với
thực tế cuộc sống, giúp các em yêu mến, hứng thú với môn học hơn. Tuy nhiên gia đình học
sinh hầu hết đều làm nơng nghiệp, cịn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, trong khi đó nhà
trường khơng có đủ điều kiện về tài chính và thời gian để tổ chức cho giáo viên và học sinh
thực hiện những buổi hoạt động ngoại khóa văn học.


<i><b> Như vậy trong thực tế chất lượng giờ dạy bài Chương trình địa phương khơng cao, cịn</b></i>


nhiều hạn chế nhất định. Để khắc phục những tồn tại nêu trên địi hỏi phải có những giải
pháp cụ thể.


<b> 2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới:</b>


<b> Giải pháp mới sẽ giúp cho giáo viên và học sinh có những định hướng đúng đắn trong</b>
việc tổ chức các hoạt động dạy học bài Chương trình địa phương phần Văn và Tập làm văn:
* Giáo viên:


- Giáo viên định hướng được những phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực sẽ áp
dụng trong tiết dạy.


- Định hướng nội dung kiến thức trong tiết dạy tiết dạy.


* Học sinh: Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh nắm được những nội dung cần
phải tìm hiểu để chuẩn bị cho tiết học từ đó phát huy được tính chủ động, tích cực của các
em.


<b> 3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:</b>


<i><b> - Các bài dạy Chương trình địa phương phần Văn và Tập làm văn phân môn Ngữ văn</b></i>
<b>trung học cơ sở.</b>


- Học sinh trường THCS Mỹ Lộc.
<b>II. Phương pháp tiến hành:</b>


<b>1. Cơ sở lí luận và thực tế : </b>
<b> 1.1. Cơ sở lí luận</b>


<i> “Văn học là nhân học” . Văn học có vai trị rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát</i>


triển tư duy của con người. Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội trong trường học,
mơn Ngữ văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học
sinh. Đồng thời cũng là mơn học thuộc nhóm cơng cụ, mơn Ngữ văn cịn thể hiện rõ mối
quan hệ với các mơn học khác. Học tốt mơn Ngữ văn sẽ tác động tích cực tới các môn học
khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt mơn Ngữ văn .


Xuất phát từ những căn cứ đó, mơn Ngữ văn có vai trị, vị trí đặc biệt trong việc thực
hiện mục tiêu chung của trường THCS: góp phần hình thành con người có trình độ học vấn
phổ thơng cơ sở, chuẩn bị cho các em hoặc ra đời, hoặc tiếp tục học lên ở bậc cao hơn .Đó là
những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, quí trọng gia đình, bè bạn, có lịng
u nước, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như: lịng nhân ái, tinh thần tôn
trọng lẽ phải, sự công bằng, căm ghét cái xấu, cái ác. Đó là những con người biết rèn luyện
để có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân-thiện-mĩ trong nghệ
thuật, trước hết là trong văn học như là một công cụ để tư duy và giao tiếp.


<i><b> Chính vì vậy khi tiến hành Đổi mới chương trình giáo dục phổ thơng, Bộ Giáo dục và</b></i>
Đào tạo đã đưa chương trình giáo dục địa phương vào giảng dạy đối với các môn học Ngữ
văn, Lịch sử, Địa lí cấp THCS để góp phần nâng cao kiến thức, hiểu biết về lịch sử, văn hóa
quê hương cho học sinh.


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

Với mơn Ngữ văn, các tiết học chương trình địa phương là cần thiết để giáo viên và
học sinh học tập, trao đổi những nội dung kiến thức văn hố, xã hội của địa phương, liên
hệ thực tế trong môi trường sống của học sinh và giúp các em có hướng tìm tịi, học hỏi
sâu sắc hơn trong cuộc sống. Từ đĩ nhằm phát huy tính năng động tích cực, phát triển trí
thơng minh, lịng yêu thích đọc sách, báo và các tác phẩm viết về địa phương.


Trong thời đại ngày nay, thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, ngành Giáo dục đã có
những đổi mới về nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu của đất nước, người
giáo viên dạy văn không thể không tự học, tự trau dồi kiến thức, trao đổi kinh nghiệm giảng
dạy ở đồng nghiệp để nâng cao tay nghề và vận dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực


nâng cao chất lượng giờ dạy góp phần đào tạo thế hệ trẻ có năng lực phục vụ cho cơng cuộc
đổi mới của đất nước.


<b> 1.2. Cơ sở thực tế:</b>


<i><b> Các bài dạy Chương trình địa phương trong sách giáo khoa Ngữ văn trung học cơ sở đã</b></i>
gắn kết những kiến thức học sinh được học trong nhà trường với những vấn đề đang đặt ra
cho cộng đồng (dân tộc và nhân loại) cũng như cho mỗi địa phương.


Việc khai thác, bổ sung và phát huy vốn hiểu biết về văn hóa địa phương, làm phong phú
và sáng tỏ thêm chương trình chính khóa. Từ đó giúp học sinh hiểu biết và hịa nhập với mơi
trường mà mình đang sống, có ý thức tìm hiểu, góp phần giữ gìn và bảo vệ các giá trị văn
hóa của quê hương. Đồng thời giáo dục lòng tự hào về quê hương xứ sở của mình.


Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp tơi thấy tiết dạy bài chương
trình địa phương có nhiều vấn đề nổi cộm cần phải giải quyết. Có thể nói, chương trình địa
phương dành cho phần Tiếng Việt khơng gặp nhiều trở ngại trong q trình tổ chức dạy và
học bởi vấn đề được đặt ra ở đây được gắn khá chặt chẽ với nội dung kiến thức trong chương
trình chính khóa. Chẳng hạn sửa lỗi chính tả mang tính địa phương(lớp 6,7), bước đầu so
sánh các từ ngữ địa phương (phương ngữ) với các từ ngữ tương đương trong ngơn ngữ tồn
dân (lớp 8,9). Cịn chương trình địa phương phần Văn học và Tập làm văn gặp rất nhiều khó
khăn do thiếu tư liệu hỗ trợ và chưa đủ các điều kiện để tổ chức các hoạt động ngoại khóa
văn học.


Về chương trình địa phương môn Ngữ văn, sách giáo khoa chỉ ghi ngắn gọn tên bài
<i><b>học “Chương trình địa phương phần Văn, phần Tiếng việt hoặc phần Tập làm văn”. Còn</b></i>
sách hướng dẫn giảng dạy không hướng dẫn giáo viên phải dạy như thế nào, hơn nữa khơng
có một tài liệu gì dành riêng cho giáo viên tham khảo. Như vậy trong tiết học ấy giáo viên
muốn dạy theo kiểu nào thì dạy, khơng có sự thống nhất, cụ thể dạy những gì. Tâm sự trao
đổi với nhiều đồng nghiệp, có người bảo rằng cho học sinh về tự tìm hiểu, sưu tầm, lên lớp


dạy theo gợi ý trong sách giáo khoa, giảng chung chung, hoặc giới thiệu vài tác giả rồi
chuyển sang dạy bài mới.


Bộ Giáo dục- Đào tạo đã có hướng dẫn thực hiện: <i>“Phần Văn học địa phương nếu</i>
<i>chưa hoặc khơng có văn bản đáp ứng, có thể sử dụng cho hoạt động ngoại khóa, tham quan</i>
<i>quê nhà văn hoặc gặp gỡ các văn nghệ sĩ địa phương, gặp gỡ Hội văn nghệ” ( Phân phối</i>
chương trình THCS môn Ngữ văn, phần thực hiện trang 34) và trong từng bài học cụ thể,
sách giáo khoa có phần hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị ở nhà và hoạt động trên lớp, sách
giáo viên có định hướng cho giáo viên các bước thực hiện. Song chưa đủ để người giáo viên
làm chủ kiến thức và tình huống sư phạm.


</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

nhằm làm cho tiết dạy bài “Chương trình địa phương” thêm sinh động, học sinh yêu thích
văn học địa phương hơn và trau dồi tốt hơn về kĩ năng sưu tầm, diễn đạt.


<b>2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp :</b>
<b> 2.1. Phương pháp tiến hành:</b>


Đề tài được xây dựng theo:


<i><b> - Thực trạng dạy và học bài Chương trình địa phương. </b></i>


- Giáo trình về phương pháp dạy học môn ngữ văn ở trường THPT.
- Sách chuẩn kiến thức và kĩ năng môn văn THCS.


- Những yêu cầu đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học môn Ngữ văn.
- Tích lũy kinh nghiêm của bản thân và đồng nghiệp trong những năm qua.


- Tổ chức chuyên đề, thao giảng để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc nhằm nâng cao
chất lượng học tập của HS.



<b>2.2 Cơ sở và thời gian nghiên cứu:</b>
<b> 2.2.1. Cơ sở:</b>


- Dựa trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, thực tế dạy học của bản thân trong nhiều
năm giảng dạy môn Ngữ văn ở Trường THCS Mỹ Lộc.


<i><b>- Kết quả các tiết dạy học bài Chương trình địa phương của bản thân và đồng nghiệp</b></i>
trong trường.


- Cơ sở ban đầu phát hiện: Qua giảng dạy và tìm hiểu học sinh trong năm học
<i><b>2007-2008, bản thân tôi phát hiện số lượng HS u thích các bài học Chương trình địa phương</b></i>
không cao, cụ thể như sau:


Lớp Sĩ số Không thích Bình thường u thích


SL TL SL TL SL TL


6 144 40 27.8 50 34.7 54 37.5


7 158 43 27.2 68 43.0 47 39.8


8 162 39 24.1 73 45.1 50 30.8


9 170 45 26.5 70 41.1 55 32.4


+ 634 167 26.3 261 41.2 206 32.5


<i><b> Xây dựng và kiểm chứng: Các tiết dạy bài Chương trình địa phương cùng thời điểm ở</b></i>
tất cả các khối lớp trong 4 năm : 2007-2011.



<b> 2.2.2. Thời gian tiến hành nghiên cứu:</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

<b>B. N ỘI DUNG</b>
<b> I. Mục tiêu:</b>


<i><b> Tên đề tài: “</b><b>Một số kinh nghiệm dạy bài chương trình địa phương”(Phần Văn và</b></i>
<i><b>Tập làm văn)</b></i>


- Phát hiện những hạn chế trong giờ dạy học bài “Chương trình địa phương” để khắc
phục.


- Đưa ra các giải pháp để áp dụng trong giờ dạy học.


- Cung cấp một số kiến thức về bài dạy chương trình địa phương phần Văn.
- Phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS, kích thích HS học tập bộ mơn.


Thơng qua nghiên cứu chương trình giảng dạy các bài “Chương trình địa phương”, các tài
liệu tham khảo có liên quan đến đề tài, qua thực tế giảng dạy nhiều năm các bài “Chương
trình địa phương” bản thân tôi đã rút ra một số kinh nghiệm để tháo gỡ những khó khăn
vướng mắc khi dạy bài “Chương trình địa phương”


<b>II. Mơ tả giải pháp của đề tài:</b>
<b> 1. Thuyết minh tính mới :</b>


<i><b> Từ trạng dạy học các bài Chương trình địa phương (Phần Văn và Tập làm văn) và cơ</b></i>
<i>sở lí luận và thực tế , chúng ta thấy rằng các tiết Chương trình địa phương (Phần Văn và Tập</i>
<i>làm văn) có một vai trò rất quan trọng trong việc giảng dạy và giáo dục học sinh nhưng lại</i>
tồn tại nhiều hạn chế. Sau đây là một số kinh nghiệm giúp chúng ta khắc phục những hạn chế
trên :



<b>1.1. Kinh nghiệm chuẩn bị kiến thức cho tiết học</b>


Đây là một khâu quan trọng trong quá trình tổ chức dạy học bài Chương trình địa
<i><b>phương. Vì kiến thức bài học khơng có sẵn nên khơng chuẩn bị thì khơng có nội dung kiến</b></i>
thức để thực hiện tiết học. Chính vì vậy để có một tiết học đạt kết quả như mong muốn thì cả
học sinh và giáo viên đều phải chuẩn bị chu đáo.


<b> * Về phía giáo viên: Khi nhận nhiệm vụ giảng dạy trong năm học mới giáo viên phải căn</b>
cứ vào kế hoạch giảng dạy mà lập kế hoạch hướng dẫn học sinh chuẩn bị cho tiết học
<i><b>Chương trình địa phương cụ thể rõ ràng. Thời gian để học sinh chuẩn bị ít nhất là vài tuần</b></i>
đối với những học sinh lớp 8,9 và hai hoặc ba tháng đối với học lớp 6,7. Và tùy theo từng
nội dung mà giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho từng cá nhân, nhóm hoặc tổ. Giáo viên
phải kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh theo từng giai đoạn để từ đó nhắc nhở, đơn đốc các
em thực hiện nhiệm vụ và điều chỉnh những sai sót của học sinh để tránh tình trạng mất thời
gian tìm hiểu nhưng lượng kiến thức thu được không đúng với yêu cầu bài học (lạc đề). Mặt
khác giáo viên phải cho cá nhân, nhóm, tổ thi đua với nhau để các em hăng hái, nhiệt tình
thực hiện nhiệm vụ. Trước khi tiến hành tiết học giáo viên kiểm tra việc chuẩn bị ở nhà của
HS để xếp loại và tuyên dương những cá nhân, nhóm, tổ thực hiện tốt nhiệm vụ và phê bình
những cá nhân, nhóm, tổ thực hiện chưa tốt. Bên cạnh đó bản thân của giáo viên cũng phải
thường xuyên lập kế hoạch và tiến hành nghiên cứu tìm tịi đọc các báo Bình Định, Văn học
<i>Tuổi trẻ, báo Người lao động,…ghi chép các bài báo viết giới thiệu các tác giả người Bình</i>
Định, các bài thơ hay, các tác phẩm truyện, tùy bút, tranh ảnh về địa phương Bình Định…
<i><b>làm tư liệu để dạy các tiết Chương trình địa phương phần Văn. Mỗi năm tích lũy một ít, rồi</b></i>
tìm tịi bổ sung cho mình thêm vài tác giả, tác phẩm viết về Bình Định để nội dung phong
phú hơn.


<i><b> Trước khi dạy học tiết Chương trình địa phương bản thân giáo viên phải chuẩn bị tranh</b></i>
ảnh, bảng phụ,…để tổ chức tiết học hiệu quả.


</div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14>

họa cho nội dung miêu tả cảnh đẹp các di tích lịch sử hay danh lam thắng cảnh của quê


hương.


<b> - Dạy tiết 42: Chương trình Ngữ văn lớp 8 nếu không ứng dụng công nghệ thông tin trong</b>
bài giảng thì giáo viên phải chuẩn bị ảnh của các nhà văn, nhà thơ tỉnh Bình Định, chuẩn bị
các bài thơ, câu đố có liên quan đên nội dung bài học.


Đồng thời giáo viên cũng phải hướng dẫn HS cụ thể, rõ ràng để các em chuẩn bị cho tiết
học chu đáo:


<b>*Ví dụ:</b>


<b> - Để thực hiện tốt tiết 71 lớp 6, giáo viên có thể hướng dẫn HS chuẩn bị như sau:</b>
+ Sưu tầm các thể loại truyện dân gian đã học (truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngơn, truyện
cười) mang màu sắc địa phương Bình Định. Ghi chép lại và nắm chắc nội dung của một vài
truyện thể hiện rõ màu sắc địa phương nhất.


+ So sánh những truyện dân gian của địa phương với các truyện dân gian đã học.
+ Tìm hiểu các hoạt động sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo của địa phương.


+Tập kể trước ở nhà một truyện dân gian hay giới thiệu một trò chơi dân gian địa
phương mà em yêu thích.


<b>- Dạy tiết 133 lớp 7 giáo viên phải hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước ở nhà như sau:</b>
GV hướng dẫn học sinh lập sổ tay sưu tầm ca dao, tục ngữ địa phương Bình Định.


<i>- Yêu cầu HS sưu tầm những câu ca dao, tục ngữ lưu truyền ở Bình Đinh theo các chủ đề:</i>
+ Ca dao dân ca về gia đình.


+ Ca dao về tình anh em ruột thịt.
+ Ca dao về tình bạn.



+ Ca dao về tình u đơi lứa.


+ Những bài ca dao viết về quê hương.


- Sau khi sưu tầm sắp xếp ca dao riêng, tục ngữ riêng và xếp theo thứ tự A,B,C.
- Nguồn sưu tầm:


+ Hỏi cha mẹ, người thân, người lớn tuổi ở địa phương.
+ Sách báo thư viện.


+ Tra mạng internet,…


- Tìm hiểu về nội dung và nghệ thuật cuả một số câu ca dao hay.


<b> * Về phía học sinh: Học sinh phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ mà giáo viên đã giao cho.</b>
Bản thân mỗi HS phải có sổ tay riêng để ghi chép được những tư liệu cần phải sưu tầm. Sổ
tay này phải lưu giữ trong nhiều năm để tích lũy kiến thức và làm tài liệu học tập.


<b>1.2. Kinh nghiệm tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp bài </b><i><b> Chương trình địa phương</b></i><b> </b>
<b> Để tổ chức một tiết học sinh động, phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học</b>
sinh, rèn luyện cho các em các kĩ năng nghe, đọc, nói, viết và trình bày tốt một vấn đề trước
tập thể đòi hỏi giáo viên phải áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực vào bài
giảng. Tùy theo từng tiết dạy mà giáo viên có thể áp dụng các phương pháp và kĩ thuật như:
phương pháp dạy học theo góc, phương pháp dạy học theo dự án, kĩ thuật “Các mảnh ghép”,
kĩ thuật “khăn trải bàn”, ... để tạo khơng khí lớp học sơi nổi, các em có hứng thú với tiết học
và u thích văn học địa phương. Giáo viên nên ứng dụng công nghệ thơng tin vào việc soạn
<i><b>giảng các bài Chương trình địa phương để tạo tính sinh động cho bài giảng. </b></i>


<b>* Đối với các tiết </b><i><b> Chương trình địa phương</b></i><b> phần Văn :</b>



Giáo viên áp dụng các phương pháp và kĩ thuật tích cực như: phương pháp dạy học theo
góc, phương pháp dạy học theo dự án, kĩ thuật “khăn trải bàn”,… vào giảng dạy sẽ phát huy
được tính tích cực chủ động của học sinh, giờ học sẽ sôi nổi, tạo hứng thú học tập cho các
em.


</div>
<span class='text_page_counter'>(15)</span><div class='page_container' data-page=15>

<b>Ví dụ:</b>


<i><b> - Dạy tiết 74, 133,134 Chương trình địa phương phần Văn lớp 7 giáo viên có thể áp</b></i>
dụng phương pháp dạy học theo dự án. Cụ thể:


+ Tiết 74: Hướng dẫn HS xác định mục tiêu, nhiệm vụ phải làm, sản phẩm dự kiến, cách
triển khai hoàn thành dự án, thời gian thực hiện và hồn thành. Giáo viên phân cơng cụ thể
nội dung cho từng nhóm học sinh.


+ Từ tiết 74 đến tiết 133 HS thực hiện dự án: thu thập thơng tin, xử lí thơng tin, trao đổi
với các thành viên khác, xin ý kiến của giáo viên.


+ Tiết 133-134: Xây dựng sản phẩm, trình bày sản phẩm và rút ra bài học kinh nghiệm
sau khi thực hiện theo dự án.


Nếu tổ chức lớp học theo hình thức này thì hiệu quả của tiết học sẽ cao hơn. Các thành viên
trong nhóm sẽ có trách nhiệm với công việc được giao và giáo viên cũng dễ dàng kiểm tra
đơn đốc, nhắc nhở các em hồn thành nhiệm vụ.


<i><b>- Dạy tiết 52 Chương trình địa phương Ngữ văn lớp 8 giáo viên áp dụng phương pháp hợp</b></i>
tác nhóm để các nhóm thi đua với nhau cho tiết học thêm sinh động:


Các hoạt động của tiết học có thể triển khai theo hướng sau:
I. Một số tác giả của địa phương Bình Định



II. Thi thuộc thơ (thơ của các nhà thơ Bình Định và thơ viết về Bình Định)
III. Nhận diện nhà thơ Bình Định qua thơ.


IV. Nhận diện các địa phương Bình Định qua thơ
V. Em là nhà văn, nhà thơ Bình Định


<i><b> - Dạy tiết 42 Chương trình địa phương Ngữ văn lớp 9 giáo viên có thể áp dụng phương</b></i>
<i>pháp dạy học theo góc, thiết kế các hoạt động trong tiết dạy như sau:</i>


<b>* Góc quan sát:</b>
Nhiệm vụ:


- Xem hình ảnh, con người và quê hương Bình Định.
- Phát biểu cảm nghĩ sau khi xem đoạn băng.


<b>* Góc tìm hiểu:</b>
Nhiệm vụ:


- Lập danh sách các nhà thơ, nhà văn Bình Định có sáng tác được cơng bố từ năm
1975 đến nay.


- Nêu nhận xét, cảm nghĩ.
<b>* Góc Đọc- phân tích:</b>


Nhiệm vụ:


- Giới thiệu những câu thơ, bài văn tiêu biểu viết về phong cảnh thiên nhiên, con
người, sinh hoạt văn hóa, truyền thống lịch sử của q hương Bình Định.



- Chọn đọc và phân tích một tác phẩm văn, thơ hay mà em thích.
<b>* Góc áp dụng:</b>


Nhiệm vụ:


- Học sinh sáng tác và trình bày bài viết về Bình Định.
- Giao lưu giữa các nhóm.


Trong tiết học này học sinh được thực hiện tất cả các nhiệm vụ, các em được học sâu và thoải
mái, hứng thú với tiết học hơn.


<b>* Đối với các tiết </b><i><b> Chương trình địa phương</b></i><b> phần Tập làm văn về danh lam thắng cảnh,</b>
<b>di tích lịch sử văn hóa:</b>


- Giáo viên chia lớp thành 4 hoặc 6 nhóm, mỗi nhóm giao một đề tài phù hợp sau khi đã
thống nhất với sự lựa chọn của học sinh.


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16>

+ Xác định rõ danh lam, thắng cảnh- di tích lịch sử,… ở địa phương phạm vi xã huyện
có thể mở rộng cấp tỉnh nhưng không mở rộng đến vùng, miền khác.


+ Có thể có các trường hợp: danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử là một quần thể phong
phú, phức tạp đã được Bộ văn hóa xếp hạng hoặc danh lam thắng cảnh, di tích nổi tiếng trong
vùng, miền nhưng chưa được công nhận.


- Học sinh lựa chọn theo khả năng và sở thích của bản thân.
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu, điều tra đối tượng.


+ Đến tham quan trực tiếp 1 hoặc 2 lần. Quan sát kĩ về vị trí, phạm vi khn viên từ
bao qt đến cụ thể, từ ngồi vào trong.



+ Tìm hiểu di tích, cảnh quan bằng cách hỏi han, trị chuyện với những người trơng
coi ở đó để biết về lịch sử hình thành, tái tạo, phát triển lễ hội.


+ Tìm đọc sách, tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ có liên quan đến danh lam, di tích.
+ Soạn đề cương dàn ý chi tiết bài thuyết minh:


 Mở bài: Dẫn vào danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, vai trị của danh lam- di
tích đối với đối với đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân địa phương hoặc vùng miền.


 Thân bài: Có những cách sau, có thể:


 Theo trình tự khơng gian từ ngồi vào trong, từ địa lí đến lịch sử đến lễ hội,
phong tục.


 Theo trình tự thời gian q trình xây dựng, trùng tu, tơn tạo, phát triển. Tình
hình hiện nay và những vấn đề cần giải quyết (chống xuống cấp, đầu tư để thu hút
khách du lịch.)


 Kết hợp giữa kể, tả, biểu cảm, bình luận cần có những sự việc, số liệu chính
xác.


 Kết bài:


 Tình cảm của em đối với danh lam, thắng cảnh hoặc di tích,…


 Suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân đối với các di tích, danh lam, thắng
cảnh,…


+ Tóm lại, khi giới thiệu danh lam, thắng cảnh- di tích lịch sử ở địa phương là trên cơ
sở người điạ phương có điều kiện thuận lợi tìm hiểu sâu, kĩ về danh lam- di tích ấy,


tập viết bài giới thiệu để củng cố kiến thức đã học và thêm hiểu biết, gắn bó, u mến
q hương mình.


- Giáo viên yêu cầu học sinh viết bài khoảng 400-500 chữ, không nên chọn đề tài phức
tạp, không được chép bài trên sách báo để thay thế cho sự làm việc tự lực của mình.


- Những việc làm trên dành thời gian để học sinh chuẩn bị trước từ 2 đến 3 tuần, giáo
viên thường xuyên kiểm tra, góp ý.


- Giáo viên hướng dẫn học sinh trình bày bài viết:


+ Trên lớp, nếu bài 2 tiết thì dành 70 phút cho học sinh từng nhóm lên giới thiệu bài
viết của mình như một hướng dẫn viên du lịch.


+ Giáo viên và học sinh lắng nghe, bổ sung, nhận xét trong thời gian còn lại. Giáo
viên nhận xét chung nội dung và cách thức trình bày của từng nhóm, phần này giống
như tiết luyện nói.


+ Tổ chức tham quan ngay trong buổi học, tới di tích danh lam tiêu biểu của địa
phương. Ở đó có thể tổ chức học sinh trình bày bài viết của mình, giáo viên cùng với
học sinh đối chiếu ngay với thực tế để rút ra nhận xét.


+ Tùy khả năng và điều kiện thực tế để lựa chọn nhưng phải thiết thực, nhẹ nhàng và
hấp dẫn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(17)</span><div class='page_container' data-page=17>

<b>1.3. Kiến thức cơ bản trong các bài dạy </b><i><b> Chương trình địa phương</b></i><b> :</b>


<i><b>Để tổ chức bài học Chương trình địa phương Ngữ văn sinh động thì địi hỏi giáo viên</b></i>
phải có một vốn kiến thức nhất định vì “ Có bột mới gột nên hồ”. Nếu khơng chuẩn bị kiến
thức thì Giáo viên khơng thể nào làm chủ được tiết dạy của mình, không tổng kết, nhận xét


<i><b>được hoạt động của HS là đúng hay sai. Chính vì vậy trong từng bài dạy Chương trình địa</b></i>
<i><b>phương giáo viên phải thu thập, sưu tầm, tích lũy cho mình một vốn kiến thức nhất định.</b></i>
<i><b>Đây là những kiến thức cơ bản có liên quan đến nội dung của các bài học Chương trình địa</b></i>
<i><b>phương phần Văn và Tập làm văn THCS, giáo viên có thể lựa chọn các kiến thức phù hợp để</b></i>
làm tư liệu soạn giảng. Cụ thể:


<b> 1.3. 1. Đối với các bài dạy </b><i><b> Chương trình địa phương</b></i><b> phần Văn :</b>
<i>a. Truyện dân gian Bình Định:</i>


- Các thể loại truyện dân gian ở Bình Định: truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngơn, truyện
cười.


- Một số truyện dân gian Bình Định:


+ Truyên truyền thuyết: Truyện truyền thuyết về Tà Kơn (Vĩnh Thạnh- Bình Định),
Truyền thuyết về cây đàn Aradon của người H’rê (Bình Định), chùm truyện truyền thuyết về
<i>nhà Tây Sơn ( Ấn vàng và kiếm bạc, Chúa Xà Đàng và bầy ngựa rừng,…)</i>


+ Truyện cổ tích: Truyện cổ tích về Hịn Vọng phu, truyện cổ tích Suối Tiên,
Chuyện chàng Lía,…


- Những điểm giống và khác của truyện dân gian của địa phương Bình Định và các
truyện dân gian đã học.


+ Giống nhau: Có đầy đủ những đặc điểm của các thể loại truyện dân gian đã học.
+ Khác nhau: Mang màu sắc của địa phương Bình Định: xuất hiện các địa danh, các
nhân vật ở địa phương Bình Định.


- Ngồi truyện dân gian địa phương em cịn có các sinh hoạt văn hóa dân gian độc
đáo: hát bài chịi, hát tuồng, đấu võ, chèo Bá Trạo.



<i>b. Ca dao, daân ca c ủa địa phương Bình Định :</i>
<b> * Ca dao về quê hương đất nước, con người:</b>


- Ai về Tuy Phước ăn nem


Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm.
- An Nhơn có núi Mị O


Có chùa Thập Tháp có đị Trường Thi.
- Ai về Bình định mà coi


Con gái Bình Ðịnh cầm roi đi quyền.


- Bình Định nón Gị Găng
Bún Song thần An Thái


Lụa Đậu tư Nhơn Ngãi
Xồi Tượng chín Hưng Long


Mặc ai mơ táo ước hồng
Tình q em giữ một lịng trước sau.


</div>
<span class='text_page_counter'>(18)</span><div class='page_container' data-page=18>

- Cầu Đôi mà tháp cũng Đôi
Dễ chi nhân nghĩa mà rời được nhau.


- Cát Hanh đất hẹp chơng dày
Có đồi Núi Một chơn thây qn thù.


- Chiều chiều én liệng Truông Mây


Cảm thương chú Liá bị vây trong thành.


- Diêm Tiêu, Phủ Cũ anh hùng
Mồ chôn Mỹ- ngụy chất chồng non cao.


- Chợ Thành chợ Dã
Chợ Dinh bán chả
Chợ Huyện bán nem


Chợ gồm đồ gốm
Phú Hội đồ đan


Tiệm đường ghé chợ Cảnh Hàng
Mua thêm chiếc võng cho nàng ru con.


- Đi xa nhớ bánh tráng mè


Mùi quê phảng phất dặm doè hương đưa
- Hà Thanh nước mãi trong xanh
Đèo Son thắm mãi mối tình đơi ta


Sơng sâu cầu bắt đã qua
Nén hương bên tháp gọi là đền ơn.


- Gió cầu Tấn trưa chiều thổi mát
Đường Quy Nhơn mịn cát dễ đi
Phương Mai, Gành Ráng tương tri
Ngâm câu thủy tú, sơn kì thảnh thơi.


- Gị Bồi có nước mắm thơm


Ai đi cũng nhớ cá tơm Gị Bồi.
- Lụa Phú Phong nên dun chồng vợ


Nón Gị Găng khắp chợ mến thương
Áo hồng quần lụa vấn vương
Nghiêng nghiêng chiếc nón gió sương.


-Mảng vui Hương Thủy, Ngự Bình
Ai vơ Bình Định với mình thì vơ,


Chẳng lịch bằng chốn kinh đơ
Bình Định khơng đồng khơ cỏ cháy


Năm dịng sơng chảy
Sáu dãy non cao
Biển Đơng sóng vỗ dạt dào


</div>
<span class='text_page_counter'>(19)</span><div class='page_container' data-page=19>

- Muốn ăn đi xuống
Muốn uống đi lên
Dạo khắp bốn bên
Chợ Thành, Chợ Giã


Chợ Dinh bán chả
Chợ Huyện bán nem.
- Ngó lên đất đỏ nhiều khoai


Ngó xuống Đồng Xồi nhiều mía nhiều tranh
Ngó về Đồng Cọ lúa xanh


Phú Điền, Phú Cốc, Mỹ Phong cau nhiều.


- Rượu ngon Trường Thế mê ly
Gặp nem Chợ Huyện bỏ đi sao đành.


- Về thăm Bình Định quê tôi
Để ăn nếp mới nấu xôi nước dừa.
<b>* Ca dao về tình cảm gia đình:</b>


- Chồng chài, vợ lưới, con câu
Bà ngoại đi xúc, cháu dâu đi mò.


Dừa xanh Tuy Phước, Gò Bồi


Chài, lưới, câu, xúc, mò con cá Bống mủn ăn cùng nồi cơm niêu
- Cá nục gai bằng hai cá nục vọng


Vợ chồng nghĩa nặng, nhân ngãi tình thâm
Xa nhau mn dặm cũng tầm


Gặp nhau hớn hớ tay cầm lời trao.
-Em về dưới chợ Kỳ Sơn
Mua tôm mua cá đền ơn mẹ già.


- Mẹ ơi đừng đánh con đau
Để con đánh trống hát tuồng mẹ nghe.
<b> * Ca dao về tình u đơi lứa:</b>


- Anh về Bình Định thăm nhà
Tháng hai trở lại, tháng ba cưới nàng


Cưới nàng đơi nón Gị Găng


Xếp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn.


- Anh về Bình Định chi lâu
Bỏ em ở lại hái dâu một mình
Thương chi cho uổng cơng tình


Nẫu về xứ Nẫu bỏ mình bơ vơ.
- Anh về Đập Đá đưa đò
Trước đưa quan khách sau dò ý em.


</div>
<span class='text_page_counter'>(20)</span><div class='page_container' data-page=20>

- Bốn mùa xuân hạ thu đông


Thiếp ngồi dệt vải những trơng bóng chàng.
Dừa xanh trên bến Tam Quan


Dừa bao nhiêu trái dạ trông chàng bấy nhiêu.
- Chàng đi đường đâu gặp khó khăn
Cũng sao ghé lại Gị Găng q mình


Vào đây em tặng nón chung tình
Hình chàng bóng thiếp in hình đơi ta.


- Cù lao xanh thương anh ở đảo
Sơng Hà Giao dạo khúc tâm tình.


Mong sao hai đứa tụi mình
Như mây với nắng bóng hình có nhau.


- Giếng sâu thăm thẳm
Con chim trên cao nó đỗ tăm tăm


Nghĩa nhơn anh tích để ngàn năm
Lẽ gì sớm viếng tối thăm duyên chàng.
- Nước Lại Giang mênh mang mùa nắng


Dịng sơng Cơn lai láng mùa mưa
Đã cam tháng đợi năm chờ


Duyên em đục chịu trong nhờ quản bao.
-Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược
Nước chảy ngược con cá mược lội ngang


Thuyền em đậu bến Lại Giang
Sao thuyền anh lại ngược đàng Kim Sơn


Hay anh đem dạ giận hờn
Để cho em chịu cơ đơn một mình.


- Trời mưa ướt núi, ướt rừng
Ướt em, em chịu, xin đừng ướt anh.


- Tam Quan ngọt nước dừa xiêm
Cha từ, mẹ bỏ vẫn tìm theo anh.
<b>* Những câu hát than thân:</b>


-Cha mẹ muốn ăn cá thu
Gả con dưới biển mù mù tăm tăm


- Cầm chài mà vãi xuống đầm
Cá đâu không thấy chầm hâm hết ngày



Cầm chài mà vãi xa ghe
Cá không thấy cá lại hè kéo lên


Cầm chài mà vãi lỗ tre
Cá không thấy cá lại nghe rách chài


</div>
<span class='text_page_counter'>(21)</span><div class='page_container' data-page=21>

<b>c. Các nhà văn, nhà thơ Bình Định:</b>


<i><b>c</b><b>1</b><b>. Bảng thống kê danh sách các nhà văn nhà thơ Bình Định (các tác giả có sáng tác</b></i>
<i>trước năm 1975):</i>


Họ tên Bút danh Quê quán Năm sinh,<sub>năm mất</sub> Tác phẩm


Ngô
Xuân Diệu
Trảo
Nha,
Xuân
Diệu
Phước
Hịa, Tuy
Phước,
Bình Định

1916-1985


Tác phẩm thơ của ơng:


- Thơ thơ (1938- tái bản 5 lần)
- Gửi hương cho gió (1945, 1967)


- Ngọn quốc kỳ (1945,1961)
- Hội nghị non sông (1946)
- Dưới sao vàng (1949)
- Sáng ( 1953)


- Mẹ con ( 1954)
- Ngôi sao (1955)
- Riêng chung (1960)


- Mũi Cà Mau- Cầm tay (1962)
- Một khối hồng (1964)


- Hai đợt sóng (1967)
- Tôi giàu đôi mắt (1970)


Đào Tấn Mộng <sub>Mai </sub> Phước Lộc, Tuy
Phước



1845-1907


Mộng Mai ngâm thảo: Gồm thơ và
từ.


-Tiên nghiêm Mộng Mai ngâm
thảo: 107 bài thơ


- Mộng Mai thi tồn: 36 bài thơ
- Mộng Mai từ lục: 59 bài từ



- Mộng Mai văn sao: gồm một số
bài văn, biểu.


Về tuồng:
- Tân Dã đồn.
- Đáng Khấu


- Tam Bảo Thái giám thủ Bửu.
- Tứ quốc lai vương


- Quần trân hiến thụy.
- Cổ thành


- Trầm Hương các


Quách Tấn Trường <sub>Xuân </sub> Tây Sơn, <sub>Bình Định</sub> 1910 - Một tấm lịng (thơ, 1939)- Mùa cổ điển (thơ, 1941)
- Nước non Bình Định…


Lâm Thanh


Lang Yến Lan An Nhơn- Bình Định


1918-
1998


- Bóng giai nhân (thơ, 1940)
- Gái Trữ La ( kịch thơ, 1940)
- Hướng điền căm thù (1955)
- Những ngọn đèn (thơ, 1957)
- Tôi đến tôi yêu (thơ, 1962)


- Lẵng hoa hồng (thơ, 1968)


- Cương lĩnh Mặt trận Tổ quốc diễn
ca (1956)


Phan Ngoïc


Hoan Chế LanViên Cam Lộ, Quảng Trị
(nhiều năm



1920-1990


- Điêu tàn (1937)
- Gửi các anh (1954)


</div>
<span class='text_page_counter'>(22)</span><div class='page_container' data-page=22>

sống ở
Bình Định)


- Hoa ngày thường- Chim báo bão
(1967)


- Những bài thơ đánh giặc (1972)
- Đối thoại mới (1973)


- Hoa trước lăng Người (1976)


Nguyễn
Trọng Trí
Hàn


Mặc Tử
Thừa
Thiên-
Huế
(nhiều năm
sống ở
Bình Định)

1912-1940


- Gái quê (thơ, 1936)
- Hương thơm (thơ)
- Mật đắng ( thơ)


- Máu cuồng và hồn điên (thơ)
- Duyên kì ngộ và quần Tiên hội
kịch thơ)…


Phạm Hổ <sub>An Nhơn</sub>


1926-2008


- Những ngày thân ái (Thơ, 1957)
- Ra khơi (Thơ, 1960)


- Đi xa (Thơ, 1970)


- Những ô cửa những ngả đường
(Thơ, 1976)



-Vườn xoan (Truyện ngắn, 1964);
- Chú bị tìm bạn (Thơ, 1970, tái bản
1996);


<i><b>C</b><b>2</b><b>. Bảng thống kê danh sách các nhà văn nhà thơ Bình Định</b><b> (các tác giả có sáng tác từ</b></i>
<i>năm 1975 đến nay):</i>


<b>Họ tên</b> <b><sub>quán</sub>Quê</b> <b>Trú quán</b> <b>Tác phẩm chính <sub>đã xuất bản</sub></b> <b>Hội viên các Hội</b>


Lệ Thu (1940)


Lương
Lộc,
Phước
Hưng,
Tuy
Phước
Lương
Lộc, Phước
Hưng, Tuy
Phước


Đã xuất bản 9 tập thơ:
Xứ sở loài chim yến
(1980); Niềm vui của
biển (1983); Thơm
hương mái tóc (in chung
với Hồng Ngát, Mỹ
Hạnh, 1983); Hương gửi
lại (1990); Nguyện cầu


(1991); Chân dung tình
yêu (1996); Tri kỉ
(2000); Khoảng trời
thương nhớ (2000); Mây
trắng (2005).


Hội viên Hội Nhà Văn
Việt Nam


Hội viên Hội Nhà báo
Việt Nam. Nguyên
Chủ tịch Hội VHNT
Bình Định. Đại biểu
Quốc hội khóa IX
(1992-1997)


Nguyễn Văn Chương
(1945)
Phú
Xuyên
Hà Tây
TP Quy
Nhơn


<i>Thơ: Nơi ta có mặt</i>
(1985); Đêm huyền diệu
(1989); Viết giữa ngày
thường (1989); "Cỏ
biếc” (1991); "Đoản
khúc” (1995); "Lắng


nghe nhịp sống” (1996);
"Cõi người” (1999); và
"Lục bát yêu” (2003);
Đánh thức ban mai
<i>(2006)Trường ca: Làng</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(23)</span><div class='page_container' data-page=23>

(2003)


<i>,Văn: Bông mai đỏ thắm</i>
(1988); Hoa mai
đỏ(2001); Cảm nhận dọc
hành trình (2003);
Chuyện làng văn (2005)


Lê Văn Ngăn (1945) Thừa Thiên-
Huế


TP Quy
Nhơn


Tác phẩm chính:- Trên
đồng bằng (thơ, 1967)
- Vào một thời im bóng
(thơ, 1974)….


Hội viên Hội Nhà Văn
Việt Nam


Nguyên là Phó Chủ
tịch Hội VHNT Bình


Định. Hiện sống và
viết tại thành phố Quy
Nhơn, Bình Định.


Nguyễn Thanh Mừng


(1960) Hoài ÂnQuy Nhơn


1. Rượu đắng (thơ, NXB
Trẻ, 1991)


2. Bích Khê, tinh hoa và
tinh huyết (Chân dung
văn học, NXB Hội Nhà
Văn, 1992)


3. Ngàn xưa (thơ, NXB
Hội Nhà văn, 1998)
4. Văn hoá dân gian
vùng Thành Hoàng Đế
(in chung với Trần Thị
Huyền Trang, NXB
Khoa học XH- Hà Nội,
2004)


5. Khởi hành cùng 39
mùa xuân (Trường ca,
NXB Quân đội Nhân
dân, 2005)



6. Truyện cổ H’re và
Truyện cổ Ka dong (in
chung với Đinh Xăng
Hiền, Sở VHTT Bình
Định, 1988)


Hội viên Hội Nhà Văn
Việt Nam


Nguyên là Chủ tịch
Hội VHNT Bình Định
Hiện phó Giám đốc Sở
thơng tin & truyền
thơng Bình Định


Trần Thị Huyền
Trang (1964)


Phù Cát Quy Nhơn 1. Hàn Mặc Tử – Hương
thơm và mật đắng (Chân
dung Văn học, 1991)
2. Nhạn thần cơ (Truyện
kí lịch sử, 1993)


3. Những đêm da trời
xanh (thơ, NXB Hội Nhà
văn, 1994)


4. Muối ngày qua (thơ,
NXB Hội Nhà văn,


2000)


5. Một lứa bên trời (tập
truyện ngắn, NXB Hội


</div>
<span class='text_page_counter'>(24)</span><div class='page_container' data-page=24>

Nhà văn, 2000).


6. Huyền tích kinh xưa
-Văn hoá dân gian vùng
thành Hoàng Đế (in
chung với Nguyễn
Thanh Mừng, NXB
KHXH Hà Nội, 2004, tái
bản 2005)


7. Trong tĩnh lặng (thơ,
NXB Hội Nhà văn,
2005)


Mai Thìn (1965) An <sub>Nhơn</sub> Quy Nhơn


1. Cổ tích tình yêu (thơ,
Hội VHNT Đà Nẵng,
1990)


2. Hai mảnh yêu thương
(in chung với Quang
Vĩnh Khương, thơ, 1992)
3. Đồng quê (thơ, NXB
Hội Nhà văn, 1999)


4. Khúc sơn ca (NXB
Hội Nhà văn, 2005)
5. Lặng lẽ xanh (thơ,
NXB Hội Nhà văn,
2007)


Hội viên Hội Văn học
nghệ thuật Bình Định
Trưởng phịng văn
nghệ Đài PT TH Bình
Định


Văn Trọng Hùng Hồi ÂnQuy Nhơn


1- Dạo khúc nhân tình
(thơ, NXB Hội Nhà văn,
1991)


2- Bóng trúc (thơ, NXB
Văn học, 2001)


3- Đối ảnh (thơ, NXB
Hội Nhà văn, 2006)


Hội viên Hội Văn học
nghệ thuật Bình Định
Giám đốc Sở VH-TT
&DL Bình Định


Lê Bá Duy (1966)



Phước
Hiệp,
Tuy
Phước
Phước
Hiệp, Tuy
Phước


1. Hạt Tình (tập thơ,
Nhà xuất bản Đà Nẵng,
2003)


2. Nhóm lửa (tập thơ,
Nhà xuất bản Hội Nhà
văn, 2005)


3. Thời gian nỗi nhớ
(tập thơ, NXB Văn nghệ,
2006)4. Như những cơn
mưa (Thơ, NXB Hội
Nhà văn, 2008)


5. Tình khuyết (Tập thơ
2 tác giả, NXB Văn
Nghệ, 2009)


6. Khoảng mỏng (tập
thơ, NXB Văn học,
2011)…



Hội viên Hội Văn học
nghệ thuật Bình Định


</div>
<span class='text_page_counter'>(25)</span><div class='page_container' data-page=25>

áo vỏ cây (Trường ca);
Lá đầu sông đang xanh
(Tập thơ); Ngơi sao rừng
dừa (Tập truyện kí)…


Bình Định.


Hội viên Hội nhà báo
Việt Nam. . .


Võ Đức Thọ (1964) Phù Cát Phù Cát


<i>-Có những tháng ngày</i>
(Tiểu thuyết, NXB
<i>Thuận Hóa, 1998), Thế</i>
<i>kiếm cuối cùng (Tập</i>
truyện ngắn, NXB Thuận
Hóa, 2002)


Hội viên Hội VHNT
Bình Định


<b>1.3.2. Đối với các bài dạy </b><i><b> Chương trình địa phương</b></i><b> phần Tập làm văn :</b>
<b> a. Danh lam, thắng cảnh</b>


<b> * Bán đảo Phương Mai: Thuộc thành phố Qui Nhơn, cách thành phố 8km về phía Đơng</b>


Bắc. Bán đảo Phương Mai rộng 300ha, có núi Phương Mai - nơi còn bảo tồn được hệ sinh
thái tương đối phong phú với nhiều loại động, thực vật quý và nhiều cảnh đẹp. Phía Tây bán
đảo, cạnh núi Phương Mai là đầm Thị Nại. Đầm là môi trường nuôi trồng các loại hải sản và
cũng là điểm tham quan du lịch.


<b> </b>


<b> * Bãi tắm Hoàng Hậu: Nằm trong khu Gành Ráng, bãi tắm Hoàng Hậu được xem là bãi</b>
tắm đẹp nhất Bình Định. Bãi tắm Hồng Hậu là một bãi đá rộng hàng trăm mét vng, gồm
có những hịn đá xanh, nhẵn, trơng giống như một bãi trứng khổng lồ. Phía trước bãi là
những bức tường đá thiên nhiên đứng che chắn sóng gió tạo nên vùng nước phẳng lặng.
Năm 1927, vua Bảo Đại đến đây du ngoạn và cho xây khu nhà nghỉ, và sân thể thao bên cạnh
bãi tắm. Bãi tắm với những hòn trứng đá khổng lồ chỉ dành riêng cho Nam Phương Hoàng
hậu tắm nên gọi là Bãi tắm Hoàng Hậu.


<b> * Suối khống nĩng Hội Vân: Nằm ở địa phận thơn Hội Vân, xã Cát Hiệp, huyện Phù</b>
Cát, cách thành phố Qui Nhơn 48 km về phía Tây Bắc. Suối này được phát nguyên từ vùng
núi thấp phía Bắc, đến thơn Hội Vân, nước chảy vào hồ nhỏ rộng khoảng 400m2, sâu hơn
1m. Từ đây mạch nước nĩng phun lên, nhiệt độ khoảng 70-80 độ C, vơ trùng, chứa khoảng
20 chất khống. Từ năm 1978 ở đây đã xây dựng nhà điều dưỡng để chữa bệnh ngồi da, tim
mạch, tiêu hĩa. Tương truyền là suối nước mà thần tiên đã ban cho một cơng nương trong
hồng tộc Chămpa để chữa bệnh, vì vậy mà cịn cĩ tên gọi là suối Tiên.


<b> </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(26)</span><div class='page_container' data-page=26>

sông Côn dồn cả về đây để thử vận may. Có lẽ do điển tích này mà thác Hầm Hơ cịn có tên
chữ là Vũ Mơn, cịn dân gian gọi là thác Cá Bay.


<b> </b>



<b> * Núi Bà: Núi Bà là biểu tượng của quê hương, của niềm tin và lòng tự hào trong cuộc</b>
kháng chiến chống Mỹ. Quần thể núi Bà có trên sáu mươi ngọn cao thấp, nằm trọn trên địa
phận huyện Phù Cát, phía nam đầm Đạm Thủy, cách Quy Nhơn khoảng 30km về hướng Bắc.
Xen giữa các khối núi nhấp nhô là những thung lũng cây cối xanh tốt và hàng ngàn con suối
lớn nhỏ. Núi Bà uy nghi, huyền diệu với bao điều kỳ bí mà mỗi nơi chốn, mỗi cái tên đều có
một sự tích. Đặc biệt nhất là các sự tích về hịn Chng (Chung Sơn) trơng xa như quả
chng úp; hịn Vọng Phu ở thơn Chánh Oai, trên một ngọn núi cao, có hai khối đá, một cao
một thấp trơng tựa như hình dáng mẹ dắt con ngóng trơng chồng từ biển xa; chùa Linh Phong
(chùa Ông Núi) nổi tiếng linh thiêng.




<b> * Hồ Núi Một: Là một hồ nước ngọt lớn, có diện tích mặt hồ hơn 1200 ha, ở xã Nhơn</b>
Tân, huyện An Nhơn. Xung quanh hồ là suối, thác, hang động, rừng nguyên sinh, chính giữa
là mặt hồ phẳng lặng, trong xanh, tạo nên một khung cảnh sơn thủy sơng-núi-suối-hồ hũu
tình, gần cuối hồ là làng đồng bào dân tộc Bana.


<b>b. Di tích lịch sử - văn hóa : </b>


<b> * Động Cườm: Di tích động Cườm Tích phân bố trên một cồn cát rộng khoảng 6-7 ha,</b>
thuộc thôn Tăng Long 2, xã Tam Quan Nam, huyện Hồi Nhơn. Khai quật di tích Động
Cườm đã phát hiện 46 mộ chum và 4 cụm mộ nối chơn úp nhau. Dáng chum hình trụ, đáy
trịn lồi, xương gốm thơ, có màu nâu đỏ, pha nhiều cát. Kỹ thuật tạo dáng chum bằng dải
cuộn kếp hợp với bàn dập, gòn kê và ghép nối. Những đồ tùy táng chôn theo mộ chum là nồi
nhỏ, bát bồng bằng gốm mang đặc trưng văn hóa Sa Huỳnh và chủ yếu đặt trên nắp chum.
Ngồi ra, cịn có một số hiện vật như dao, rìu, đục, kiếm ngắn và đồ trang sức là hạt cườm
thủy tinh màu sắc rực rỡ. Đặc biệt có những hạt chuỗi bằng ngọc mã não màu đỏ ánh vàng.
Dựa vào những di vật thu được, phần nào khẳng định chủ nhân của những mộ táng ở Động
Cườm chính là những cư dân cổ văn hóa Sa Huỳnh.



<b>* Bảo Tàng Quang Trung: Bảo tàng Quang Trung cách thành phố Qui Nhơn 50km về</b>
phía Tây Bắc, thuộc làng Kiên Mỹ, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn,. Bảo tàng được xây
dựng năm 1978 theo lối kiến trúc cổ, dáng vẻ uy nghiêm. Bảo tàng có 9 phịng trưng bày với
những di vật quan trọng liên quan đến phong trào khởi nghĩa Tây Sơn. Nằm trong quần thể
Bảo tàng Quang Trung là điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt và các danh tướng thời Tây Sơn. Điện
được xây dựng trên chính nền nhà cũ của ba anh em nhà Tây Sơn. Điện được nhân dân góp
cơng xây dựng vào năm 1958 và hoàn thành vào năm 1960 với tổng thể diện tích 2. 325m2.
Tại khu di tích này cịn có 2 di tích cực kỳ q giá là cây me cổ thụ, giếng nước. Hai di tích
này có từ thời thân sinh của anh em nhà Tây Sơn là ông <i>Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị</i>
Đồng, đến nay đã hơn 300 năm, là những di sản vô giá gắn liền với thời thơ ấu của 3 anh em
họ Nguyễn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(27)</span><div class='page_container' data-page=27>

ba vòng thành: Thành Ngoại, Thành Nội và Tử Cấm Thành. Thành Ngoại có chu vi 7400m,
Thành Nội cịn được gọi là Hồng Thành có hình chữ nhật dài 430m, rộng 370m. Bên trong
Thành Nội có Tử Cấm Thành cũng hình chữ nhật dài 174m, rộng 126m. Sau khi bị nhà
Nguyễn thơn tính, thành đã bị tàn phá. Di tích hiện nay khơng cịn ngun vẹn, chỉ cịn sót
lại Cổng Tam Quan và các bức tường thành. Tường thành xây bằng đá ong, có hào, đường
lát đá hoa cương. Trong thành có di tích cũ của người Chăm như giếng vuông, tượng nghê,
voi đá. Bên cửa hậu có gị Thập Tháp, trên gị có 10 ngơi tháp Chàm, hiện nay khơng cịn.
Đặc biệt có ngơi tháp Cánh Tiên cao gần 20 m, góc tháp có tượng rắn làm bằng đá trắng, hai
voi đá và nhiều tượng quái vật. Chùa Thập Tháp nằm ở phía Bắc Thành, chùa Nhạn Tháp
nằm ở Nam thành là những ngôi chùa cổ, trong đó cịn giữ được nhiều di tích, hiện vật liên
quan đến văn hóa Chăm Pa và phong trào Tây Sơn. Thành đã được xếp hạng Di tích Lịch sử
<b>năm 1982. </b>


<b> * Lăng Mai Xuân Thưởng: được xây dựng theo kiểu kiến trúc cổ trên một ngọn đồi bên</b>
cạnh quốc lộ 19 thuộc xã Bình Hịa, huyện Tây Sơn để tưởng nhớ Mai Xuân Thưởng - nhà
yêu nước và cũng là lãnh tụ xuất sắc của phong trào Cần Vương kháng Pháp tại Bình Định.
Từ trên ngọn đồi này, nơi năm xưa Mai Xuân Thưởng đã dựng cờ khởi nghĩa, khách tham
quan có thể quan sát thấy các căn cứ kháng Pháp của nghĩa quân như Phú Phong, Tiên


Thuận, Linh Đổng, Hương Sơn..


<b> Di tích Chă m-pa :</b>


<b> * Tháp Dương Long - Tháp Ngà: Thuộc xã Tây Bình, huyện Tây Sơn, cách Quy Nhơn</b>
khoảng 50 km, tháp được xây dựng vào cuối thế kỷ 12. Tháp là một quần thể gồm 3 tháp.
Tháp giữa cao 40m, hai tháp 2 bên cao 38m. Phần thân tháp được xây bằng gạch, các góc
được ghép bằng những tảng đá lớn và trang trí điêu khắc đều bằng đá. Cửa tháp quay hướng
Đông và được nâng lên khá cao khoảng 1,5m và khung cửa là những khối đá lớn. Những chi
tiết được trang trí ở đây đều rất lớn, chạm trổ trên sa thạch với những đường nét rõ ràng và
còn giữ được lâu. Với nghệ thuật điêu khắc chạm trổ tinh xảo, các đường nét vừa hoành
tráng, lộng lẫy, vừa tinh tế mềm mại, các họa tiết trang trí sống động, tháp được Bộ Văn hóa
xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1980.


<b> * Tháp Bánh Ít - Tháp Bạc: Nằm thuộc địa phận xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước,</b>
cách thành phố Qui Nhơn 20km. Trên đỉnh quả đồi giữa 2 nhánh của sông Côn là Tân An và
cầu Gành, bên quốc lộ 1A, cách Qui Nhơn khoảng 20km. Tháp Bánh Ít được xây dựng vào
cuối thế kỷ XI, đầu thế kỷ XII. Đây là một quần thể gồm 4 tháp, tháp chính cao 22 m, trơng
xa giống như chiếc bánh ít. Tháp có cửa chính quay về hướng Đơng. Vòm cửa được tạo
dáng mũi lao hai lớp thu nhỏ về phía trên với các hoa văn hình xoắn nối kết nhau. Cửa chính
cịn được trang trí bằng một hình phù điêu tạc hình Ganesa, hình Haruman. Ba cửa giả quay
các hướng cịn lại đều mơ phỏng cấu trúc và trang trí của cửa chính. Tháp được xếp hạng di
tích Kiến trúc nghệ thuật năm 1982. Tháp Phú Lốc - Tháp Vàng: Thuộc xã Nhơn Thành,
huyện An Nhơn, cách thành phố Qui Nhơn 35km về phía Bắc. Được xếp hạng di tích Kiến
trúc nghệ thuật năm 1995.


<b> * Tháp Thủ Thiện: Thuộc xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, cách thành phố Qui Nhơn</b>
35km về hướng Tây Bắc. Được xây cất trên một vùng đất tương đối thấp, ở bờ Nam Sơng
Cơn, tháp có quy mô nhỏ, kiểu dáng trang nhã. Được xếp hạng di tích Kiến trúc Nghệ thuật
năm 1995.



</div>
<span class='text_page_counter'>(28)</span><div class='page_container' data-page=28>

<b> * Tháp Cánh Tiên- Tháp Đồng: Được xây dựng bên thành Đồ Bàn, xã Nhơn Hậu,</b>
huyện An Nhơn vào khoảng thế kỷ 12. Điểm đặc biệt của tháp Cánh Tiên là phần phía trong
các cột ốp tường được ốp kín bằng các phiến đá sa thạch màu tím có chạm khắc hoa văn dây
xoắn. Ngôi tháp được tạo dáng thanh thoát nhưng trang nghiêm và đẹp với phong cách xây
dựng bài trí văn hóa Chăm. Tháp có 4 tầng thu nhỏ về phía trên, tầng nào cũng có 4 tháp góc
trang trí, mỗi góc lại có những tầng nhỏ, tạo dáng lá lật nhỏ dần về phía trên tạo cảm giác
như cánh chim đang bay, từ vai tháp trở lên bốn phía đều giống như cánh tiên đang bay lên
nên được gọi là tháp Cánh Tiên. Tháp được xếp hạng di tích Kiến trúc nghệ thuật năm 1982.


<b> * Tháp Đôi- Tháp Hưng Thạnh: Thuộc địa phận phường Đống Đa, thành phố Qui</b>
Nhơn, cách trung tâm thành phố 3km. Tháp được xây dựng vào cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ
13. Tháp được trùng tu năm 1996. Tháp Đơi cịn được gọi là tháp Hưng Thạnh, gồm 2 tháp,
một tháp cao 18 m và một tháp cao 20m. Tháp đôi được gọi là "độc nhất vô nhị" của nghệ
thuật kiến trúc Chămpa. Cả hai tháp không phải là tháp vuông nhiều tầng thường thấy của
tháp Chăm mà là một cấu trúc gồm 2 phần chính: Khối thân vng và phần đỉnh hình tháp
mặt cong, các góc tháp hiện lên những tượng chim thần Garuda hai tay đưa cao như muốn
nâng đỡ tháp. Tháp Đôi ảnh hưởng nghệ thuật kiến trúc của Ấn Độ giáo. Tháp được xếp
hạng di tích Kiến trúc nghệ thuật năm 1980.


<b> c. Lễ hội:</b>


<b> * Lễ hội Đống Đa: Lễ hội Đống Đa hằng năm được tổ chức vào ngày mồng 5 tháng</b>
Giêng âm lịch tại xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn để tưởng nhớ các thủ lĩnh phong trào Tây
Sơn, đặc biệt là người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ và chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa
(1789), đánh thắng 29 vạn quân Thanh. Ngoài nghi lễ truyền thống cịn có nhiều hoạt động
văn hóa dân gian các dân tộc Kinh, Bana, Chăm. . . Nhiều cuộc biểu diễn võ thuật như: đấu
võ, đánh côn, đi quyền. . . Tiết mục độc đáo của lễ hội là cuộc thi đánh trống bộ, mỗi bộ 12
chiếc trống da, còn gọi là trống trận Tây Sơn và diễn cảnh đánh trận giả làm sống lại khí thế


hào hùng của nghĩa quân Tây Sơn năm xưa trên đất Bình Định.


<b> </b>


<b> * Lễ hội Đổ giàn: Tổ chức hằng năm vào ngày 15 tháng 7 âm lịch tại chùa Bà, làng An</b>
Thái, huyện An Nhơn. Đầu tiên gọi là hội xô cỗ (xô giàn), về sau gọi là Đổ giàn. Người ta
thiết lập một đàn cúng cao, trên đó đặt hương, hoa, trà, quả, cỗ gạo, bánh và đặc biệt là cỗ
heo quay. Sau những nghi thức cúng lễ cổ truyền, vị chủ tế tuyên bố xô giàn, cho phép cuộc
tranh tài bắt đầu. Người tranh tài là các võ đường quanh vùng, các lò võ cử người tham gia
cuộc thi xông vào giành heo quay và mang con heo chạy về vị trí đã định.


<i><b> * Hội làng Rèn Tây Phương Danh: Làng nghề thuộc thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn,</b></i>
là làng có truyền thống làm rèn cách đây 300 năm. Cụ tổ là Đào Giã Tượng mang nghề từ
phương Bắc vào truyền cho dân địa phương. Hằng năm, để nhớ ơn người khai sinh làng
Rèn, người Tây Phương Danh tổ chức Lễ hội làng rèn vào ngày 12 tháng 2 âm lịch. Lễ hội
<b>quy tụ những thợ rèn ở địa phương và các nơi khác đến. </b>


<b> * Hội xuân chợ Gò: Tổ chức vào ngày mùng 1 tết Âm lịch ở thôn Phong Thạnh, thị trấn</b>
Tuy Phước, huyện Tuy Phước. Bên cạnh phiên chợ được nhóm vào ngay ngày đầu năm Âm
lịch với những hoạt động mua bán không mang tính chất kinh doanh mà chỉ có ý nghĩa cầu
lộc, tài may mắn đầu năm, lễ hội còn tổ chức nhiều trò chơi dân gian như: hát bài chòi, biểu
diễn võ thuật thi múa lân, và các trò chơi khác. Du khách về dự hội chợ Gị có dịp mua nhiều
món quà mang ý nghĩa hái lộc đầu xuân.


</div>
<span class='text_page_counter'>(29)</span><div class='page_container' data-page=29>

<i><b> * Lễ hội Đèo Nhông : Tổ chức vào mùng 5 tháng giêng Âm lịch hàng năm tại Đèo Nhông</b></i>
nằm trên trục đường quốc lộ 1 thuộc xã Mỹ Phong và Mỹ Trinh, huyện Phù Mỹ để kỷ niệm
chiến thắng Đèo Nhông - Dương Liễu (năm 1965) vang dội của lực lượng vũ trang quân khu
V và bộ đội địa phương Bình Định, đã góp phần cùng với toàn miền Nam đánh bại hoàn
toàn chiến lược chiến tranh đặc biệt của địch, ghi vào lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu
nước một trang sử vàng chối lọi





<b> * Lễ hội Bá trạo (bả trạo): Đây là lễ hội của người dân vùng dun hải Bình Định ( các</b>
huyện Hồi Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát,…). Nội dung của lễ hội chèo Bá trạo là tái hiện lại toàn
bộ chuyện làm ăn trên biển của an hem thợ bạn gặp lúc bão tố, được ngài Nam Hải cứu vớt;
rồi ngài Nam Hải bị nạn được anh em thợ bạn dốc long đưa ngài vào bờ. Đội hình chèo bá
trạo gồm 20 người trở lên, xếp thành hai hàng dọc, tay cầm chèo, tạo hình thế của một con
thuyền. Tài năng nghệ thuật của cả đội hình này tạo nên sức hấp dẫn của cuộc biểu diễn chèo
bá trạo.


<b> d. Đặc sản quê hương:</b>


<b> Bánh ít lá gai Rượu Bầu Đá</b>


<b> Nem Chợ Huyện</b> <b> Bánh hỏi</b>


<i><b> * Bánh ít lá gai: Về Bình Định, du khách sẽ được nếm hương vị ngọt lành của bánh ít lá gai,</b></i>
là thứ bánh đơn sơ mộc mạc, rất gần gũi với nguời dân Bình Định. Những ngày giỗ kỵ có thể
thiếu cá, thiếu thịt nhưng khơng thể thiếu bánh ít lá gai.Và trong phong tục cưới xin, mâm
bánh ít lá gai làm lễ hồi dâu còn thể hiện sự đảm đang khéo léo của người phụ nữ. Bánh được
làm bằng bột nếp tươi quết nhuyễn với lá gai và đường cát, nhân bánh làm bằng đậu xanh
hoặc cơm dừa. Bánh ít đậm đà hương vị quê hương gắn liền với câu


<i>“Muốn ăn bánh ít lá gai</i>


<i>Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi ”</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(30)</span><div class='page_container' data-page=30>

phong trào nấu rượu ở làng nghề phát triển mạnh nhưng chất lượng đang suy giảm. Tuy vậy
vẫn còn những gia đình giữ đươc truyền thống xưa và cho sản phẩm.



<i><b> * Bánh hỏi: Được làm từ bột gạo, là món ăn đặc thù của Bình Định. Bánh hỏi thường</b></i>
được ăn kèm với thịt heo, bánh tráng và các loại rau thơm, nước mắm, tạo thành món ăn
mang đầy đủ hương vị chua, cay, ngọt, béo, thơm ngon vô cùng đặc trưng, hấp dẫn.


<i><b> * Nem Chợ Huyện: Là loại nem được chế biến ở huyện Tuy Phước, tập trung ở vùng chợ</b></i>
huyện lỵ nên được gọi là nem Chợ Huyện. Nem Chợ Huyện nổi tiếng trong cả nước và đã đi
vào đời sống của người dân qua câu ca dao:


<i>"Ai về Tuy Phước ăn nem</i>


<i>Ghé qua Hưng Thạnh mà xem tháp Chàm"</i>


Du khách đến Bình Định ai ai cũng muốn thưởng thức miếng nem Chợ Huyện thơm ngon,
vừa chua, vừa cay, vừa ngọt, vừa dai, vừa dòn, cùng với ly rượu Bàu Đá cay nồng, đậm đà và
mang về làm quà cho bạn bè, người thân những chiếc nem Chợ Huyện đặc trưng hương vị
Bình Định.


<i><b>* Bún song thằng: Làm bằng đậu xanh, nổi tiếng vì có hương vị thơm ngon đặc biệt và có</b></i>
giá trị dinh dưỡng cao, được sản xuất ở vùng An Thái (Nhơn Phúc - An Nhơn). Sở dĩ có tên
gọi "song thằng" vì khi làm bún người ta thường bắt bún thành từng đôi một. Tương truyền
các vua triều Nguyễn thường triệu thợ bún An Thái ra kinh đơ Huế làm, nhưng khơng thành
cơng, vì khơng có nước sơng Cơn, cho nên cịn có tên gọi là bún "sông thần" và gọi chệch đi
thành bún song thần.


</div>
<span class='text_page_counter'>(31)</span><div class='page_container' data-page=31>



<b>* Các danh lam thắng cảnh:</b>


Chế Lan Viên (1920-1989)


Xuân Diệu (1916-1985)


</div>
<span class='text_page_counter'>(32)</span><div class='page_container' data-page=32>

Bãi tắm Hoàng Hậu. Bãi biển Quy Nhơn







Cầu Nhơn Hội Hồ Núi Một


Hầm Hô- Tây Sơn Biển Đề Gi- Phù Cát


</div>
<span class='text_page_counter'>(33)</span><div class='page_container' data-page=33>

<b>* Các di tích văn hóa-lịch sử:</b>


Tháp Cánh Tiên
Tháp Bánh Ít


Thành Hồng Đế Đền thờ Đào Duy Từ


</div>
<span class='text_page_counter'>(34)</span><div class='page_container' data-page=34>

*Các hình ảnh của lễ hội


<i><b> - Lễ hội Đống Đa: </b></i>


<b></b>






<i><b>- Lễ hội Đèo Nhông:</b></i>




<i><b>- Lễ hội Cầu Ngư</b></i>






Các vị tế tự hành lễ tại đền Tây Sơn Tái hiện hình ảnh Hoàng đế Quang Trung
ra lệnh xuất quân


Múa lân dâng hương, dâng hoa vốn là truyền
thống của lễ hội.


Nhân dân tham gia lễ hội


</div>
<span class='text_page_counter'>(35)</span><div class='page_container' data-page=35>

<b>* Các s ản phẩm thủ công nghiệp ở địa phương Bình Định :</b>




Nón Gị Găng




Nghề dệt chiếu





</div>
<span class='text_page_counter'>(36)</span><div class='page_container' data-page=36>

- Tuồng Bình Định




- Biểu diễn võ thuật




- Trống trận Tây Sơn




</div>
<span class='text_page_counter'>(37)</span><div class='page_container' data-page=37>



Chùa Hang Đầm Trà Ổ


<b>Biển Tân Phụng</b>


<b>Đèo Nhông</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(38)</span><div class='page_container' data-page=38>

Tùy theo điều kiện của nhà trường, tổ chun mơn hoặc nhóm bộ mơn tổ chức hoạt động
ngoại khóa: “ Đố vui để học văn” ít nhất một lần trên năm ở các khối lớp về các kiến thức
<i>thuộc phần Chương trình địa phương để tạo cho học sinh hứng thú học tập. Đây cũng là dịp</i>
để học sinh thể hiện trí thơng minh, trí nhớ, khả năng cảm thụ văn học,... và trình bày các kĩ
năng mình đã được rèn luyện trong quá trình học tập: kĩ năng ứng xử, kĩ năng trình bày,...
Để tổ chức “Đố vui để học” giáo viên phải chuẩn bị cơng phu từ việc xây dựng chương
trình, hình thức tổ chức (thi vấn đáp, hái hoa dân chủ,...) người dẫn chương trình,.... đặc biệt
là chuẩn bị hệ thống câu hỏi- đáp án. Hệ thống câu hỏi phải phong phú, phù hợp với lứa tuổi
học sinh. Câu hỏi giúp học sinh tái hiện những kiến thức đã học nhưng phải bất ngờ, học sinh
phải nhanh trí mới trả lời được. Nội dung của các câu hỏi xoay quanh các chủ đề về tác giả,


tác phẩm, danh lam thắng cảnh, từ ngữ địa phương.


<b> Ví dụ: Câu hỏi tìm tác giả trong“ Đố vui để học” dành cho học sinh lớp 8.</b>
Em hãy cho biết những câu thơ sau nói về nhà thơ nào của Bình Định?


<b>1. Người đi cịn Bến My Lăng</b>
Cịn ơng lái với đêm trăng đợi đò


Còn câu tứ tuyệt say mê


<b> Cửa Đông rộn rịp đêm thơ quê nhà. ( Yến Lang)</b>
2... trăng xưa cịn đó


Biển Quy Nhơn gợi nhớ vần thơ
Thơ điên, thơ loạn, thơ đau khổ


<b> Những âm thanh nức nở muôn đời.( Hàn Mặc Tử)</b>
3. Một mùa cổ điển nước non mây


Nha Trang – Bình Định nhớ những ngày
Tình bạn, tình quê, thơ tứ hữu


<b> Nắng chiều bóng nhạn lại ngất ngây. ( Quách Tấn)</b>
<b> b. Thi tìm hiểu:</b>


Hình thức hoạt động ngoại khóa này giáo viên (nhóm giáo viên bộ mơn ) có thể tổ
chức quy mơ nhỏ (lớp/khối) hoặc cũng có thể tổ chức cho toàn bộ học sinh trong trường.
Để tổ chức cuộc thi trước hết giáo viên phải bàn bạc, lựa chọn đề tài, thơng báo đề tài
tìm hiểu và thời gian nộp bài cho học sinh trên các bản tin của trường. Giáo viên có thể giới
thiệu tư liệu cho học sinh tìm tham khảo. Đặc biệt phải có hình thức khen thưởng phù hợp để


khích lệ học sinh tham gia. (Trao giải thưởng trong buổi sinh hoạt câu lạc bộ môn Ngữ văn
nhà trường hoặc trong tiết chào cờ). Giáo viên có thể tổ chức hoạt động này hàng tháng hoặc
rải đều giữa các khối lớp trong các tháng.


Ví dụ: Tháng 9 tổ chức cho khối 6, tháng 10 tổ chức cho khối 7, tháng 11 tổ chức cho
khối 8, tháng 12 là khối 9 và tháng 1 tổ chức cho toàn bộ HS trong trường.


Những bài thi đạt chất lượng nên đóng thành tập san giới thiệu ở phịng học bộ mơn hoặc
thư viên cho học sinh tham khảo.


c. Kết hợp với tổ chức văn nghệ, trò chơi dân gian của các khối lớp trong các dịp lễ:
Trong các ngày lễ 20/11, 26/3,... giáo viên Ngữ văn kết hợp với Đoàn- Đội, giáo
<i><b>viên chủ nhiệm lớp để lồng ghép giáo dục Chương trình địa phương vào các buổi biểu diễn </b></i>
văn nghệ hoặc chơi trò chơi dân gian do nhà trường tổ chức.


</div>
<span class='text_page_counter'>(39)</span><div class='page_container' data-page=39>

*Trò chơi dân gian: Trong kho tàng văn hóa Việt Nam, trị chơi dân guan là một hình thức
giải trí phản ánh phong tục tập quán của người Việt thuở xưa. Việc đưa trò chơi dân gian vào
trường học là một việc làm cần thiết, giúp các em gần gũi với nhau, xây dựng tinh thần tập
thể; hiểu biết thêm về văn hóa, truyền thống của địa phương, dân tộc. Để trò chơi dân gian
được tổ chức có hiệu quả giáo viên cần phải:


- Lựa chọn trò chơi dân gian phù hợp với lứa tuổi và đặc điểm riêng của học sinh trường
mình, đảm bảo tính giáo dục, an toàn và vệ sinh. Giáo viên nên chọn những trị chơi có luật
chơi và cách chơi đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ, gây nhiều hứng thú đặc biệt là những trị chơi có
lời ca, lời thơ hay vì nó khơng chỉ sơi động mà cịn nâng cao về nhận thức văn học như
“Rồng rắn lên mây”, “Mèo đuổi chuột”, “Chi chi chành chành”,...).


- Tìm hiểu kĩ luật chơi, cách chơi sau đó chuẩn bị đồ dùng, địa điểm phù hợp với từng loại
trị chơi.



- Kích thích, gây hứng thú và động viên tất cả học sinh trong trường cùng tham gia .
<b>1.5. Kinh nghiệm hướng dẫn HS thuyết trình, trình bày vấn đề trước lớp: </b>


Đây là hình thức trình bày một vấn đề trước nhiều người. Ở đây, cá nhân học sinh hoặc tổ,
nhóm đảm nhiệm việc lựa chọn tác phẩm đã học, tự viết bài thuyết trình, giới thiệu, phân
tích, phát biểu cảm nghĩ, đánh giá về tác phẩm văn học chính mình đã chọn. Sau khi thuyết
trình xong, bài thuyết trình được tập thể góp ý chân tình, hoặc cá nhân đưa ra ý kiến phản
biện. Giáo viên là người tổng kết cuối cùng, ghi nhận những đóng góp của cá nhân, tổ, nhóm
về phần thuyết trình, có thể bổ sung hoặc nhắc nhở thêm (khi cần thiết). Để bài thuyết trình
của học sinh hay, hấp dẫn lôi cuốn được sự chú ý của các học sinh trong lớp thì giáo viên
phải hướng dẫn cho các em


- Về nội dung: Để học sinh viết tốt một bài thuyết trình, giới thiệu trước lớp giáo viên phải
phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng em, từng nhóm. Hướng dẫn các em cách thức viết bài
thuyết trình: viết theo bố cục ba phần, giữa các phần phải có sự liên kết, trình bày những nội
dung quan trọng,…


- Về cách thức thuyết trình:


+ Mạnh dạn, tự tin: nói to, rõ ràng, mạch lạc, diễn cảm.


+ Cần có nghi thức thưa gửi trước khi nói (Lời chào, lời cảm ơn).


+ Cần sử dụng hình thức nói và lợi thế nói: câu ngắn, lặp lại các chủ ngữ hoặc dùng đại
từ thay thế.


+ Có thể dùng hình thứ tự nêu câu hỏi rồi tự trả lời hoặc hình thức đàm thoại, kể chuyện.
+ Cần sử dụng lợi thế của ánh mắt, cử chỉ, giọng nói để biểu hiện cảm xúc, tình cảm lôi
cuốn người nghe.



<b>2. Khả năng áp dụng:</b>


<i><b> * Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghiệm dạy học bài Chương trình địa phương”</b></i>
<i><b>(Phần Văn và Tập làm văn) đã được thực hiện ở trường chúng tôi trong những năm qua.</b></i>
Việc áp dụng các giải pháp vào dạy học đã từng bước giúp học sinh có thêm những kiến thức
về văn học, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian của
địa phương; hình thành ở các em một số kĩ năng sống để hòa nhập vào xã hội. Các em u
<i><b>thích hơn những tiết học Chương trình địa phương. Cụ thể:</b></i>


Khi chưa sử dụng sáng kiến, dạy học theo cách thơng thường thì học sinh chưa thực sự
yêu thích, các em chưa tích cực thực hiện những nhiệm vụ mà giáo viên đã giao như: một số
em khơng sưu tầm tài liệu, có ý trơng chờ, ỷ lại vào kết quả của bạn, lời tổng kết của giáo
viên . Vì vậy tỉ lệ học sinh yêu thích tiết học là rất thấp. Tỉ lệ học sinh khơng thích tiết học,
thấy tiết học nặng nề khơng có hứng thú còn cao.


</div>
<span class='text_page_counter'>(40)</span><div class='page_container' data-page=40>

động trên lớp phù hợp đã phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Các em cảm
thấy yêu mến, tự hào về bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, quê hương và con người Bình
Định. Các em có ý thức giữ gìn, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của quê
hương.


Sau ba n m th c hi n và đ i chi u k t qu đ t đ c nh sau:ă ự ệ ố ế ế ả ạ ượ ư


Năm học Sĩ số <sub>SL</sub>Khơng thích<sub>TL</sub> Bình thường<sub>SL</sub> <sub>TL</sub> <sub>SL</sub>Yêu thích<sub>TL</sub>


2008-2009 675 135 20.0 250 37.1 290 42.9


2009-2010 578 113 19.6 168 29.0 297 51.4


2010- 2011 535 82 15.3 129 24.1 324 60.5



* Dựa vào những kết quả khả quan ở trên, chúng ta có thể khẳng định rằng những giải pháp
nêu ra trong sáng kiến kinh nghiệm hồn tồn có thể thay thế được cách tổ chức dạy học đơn
<b>điệu mà lâu nay chúng ta thường thực hiện trong các bài dạy “Chương trình địa phương”</b>
(phần Văn và Tập làm văn) từ việc hướng dẫn học sinh lĩnh hội, tiếp thu kiến thức đến việc
rèn luyện kĩ năng cho các em. Chúng ta có thể vận dụng sáng kiến kinh nghiệm vào các tiết
<b>“Chương trình địa phương” (phần Văn và Tập làm văn) ở toàn cấp trong trường THCS.</b>
<b> 3. Lợi ích:</b>


<i><b>- Dạy tốt bài Chương trình địa phương có một ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần hun</b></i>
đúc thêm vốn kiến thức cũng như tình yêu quê hương cho các em học sinh. Đồng thời tạo
được hứng thú đối với bộ môn Ngữ văn trong nhà trường. Các em có điều kiện rèn luyện một
số kĩ năng như: kĩ năng sưu tầm, kĩ năng trình bày vấn đề trước tập thể,...Từ đó giúp các em
chủ động, tự tin hơn trong học tập và cuộc sống.


<i><b> - Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghiệm dạy học bài Chương trình địa phương”</b></i>
(Phần Văn và Tập làm văn) sẽ giúp cho giáo viên môn Ngữ văn thấy được tầm quan trọng
<b>của các tiết dạy bài “Chương trình địa phương” (phần Văn và Tập làm văn) để có những</b>
đầu tư đúng mức để nâng cao chất lượng và hiệu quả của tiết dạy.


- Những kinh nghiệm của bản thân trình bày trong đề tài đã áp dụng trong thực tế và được
rút kinh nghiệm-bổ sung qua các năm học. Chính vì vậy sẽ giúp cho các bạn đồng nghiệp rất
nhiều trong việc định hướng tổ chức hoạt động dạy học, cách thức chuẩn bị cho một tiết học.
Những kiến thức cơ bản trong đề tài đã được sưu tầm, tích lũy trong nhiều năm sẽ giúp cho
giáo viên khỏi mất nhiều thời gian sưu tầm, tìm kiếm.


</div>
<span class='text_page_counter'>(41)</span><div class='page_container' data-page=41>

Để thực hiện Sáng kiến kinh nghiệm trên có hiệu quả, địi hỏi người giáo viên phải
<i><b>nghiên cứu kĩ Chương trình địa phương(phần Văn và Tập làm văn) THCS, sách giáo viên,</b></i>
sách giáo khoa, tài liệu tham khảo về địa phương Bình Định,... Mặt khác, người giáo viên
phải có năng lực chun mơn, nghiệp vụ sư phạm vững vàng trong quá trình dạy học, đặc
biệt phải có sự đầu tư đúng mức trong quá trình nghiên cứu, sưu tầm, chuẩn bị tư liệu, soạn


giảng, định hướng cho nội dung bài dạy, rút kinh nghiệm thiết thực cho từng tiết dạy.


<b> II. Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển giải pháp:</b>


Công nghệ thông tin ngày càng phát triển và được giáo viên vận dụng trong soạn giảng.
Đây chính là điều kiện thuận lợi để chúng ta thực hiện có hiệu quả các giải pháp được nêu ra
trong đề tài. Bằng việc trình chiếu, các hình ảnh về danh lam thắng cảnh, di tịch lịch sử, chân
dung nhà văn; các câu hỏi, các trò chơi, tác phẩm văn học hiện lên sinh động và lôi cuốn học
sinh trong các tiết dạy và các buổi hoạt động ngoại khóa.


<i><b> Hiện nay các trường học đều hưởng ứng phong trào thi đua: “ Xây dựng trường học</b></i>
<i><b>thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục- Đào tạo phát động. Một nội dung được xem</b></i>
là điểm nhấn của phong trào này là đưa trò chơi dân gian, hát dân ca và các loại hình sinh
hoạt văn hóa dân gian vào trường học nhằm nâng cao hiểu biết về quê hương, bản sắc văn
hóa của quê hương cho học sinh; hình thành cho các em kĩ năng sống, tình cảm yêu mến, tự
<i><b>hào về quê hương. Đây cũng chính là mục tiêu mà các giải pháp nêu trong đề tài “Một số</b></i>
<i><b>kinh nghiệm dạy học bài Chương trình địa phương” (Phần Văn và Tập làm văn) hướng</b></i>
tới. Từ những lí do trên ta thấy việc vận dụng giải pháp của đề tài có nhiều triển vọng.


<b>III. Đề xuất, kiến nghị:</b>
<i><b> 1.Đối với giáo viên bộ môn:</b></i>


<i> - Thực tế hiện nay, bộ môn Ngữ văn chưa được tất cả học sinh quan tâm đầu tư học tập</i>
đúng mức như mơn Tốn, Tiếng Anh…do đó người giáo viên phải có phương pháp giảng
dạy phù hợp giúp các em yêu thích học bộ mơn hơn. Phối hợp linh hoạt các phương pháp
dạy học trong một tiết dạy, phải có phương pháp riêng và yêu cầu riêng đối với từng đối
tượng học sinh sao cho phù hợp với khả năng tiếp thu kiến thức của các em.


- Giáo viên căn cứ vào chương trình, sách giáo khoa, dựa vào chủ đề bài học,…để soạn giáo
án dạy học thực hiện nội dung giáo dục địa phương đảm bảo đúng quy định của chương


trình.


- Giáo viên có thể tham khảo các tài liệu về văn hóa, ngơn ngữ, các tác phẩm văn học sáng
tác về đề tài địa phương, hoặc của tác giả người địa phương, có thể chọn lọc, giới thiệu một
số danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, nét văn hóa đặc trưng của địa phương.


- Trong giờ học văn học địa phương, giáo viên cần giao việc cụ thể cho các em thực hiện,
nhất là khâu chuẩn bị như thu thập, xử lý thông tin theo hệ thống ( thời gian, đề tài, chủ đề),
sưu tầm và giới thiệu…và có những định hướng để các em tìm hiểu, khám phá và tiếp nhận
văn học địa phương.


<i><b> 2. Đối với học sinh:</b></i>


- Để đạt được kết quả, học sinh phải nỗ lực học tập, soạn bài đầy đủ, tích cực hồn thành
các nhiệm vụ mà giáo viên giao cho.


- Bản thân mỗi học sinh phải lập sổ tay văn học, sổ sưu tầm tranh ảnh để tích lũy kiến
thức cho tiết học.


<i><b> 3. Đối với tổ chuyên môn:</b></i>


<i><b> - Tổ chức báo cáo chuyên đề, thao giảng, hội giảng bài Chương trình địa phương (phần</b></i>
Văn và tập làm văn) để trao đổi những kinh nghiệm quí báu từng bước nâng dần chất lượng
dạy học bộ môn.


- Thường xuyên tổ chức các buổi ngoại khóa bộ mơn, tổ chức thi tìm hiểu về văn học Bình
Định.


</div>
<span class='text_page_counter'>(42)</span><div class='page_container' data-page=42>

<i><b> 4. Đối với nhà trường:</b></i>



- Trong thư viện nên có các tạp chí của tỉnh như tạp chí văn học nghệ thuật, tạp chí văn
hóa để giáo viên và học sinh tham khảo, cập nhật thông tin văn học có những tri thức về văn
học địa phương.


- Tổ chức các buổi ngoại khóa văn học địa phương, những buổi tham quan thực tế các
danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa của địa phương hoặc tổ chức tọa đàm với các
văn nghệ sĩ địa phương,… nhằm tạo hứng thú học tập, nâng cao hiểu biết về văn hóa nghệ
thuật của địa phương cho học sinh.


<i><b> 6. Đối với các cấp quản lý (Phòng, Sở GD-ĐT):</b></i>


Nên biên soạn một tập tài liệu về văn học địa phương. Ở đó sẽ có những định hướng để
người giáo viên giúp các em biết cách sưu tầm những câu chuyện dân gian, những câu tục
ngữ, ca dao, dân ca địa phương; có những thơng tin cơ bản về các tác giả của địa phương đã
trở thành nhà văn, nhà thơ tên tuổi và danh sách hội viên hiện nay của hội văn nghệ địa
phương; có phần giới thiệu tác giả, tác phẩm đã làm nên diện mạo văn học của một vùng,
miền; có phần giới thiệu di sản văn hóa, di tích lịch sử, danh lam thẳng cảnh của địa
phương... Và nếu được sẽ có thêm phần phụ lục trích đăng một số tác phẩm tiêu biểu.




* Trên đây là một số kinh nghiệm mà tơi tích lũy được trong quá trình giảng dạy, xin trao
đổi cùng với đồng nghiệp, hi vọng sẽ được sự góp ý chân thành của các bạn. Trong đề tài này
chắc chắn rằng nội dung và các giải pháp còn nhiều bất cập, thiếu sót, rất mong các bạn đồng
nghiệp nghiên cứu, chỉnh lí và bổ sung để giáo viên thực hiện có hiệu quả hơn trong quá
trình dạy học, nâng dần chất lượng góp phần đào tạo thế hệ trẻ. Các em học sinh sẽ u thích
<i><b>mơn văn đặc biệt là các bài giảng Chương trình địa phương.</b></i>





<i> Mỹ Lộc, ngày 30 tháng 3 năm 2012</i>
Người thực hiện




Trần Thị Trà My


<b>XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(43)</span><div class='page_container' data-page=43>

...
...
...
...
...


Tổ trưởng




<b>THẨM ĐỊNH CỦA NHÀ TRƯỜNG</b>


...
...
...
...
...
...
...
...



<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(44)</span><div class='page_container' data-page=44>

2. Bình Định- Những chặng đường lịch sử- Hội Khoa học Lịch sử Bình Định xuất bản.
3. Ca dao, tực ngữ Việt Nam- – NXB Giáo dục


4. Nhà văn Việt Nam tỉnh Bình Định- NXB Thơng Tấn.


5. Sách giáo khoa và sách giáo viên ngữ văn lớp 6,7,8, 9 (Tập I+II) – NXB Giáo dục.
6. Sách Chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ văn THCS– NXB Giáo dục.


</div>

<!--links-->

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×