Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Mối quan hệ giữa hoạt động công tố và hoạt động xét xử theo yêu cầu của cải cách tư pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (300.75 KB, 6 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

Mối quan hệ giữa hoạt động công tố và hoạt


động xét xử theo yêu cầu của cải cách tư pháp



Nguyễn Thanh Tùng


Khoa Luật



Luận văn Thạc sĩ ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật;


Mã số: 60 38 01 01



Người hướng dẫn: TS. Đặng Minh Tuấn


Năm bảo vệ: 2014



<b>Keywords. Pháp luật Việt Nam; Cải cách tư pháp; Cơng tố; Hoạt động xét xử </b>
<b>Content </b>


<b>1. Tính cấp thiết của đề tài </b>


Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì
Nhân dân. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta không ngừng đổi mới, phát triển kinh tế, văn hoá,
xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để thực hiện mục tiêu đó, một trong những nhiệm vụ
quan trọng hiện nay của Nhà nước là phải đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp, chú trọng đến việc
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhằm đảm bảo cho các cơ quan nhà nước nói chung và
các cơ quan tư pháp nói riêng hoạt động hiệu quả.


Các quan điển này được tiếp tục khẳng định và phát triển trong các Văn kiện Đại hội
Đảng và các Nghị quyết Trung ương của Đảng ta trong những năm gần đây.


Về hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách tư pháp, trong văn kiện Đại hội đại biển
toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ:



…Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật làm cơ sở
cho tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp trước yêu cầu đổi mới…
bảo đảm cho mọi vi phạm đều bị xử lý, mọi cơng dân đều bình đẳng trước pháp luật,
bảo đảm quyền làm chủ của công dân… 6.


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra các biện pháp tiến hành cải cách
<i>tư pháp ở nước ta là: “…Tiếp tục cải cách, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ </i>


<i>quan tư pháp theo nguyên tắc nâng cao tinh thần trách nhiệm, làm tốt các công tác điều tra, truy </i>
<i>tố, xét xử…” </i>9.


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và XI, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nghi nhận
các nội dung: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Hoàn thiện hệ thống pháp luật;
Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh; Đẩy mạnh
việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, lấy cải cách hoạt động xét xử làm
trọng tâm, thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra…


Theo tinh thần trên, các cơ quan tư pháp nói chung; Viện kiểm sát nhân dân và Tồ án
nhân dân nói riêng đã có nhiều cố gắng trong việc góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật liên quan, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan.


Tuy nhiên, thực tế áp dụng pháp luật cho thấy việc nhận thức và thể hiện mối quan hệ giữa
các Cơ quan tư pháp nói chung, Cơ quan thực hiện hoạt động công tố và Cơ quan thực hiện hoạt
động xét xử nói riêng vẫn chưa đúng: Hoặc là quá coi trọng quan hệ phối hợp mà quên đi trách
nhiệm chế ước; Quá nặng về chế ước dẫn đến đối đầu, cản chở, gây khó khăn cho nhau trong việc
thực hiện nhiệm vụ. Bên cạnh đó là sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm, chưa có sự phân biệt rành mạch giữa các Cơ quan tư pháp nói chung, Cơ quan thực hiện chức
năng công tố và Cơ quan thực hiện chức năng xét xử nói riêng.


<i><b>Với những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Mối quan hệ giữa hoạt động công tố và </b></i>


<i><b>hoạt động xét xử theo yêu cầu của cải cách tư pháp” có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn sâu </b></i>
sắc.


<b>2. Tình hình nghiên cứu đề tài </b>


Trong những năm gần đây đã có nhiều cơng trình khoa học, nhiều nhà nghiên cứu lý luận
và thực tiễn ở mức độ khác nhau đề cập đến các vấn đề tổ chức và hoạt động của cơ quan tư
pháp nói chung, hoạt động của Cơ quan thực hiện chức năng cơng tố và xét xử nói riêng… Qua
tìm hiểu các tài liệu hiện hành cho thấy các cơng trình khoa học tập trung nghiên cứu theo những
khía cạnh sau:


<i>- Nhóm nghiên cứu chung gồm: Lê Hữu Thể: Hồn thiện mơ hình tố tụng hình sự Việt </i>


<i>Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp (Tạp chí chuyên ngành), Hà Nội, 2011; Nguyễn Thái Phúc: </i>
<i>Viện kiểm sát hay viện cơng tố (Tạp chí chun ngành), Hà Nội, 2007; Ngơ Văn Đọn (Chủ biên): </i>
<i>Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố với vấn đề thông </i>
<i>khâu và chuyên khâu trong các công tác kiểm sát hình sự, (Đề tài khoa học cấp bộ), Hà Nội, </i>


<i>2004; Lê Cảm: Bàn về tổ chức quyền tư pháp-nội dung cơ bản của chiến lược cải cách tư pháp </i>


<i>đến năm 2020, (Tạp chí chuyên ngành), Hà Nội, 2005; Phạm Hồng Hải: Đổi mới tổ chức và hoạt </i>
<i>động của hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu </i>
<i>cải cách tư pháp (Tạp chí chuyên ngành), Hà Nội, 2006; Đỗ Văn Đương: Cơ quan thực hành </i>
<i>quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay (Tạp chí chuyên ngành), Hà Nội, 2006; </i>


<i>Trần Văn Độ: Phân định thẩm quyền trong tố tụng hình sự (Tạp chí chuyên ngành), Hà Nội, </i>
2008.


- Nhóm nghiên cứu về hoạt động công tố và hoạt động xét xử:



<i>Lê Hữu Thể (Chủ biên): Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp </i>


<i>trong giai đoạn điều tra (Sách tham khảo), Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005; Lê Thị Tuyết Hoa: </i>
<i>Quyền công tố ở Việt Nam, (Luận án tiến sỹ luật học), Hà Nội, 2002; Nguyễn Trương Tín: </i>
<i>Mối quan hệ giữa tranh tụng trong tố tụng hình sự với chức năng xét xử của Tồ án (Tạp trí </i>


<i>chun ngành), Hà Nội, 2008; Nguyễn Minh Đức: Quyền công tố và tổ chức thực hiện quyền </i>


<i>công tố trong nhà nước pháp quyền (Tạp chí chuyên ngành), Hà Nội, 2012. </i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

<i><b>liệu tham khảo có giá trị để nghiên cứu và hồn thiện đề tài luận văn. </b></i>


<b>3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài </b>


<i><b>- Mục đích: </b></i>


Trên cơ sở các quan điểm của Đảng và yêu cầu của cải cách tư pháp; Luận văn phân tích
những quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của các cơ quan thực hiện chức năng công tố và xét xử; mối quan hệ giữa hoạt động công tố và
hoạt động xét xử; chỉ ra những tồn tại và vướng mắc, sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa
các cơ quan này trong mối quan hệ trên để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ
thống pháp luật liên quan nhằm xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ
chức, bộ máy Cơ quan thực hiện chức năng công tố và xét xử theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt
Nam hiện nay.


<i><b>- Nhiệm vụ của luận văn: </b></i>


Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:


+ Phân tích cơ sở lý luận chung về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, tổ chức, bộ máy


các Cơ quan thực hiện hoạt động công tố và xét xử; mối quan hệ giữa hoạt động công tố và xét
xử theo yêu cầu cải cách tư pháp.


+ Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về mối quan hệ giữa hoạt động
công tố và xét xử theo yêu cầu cải cách tư pháp. Trên cơ sở đó chỉ ra những tồn tại và vướng
mắc, sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan này.


+ Đề xuất những phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật liên quan đến việc xác
định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp,
xác định Tồ án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm, Viện kiểm sát thực hành
quyền công tố, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.


<b>4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu </b>


<i><b>- Đối tượng nghiên cứu: </b></i>


Trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận về lịch sử nhà nước và pháp luật, luận văn tập
trung nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về chức năng, nhiệm
vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các Cơ quan thực hiện chức năng công tố và xét
xử đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.


<i><b>- Cơ sở lý luận của luận văn: </b></i>


Cơ sở lý luận của luận văn là học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của
các Cơ quan tư pháp nói chung, hoạt động cơng tố và xét xử nói riêng.


<i><b>- Phương pháp nghiên cứu: </b></i>


Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn sử dụng các phương pháp


nghiên cứu: Phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể; Kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác
như: So sánh, thống kê, điều tra xã hội học.


<b>5. Điểm mới và những đóng góp của đề tài </b>


Luận văn là tài liệu chuyên khảo nghiên cứu, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Cơ quan thực hiện chức năng công tố
và xét xử, cũng như mối quan hệ giữa các cơ quan này theo yêu cầu của cải cách tư pháp. Luận
văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác lý luận và thực tiễn,
đồng thời có thể được sử dụng cho việc nghiên cứu và giảng dạy. Vì vậy, có một số đặc điểm
sau:


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

- Chỉ ra những tồn tại, bất cập của pháp luật và áp dụng pháp luật hiện hành về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động…. của các Cơ quan thực hiện hoạt động công
tố và xét xử.


- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động; chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của các Cơ quan thực hiện hoạt động công tố và xét xử đáp ứng yêu cầu của cải cách tư
<i><b>pháp. </b></i>


<b>6. Kết cấu của luận văn </b>


Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:


Chương 1: Những vấn đề cơ bản về mối quan hệ giữa hoạt động công tố và xét xử
theo yêu cầu cải cách tư pháp


Chương 2: Thực trạng pháp luật về mối quan hệ giữa hoạt động công tố và xét xử ở
Việt Nam



Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện mối quan hệ giữa hoạt động công tố và
xét xử.


<b>References </b>


1. <i>Nguyễn Khắc Bộ (2004), “Để Hội thẩm nhân nhân khơng chỉ là hình thức”, Tồ án nhân </i>


<i>dân, (3), tr. 6. </i>


2. <i>Nguyễn Ngọc Chí (2014), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc </i>
gia, Hà Nội.


3. <i>Lê Cảm (2005), Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật </i>


<i>hình sự (phần chung), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. </i>


4. <i>Lê Cảm (2004), “Một số vấn đề chung về các giai đoạn tố tụng hình sự”, Kiểm sát, (2). </i>
5. Nguyễn Đăng Dung (2007), “Trọng tâm của công tác cải cách tư pháp hiện nay là bảo đảm


<i>cho ngun tắc Tồ án độc lập có hiệu lực trên thực tế” Dân chủ và pháp luật, (1), tr.23. </i>
6. <i>Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb </i>


Chính trị Quốc gia, Hà Nội.


7. <i>Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương </i>


<i>Đảng (khoá VIII), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. </i>


8. <i>Đảng Cộng sản Việt Nam Chí (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XI, Nxb </i>


Chính trị Quốc gia, Hà Nội.


9. <i>Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb </i>
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.


<i>10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về </i>


<i>một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Nxb Chính trị Quốc </i>


gia, Hà Nội.


<i>11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về </i>


<i>chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. </i>


<i>12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb </i>
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.


<i>13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Điều lệ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. </i>


<i>14. Trần Văn Độ (2000), “Hoàn thiện quy định của pháp luật về giới hạn xét xử”, Toà án nhân </i>


<i>dân, (3). </i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

<i>tài cấp bộ, tr.48. </i>


<i>16. Trần Văn Độ (2003), “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân” Dân chủ và </i>


<i>pháp luật, (11). </i>



<i>17. Trần Văn Độ (2014), “Quy định của Hiến pháp về Toà án nhân dân”, Lập pháp, (6). </i>


18. Hồ Khải Hà (2007), “Trả hồ sơ điều tra bổ sung: Giới hạn số lần và trường hợp được trả”,


<i>Pháp luật, (4), tr. 9. </i>


<i>19. Phạm Hồng Hải (Chủ biên) (2000), Tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và </i>


<i>thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. </i>


<i>20. Nguyễn Văn Hiện (1999), “Vấn đề giới hạn xét xử của Toà án nhân dân”, Toà án nhân </i>


<i>dân, (8). </i>


21. Đinh Thế Hưng (2011), “Quan hệ giữa cơ quan Điều tra, Cơng tố và Tồ án trong tố tụng
<i>hình sự Việt Nam”, Tham luận tại hội thảo quốc tế về quyền công tố. </i>


22. Nguyễn Văn Huyên (2012), “Vấn đề giới hạn của việc xét xử trong luật tố tụng hình sự”,


<i>Tạp trí luật học, (48). </i>


<i>23. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (1998), Giáo trình Luật tổ chức Tồ án, Viện kiểm </i>


<i>sát, Công chứng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. </i>


<i>24. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà nội (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần </i>


<i>chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. </i>


<i>25. Khoa Luật - Đại học Quốc gia hà nội (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các </i>



<i>tội phạm), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. </i>


<i>26. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, </i>
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.


<i>27. Trần Huy Liệu (2010), “Những quan điểm chỉ đạo cải cách tư pháp ở Việt Nam”, Lập </i>


<i>pháp, (4). </i>


28. Mai Văn Lư (2008), “Bàn về vấn đề trả hồ sơ điều tra bổ sung tại phiên tồ hình sự sơ
<i>thẩm”, Kiểm sát, (6). </i>


<i>29. Phan Thanh Mai (2004), “Một số ý kiến về vấn đề Hội đồng xét xử khởi tố vụ án hình sự”, </i>


<i>Luật học, (4) tr. 23. </i>


<i>30. Đặng Quang Phương (1995), “Nguyên tắc độc lập xét xử và vấn đề giới hạn xét xử”, Kỷ </i>


<i>yếu, tập III, Viện Khoa học xét xử -Toà án nhân dân, (7). </i>


<i>31. Nguyễn Thái Phúc (2003), “Vấn đề giới hạn xét xử trong tố tụng hình sự”, Nhà nước và </i>


<i>Pháp luật, (11), tr. 49. </i>


<i>32. Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1946), Hiến pháp, Nxb Tư pháp, Hà </i>
Nội.


<i>33. Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1980), Hiến pháp, Nxb Tư pháp, Hà </i>
Nội.



<i>34. Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Hiến pháp, Nxb Tư pháp, Hà </i>
Nội.


<i>35. Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp, Nxb Tư pháp, Hà </i>
Nội.


<i>36. Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), Bộ luật hình sự, Nxb Tư </i>
pháp, Hà Nội.


<i>37. Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb </i>
Tư pháp, Hà Nội.


<i>38. Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Luật tổ chức Toà án nhân </i>


<i>dân, Nxb Tư pháp, Hà Nội. </i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

<i>nhân dân, Nxb Tư pháp, Hà Nội. </i>


40. Lê Hữu Thể (2012), “Hồn thiện mơ hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu cải cách
<i>tư pháp”, . </i>


<i>41. Lê Hữu Thể (Chủ biên) (2008), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư </i>


<i>pháp trong giai đoạn điều tra, tr. 21, Nxb Tư pháp, Hà Nội. </i>


42. Nguyễn Thương Tín (2008), “Mối quan hệ giữa tranh tụng trong tố tụng hình sự với chức
<i>năng xét xử của Toà án trong bối cảnh cải cách tư pháp”, Nhà nước và Pháp luật, (8). </i>
43. Trần Quang Tiệp (2011), “Đối tượng chứng minh và nghĩa vụ chứng minh trong vụ án hình



<i>sự”, Trang thơng tin điện tử tỉnh ủy Bắc Giang. </i>


<i>44. Toà án nhân dân tối cao (2006), Sổ tay Thẩm phán, Nxb Tư pháp, Hà Nội. </i>


<i>45. Toà án nhân dân tối cao (2004), Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 5/11 hướng dẫn thi </i>


<i>hành một số quy định trong phần thứ III của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Hà Nội. </i>


<i>46. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật hình sự Viện Nam, Nxb Công an </i>
nhân dân, Hà Nội.


47. <i>Đào Trí Úc (2011), “Các nguyên tắc tố tụng hình sự Việt Nam”, Lập pháp, (15). </i>


<i>48. Đào Trí Úc (2012), “Tồ án có vị trí trung tâm, xét xử là hoạt động trọng tâm”, Kiểm sát, </i>
(21).


<i>49. Đào Trí Úc (Chủ biên) (1994), Những vấn đề lý luận của việc đổi mới pháp luật hình sự trong </i>


<i>giai đoạn hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. </i>


<i>50. Nguyễn Như Ý (1999), Từ điển Luật học, , tr.188, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội. </i>


</div>

<!--links-->

×