Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.58 MB, 160 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
PGS.TS. BẾ MINH CHÂU (Chủ biên)
ThS. TRẦN THỊ HƯƠNG
LỜI NĨI ĐẦU
Khơng chỉ có tác động của các quá trình tự nhiên, nhiều hoạt động phát
triển kinh tế - xã hội hiện nay đã và đang tác động tiêu cực lên môi trường. Điều
này đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết trong công tác bảo vệ môi trường, trong
đó, việc phịng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường cần được đặc biệt
<i>quan tâm. Chính vì vậy, mơn học Kiểm sốt tai biến và rủi ro môi trường được </i>
đưa vào giảng dạy trong chương trình đào tạo ngành Khoa học môi trường,
Trường Đại học Lâm nghiệp.
Trong quá trình biên soạn cuốn Bài giảng, nhóm tác giả đã kế thừa những
quy định pháp luật về bảo vệ mơi trường Việt Nam; một số bài giảng, giáo trình,
tài liệu tham khảo về tai biến và rủi ro, sự cố môi trường của các trường đại học;
những kết quả nghiên cứu về bảo vệ môi trường của một số đề tài khoa học...
Bài giảng này gồm 5 chương: Chương 1 trình bày những khái niệm chung
về tai biến và rủi ro môi trường, phân loại và cách ứng phó với tai biến môi
trường; Các chương 2, 3, 4 và 5 đề cập đến khái niệm, nguyên nhân, cơ chế, hậu
quả và giải pháp ứng phó đối với những loại tai biến môi trường cụ thể. Trong
đó, chương 2 phân tích, đánh giá các tai biến liên quan đến quá trình địa động
lực nội sinh; Chương 3 giới thiệu và đánh giá các tai biến liên quan đến quá
Tham gia biên soạn giáo trình gồm: NGƯT.PGS.TS. Bế Minh Châu
(chủ biên) và ThS. Trần Thị Hương.
Nhóm tác giả chân thành cảm ơn các đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu và
đóng góp những ý kiến quý báu trong q trình biên soạn. Kính mong nhận
được những góp ý để lần xuất bản sau được hoàn chỉnh hơn.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TAI BIẾN VÀ RỦI RO MÔI TRƯỜNG
1.1. Khái niệm tai biến và rủi ro môi trường
<i>1.1.1. Khái niệm tai biến môi trường </i>
Trong các hoạt động sinh hoạt, sản xuất của con người và các quá trình tự
nhiên, ta thường gặp những sự cố không mong muốn, trong đó có sự cố môi
trường.
Theo Điều 3, Luật bảo vệ môi trường Việt Nam số 55/2014/QH13 ngày
23 tháng 6 năm 2014: Sự cố môi trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt
động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thối hoặc
biến đổi mơi trường nghiêm trọng.
Các sự cố môi trường bắt nguồn từ những nguyên nhân, những quá trình
tiềm ẩn mối nguy hại để đến một giai đoạn nào đó sẽ trở thành sự cố. Nói một
cách khác, con đường dẫn tới các sự cố môi trường xuất phát từ những mối nguy
<i> Nhiều nhà khoa học cho rằng: Tai biến (Hazard) là tiềm năng của một vấn </i>
đề hay trường hợp tạo ra những tác động bất lợi cho cộng đồng hay tổn thất về
tài sản, tính mạng con người. Đó là một tiềm năng bị mất đi mà khơng thể ước
lượng được và có thể bao gồm một điều kiện, một trường hợp hay là một kịch
bản với tiềm năng tạo ra một kết quả không như mong muốn.
Như vậy, tai biến môi trường là một trạng thái mà có thể xảy ra trong suốt
thời gian sống của một hệ thống sản phẩm, có thể gây ra các mối thiệt hại về con
người, tài sản, gây hư hại về môi trường, thiệt hại về kinh tế, xã hội và các rủi ro...
Theo tác giả Nguyễn Cẩn và Nguyễn Đình Hịe (2007): Tai biến môi
trường là những biểu hiện về điều kiện, hoàn cảnh, hiện tượng, vụ việc hoặc có
khi là q trình, được xuất hiện, diễn biến trong thiên nhiên, trong xã hội, có
tiềm năng gây hại, gây nguy hiểm, đe dọa đối với an toàn về sức khỏe, tính
mạng con người, tài sản kinh tế, tài sản văn hóa - xã hội của một bộ phận cộng
đồng lồi người, hoặc có nguy cơ đe dọa, thậm chí phá vỡ tính ổn định, an toàn
một bộ phận, cho đến tồn cục mang tính hệ thống môi trường tự nhiên, mơi
trường văn hóa - xã hội và mơi trường nhân sinh.
<i>con người, có khả năng gây hại tới tài sản, sức khoẻ, tính mạng của con người </i>
<i>cũng như tác động tiêu cực đến mơi trường. </i>
Ví dụ: Trong hoạt động sản xuất công nghiệp, tai biến môi trường thường
gặp là tai biến mơi trường vật lý, hóa học và sinh học như sau:
<i> Tai biến vật lý: Các sự cố cháy nổ, năng lượng điện, nhiệt độ cao, tiếng </i>
ồn, rung lắc, bức xạ, thời tiết, nhiệt độ môi trường khắc nghiệt, thiếu ánh sáng,
chói lịa, thơng thống kém.
<i> Tai biến hóa học: Hydrogen, Nitrogen, dịng thải, nước nóng, các vật liệu </i>
tự bốc cháy, các vật liệu ăn mòn và các vật liệu dễ nổ, bụi, khí độc dung mơi,
dung dịch hóa chất, kim loại nặng…
<i> Tai biến sinh học: Các loại vi khuẩn, vi rút, nấm, sinh vật xâm hại… </i>
Như vậy, tai biến mơi trường là q trình gây ra sự mất ổn định, gây hại
trong hệ thống môi trường. Tai biến môi trường vận hành gồm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn nguy cơ: Các yếu tố gây hại tồn tại trong hệ thống, nhưng
chưa phát triển gây mất ổn định.
+ Giai đoạn phát triển: Các yếu tố tai biến tập trung lại, gia tăng, tạo trạng
thái mất ổn định nhưng chưa vượt qua ngưỡng an toàn của hệ thống môi trường.
+ Giai đoạn sự cố môi trường: Quá trình vượt qua ngưỡng an toàn, gây
thiệt hại cho con người về sức khoẻ, tính mạng, tài sản... Những sự cố gây thiệt
hại lớn được gọi là tai hoạ, lớn hơn nữa được gọi là thảm hoạ môi trường.
Sự cố, hiểm hoạ hay thảm hoạ môi trường là các mức độ nguy hiểm khác
nhau của tai biến môi trường khi nó vượt qua ngưỡng an tồn về mơi trường.
Trong đó:
Sự cố môi trường thường gây thiệt hại không lớn, phạm vi mang tính cục
bộ, có liên quan đến các dạng tai biến ở quy mơ nhỏ. Ví dụ: trượt lở, bồi lắng,
sập hầm lò,...
Hiểm hoạ môi trường gây tác hại tương đối lớn về của cải vật chất, sức
khoẻ và cả tính mạng của con người, có thể gây mất ổn định, mất cân bằng một
bộ phận của môi trường tự nhiên hoặc môi trường xã hội, có hiểm hoạ gắn với
bằng từng bộ phận, khu vực của môi trường tự nhiên, môi trường nhân sinh hoặc
môi trường xã hội.
Ví dụ: Trận động đất ở Đường Sơn - Trung Quốc (1976), vụ nổ nhà máy
hạt nhân Tchernobưn - Ucraina (1986), cháy rừng ở Indonesia (1997, 2002,
2015...), động đất và sóng thần ở Ấn độ dương (2004), tràn dầu ở vùng vịnh
Mexico - Mỹ (2010), động đất và sóng thần ở Nhật Bản (2011), xả thải của công
ty Formosa tại Hà Tĩnh - Việt Nam (2016)...
<i>1.1.2. Khái niệm rủi ro môi trường </i>
Rủi ro được định nghĩa là xác suất của một tác động bất lợi lên con người
và môi trường do tiếp xúc với mối nguy hại. Rủi ro thường biểu diễn xác suất
xảy ra tác động có hại khi hậu quả của sự thiệt hại tính tốn được. Các loại rủi ro
bao gồm: - Rủi ro trong quá trình vận hành;
- Rủi ro trong thiết kế kỹ thuật;
- Rủi ro môi trường, hệ sinh thái;
- Rủi ro kinh tế (rủi ro kinh doanh);
- Rủi ro xã hội;
- Rủi ro chính trị.
<i>Theo tác giả Lê Hồng Trân (2008), Rủi ro môi trường (Environmental </i>
<i>Risk) là khả năng mà điều kiện môi trường, khi bị thay đổi bởi hoạt động của </i>
con người, có thể gây ra các tác động có hại cho một đối tượng nào đó. Các đối
tượng bao gồm sức khỏe, tính mạng con người, hệ sinh thái và xã hội. Tác nhân
Thông thường rủi ro biểu diễn dưới dạng phương trình sau:
Trong đó: P là tần suất, S là mức độ thiệt hại.
Như vậy, rủi ro là tập hợp các hiện tượng có quan hệ với nhau và bằng các
xác suất xảy ra nhân với mức độ hậu quả. Vì vậy cần kết hợp chặt chẽ việc đánh
giá rủi ro với quản lý mơi trường. Mục đích quản lý rủi ro có những đặc điểm
khác biệt sau đây:
- Rủi ro là chuỗi phức tạp nguyên nhân, hậu quả, thông qua nguồn gốc của
các biến cố mơi trường, trong đó biến cố về xã hội và kỹ thuật cần phải mơ hình
hóa. Để nghiên cứu rủi ro, ta thường phải sử dụng các phương pháp hệ thống.
- Rủi ro phải được cân nhắc trong mối tương quan với các vấn đề khác.
Một số hay nhiều rủi ro xảy ra đồng thời trong cùng một quốc gia, khu vực. Một
khi so sánh rủi ro và chấp nhận rủi ro này có nghĩa là chấp nhận rủi ro tương
ứng là bao nhiêu so với rủi ro khác.
- Rủi ro phải được xét trong mối tương quan về phúc lợi xã hội, vì vậy khi
chấp nhận rủi ro này thì phúc lợi xã hội sẽ giảm đi. Các rủi ro khác nhau có lợi
ích tương tự nhau thường có liên quan với nhau.
Thơng thường rủi ro có thể xảy ra trên toàn cầu, liên quan đến tất cả các
nước kể cả các nước phát triển, đang phát triển, trong cả lĩnh vực công nghiệp và
Một rủi ro có thể nghiêm trọng trong thời kỳ này nhưng không quan trọng
trong thời kỳ khác. Vì vậy, một rủi ro có thể đánh giá về các mức độ khác nhau
và theo từng thời kỳ xã hội. Rủi ro có thể xảy ra cho con người khi làm việc trong
dây chuyền sản xuất hay một số rủi ro sinh ra trong q trình tự nhiên khơng phải
do con người gây ra. Mức độ rủi ro thông thường sẽ được quyết định thông qua
phơi nhiễm và tiềm năng tác động hoặc kết quả tác động từ bất kỳ tuyến phơi
nhiễm nào.
Sự hiện diện rủi ro môi trường được thể hiện ở hình 1.1 [19].
Trong mơi trường cụ thể, khi có sự hiện diện của mối nguy hại (tai biến),
việc tiến hành đánh giá sẽ được thực hiện, dựa trên ba yếu tố: mối nguy hại, con
đường phơi nhiễm và tiềm năng đe dọa cộng đồng.
Khi cả ba yếu tố cùng nằm trong một đối tượng, vấn đề rủi ro được xác
định là tồn tại. Ngược lại, khi trong đối tượng được đánh giá chỉ mang hai yếu
tố, tức là đối tượng này có chứa rủi ro tiềm tàng. Khi có yếu tố thứ ba xen vào,
rủi ro sẽ xuất hiện. Sau cùng, nếu các yếu tố này đứng một mình riêng lẻ, khi đó
có thể rủi ro khơng xuất hiện hay khơng thấy rủi ro.
Mức độ rủi ro có thể được chia thành ba mức cơ bản như hình 1.2:
Khu vực rủi ro thấp: Đây là những khu vực khơng có tác nhân ô nhiễm và
đánh giá môi trường chỉ ra rằng các vật chất độc hại trong khu vực này khơng có
Khu vực rủi ro trung bình: Là khu vực có tác nhân ơ nhiễm nhưng rất giới
hạn, bao gồm các khu vực được đánh giá là khơng có một sự phản ứng hay đáp
trả lại. Khu vực này địi hỏi phải có các giải pháp bảo vệ môi trường và bảo vệ
sức khỏe con người.
Khu vực rủi ro cao: Là khu vực ơ nhiễm cao và có xuất hiện các ngun
vật liệu, nguồn thải độc hại hay các tác nhân nguy hại. Khu vực này địi hỏi phải
có các biện pháp để ngăn ngừa, đáp trả lại và các giải pháp bảo vệ sức khỏe con
người và môi trường.
Hiện nay trên thế giới đang có những hoạt động quan trắc các rủi ro môi
trường quan trọng như: Rủi ro về sinh thái; Rủi ro về sinh quyển; Rủi ro từ các
vật chất gây ô nhiễm; Rủi ro về khí hậu; Sự thay đổi về khí, mức độ phóng xạ
của mặt trời; Rủi ro về biển; Ơ nhiễm vùng cửa sơng, tràn dầu...; các thảm họa
tự nhiên...
Sự cố rủi ro trung bình
Sự cố rủi ro thấp
Sự cố rủi ro cao
0,1
0,001
0,00001
0,0000001
1.2. Phân loại tai biến môi trường
<i>- Dựa vào tác nhân gây tai biến có thể chia tai biến mơi trường thành 3 loại: </i>
+ Tai biến môi trường tự nhiên: Là loại tai biến rất phổ biến trong môi
trường tự nhiên của trái đất, sự hình thành và phát triển của các loại tai biến này
diễn ra song hành với sự hình thành và phát triển của các hợp phần cấu tạo nên
môi trường tự nhiên của trái đất vì thế nó rất phổ biến. Nó thường hình thành
một hợp phần này trên nền tảng phá vỡ một hợp phần khác. Tai biến môi trường
tự nhiên cịn được gọi là thiên tai. Tai biến mơi trường tự nhiên thường gắn liền
với các quá trình địa động lực nội sinh, địa động lực ngoại sinh. Các loại tai biến
môi trường do quá trình địa động lực nội sinh như: động đất, núi lửa, nứt đất
ngầm. Các loại tai biến môi trường do quá trình địa động lực ngoại sinh như:
bão tố, lũ quét, lũ ống, trượt lở, hạn hán…
+ Tai biến mơi trường văn hóa - xã hội: Các tác động của con người trong
môi trường văn hóa - xã hội nếu phát triển không đồng hướng, đồng đều của
từng mối quan hệ xã hội, từng mặt hoặc do tác động bất thường, nghịch lý, phi
luật hoặc ngược luật của một bộ phận cộng đồng sẽ dẫn tới tình trạng khơng ổn
định, mất an toàn, cân bằng cho xã hội. Ví dụ, hiện tượng bạo lực trong học
đường diễn ra ngày càng phổ biến tại các trường học; tệ nạn xã hội như nghiện
hút, cờ bạc có xu hướng gia tăng tại một số địa phương hiện nay…
+ Tai biến môi trường nhân sinh: Là loại tai biến có nguyên nhân từ
những hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người gây ra những hậu quả về môi
trường, sức khỏe và tính mạng con người. Ví dụ, một số dịng sơng bị ơ nhiễm
nghiêm trọng do người dân xả thải nước thải sinh hoạt, nông nghiệp và công
nghiệp…
<i>- Dựa vào cơ chế vận hành của tai biến chia tai biến môi trường thành: </i>
+ Tai biến cấp diễn: diễn ra đột ngột, bất ngờ, dữ dội, thường gây nỗi kinh
+ Tai biến trường diễn: Là những tai biến diễn ra chậm chạp, từ từ, khơng
gây nỗi kinh hồng sợ hãi cho con người. Ví dụ như tai biến do sự tăng nhiệt độ
của trái đất, do ô nhiễm môi trường....
1.3. Nhạy cảm tai biến môi trường và các yếu tố làm tăng tính nhạy cảm
môi trường
<i>1.3.1. Khái niệm về nhạy cảm tai biến </i>
đảm bảo tính cân bằng, đảm bảo cho sự tồn tại tự thân, cũng như phát triển tiến
hố của mình.
Trái đất hình thành và phát triển khoảng gần 5 tỷ năm qua, chu du trong
không gian vũ trụ, tồn tại an tồn giữa vơ vàn thiên thể lớn nhỏ, cũng như hàng
hà sa số các thiên thạch luôn di chuyển biến động. Xét về toàn cục của hành tinh
Trái đất, trong lịch sử phát triển phức tạp, sống động với các vận động kiến tạo
nâng nơi này, hạ nơi khác, tách rãn, nén ép, hút chìm, uốn nếp, phá huỷ, động
đất, phun trào, sóng thần bão tố, song hình thể của Trái đất vẫn giữ được trạng
thái cân bằng của một quả cầu – hình hài phản ánh tính hợp lý của hình thể ổn
định, cân bằng bền vững trong vũ trụ (Nguyễn Cẩn, Nguyễn Đình Hịe - 2005).
Tuy nhiên xét dưới góc độ cục bộ của một khu vực, bộ phận cụ thể của
Trái đất, sẽ luôn thấy một thực thể loại này (vật chất, hiện tượng) thay thế cho sự
phá huỷ, huỷ hoại, biến mất của một thực thể khác. Các hiện tượng này có thể
gây ra sự cố, hiểm hoạ nếu có nguy cơ huỷ hoại mơi trường sống, đặc biệt là gây
thiệt hại cho con người. Các biến đổi mơi trường có thể gây nguy hại cho con
<i>người và môi trường hay không được đánh giá thơng qua tính nhạy cảm tai biến. </i>
<i>Nhạy cảm tai biến là trạng thái tiếp cận tới ngưỡng giới hạn để một tai biến sẽ </i>
Có 3 loại nhạy cảm tai biến mơi trường, đó là nhạy cảm tai biến chủ quan
của con người; nhạy cảm tai biến khách quan và nhạy cảm tai biến nhân sinh.
<i>1.3.2. Nhạy cảm tai biến chủ quan của con người </i>
Tai biến môi trường được cảm nhận, xác định thông qua cảm nhận của
con người. Qua các tai hoạ do sự cố môi trường, hiểm hoạ môi trường, thảm hoạ
môi trường, con người tích luỹ được những kinh nghiệm, cảm nhận được các
nguy cơ tiềm năng, chưa gây hại đến sức khoẻ, tính mạng, tài sản của con người.
<i>Nhạy cảm tai biến chủ quan của con người là khả năng cảm nhận được </i>
<i>sự tiếp cận ngưỡng giới hạn để một tai biến sẽ chuyển thành sự cố môi trường. </i>
thực tiễn rất lớn (nhằm phòng tránh chúng). Nhờ sự nhạy cảm tai biến chủ quan
<i>của con người sẽ giúp con người dự báo trước sự cố môi trường, hiểm hoạ mơi </i>
trường tự nhiên, có biện pháp phịng tránh, phịng vệ, phòng chống, ngăn ngừa
hiểm họa đang đe doạ con người, mặt khác con người tự điều chỉnh các hành vi
tác động tiêu cực đối với môi trường, tránh việc đẩy tai biến tiềm năng thành
hiểm hoạ hiện thực.
<i>1.3.3. Nhạy cảm tai biến khách quan của môi trường tự nhiên </i>
Nhạy cảm tai biến khách quan của mơi trường mang tính thụ động. Nhạy
cảm tai biến môi trường khách quan cũng rất đa dạng, tuỳ thuộc vào cảm nhận,
<i>hiểu biết của con người, song còn phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh thiên </i>
<i>nhiên tương ứng với yếu tố môi trường, như thành phần vật chất tạo nên chúng, </i>
<i>kiến trúc địa chất, kiến trúc địa hình mặt đất, đặc điểm tác động của các yếu tố </i>
<i>môi trường tự nhiên... Nhạy cảm tai biến khách quan của môi trường được thể </i>
hiện rõ và có ý nghĩa khoa học, cũng như thực tiễn chủ yếu ở phạm vi ranh giới
<i>1.3.4. Nhạy cảm tai biến môi trường nhân sinh </i>
Loại nhạy cảm này liên quan đến cơng trình, q trình do con người tạo
<i>dựng như xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, đê đập, thuỷ điện, cảng... Độ nhạy cảm </i>
<i>tai biến, chuyển thành sự cố hay hiểm hoạ đối với các cơng trình nhân tạo thực </i>
<i>chất bao gồm cả hai yếu tố nhạy cảm chủ quan và nhạy cảm khách quan. </i>
Con người, qua tác động nhân sinh, hoặc tận dụng được mặt thuận lợi của
môi trường tự nhiên, thực thể tự nhiên có độ nhạy cảm thấp về tai biến hoặc
ngược lại, nếu thiếu kiến thức, hiểu biết có thể tác động đẩy tai biến mơi trường
tiềm năng thành hiểm hoạ môi trường.
Trong thực tế do chạy theo các lợi ích trước mắt, một số cá nhân hoặc
từng bộ phận cộng đồng loài người, mặc dù đã được khuyến cáo về nguy cơ tai
biến song vẫn tiến hành các việc làm có tác động xấu đến mơi trường, thúc đẩy
tai biến môi trường ở dạng tiềm ẩn vượt qua ngưỡng an tồn chuyển thành hiểm
hoạ mơi trường.
<i>1.3.5. Các yếu tố làm tăng tính nhạy cảm của tai biến </i>
Trong thiên nhiên có nhiều yếu tố làm tăng tính nhạy cảm của tai biến để
chuyển tai biến ở dạng tiềm năng (mối nguy hại) thành sự cố hay hiểm hoạ mơi
trường. Tuy nhiên, có nhiều loại tai biến ở dạng tiềm năng, giữ ở trạng thái dưới
ngưỡng tới hạn chưa chuyển hoặc nhiều khi không chuyển thành sự cố, hiểm
hoạ nếu con người khơng tác động làm tăng tính nhạy cảm của nguy cơ này.
Các nhân tố chính có thể góp phần làm tăng tính nhạy cảm của tai biến
môi trường bao gồm như sau:
<i>1.3.5.1. Bùng nổ dân số </i>
Sự gia tăng dân số, đặc biệt là bùng nổ dân số có tác động hoặc trực tiếp
hoặc gián tiếp làm tăng tính nhạy cảm của tai biến môi trường, gia tăng nguy cơ
thúc đẩy các tai biến tiềm năng vượt ngưỡng tới hạn để chuyển sang sự cố môi
trường và hiểm hoạ môi trường.
Bảng 1.1. Các mốc thời kỳ dân số trên thế giới
TT Mốc thời gian Dân số (tỷ người)
1 Năm thứ nhất sau công nguyên 0,2
2 1805 1
3 1927 2
4 1959 3
5 1987 5
6 1999 6
7 2011 7
8 2012 7,058
9 2013 7,137
<i>Nguồn: Khoa Địa lý, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh </i>
Bên cạnh các tác động tiêu cực nêu trên đối với môi trường tự nhiên, việc
bùng nổ dân số còn tác động nhiều mặt khá sâu sắc đối với các vấn đề xã hội
như thiếu lương thực, việc làm, bệnh tật…
<i>1.3.5.2. Sự đô thị hoá </i>
Sự gia tăng, bùng nổ dân số dẫn đến sự gia tăng nhịp độ đơ thị hố và gia
tăng dân số tại các đô thị. Điểm qua vài con số biến đổi, gia tăng dân số các đô
thị trên thế giới trong thế kỷ XX cũng thấy rõ một điều là nhịp độ đơ thị hố
trong thời gian gần đây tăng đến chóng mặt.
Vào năm 1920, dân số đô thị chiếm 19% dân số thế giới, đạt 360 triệu
dân. Vào năm 1960 đã chiếm 33%, đạt gần 1 tỷ người sống tại các đô thị.
Năm 1980 dân số các đô thị đạt gần 2 tỷ, chiếm 46% dân số thế giới. Theo
Báo cáo về Triển vọng đô thị hóa thế giới 2014 của Liên hợp quốc công bố
ngày 10/7/2014 cho biết: hơn một nửa dân số thế giới (54%) hiện đang tập
trung tại khu vực đô thị và tới năm 2050 sẽ có thêm khoảng 2,5 tỷ người sống
ở đô thị. Ở Việt Nam, theo thống kê tính đến ngày 28/02/2016, dân số Việt
Nam có 94.104.871 người (chiếm khoảng 1,27% dân số thế giới), xếp hạng
14 thế giới. Trong đó dân số ở các đô thị chiếm khoảng 33,6% dân số, song sẽ
còn gia tăng trong thời gian tới. Đơ thị hố gia tăng sẽ kéo theo sự gia tăng tính
nhạy cảm tai biến mơi trường về nhiều mặt.
+ Gia tăng nguồn thải cơng nghiệp, hố chất độc hại, bụi, tiếng ồn… gây
ô nhiễm môi trường.
+ Xây dựng quy mô lớn tập trung, nhiều nhà cao tầng dẫn đến gia tăng về
tính nhạy cảm tai biến nền móng mơi trường địa chất như lún hạ, biến dạng cục bộ.
+ Gia tăng tính nhạy cảm đối với nguồn nước mặt, nước ngầm khu vực
đô thị.
+ Gia tăng tính nhạy cảm tai biến mơi trường sinh thái khu vực đô thị và
phụ cận về nhiều khía cạnh.
+ Hiệu ứng nhà kính cục bộ.
+ Tạo ra sự căng thẳng về tinh thần (Stress).
+ Dịch bệnh đối với người và vật nuôi.
+ Nguy cơ biến đổi nguồn gen do du nhập các nguồn gen lạ có hại cho
mơi trường.
+ Gia tăng nhạy cảm tai biến môi trường nhân sinh, môi trường xã hội.
<i>1.3.5.3. Áp lực phát triển kinh tế </i>
(1) Canh tác nông nghiệp, khai hoang, khai phá rừng
Các hoạt động canh tác nông - lâm - ngư nghiệp không phù hợp, dẫn đến
các vấn đề:
+ Gia tăng xói mịn đất.
+ Giảm nguồn dự trữ nước chuyển thành nước ngầm.
+ Gây ngập úng, lũ lụt cho các vùng thấp liên quan.
+ Sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường.
+ Khai thác rừng cịn làm thay đổi khí hậu, gia tăng q trình sa mạc hố.
(2) Đánh bắt, ni trồng thủy hải sản
+ Đánh bắt thuỷ hải sản với khối lượng lớn hơn khả năng sinh sản của
chúng gây suy thoái cạn kiệt nguồn gen.
+ Đánh bắt bằng chất nổ, hoá chất gây mê gây ô nhiễm và huỷ hoại môi
trường.
+ Nuôi trồng thủy sản chạy theo lợi nhuận không tuân theo quy luật tự nhiên
dẫn đến suy thoái, phá vỡ cân bằng sinh thái, cấu trúc môi trường đới ven biển.
(3) Hoạt động công nghiệp
mạng của con người. Việc xử lý chất thải không khoa học, không lâu dài sẽ gây
tác hại không nhỏ đến môi trường…
(4) Khai thác mỏ
Việc khai thác mỏ nếu không được nghiên cứu đầy đủ và đầu tư đúng mức
có thể gây sập hầm mỏ, phá huỷ cảnh quan ô nhiễm môi trường…
(5) Xây dựng dân dụng, công nghiệp, giao thông, các cơng trình cảng, thuỷ lợi,
thuỷ điện…
Hiện nay, nhiều khu vực nông thôn xuất hiện khu công nghiệp, xu thế đơ
thị hố, phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng đường xá diễn ra rất mạnh mẽ đã tạo
áp lực gia tăng tính nhạy cảm tai biến mơi trường tự nhiên, mơi trường xã hội.
Ngày 10/10/2011 dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông dài hơn 13
km gồm 12 ga đón, tiễn khách được khởi công xây dựng. Trong quá trình thi
công đã xảy ra một số sự cố sau:
Sáng 6/11, tại khu vực thi công xây dựng nhà ga Thanh Xuân III đường
Nguyễn Trãi (Thanh Xuân, Hà Nội) thuộc dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà
Đông, 3 thanh thép lao xuống đường làm 1 người chết, 2 người bị thương. Sau
khi xảy ra vụ tai nạn, toàn bộ cơng trình đã phải dừng thi cơng để rà sốt các
biện pháp đảm bảo an toàn trong thi cơng.
Ngồi ra, cịn có nhiều sự cố tương tự như sự cố sập nhà khi đang xây tại
thành phố Hồ Chí Minh, sập cầu Cần Thơ, nhiều con đường bị sạt lở, trượt lở...
(6) Du lịch
<i>Tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường: </i>
<i> Ảnh hưởng tới nhu cầu và chất lượng nước, vấn đề rác thải. </i>
Ô nhiễm khơng khí: Tuy được coi là ngành "công nghiệp khơng khói",
nhưng du lịch có thể gây ơ nhiễm khí thơng qua phát xả khí thải động cơ xe máy
và tàu thuyền, đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thơng chính, gây hại cho
cây cối, động vật hoang dại và các cơng trình xây dựng bằng đá vôi và bê tông.
Năng lượng: Tiêu thụ năng lượng trong khu du lịch thường khơng hiệu
quả và lãng phí.
Ơ nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn từ các phương tiện giao thơng và du khách có
thể gây phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác, kể cả động vật
Ô nhiễm phong cảnh: Ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do khách
sạn nhà hàng có kiến trúc xấu xí thơ kệch, vật liệu ốp lát khơng phù hợp, bố trí
các dịch vụ thiếu khoa học…
Làm nhiễu loạn sinh thái: Việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm
sốt có thể tác động lên đất (xói mịn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú, đe
doạ các loài động thực vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung ứng thịt thú rừng,
thú nhồi bông, côn trùng...). Xây dựng đường giao thông và khu cắm trại gây
cản trở động vật hoang dại di chuyển tìm mồi, kết đơi hoặc sinh sản, phá hoại
rạn san hô do khai thác mẫu vật, cá cảnh hoặc neo đậu tàu thuyền...
<i>1.3.5.4. Biến đổi khí hậu </i>
nghĩa với hiện tượng nóng lên tồn cầu.
Năm 2015 đã đi vào lịch sử là năm nóng nhất từ trước tới nay do hiện tượng
ấm lên toàn cầu và do ảnh hưởng của hiện tượng thời tiết cực đoan El Nino. Theo
đó, Đơng Nam Á và Nam Á đã chứng kiến những đợt khô hạn và nắng nóng kỉ lục.
Mỹ và châu Âu chứng kiến một mùa Giáng sinh ấm áp chưa từng thấy. Tác động
rõ nét nhất của tình trạng biến đối khí hậu năm 2015 là những đợt nắng nóng kỉ
lục tại các quốc gia Nam á là Ấn Độ và Pakistan. Nhiệt độ cao nhất đo được lên
tới 490C đã khiến gần 4.000 người thiệt mạng tại hai quốc gia này.
Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đã và đang đe dọa cuộc sống của
loài người trên trái đất, khiến con người phải đối mặt với những sự cố hiểm họa
về thiên nhiên như bão lũ, hạn hán…
1.4. Dự báo tai biến môi trường
Dự báo tai biến môi trường, trước hết nhằm cảnh báo, hướng dẫn mang
tính định hướng đối với hoạt động của con người, sao cho không vượt quá
ngưỡng giới hạn từ tai biến tiềm năng chuyển sang sự cố hoặc hiểm họa môi
trường. Sau đó khi có điều kiện cần tiến tới dự báo trước thời điểm có thể xảy ra,
mức độ thiệt hại nếu có sự cố.
Để dự báo tai biến mơi trường cần thiết phải có các điều kiện mang tính
cơ sở sau:
- Các loại tài liệu về lịch sử, tài liệu điều tra hiện trạng các loại tai biến
tiềm ẩn, sự cố môi trường trong vùng nghiên cứu với các mức thiệt hại.
- Các kiến thức, hiểu biết về điều kiện phát sinh phát triển của loại tai biến
môi trường cần dự báo.
- Các kiến thức hiểu biết về quy trình, phương pháp, kỹ năng sử dụng các
thiết bị khoa học liên quan, phù hợp với mục tiêu, mức độ dự báo.
1.5. Tổng quan về tai biến, rủi ro môi trường trên thế giới và Việt Nam
<i>1.5.1. Trên thế giới </i>
<i>1.5.1.1.Một số tai biến, rủi ro môi trường trên thế giới </i>
và từ cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ, các nhà khoa học của viện Bảo tồn tự
nhiên và nguồn tài nguyên quốc tế kết hợp với Chương trình phát triển của Liên
hợp quốc đã tiến hành khảo sát ở 63 quốc gia về các trường hợp rủi ro môi
trường thường gặp vfa được thống kê như bảng 1.2.
Bảng 1.2. Các trường hợp về rủi ro môi trường thường gặp ở một số quốc gia
(trong số 63 quốc gia)
Tỷ lệ
%
1 Suy thoái đất đai 55 87,3
2 Phá rừng 40 63,5
3 Ô nhiễm về loại bỏ chất thải 35 55,5
4 Tuyệt chủng hệ động vật 34 54
5 Chôn lấp chất thải công nghiệp 29 46
6 Các loại phân bón và thuốc trừ sâu 25 39,7
7 Ô nhiễm do dầu 23 36,5
8 Nước cấp sinh hoạt khơng thích hợp 22 35
9 Phá hủy nguồn cá 22 35
10 Tiếng ồn 21 33,3
11 Cạn kiệt các loại động vật quý 20 31,7
12 Cháy 20 31,7
13 Hạn hán và sa mạc hóa 17 37
14 Ơ nhiễm khơng khí do cơng nghệ 15 23,8
15 Phá hủy hệ thực vật tự nhiên 14 22,2
16 Chôn lấp chất thải độc hại 12 19
17 Lũ lụt 11 17,5
18 Bão cát và bụi 9 14,3
Bảng 1.3. Các vấn đề rủi ro môi trường và mức độ nghiêm trọng [6]
TT Các vấn đề rủi ro môi trường % trả lời ở mức độ rủi ro môi
trường rất nghiêm trọng
1 Chất thải nguy hại 89
2 Sự cố tràn dầu 84
3 Ơ nhiễm khơng khí 80
4 Chôn lấp chất thải rắn 79
5 Thủng tầng khí quyển 79
6 Chất thải hạt nhân 78
7 Ô nhiễm nguồn nước 77
8 Phá hủy rừng 76
9 Ô nhiễm biển 75
10 Cạn kiệt các loài động vật 67
11 Đe dọa cuộc sống hoang dã 65
12 Sử dụng thuốc trừ sâu 60
13 Dân số thế giới 57
14 Sử dụng nguồn năng lượng kém 56
15 Trái đất nóng dần lên 56
16 Ô nhiễm điện từ 19
<i>Nguồn: U.S EPA, Office Of Communications, Education, And Public Affairs, Security </i>
<i>Our Lagacy, an EPA Progress Report 1989 – 1991. Washington, DC, April 1992, P9 </i>
Sự cố vụ nổ nhà máy hạt nhân Tchernobưn - Ukraina (26/4/1986):
Nguyên nhân do đun nhiệt từ lò phản ứng hạt nhân làm lạnh bằng nước. Lò phản
ứng hạt nhân nổ và cháy. Các mảnh vỡ phóng xạ bắn ra ở nhiều nước Châu Âu.
Khoảng 47 người đã bị chết trong vòng vài tháng khi tai nạn xảy ra. Hơn nữa
nhiều ngàn người có thể bị mắc bệnh ung thư và chết trong vòng 40 năm.
Sự cố Dioxin (Tetrachlorinated dibenzo (p) dioxin – TCDD) trong chất
thải dầu phun xịt tại khu vực lối vào của các khu vực bãi biển trong việc kiểm soát
bụi tại Bãi biển Times, Missouri, Mỹ năm vào cuối năm 1960 và đầu năm 1970.
Tai biến Sương mù Luân Đôn, ngày 5 tháng 12 năm 1953. Đây là một
trong những vụ tai biến môi trường nghiêm trọng huỷ diệt nhiều sinh vật và làm
chết nhiều người trên phạm vi toàn cầu. Từ sáng sớm cả thành phố bao trùm
trong sương mù, nhiệt độ giảm, khơng khí ẩm ướt và nặng, sương dày đặc,
khơng thể nhìn thấy mặt trời, mặt đất không có gió, khói khơng khuyếch tán
đựơc. Nồng độ của bụi khói và khí sunfurơ và bụi than không ngừng tăng lên
(do các nhà máy vẫn hoạt động), ánh đèn ô tô không xuyên nổi sương mù, tắc
nghẽn giao thông, cảnh sát giao thơng phải đeo khẩu trang để phịng độc, người
qua lại bị ho ngày càng nhiều. Tình trạng đó diễn ra suốt 5 ngày. Đến chập tối
ngày thứ 5, sương mù mới bắt đầu nhạt dần. Trận sượng mù 5 ngày đã cướp đi
sinh mạng hơn 4000 người, ba tháng sau đó lại tiếp tục và làm chết thêm 8000 người.
Hiện nay ở Mỹ, 80 triệu dân đang phải sống trong các khu vực mà khơng
khí bị ơ nhiễm vượt tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới (WHO).
Cũng theo WHO trên hành tinh chúng ta có khoảng 1,4 tỷ dân phải sống
trong môi trường không khí ơ nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép. Hơn 100 triệu
người ở châu Âu và Bắc Mỹ vẫn phải tiếp xúc với khơng khí khơng an tồn do
một số chất bẩn khó kiểm sốt. Số người bị hen suyễn tăng lên khủng khiếp mà
ngun nhân là mơi trường khơng khí bị ơ nhiễm.
Việc dùng quá mức phân hóa học, thuốc trừ sâu đã phá hủy các hệ sinh
thái ven bờ biển, dẫn đến bùng nổ rong rêu độc hại làm chết các sinh vật biển.
Sự mở rộng giao lưu và thương mại quốc tế đã tạo ra cơ hội mới cho việc lan
truyền hoặc xuất hiện lại các bệnh truyền nhiễm. Trong gần ba thập niên qua đã
Một số tai biến môi trường xảy ra trong năm 2015 trên thế giới:
Năm 2015 tiếp tục ghi nhận kỉ lục 9 trận siêu bão tại khu vực châu Á -
Thái Bình Dương với tốc độ gió trên 180 km/h.
Tháng 4, trận động đất mạnh 7,8 độ richter đã làm rung chuyển Nepal và
các nước láng giềng khiến 8.600 người thiệt mạng, phá hủy nhiều công trình
kiến trúc cổ và gây thiệt hại 5 tỉ USD.
Năm 2015, lần đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc phải ban hành báo động
đỏ về ô nhiễm khơng khí ở các đơ thị.
<i>1.5.1.2. Lịch sử nghiên cứu về Đánh giá tai biến, rủi ro môi trường </i>
Những sự cố liên tiếp xảy ra tăng đến mức báo động, trở nên nóng bỏng
trong xã hội, địi hỏi phải có biện pháp ngăn ngừa các mối đe dọa.
Năm 1980 ở Châu Âu đề xuất khung phương pháp luận ngành công
nghiệp hạt nhân được áp dụng trong công nghiệp hóa chất và cơng nghiệp dầu
mỏ và có nhiều quy định với chất nguy hại được hình thành. Ở Anh những quy
định này được thực hiện thông qua quy định CIMAH, ở Châu Âu thông qua
Seveco. Cùng thời điểm này, Hội đồng khoa học về các vấn đề môi trường
(Scope) và Hiệp hội quốc tế về khoa học đã xuất bản Báo cáo đánh giá rủi ro
môi trường. Tuy nhiên, từ những thập niên 70, phương pháp đánh giá định lượng
rủi ro và hướng dẫn Seveso (1,2) đã được sử dụng trong cơng nghiệp hóa chất.
Scope và Hiệp hội quốc tế về khoa học đã xuất bản Báo cáo đánh giá rủi ro môi
trường (ĐRM).
Vào năm 1982, Hội đồng kinh tế Châu Âu đã ấn hành tài liệu trực tiếp về
tiềm năng những mối nguy hại công nghiệp theo các tai nạn rò rỉ những chất
Dioxyt nguy hiểm ở Ý.
Vào năm 1984, Ngân hàng thế giới đã ấn hành hướng dẫn và sổ tay giúp
kiểm sốt các tai nạn chính trong cơng nghiệp sau sự kiện Ấn Độ gặp thảm họa
về hóa chất (metyl).
Vào năm 1987, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã hoàn tất
Báo cáo đánh giá rủi ro cho các nước này với các điều khoản cho cơng nghiệp
hạt nhân, hóa chất, quy trình dầu khí, vận chuyển các vật liệu nguy hại.
Vào năm 1995, rất nhiều Ngân hàng thương mại đã ký cam kết về thủ tục
để đánh giá cho dự án vay tiền mà người vay có thể bắt buộc phải thực hiện
đánh giá tác động môi trường và đánh giá rủi ro môi trường.
Cho đến nay việc đánh giá rủi ro môi trường được cơ quan quản lý môi
trường thế giới và các quốc gia quan tâm nhằm hạn chế giảm thiểu mức độ nguy
hại do tai biến gây ra.
<i>1.5.2. Tại Việt Nam </i>
chính… nên đã tạo ra những mối nguy hại và sự cố môi trường nghiêm trọng.
Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh có hơn 120.000 doanh nghiệp được cấp
đăng ký kinh doanh. Mỗi năm có khoảng 15.000 doanh nghiệp được thành lập
mới. Với tốc độ tăng trưởng và quy mô doanh nghiệp lớn, vấn đề an toàn lao
động, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ cũng đặt ra hết sức cấp bách cho
các cơ quan quản lý Nhà nước, cũng như các doanh nghiệp trên địa bàn.
Tai nạn lao động làm chết người xảy ra nhiều trong các doanh nghiệp kinh
doanh, lĩnh vực hoạt động xây dựng, hoạt động sản xuất công nghiệp. Các loại
tai nạn lao động phổ biến là: điện giật, ngã từ trên cao xuống, do vật rơi đổ, do
máy móc kẹp, cuốn …
Bệnh nghề nghiệp: Các bệnh nghề nghiệp và sự cố môi trường xảy ra ở
Việt Nam là bằng chứng đánh giá những mối nguy hại và các sự cố này trở
thành các sự kiện nổi bật trong xã hội. Địi hỏi phải có các cơ quan ban ngành
quan tâm và có biện pháp ngăn ngừa các mối đe dọa này.
Theo số liệu thống kê, đến tháng 7 năm 2006, thành phố Hồ Chí Minh có
31.292 cơ sở với 2.776.981 lao động đang làm việc, với các đặc điểm:
Tình hình sản xuất ngày các tăng về số lượng và quy mơ.
Điều kiện vệ sinh lao động cịn nhiều hạn chế
Phương thức làm việc cịn thủ cơng
Cơng nghệ sản xuất cịn xen lẫn mới và cũ
Ý thức người lao động và người sử dụng lao động đối với bệnh nghề
nghiệp còn kém.
Trong những bệnh nghề nghiệp thì bệnh Điếc nghề nghiệp hiện là bệnh
được khám và được phát hiện nhiều nhất hiện nay. Các bệnh nhiễm độc do hóa
chất rất nguy hiểm như nhóm đồng đẳng benzen vẫn còn sử dụng nhiều trong
các xí nghiệp, nhất là hoạt động sản xuất giày, sơn…
<i>Sự cố tràn dầu: </i>
Từ năm 1992 đến nay đã xảy ra 40 vụ tràn dầu tại Việt Nam, đã gây ra tổn
thất lớn về môi trường, sinh thái và kinh tế xã hội. Trong đó có ba nguyên nhân
chính dẫn đến sự cố tràn dầu là do va chạm, quá trình bốc dỡ và đắm tàu.
Ngày 27/4/2010 khi đang từ cửa sông ra biển, đến vị trí neo A12 (thuộc
vùng biển Sao Mai, phường 5, thành phố Vũng Tàu, cách đất liền hơn 1 km), tàu
Biển Đông 50, của Công ty Hải sản Trường Sa chở dầu đã bất ngờ bị chìm tại
vùng biển Vũng Tàu. Khi gặp nạn, tàu Biển Đông 50 chở theo hơn 370 tấn dầu
DO và hơn chục thùng phi nhớt. Ngay sau khi bị chìm, dầu đã loang ra mặt biển
cịn các phi nhớt nổi lềnh bềnh. Chỉ sau khoảng vài giờ đồng hồ, dầu đã loang
rộng trên biển thành vệt dài. Xung quanh vị trí tàu chìm có mùi dầu bốc lên.
Thực tế hiện nay, kỹ thuật trang thiết bị, nguồn nhân lực dành cho quan
trắc, truy tìm nguồn gốc gây ra và khắc phục sự cố tràn dầu tại Việt Nam còn
nhiều hạn chế.
<i>Việc khai thác than gây bồi lấp các hồ chứa nước: </i>
Tháng 1 năm 1999 tại Quảng Ninh, việc khai thác than ở hai mỏ Tùng
Bạch và Mạo Khê làm trôi đất đá gây bồi lấp lịng hồ, làm giảm từ 10-20% dung
tích chứa nước của 7 hồ trong số 14 hồ trong vùng. Mặt khác cũng làm axit hóa
nước hồ, khơng đảm bảo nước tưới tiêu nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân
ba xã: Hoàng Đế, Hồng Thái Tây, Hồng Thái Đơng và gây ăn mịn đối với các
cơng trình đập, cống.
Vào tối 26/7/2015, sau những trận mưa như trút nước kéo dài, đập chứa xỉ
than của Công ty cổ phần than Cọc Sáu và Mông Dương đã bị vỡ, khiến một
lượng bùn than khổng lồ trút xuống nhà dân. Chỉ trong chốc lát, toàn bộ khu dân
cư ngập trong bùn, sâu từ 2 - 3 m, khiến người dân hốt hoảng hô nhau tháo chạy.
<i>Công ty VEDAN gây ô nhiễm môi trường trên sông Thị Vải: </i>
(7/12/2009), bán kính vùng ơ nhiễm do Cơng ty Vedan gây ra có phạm vi 10 km
dọc bờ sông Thị Vải. Nước sông tại các vùng này bị ô nhiễm nặng nề, nước có
màu đen hôi, cá chết hàng loạt..., gần 2.700 ha nuôi trồng thủy sản của khu vực
này bị thiệt hại. Trong đó, tỉnh Đồng Nai có hơn 2.100 ha ni trồng thủy sản bị
tàn phá bởi nước ơ nhiễm, cịn TP HCM và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng bị ảnh
hưởng gần 600 ha.
<i>Về biến đổi khí hậu tồn cầu: Theo Chỉ số rủi ro về khí hậu được tổ chức </i>
Germanwatch công bố trong nghiên cứu về thiên tai trên thế giới trong giai đoạn
1990-2009, có 10 nước bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi thiên tai đều là các nước
đang phát triển. Trong đó, Việt Nam là nước đứng thứ năm về thiệt hại do thiên
tai, với trung bình mỗi năm có 457 người bị thương vong và thiệt hại về GDP
(PPP) bình quân hàng năm là 1,9 tỷ USD - tương đương với 1,3% GDP.
Tính từ đầu đến tháng 8 năm 2015, nắng nóng gay gắt với nền nhiệt độ
cao kéo dài kỷ lục (60 năm) đã xảy ra trên diện rộng từ Bắc Bộ đến các
tỉnh Nam Trung Bộ, khiến hơn 190.000 ha bị hạn hán và hơn 44.000 con gia súc,
gia cầm bị chết. Trong khi đó, tại Quảng Ninh lại xuất hiện đợt mưa lớn nhất
trong lịch sử, gây thiệt hại khoảng 2.700 tỷ đồng.
Ngoài ra, hiện tượng sạt lở đất, bờ sông, bờ biển cũng xảy ra ở nhiều nơi;
xâm nhập mặn xảy ra sớm hơn và lấn sâu vào đất liền; tình trạng cạn kiệt nguồn
nước trên các dịng sơng ngày càng phổ biến (mực nước sơng Mekong xuống thấp
nhất trong vịng 100 năm); đã ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, sản xuất của nhân dân.
Tại Cửa Đại, Quảng Nam, nước biển xâm thực vào đất liền khoảng 200m
đã đe dọa sẽ nhấn chìm khu vực này. Theo khuyến cáo ở mức sơ bộ của IPCC
(2007), khi nước biển dâng cao 1 m có tới 15 - 20 ngàn km2 đất tự nhiên của đồng
bằng sông Cửu Long bị ngập lụt, hàng triệu người phải di chuyển chỗ ở, sản xuất
của hành trình cứu Trái Đất với rất nhiều khó khăn. Mặc dù vậy, COP 21 vẫn
được coi là cơ hội lịch sử để cứu Trái Đất.
1.6. Ứng xử tai biến môi trường
Trong quá trình khai thác tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế xã hội, con
người hoặc vô thức hoặc thiếu hiểu biết khoa học đã tác động không nhỏ đến tài
nguyên và môi trường, dẫn đến việc thúc đẩy tai biến tiềm ẩn thành sự cố hoặc
thảm hoạ môi trường hiện thực, gây hại nhiều mặt cho con người.
Ngày nay, con người đang phải đối mặt với các vấn đề về tai biến. Nhiều
quốc gia, nhiều dân tộc đang phải chịu những hậu quả của tai biến môi trường
đã và đang xảy ra, như hậu quả của vụ nổ Tchernôbưn, những mất mát do bão,
sóng thần gây ra, hiện tượng biến đổi khí hậu tồn cầu...
Trước tình trạng tai biến mơi trường là lỗi lo của nhiều quốc gia đặc biệt
là những cộng đồng sống gần những nơi thường xuyên có thiên tai - rủi ro mà lại
ít có khả năng phịng chống khắc phục hậu quả của tai biến, việc nghiên cứu,
phổ biến và áp dụng cơng tác phịng chống tai biến là rất cần thiết, địi hỏi có sự
hợp tác của chính phủ các quốc gia trên thế giới, các nhà khoa học và cộng đồng
địa phương. Có hai cách để ứng xử với tai biến mơi trường, đó là ứng xử theo
hướng tiếp cận tai biến môi trường và ứng xử theo hướng tiếp cận cộng đồng.
<i>1.6.1. Ứng xử theo hướng tiếp cận tai biến môi trường </i>
Dựa vào đặc tính khác nhau của từng loại tai biến để quyết định các sách
Có thể chia ứng xử theo hướng tiếp cận tai biến mơi trường thành 3 nhóm:
chia nhỏ thiệt hại, chuẩn bị ứng phó sự cố và chung sống với hiểm hoạ.
<i>1.6.1.1. Chia nhỏ thiệt hại </i>
<i>a.. Cứu trợ </i>
chuyển sang những nước nghèo, hoặc từ những vùng không bị thảm hoạ chuyển
sang những vùng bị thảm hoạ trong một nước.
Hoạt động cứu trợ quốc tế đến được với nạn nhân thơng qua chính phủ và
tổ chức phi chính phủ. Hiện nay vai trò của các tổ chức phi chính phủ ngày càng
tăng cường.
<i>Hoạt động cứu trợ nhằm vào 3 công đoạn: cứu trợ khẩn cấp, tái định cư, </i>
<i>tái thiết. Trong đó cứu trợ khẩn cấp được chú trọng hơn để giải quyết những khó </i>
khăn trước mắt.
Cứu trợ khẩn cấp:
Phần lớn hoạt động cứu trợ tập trung vào việc cứu trợ khẩn cấp ngay sau
khi thảm hoạ xảy ra. Sau khi tìm kiếm và cứu nạn, ưu tiên giúp đỡ hàng đầu là
thuốc men. Một số thiên tai ở các nước đang phát triển thì lụt có thể gây ra dịch
bệnh vốn đã tiềm ẩn ở địa phương trước khi có thiên tai xảy ra như các dịch
Giai đoạn cứu trợ khẩn cấp được tiếp nối bằng các giai đoạn tái định cư và
tái thiết dài hơn. Hass (1977) tính rằng, đối với khu vực đô thị bị tai hoạ động đất,
thời gian cần để thực hiện các giai đoạn khôi phục một cách hoàn hảo như sau:
+ Cứu trợ khẩn cấp cần đến 3 tuần (khoảng 1 tháng)
+ Tái định cư cần đến 25 tuần (6 tháng)
+ Tái thiết cần đến 0 tuần (10 năm).
<i>Phân loại hoạt động cứu trợ khẩn cấp </i>
<i>Cứu trợ địa phương: </i>
Là cứu trợ quy mô nhỏ, tự nguyện từ cộng đồng (một số địa phương). Lượng
tài chính cho cứu trợ thường chỉ dành cho những nạn nhân mất mát nhiều nhất
và ít khi trang trải hết mọi nhu cầu. Thường thì cứu trợ địa phương chỉ đỡ đần
khoảng 25% thiệt hại cá nhân.
<i>Cứu trợ quốc gia: </i>
trên quy mô quốc gia với sự tham gia của chính phủ. Như vậy, những thiệt hại
của cộng đồng được phân tán rộng trên tồn quốc, thơng qua các quỹ phòng
chống thiên tai hoặc các quy định pháp luật khác về sử dụng và huy động vốn
<i>Cứu trợ quốc tế: </i>
Hoạt động cứu trợ quốc tế thường thông qua hoạt động của hội Chữ thập
đỏ và các tổ chức phi chính phủ, qua hành động của các chính phủ và các cơ
quan của Liên hiệp quốc
<i>Những hạn chế của hoạt động cứu trợ khẩn cấp: </i>
Nguồn cứu trợ khẩn cấp từ các nước công nghiệp đến các nước đang phát
triển có thể khơng đáng tin cậy hoặc có thể khơng phản ánh đúng nhu cầu thực
tế của các vùng bị tai hoạ.
Hoạt động cứu trợ thường có mối quan hệ với hoạt động trợ giúp phát
triển. Hoạt động trợ giúp phát triển hay bị ràng buộc với các hiệp định thương
mại hơn là nhằm trợ giúp hiểm hoạ. Các dòng cứu trợ Châu Âu thường chảy về
các nước thuộc địa cũ của họ, trong khi đó Mỹ chủ yếu trợ giúp cho các nước
Mỹ La Tinh nằm trong vùng ảnh hưởng của Mỹ.
Đặc tính trợ giúp nhiều khi cũng khơng hồn tồn phù hợp với hoạt động
cứu trợ. Nhiều trường hợp đó là cơ hội cho các nước tài trợ rũ bỏ được gánh nặng
của đống hàng hoá ế ẩm, tồn kho: các hàng hoá xa xỉ dư thừa, thuốc hết hạn sử
dụng...
<i>12 nguyên tắc của hoạt động cứu trợ khẩn cấp </i>
1. Thừa nhận và gắn kết sự tự cứu trợ của bản thân nạn nhân và các tổ
chức địa phương.
2. Tránh cứu trợ có tính áp đặt khơng xuất phát từ nhu cầu của cộng đồng
tị nạn.
3. Đề phòng khai thác thương mại.
4. Tránh sự phụ thuộc vào cứu trợ.
5. Phi tập trung hoá các quyết định ở những nơi có thể.
6. Tránh chính trị hố các hiểm hoạ, thảm hoạ mơi trường.
7. Những khó khăn có sẵn trước thảm hoạ.
8. Phải cân bằng giữa cải tạo và bảo tồn.
10. Tính trách nhiệm là vấn đề mấu chốt.
11. Tị nạn môi trường là một phương án tồi nhất.
12. Trợ giúp phải gắn chặt với phát triển.
<i>b. Bảo hiểm </i>
Bảo hiểm là cốt lõi của chiến lược chia nhỏ thiệt hại ở các nước công
nghiệp. Bảo hiểm khác với cứu trợ ở chỗ bản thân người bị nạn cũng tham gia
đóng góp vào quỹ cứu trợ ngay cả khi họ chưa biết rõ mình có phải là nạn nhân
hay khơng.
Chi phí cứu trợ nằm trong tiền đóng bảo hiểm của cộng đồng. Cơng ty bảo
hiểm có thu nhập rất cao nếu sự cố hay hiểm hoạ khơng xảy ra, do đó họ rất tích
cực tham gia vào chương trình phịng ngừa và giảm thiểu thiệt hại do tai biến.
<i>Những tác động tích cực của bảo hiểm tai biến: </i>
+ Bảo đảm chắc chắn cho nạn nhân có đựơc một khoản đền bù thiệt hại
+ Bảo hiểm góp phần phân bổ công bằng hơn đối với lợi nhuận hay thiệt thịi.
+ Bảo hiểm tham gia tích cực vào hoạt động giảm thiểu tác hại của tai biến.
<i>Những hạn chế của bảo hiểm tai biến: </i>
+ Các công ty bảo hiểm tư nhân thường tránh những loại hình bảo hiểm
nghiêm trọng như động đất, lũ qt, gió xốy… dễ gây cho họ phá sản, trừ khi
có sự hỗ trợ của nhà nước.
+ Do sự cố và thảm hoạ ít xảy ra tại một vùng cụ thể, nên giữa hai thảm
hoạ có thể là khoảng thời gian an tồn rất dài, vì vậy ngay cả khi có hoạt động
bảo hiểm tai biến thì số người tham gia đóng bảo hiểm tự nguyện trong thời gian
này không nhiều.
<i>1.6.1.2. Chuẩn bị ứng phó với sự cố, hiểm hoạ, thảm hoạ mơi trường </i>
Chuẩn bị ứng phó là hoạt động chuẩn bị thiết lập các biện pháp được trù
liệu tập dượt trước nhằm giảm thiểu thiệt hại khi sự cố xảy ra. Chuẩn bị ứng phó
bao gồm việc lập kế hoạch chi tiết các ứng phó để chuẩn bị sẵn sàng đối phó nếu
sự cố xảy ra. Những chuẩn bị này có thể được tiến hành ở các cấp khác nhau, từ
cá nhân, cộng đồng đến cấp quốc tế. Hoạt động chuẩn bị bao gồm các chương
trình giáo dục và truyền thông, phát triển các kế hoạch di tản và cứu hộ, các
nguồn lực về y tế, lương thực, thực phẩm, lán trại…
Chuẩn bị ở cấp quốc gia bao gồm các hoạt động: chuẩn bị, xây dựng kế
hoạch cứu trợ khẩn cấp, xây dựng cơ sở pháp lý, các biện pháp tài chính, tổ chức
các hoạt động đào tạo và giáo dục.
Chuẩn bị ứng phó ở cấp quốc tế: Trách nhiệm ứng xử lớn nhất ở cấp quốc
tế được thực hiện bởi DHA/UNDRO với văn phòng đại diện tại Genevơ, hợp tác
với nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ. Tổ chức Oxfram liên tục trợ giúp
cho các nước bị thảm hoạ môi trường của trên 30 nước khác nhau.
<i>1.6.1.3. Chung sống với hiểm hoạ </i>
<i>a. Dự báo và cảnh báo tai biến </i>
Sống chung với thảm hoạ tạo khả năng cho cộng đồng ứng xử tốt nhất với
tai biến. Phần lớn cảnh báo đều dựa trên cơ sở của dự báo khoa học. Tuy nhiên
một số loại tai biến như động đất, hạn hán còn chưa được hiểu biết đầy đủ để dự
báo, do đó hoạt động cảnh báo phải dựa vào cơ sở dự đoán.
<i>Dự đoán: là việc đoán nhận dựa chủ yếu trên lý thuyết thống kê và sử </i>
dụng các bằng chứng lịch sử của các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ để đánh
giá xác suất hoặc sự tái xuất hiện của các hiện tượng tương tự trong tương lai.
Dự đốn thường có giá trị dài hạn.
<i>Dự báo: là việc đánh giá một sự cố cụ thể vì nó thể hiện qua một loạt q </i>
trình mơi trường đã được hiểu tương đối cặn kẽ. Có thể dự báo khá chính xác về
thời gian, vị trí và cường độ của sự cố. Dự báo dựa trên các quan trắc khoa học
nhưng do có tính ngắn hạn nên thường hạn chế kết quả của cảnh báo.
<i>Cảnh báo: là một thông điệp thông báo cho công chúng về một loại sự cố </i>
sẽ xảy ra đối với họ và khuyến cáo công chúng phải chuẩn bị hành động như thế
nào.
Hệ thống dự báo - cảnh báo tổng hợp là cực kỳ cần thiết để chống lại tai
biến, đặc biệt là tai biến cấp diễn.
Hệ thống cảnh báo gồm ba công đoạn sau đây:
+ Đánh giá: Các chuyên gia giám sát các biến động mơi trường có thể dẫn
đến sự cố; đánh giá đặc tính và quy mơ sự cố; quyết định hình thức cảnh báo cho
cộng đồng.
+ Loan báo: Công đoạn loan báo bắt đầu khi thông điệp cảnh báo được
lan truyền (công bố) từ các chuyên gia đến dân chúng trong vùng tai biến.
<i>b. Quy hoạch sử dụng đất đai </i>
Mục đích của quy hoạch sử dụng đất là hướng dẫn phát triển cho cộng
đồng tại khu định cư, tránh xa các đới nhạy cảm tai biến để tránh những thiệt hại
trong tương lai. Nhiệm vụ của quy hoạch là xác định và đánh giá mức độ nguy
hiểm của các đới tai biến tiềm năng.
Có hai mức độ quy hoạch là: Quy hoạch vĩ mô và quy hoạch chi tiết.
<i>c. Ứng xử với tai biến trường diễn </i>
Các tai biến trường diễn là loại gây ra các sự cố, thảm hoạ từ từ, chậm
chạp và liên tục, khó cảm nhận bằng giác quan của con người nên ít đựơc chú ý,
ví dụ hạn hán, xói mịn...
Do thời gian diễn ra tai biến này từ từ, chậm chạp, lâu dài nên cộng đồng
thường bỏ qua loại tai biến này cho đến khi tai biến trở thành không thể cứu vãn
được nữa. An ninh môi trường bị huỷ hoại và tị nạn môi trường hàng loạt bắt
đầu xảy ra. Ứng xử tai biến trường diễn khơng địi hỏi sự cứu trợ khẩn cấp và
bảo hiểm, không yêu cầu cao về dự báo hay cảnh báo nhưng nó đòi hỏi hàng
loạt hoạt động quy hoạch nhằm phát triển bền vững, tạo khả năng sống chung
với tai biến trường diễn. Tuy nhiên ứng xử với tai biến trường diễn, vấn đề tránh
<i>Yêu cầu chính của quy hoạch ứng xử tai biến trường diễn là: </i>
+ Mật độ, quy mơ và loại hình phát triển phải chống chịu được tác động
của tai biến trường diễn.
+ Hướng dẫn cho lối sống và sản xuất phù hợp với vùng có tai biến
trường diễn.
<i>Những hạn chế của hoạt động quy hoạch nhằm ứng xử tai biến trường diễn là: </i>
+ Thiếu kiến thức về vị trí, tần suất và tiềm năng tai biến.
+ Trong vùng tai biến hoạt động phát triển đã có sẵn từ trước.
+ Tai biến trường diễn dễ bị bỏ qua vì khơng gây sự kiện đột ngột gây sự
chú ý của các nhà tài trợ, nhà lập chính sách và ngay cả bản thân người sống
trong vùng tai biến.
<i>1.6.2. Ứng xử theo hướng tiếp cận cộng đồng </i>
<i>1.6.2.1. Khái niệm về tính nhạy cảm rủi ro do tai biến </i>
Cộng đồng gồm những nhóm người có độ nhạy cảm rủi ro khác nhau,
xuất phát từ những khác biệt về tầng lớp, dân tộc, tuổi tác và kinh nghiệm.
Nghịch nghĩa với tính nhạy cảm rủi ro là tiềm năng (khả năng bảo vệ của cộng
đồng, gia đình trước tai biến cũng như khả năng khôi phục cuộc sống sau khi tai
biến xảy ra). Những cộng đồng có độ nhạy cảm rủi ro cao là những cộng đồng
có tiềm năng thấp và ngược lại.
Độ nhạy cảm rủi ro có quan hệ chặt chẽ với vị thế chính trị, kinh tế, xã hội
của cộng đồng. Mặc dù là tính nhạy cảm rủi ro và nghèo khổ là hai khái niệm
hoàn toàn khác nhau nhưng trong tai biến môi trường, những cộng đồng nghèo
thường chịu mất mát nhiều hơn các cộng đồng giàu.
Phân tích tính nhạy cảm rủi ro của cộng đồng đưa đến một cái nhìn mới
mẻ về ứng xử tai biến mơi trường: Tai biến có thể xảy ra nhưng nếu cộng đồng
trở nên có nhiều tiềm năng hay tính nhạy cảm rủi ro thấp thì khả năng chống
chịu tai biến sẽ tốt hơn (đó chính là nội dung chính của ứng xử tai biến theo
hướng tiếp cận cộng đồng).
<i>1.6.2.2. Giải toả áp lực </i>
Không thể tạo ra một môi trường an tồn hơn nếu chỉ dựa vào bản thân q
trình tai biến. Việc giảm độ nhạy cảm rủi ro của cộng đồng cũng chính là một
giải pháp hiệu quả để tạo ra một mơi trường có độ an ninh cao. Nếu coi áp lực
xã hội kinh tế chính trị là nguyên nhân dẫn đến nhạy cảm rủi ro của một cộng
đồng thì việc giải toả áp lực bao gồm các giải pháp biến đổi áp lực, đảo ngược
áp lực thành khả năng, là con đường dẫn đến giảm thiểu tai biến.
<i>1.6.2.3 Các định hướng làm giảm độ nhạy cảm rủi ro do tai biến </i>
+ Không nhầm lẫn và đồng nghĩa giữa xố đói giảm nghèo với giảm độ
nhạy cảm rủi ro do tai biến.
+ Ưu tiên bảo vệ những cộng đồng có nhạy cảm rủi ro cao.
+ Ưu tiên bảo vệ tính mạng và sức khoẻ của cộng đồng nhạy cảm rủi ro.
+ Ưu tiên các giải pháp chủ động hơn bị động.
+ Tập trung bảo vệ các lĩnh vực ưu tiên.
+ Các giải pháp ứng xử cần phải được duy trì bền vững theo thời gian.
<i>1.6.3. Cơng tác ứng xử tai biến, sự cố môi trường tại Việt Nam </i>
<i>1.6.3.1. Phịng ngừa sự cố mơi trường </i>
<i>Đối với chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh: Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, </i>
dịch vụ, phương tiện vận tải có nguy cơ gây ra sự cố mơi trường phải thực hiện
<i>các biện pháp phịng ngừa sau: </i>
- Lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cố mơi trường;
- Lắp đặt thiết bị, dụng cụ, phương tiện ứng phó sự cố mơi trường;
- Đào tạo, huấn luyện, xây dựng lực lượng tại chỗ ứng phó sự cố mơi trường;
- Thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên, áp dụng biện pháp an tồn theo
quy định của pháp luật;
- Có biện pháp loại trừ nguyên nhân gây ra sự cố mơi trường khi phát hiện
có dấu hiệu sự cố môi trường.
<i>Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: </i>
- Điều tra, thống kê, đánh giá nguy cơ các loại sự cố mơi trường có thể
xảy ra trong phạm vi cả nước, từng khu vực, địa phương;
- Xây dựng năng lực phòng ngừa, cảnh báo nguy cơ và ứng phó sự cố
mơi trường;
- Xây dựng kế hoạch phịng ngừa và ứng phó sự cố mơi trường hằng năm
và định kỳ 05 năm.
<i>1.6.3.2. Ứng phó sự cố mơi trường </i>
<i>a. Trách nhiệm ứng phó sự cố mơi trường được quy định như sau: </i>
Tổ chức, cá nhân gây ra sự cố môi trường phải thực hiện các biện pháp
khẩn cấp để bảo đảm an toàn cho người và tài sản; tổ chức cứu người, tài sản và
kịp thời thông báo cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan chuyên môn về
bảo vệ môi trường nơi xảy ra sự cố;
Sự cố môi trường xảy ra ở cơ sở, địa phương nào thì người đứng đầu cơ
sở, địa phương đó có trách nhiệm huy động khẩn cấp nhân lực, vật lực và
phương tiện để kịp thời ứng phó sự cố;
Sự cố mơi trường xảy ra trong phạm vi nhiều cơ sở, địa phương thì người
đứng đầu cơ sở, địa phương nơi có sự cố có trách nhiệm phối hợp ứng phó;
<i>b. Xây dựng lực lượng ứng phó sự cố môi trường </i>
Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm xây dựng năng lực
phịng ngừa và ứng phó sự cố mơi trường.
Nhà nước xây dựng lực lượng ứng phó sự cố môi trường và hệ thống
trang thiết bị cảnh báo sự cố môi trường.
<i>1.6.3.3. Xác định thiệt hại do sự cố môi trường </i>
Nội dung điều tra, xác định thiệt hại do sự cố môi trường gồm:
- Nguyên nhân, trách nhiệm của các bên liên quan;
- Biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường;
- Thiệt hại đối với môi trường làm căn cứ để yêu cầu bên gây ô nhiễm, sự
cố phải bồi thường.
Trách nhiệm điều tra, xác định phạm vi ô nhiễm, thiệt hại do sự cố môi
trường gây ra được quy định như sau:
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra, xác định phạm vi ô nhiễm,
thiệt hại do sự cố môi trường gây ra trên địa bàn;
- Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh tổ chức,
điều tra, xác định phạm vi ô nhiễm, thiệt hại do sự cố môi trường gây ra trên địa
bàn liên tỉnh.
Kết quả điều tra về nguyên nhân, mức độ, phạm vi ô nhiễm và thiệt hại
về môi trường phải được công khai.
<i>1.6.3.4. Trách nhiệm khắc phục sự cố môi trường </i>
Tổ chức, cá nhân gây sự cố mơi trường có trách nhiệm sau:
- Thực hiện yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
trong quá trình điều tra, xác định phạm vi, giới hạn, mức độ, nguyên nhân, biện
pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường;
- Tiến hành ngay biện pháp ngăn chặn, hạn chế nguồn gây ô nhiễm môi
trường và hạn chế sự lan rộng, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của nhân
dân trong vùng;
- Thực hiện biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường theo
yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường;
- Báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ mơi trường việc ứng phó và
khắc phục sự cố môi trường.
Trường hợp có nhiều tổ chức, cá nhân cùng gây ra sự cố môi trường mà
không tự thỏa thuận về trách nhiệm thì cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ
mơi trường có trách nhiệm phối hợp với tổ chức, cá nhân có liên quan để làm
rõ trách nhiệm của từng đối tượng trong việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi
môi trường.
Trường hợp sự cố môi trường do thiên tai gây ra hoặc chưa xác định
được nguyên nhân thì bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm huy động các nguồn lực để tổ
chức xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường.
Chương 2
TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC QUÁ TRÌNH
ĐỊA ĐỘNG LỰC NỘI SINH
2.1. Giới thiệu chung về động lực môi trường địa chất
Thạch quyển nói chung và mơi trường địa chất nói riêng là sản phẩm tổng
hợp của một quá trình phức tạp và lâu dài. Các đá tạo thành móng cứng của mơi
- Động lực nội sinh, lấy năng lượng từ trong lòng đất. Biểu hiện của động
lực nội sinh là động đất, núi lửa, các hoạt động nâng trồi, sụt hạ, đứt gẫy. Quá
trình uốn nếp vị nhàu, đứt gãy các lớp trầm tích được coi là hậu quả tương tác
giữa các vận động nội sinh này.
- Động lực ngoại sinh, lấy năng lượng từ năng lượng mặt trời và sức hút
của trái đất. Đây là một hệ thống các quá trình rất phức tạp bao gồm từ hoạt
động phong hóa, trọng lực rửa trơi, bóc mịn, dịng chảy, gió, Karst, hồ, đầm lầy,
biển…
Vận động nội sinh biến những lớp đất đá và trầm tích vụn bở thành các đá
rắn cứng, ép nén, nung chảy chúng để tạo thành các đá biến chất và các loại đá
macma thuộc nhóm đá a xít, kiềm hay trung tính. Động lực nội sinh còn làm trào
lên, xuyên lên các dung thể nóng chảy chứa nhiều sắt, magie và silic có nguồn
gốc từ phần trên cùng của lớp Manti (lớp B) để hình thành các loại đá sẫm màu
trong thạch quyển. Tất cả các loại đá trên, một lần nữa lại bị các vận động nội
sinh vò nhàu, nén ép, chia tách, sắp xếp lại trong thạch quyển, dồn lại thành các
dãy núi cao hoặc dìm sâu hơn trong vỏ trái đất. Các vận động nội sinh trên vận
hành trong một quá trình địa chất được gọi là quá trình kiến tạo.
nguyên liệu cho quá trình nội sinh biến cải thành các loại đá khác nhau. Nó là
nguyên nhân trực tiếp để hình thành tầng đất đá bở rời và san phẳng địa hình.
Lịch sử vỏ trái đất hàng tỷ năm qua là quá trình phối hợp nhịp nhàng liên
tục giữa động lực nội sinh và ngoại sinh. Đó đơn thuần là động lực địa chất. Chỉ
đến khi con người xuất hiện trên trái đất, tác động vào môi trường địa chất mới
Chú ý: Khái niệm về địa động lực hiện đại (bao gồm các quá trình động
lực địa chất đang diễn ra); Kiến tạo hiện đại (chỉ nói về động lực nội sinh hiện
đại, không bao hàm động lực ngoại sinh). Theo các nhà địa chất môi trường, thời
gian để nghiên cứu vấn đề này được lấy trong khoảng 10.000 năm trở lại đây (từ
kỷ đệ tứ muộn – Holoxen).
2.2. Một số vấn đề về địa động lực nội sinh
<i>2.2.1. Cấu trúc mảng của thạch quyển và vận động của mảng </i>
Thạch quyển trái đất không phải là một khối cứng bất động, cũng không
phải là một khối đồng nhất. Nó có sự phân dị thành một số mảng. Các mảng tiếp
xúc với nhau qua các ranh giới mảng, với ba kiểu đặc trưng cho các phương
thức chuyển động tương đối giữa chúng như sau (hình 2.1):
(1) Ranh giới chuyển dạng (kiểu trượt ngang): Các mảng trượt ngang
nhau qua đứt gãy biến dạng, khơng có mảng nào bị tiêu đi cũng khơng có phần
mảng mới nào được sinh ra. Xuất hiện khi các mảng trượt tương đối theo mặt
phẳng nằm ngang dọc theo các đứt gãy chuyển dạng. Chuyển động tương đối
giữa hai mảng hoặc là phay ngang trái (sang bên trái về phía người quan sát)
hoặc là phay ngang phải (sang bên phải về phía người quan sát). Đứt gãy San
Andreas ở California là một ví dụ của ranh giới loại này.
(2) Ranh giới phân kỳ (kiểu sinh mảng): Theo ranh giới này, vật chất dưới
lòng sâu của trái đất trào lên, sinh ra những phần mới của thạch quyển. Xuất
(3) Ranh giới hội tụ (kiểu tiêu mảng): Mảng đại dương bị hút chìm và tiêu
thụ dưới một mảng lục địa hay một mảng đại dương khác. Xuất hiện khi hai
mảng trượt về phía nhau tạo thành đới hút chìm nếu một mảng chui xuống dưới
mảng kia hoặc va chạm lục địa nếu hai mảng đều là vỏ lục địa. Các rãnh đại
dương sâu thường liên quan đến đới hút chìm. Các phiến đang hút chìm mang
theo các khống vật chứa nước. Chúng sẽ giải phóng nước khi bị nung nóng.
Lượng nước này sau đó làm cho manti chảy lỏng để tạo ra các hoạt động núi lửa.
Các ví dụ về dãy núi Andes ở Nam Mỹ và cung núi lửa Nhật Bản.
Do các mảng đang dịch chuyển, xô ép nhau đã nảy sinh ra các lực kiến
tạo rất lớn. Lực này có loại ép nén, có loại kéo dãn, truyền vào trong các khối
thạch quyển cứng làm chúng vỡ vụn thành những khối nhỏ hơn. Các bề mặt vỡ
được gọi là đứt gãy kiến tạo (đứt gãy). Nhờ đó mà các khối đá cứng hoặc trồi
lên hoặc tụt xuống hoặc di chuyển ngang tương đối với nhau.
Việc xác định các ranh giới mảng giúp người ta phân chia vỏ thạch quyển
của Trái đất thành 8 mảng kiến tạo chính (hình 2.2):
- Mảng châu Phi gồm tồn bộ châu Phi – mảng lục địa;
- Mảng Nam cực gồm toàn bộ châu Nam cực - mảng lục địa;
- Mảng Australia gồm toàn bộ Australia - mảng lục địa;
- Mảng Ấn Độ gồm toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ và một phần của Ấn độ
dương - mảng lục địa;
- Mảng Á-Âu gồm toàn bộ châu Á và châu Âu - mảng lục địa;
- Mảng Bắc mỹ gồm tồn bộ Bắc mỹ và Đơng Bắc Siberi - mảng lục địa;
- Mảng Nam mỹ gồm toàn bộ Nam mỹ - mảng lục địa;
Hình 2.2. Các mảng kiến tạo của thạch quyển
<i>2.2.2. Những hình thái cơ bản của địa hình hiện đại </i>
Những hình thái địa hình cơ bản của trái đất gồm: Đồng bằng (chênh lệch
độ cao tương đối <10 m); vùng đồi (chênh lệch độ cao tương đối 10 – 100 m)
với đặc trưng là có các đồi đỉnh trịn hay ơvan, sườn thoải <300; vùng núi (chênh
lệch về độ cao >100 m). Núi thường có đỉnh nhọn hoặc đường phân thủy sắc
nét, sườn dốc thường >300.
<i>2.2.3. Các dấu hiệu của vận động nâng chồi và sụt hạ hiện đại </i>
Khu vực có vận động nâng trồi được đặc trưng bởi địa hình dương có q
trình động lực sườn thống trị. Sườn càng dốc thì càng trẻ. Khu vực nâng trồi
phải có địa hình phân cắt và độ cao tuyệt đối cao hơn mực nước biển. Quá trình
đổ lở, trượt lở phát triển mạnh, hoạt động bóc mịn và rửa trơi mãnh liệt, đá gốc
cứng nhiều chỗ lộ ngay trên mặt địa hình. Trên lục địa, những khối nâng trồi
dạng vòm lớn thường liên quan tới hoạt động núi lửa.
Khu vực sụt hạ được đặc trưng bằng địa hình âm với quá trình tích tụ
thống trị. Có thể vùng sụt hạ có dạng thung lũng tích tụ hoặc đồng bằng bồi tích
hoặc dạng bồn trũng lầy thụt, hồ hoặc thủy vực ven biển thậm chí biển. Hoạt
động nâng trồi, sụt hạ không nhất thiết phải xảy ra trên khu vực rộng lớn. Hố sụt
cục bộ đặc trưng bằng địa hình âm có mạng lưới thủy văn hướng tâm, tầng phủ
bở vụn dày hơn vùng xung quanh. Khối nâng cục bộ có đặc điểm ngược lại.
<i>2.2.4. Hoạt động đứt gãy </i>
quyển có thể dịch trượt tương đối với nhau. Các đứt gãy không riêng lẻ mà tạo
ra các đới phá hủy kéo dài với những đứt gãy nhánh.
Sự dịch chuyển của đứt gãy có thể làm xuất hiện động đất hoặc nứt đất.
Như vậy, vận động đứt gãy trên lục địa có khả năng tạo ra các khối nâng trồi,
các bồn sụt hạ cục bộ, tạo ra các đới nứt nẻ, vận chuyển nước ngầm và chất thải
lỏng, gây ra động đất, nứt đất ngầm, trượt lở ở các sườn dốc, tạo kênh dẫn
macma để xuất hiện các núi lửa trẻ.
2.3. Các loại tai biến môi trường liên quan đến các quá trình địa động lực
nội sinh
<i>2.3.1. Động đất </i>
<i>2.3.1.1. Khái niệm về tai biến động đất </i>
Động đất là sự rung động của trái đất, nó được gây nên bởi chùm tia sóng
địa chấn lan tỏa từ một vùng nguồn nào đó do q trình giải tỏa nhanh năng
lượng đàn hồi tạo nên. Nói cách khác, động đất là sự giải phóng nhanh của năng
lượng đàn hồi được tích lũy tại một điểm nào đó bên trong trái đất gây nên sóng
địa chấn và tác động lên bề mặt làm phá hủy các cơng trình, sự biến dạng bề mặt
cũng như gây chết chóc cho con người (Nguyễn Cẩn, Nguyễn Đình Hịe - 2005).
Như vậy, điều kiện cần để cho một trận động đất xuất hiện là khả năng
tích lũy và giải phóng năng lượng đàn hồi. Thơng thường đó là những nơi xung
yếu của trái đất như ranh giới kiến tạo, ranh giới phân chia giữa các mảng cấu
trúc thạch quyển và vỏ trái đất. Động đất ở các mức độ đều được coi là loại tai
biến cấp diễn.
Hàng năm trên trái đất xảy ra hàng trăm ngàn trận động đất. Trong số đó
trung bình chỉ khoảng 10 - 20 trận gây thiệt hại và chỉ 1 - 2 trận gây thảm họa
<i>2.3.1.2. Chấn tiêu, chấn tâm, sóng địa chấn và lan truyền động đất trong môi </i>
<i>trường trái đất </i>
- Chấn tiêu (Focus, Hypocenter) còn gọi là tâm trong, phân bố sâu trong
vỏ trái đất hoặc tại Manti ngồi của trái đất (là vị trí trong thạch quyển, nơi xảy
ra sự phá hủy và bức xạ các sóng địa chấn).
tới chấn tâm chính là độ sâu chấn tiêu. Khoảng cách từ chấn tiêu tới điểm quan
sát trên mặt đất gọi là khoảng cách chấn tiêu. Khoảng cách từ chấn tâm tới điểm
quan sát gọi là khoảng cách chấn tâm.
- Sóng địa chấn (sóng động đất): Là sóng đàn hồi lan tỏa từ việc giải
phóng năng lượng đột ngột trong lịng đất, từ vụ nổ hay các nguồn năng lượng
khác. Năng lượng được truyền trong lòng đất lan tỏa ra mọi hướng từ nguồn
phát sinh. Sóng địa chấn gây rung động nền đất và là nguyên nhân chính gây
phá hủy nhà và cơng trình.
+ Sóng địa chấn dọc: dao động theo phương lan truyền của sóng với tốc
độ lớn, gấp 1,7 lần tốc độ sóng địa chấn ngang. Vì vậy bao giờ cũng lan truyền
đến các phần khác nhau trong lòng đất hay trên mặt đất sớm hơn sóng ngang.
+ Sóng địa chấn ngang: dao động vng góc với phương lan truyền của
sóng địa chấn, tốc độ nhỏ và chỉ lan truyền trong môi trường với thành phần vật
chất ở thể rắn. Sóng này khơng có khả năng lan truyền trong mơi trường vật chất
cấu tạo nên nhân ngồi của trái đất.
Nhìn chung cả sóng địa chấn dọc và ngang đều có tốc độ lan truyền, biên
độ dao động sóng, thời gian rung động… khác nhau tuỳ vào thành phần và
trạng thái vật chất của môi trường chúng đi qua. Các thông số cơ bản của động
đất đều được xác định trên cơ sở phân tích các đặc trưng của sóng địa chấn.
<i>2.3.1.3. Các loại động đất chính </i>
- Dựa vào nguyên nhân gây động đất:
(1) Do va đập của các khối thiên thạch
(2) Do các tác nhân nhân sinh
(3) Do sập, lở tự nhiên
(4) Động đất do kiến tạo:
+ Do hoạt động phun trào núi lửa: Thường là động đất yếu, gây ra do sự
cọ sát dung thể macma lỏng chảy vào thành họng núi lửa khi dung thể này
xuyên lên, chuẩn bị cho một đợt phun trào mới.
+ Động đất tâm sâu (hàng trăm km): liên quan đến các đới hút chìm – một
loại ranh giới mảng. Loại này tuy có năng lượng chấn tiêu lớn nhưng vì ở rất sâu
nên thường khơng gây thiệt hại lớn.
+ Động đất tâm nông (độ sâu trong khoảng vài chục km về phía bề mặt): liên
quan đến hoạt động biến vị nội mảng, thường xảy ra do hoạt động đứt gãy. Đây là
loại động đất phổ biến trên lục địa và là nhóm gây tai biến động đất chủ yếu.
- Dựa vào độ sâu phân bố của chấn tiêu:
+ Động đất có chấn tiêu phát triển trong phạm vi vỏ trái đất, chiếm tỷ lệ
khoảng 72%.
+ Động đất có chấn tiêu sâu, phân bố ở độ sâu từ 70 - 300 km (ở phần
thấp của thạch quyển và phần trên của manti ngoài). Loại này thường tập trung ở
các đai rìa lục địa và đại dương, phần biển, đại dương.
+ Động đất có chấn tiêu siêu sâu, phân bố ở độ sâu từ trên 300 đến khoảng
700 km (ở phần thấp của manti ngồi). Loại này thường ít và chỉ phân bố tại các
đai kiến tạo xung quanh vỏ trái đất, ứng với ven rìa lục địa và đại dương.
- Dựa vào cấp độ mạnh (chấn cấp động đất):
+ Động đất yếu, chưa gây sự cố, hiểm hoạ;
+ Động đất trung bình, gây ra sự cố nhẹ và vừa;
+ Động đất mạnh, có khả năng gây các hiểm hoạ, cho đến thảm hoạ.
<i>2.3.1.4. Cơ chế động đất kiến tạo có chấn tiêu nơng </i>
- Sự tích luỹ năng lượng biến dạng tiềm năng trước động đất: Hoạt động
dịch chuyển của các khối đá cứng hai phía của đứt gãy đã lan truyền năng lượng
từ trong vỏ trái đất vào các đới tích lũy.
Hình 2.4. Cơ chế phát sinh động đất chấn tiêu nông
+ Giai đoạn 1 (a): Sự tích lũy sức căng khá đồng nhất trong một đới rộng
ở cả hai cánh của đứt gãy (A, B) mà khơng hề có sự tập trung sức căng hay ứng
suất trượt ở gần đứt gẫy.
+ Giai đoạn 2 (b): Định hình đới biến dạng căng, với sự gia tăng tốc độ
tích luỹ năng lượng tiềm tàng. Đới biến dạng thường dài vài chục km, rộng vài
km đến chục km.
+ Giai đoạn 3 (c): Tốc độ trượt tương đối của hai đứt gãy ở phần dưới
sâu tăng lên, làm xuất hiện ứng suất trượt tác động trực tiếp lên mặt đứt gãy
tiềm tàng.
Một khi quá trình này gia tăng, năng lượng sức căng tiềm tàng tiếp tục
được tích luỹ, vượt giới hạn sức bền vật chất cấu tạo nên môi trường địa chất
liên quan, sẽ diễn ra hiện tượng phá huỷ. Năng lượng tiềm tàng được giải toả và
xảy ra động đất.
Tâm động đất là điểm đầu phá hủy đầu tiên trên mặt đứt gãy. Quá trình
phá hủy theo mặt đứt gãy có thể lan tỏa rất xa cả về hai phía của tâm động đất.
<i>2.3.1.5. Cường độ động đất </i>
Độ mạnh của động đất thường gọi là chấn cấp (I), có thang bậc cao thấp
và phụ thuộc vào năng lượng của động đất (độ Magnitude – M) và độ sâu chấn
tiêu (H).
được xây dựng với hàm logarit nên theo thang cấp này, năng lượng của cấp sau
lớn hơn cấp trước 30 lần và biên độ dao động lớn hơn 10 lần.
Ví dụ: Động đất 8,8 M không phải lớn gấp đôi động đất 4,4M mà năng
lượng tạo ra lớn hơn 1 triệu lần, dao động lớn hơn 10.000 lần. Con người bắt
đầu cảm nhận được động đất từ 2 M, động đất gây tai biến kể từ 5 M, gây tai
biến nghiêm trọng cho vùng dân cư kể từ 6 M.
- Chấn cấp (I): Là đại lượng về độ mạnh động đất hay cường độ của một
trận động đất biểu hiện trên bề mặt trái đất, trước hết tại chấn tâm và xa hơn
trong vùng chịu ảnh hưởng của động đất hay vùng chấn động. Có nhiều thang
chấn cấp được sử dụng song thang động đất quốc tế MSK-64 (1964) gồm 12
cấp, được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam.
+ Cấp 1: Chỉ có máy ghi địa chấn mới biết.
+ Cấp 2: Rất yếu, chỉ một số người rất nhạy cảm ở trạng thái yên tĩnh mới
nhận thấy.
+ Cấp 3: Yếu, ít người nhận thấy, biểu hiện như tiếng động cơ của xe cộ.
+ Cấp 4: Vừa phải, số ít người đi đường và nhiều người trong nhà nhận
thấy, bát đĩa va chạm nhẹ, cửa kính rung chuyển.
+ Cấp 5: Khá mạnh, nhiều người đi đường và làm việc nhận thấy, nhà của
rung động, tựa như có những đồ vật nặng bị đổ, giường, ghế rung động.
+ Cấp 6: Mạnh, nhiều người biết, nhiều người chạy ra đường, tranh ảnh, sách
vở rơi, bát đĩa đổ vỡ, thấy hiện ra những vết rạn nứt trên lớp vữa của tường vôi.
+ Cấp 7: Rất mạnh, đồ đạc đổ ở trong nhà, có những khe nứt nhẹ ở trong
tường, từng mảng vữa bị rơi, một số nhà ọp ẹp bị đổ sụp.
+ Cấp 8: Phá hoại. Nhà cửa bị tổn hại lớn, có nhiều khe nứt rộng trên
tường, một số tường và tất cả các ống khói và tháp đều sụp đổ.
+ Cấp 9: Tàn phá. Nhà cửa bằng bê tông bị thiệt hại nặng, một số bị sập.
+ Cấp 10: Tai họa. Đất trượt, đất lở, khe nứt hiện ra trong vỏ trái đất, phần
lớn các nhà nhẹ bằng bê tông bị phá hủy.
+ Cấp 11: Thảm họa. Khe nứt rộng hiện ra trong vỏ trái đất. Rất nhiều
hiện tượng đất trượt, đất lở, phần lớn các cầu và nhà bằng gỗ bị đổ.
- Độ sâu chấn tiêu (H): là độ sâu chấn tiêu tính từ mặt đất. Các động đất
Mỗi trận động đất chỉ có một giá trị magnitude nhưng chấn động do nó
gây ra trên mặt đất lại nhận nhiều giá trị phụ thuộc vào khoảng cách từ điểm
quan sát đến chấn tiêu và vào nền đất tại điểm đó.
Theo Nguyễn Đình Xun (1976, 1987, 1996), mối quan hệ giữa I ở chấn
tâm (I0) và Ms (M theo sóng mặt) được biểu thị bằng cơng thức:
I0 = 1,45 Ms - 3,2logh + 2,8
Động đất mạnh khi xảy ra dưới biển là nguyên nhân chính gây nên sóng
thần. Sóng thần là một chuỗi sóng lớn có bước sóng dài được sinh ra do các biến
động địa chất mạnh mẽ dưới đáy biển hoặc đại dương, tại nơi gần bờ hoặc ngoài
khơi. Nó được hình thành dưới tác động của trọng lực, lan truyền trong môi
trường nước và trở nên rất nguy hiểm với sự tàn phá lớn khi tiến vào bờ biển
nơng. Sóng thần có nguồn gốc sinh ra do hậu quả của hoạt động động đất và phi
địa chấn như hoạt động núi lửa, sạt lở ngầm và va chạm thiên thạch. Khi đó đáy
biển bị biến dạng lớn, sụp xuống đột ngột, nước biển đổ ập tới chỗ sụp rồi phản
xạ trở lại, đẩy nước biển lên thành những làn sóng rất cao tràn vào bờ với tốc độ
rất lớn (400 - 800 km/h). Ở đại dương, độ cao của sóng thần khơng lớn (vài m)
trong khi bước sóng dài 100 - 300 m, làm người ta khó nhận thấy. Khi lan đến
biển nơng gần bờ, sóng bị cản, dâng cao 30 – 40 m và đổ ập vào bờ với tốc độ
rất lớn. Tốc độ sóng càng lớn, sức cơng phá càng mạnh.
Ví dụ: + Trận động đất ở Lixbon năm 1775, sóng thần dâng cao tới 26 m,
tràn vào đất liền 15 km, làm chết trên 50.000 người.
+ Trận động đất gây sóng thần ngày 26/12/2004 xảy ra tại
Cơn động đất này đã làm cho mực nước biển bị rút xuống xa bờ hàng
chục đến hàng trăm mét rổi lừng lững dâng lên cao với những đợt sóng thần to
lớn cao xấp xỉ 30 mét, ập vào tàn phá hơn 10 quốc gia chung quanh vùng biển
Ấn độ dương và cơn sóng tiếp tục lan rộng đến tận các nước châu Phi và Nam
mỹ. Hơn 280.000 người chết, hàng ngàn tàu thuyền bị nhận chìm, hàng trăm
ngàn căn nhà bị tàn phá, và hàng chục triệu người bị ảnh hưởng. Đây được coi là
một thảm họa thiên nhiên lịch sử.
<i>* Mối liên quan giữa Magnitude động đất và mức độ nguy hiểm động đất </i>
Nói chung, Magnitude lớn dẫn đến sự phá huỷ lớn do động đất, nhưng
Magnitude có thể khơng ảnh hưởng hoàn toàn tới mức độ thiệt hại. Magnitude
động đất chỉ là một trong các yếu tố được tính đến trong đánh giá độ nguy hiểm
động đất. Ví dụ trận động đất ở Ấn Độ có độ mạnh 6,4 xảy ra ngày 29/9/1993
làm chết 10.000 người và gây tàn phá 90 làng mạc. Trong khi trận động đất
Guam có Magnitude 8,1 xảy ra ngày 08/8/1993 không làm chết người, mặc dù
có Magnitude cao hơn nhiều so với trận động đất ở Ấn Độ.
Điều kiện địa điểm, tình trạng thiết kế kháng chấn của các kết cấu cơng
trình, trình độ hiểu biết, cùng sự sẵn sàng ứng phó của Chính phủ và nhân dân mỗi
nước đối với động đất làm cho mức độ nguy hiểm về động đất trở nên nhiều hay ít.
<i>* Mối liên quan giữa khoảng cách chấn tâm và mức độ thiệt hại </i>
Các hư hại chính do động đất chủ yếu phân bố quanh vùng chấn tâm động
đất. Tuy nhiên trong động đất Michoacan (Mehico) năm 1985 với 8,1M lại xác
nhận rằng sự hư hại nghiêm trọng xảy ra trong thành phố Mehico ở địa điểm
nằm cách chấn tâm động đất 400 km về phía Đông bắc. Những hư hại nghiêm
Trong trận động đất Loma Prieta, California với Magnitude bằng 7,1 xảy
ra ngày 17/10/1989, sự nguy hiểm hoặc phá huỷ của các phương tiện xảy ra ở
khoảng cách lớn khoảng 70 - 75 km từ vùng nguồn động đất. Cũng như thế tại
San Francisco và Oakland, nhà ở và các cửa hiệu buôn bán lâu đời là hư hại
nghiêm trọng nhất, một số sập đổ và số khác cần được sửa chữa, hệ thống cấp
nước và khí đốt trong hơn 1.000 ngơi nhà bị vỡ và gây nên cháy; đường băng
của sân bay bị hư hỏng và sân bay phải đóng cửa hơn 10 giờ; 5 cây cầu bị hỏng
và phải ngừng đi lại, trong số đó cầu qua vịnh nối giữa San Fracisco và Oakland
phải ngừng đi lại vì gãy nhịp trong động đất.
<i>* Điều kiện nền đất ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm động đất </i>
Nhiều thành phố trung tâm văn hoá nằm trên bờ biển hoặc các vùng trầm
tích sơng hồ với việc san lấp tiến hành phủ lên trên bùn lầy, rất nhiều kết cấu
được đặt trên các nền đất bở rời hoặc nằm phủ trên bùn, đó là nguyên nhân làm
tăng dịch chuyển của đất gây thiệt hại lớn tại địa điểm đó. Biên độ dịch chuyển
đất trong Aluvin có thể tăng gấp 2 đến 4 lần trong dải tần số từ vài giây đến vài
phần chục giây - dải tần số cơng trình cần quan tâm lưu ý nhất. Tương tự, hệ số
khuyếch đại cho các trũng bùn mềm dẻo và được san lấp có thể tăng lên đến 5 -
10 lần và một số trường hợp thậm chí lớn hơn v.v. Việc tính đến các lắng đọng
địa chất địa phương về biên độ dao động nền đất và quy mô của hư hại không có
gì ngạc nhiên. Điều cần thiết nhấn mạnh thêm sự quan trọng của việc chọn lựa
địa điểm xử lý trong khi quyết định xây dựng và quy hoạch.
bên thay đổi, nó chảy về phía giữa dịng sông. Các khối nguyên vẹn của phần
Các ví dụ về hoá lỏng trong các trận động đất vừa nêu trên là bằng chứng
khẳng định tầm quan trọng của việc thiết kế kháng chấn các cơng trình nằm trên
và trong các nền đất cải tạo.
<i>2.3.1.6. Hiểm họa do động đất </i>
Khi có động đất, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa
điểm xảy ra, động đất có thể gây nên tác hại ở các mức độ khác nhau. Để nhận
biết các thảm họa có thể xảy ra do động đất, chúng ta xem xét một số trận động
đất điển hình đã xảy ra trên thế giới.
* Động đất ở Đường Sơn – Trung Quốc ngày 28/7/1976 với M=7,7.
Chấn tâm động đất ở ngay trung tâm thành phố, gây thiệt hại nghiêm
trọng về người và của: 6,6 triệu phòng ở trong các tòa nhà bị phá hủy hoàn toàn
làm khoảng 255.000 người thiệt mạng và 164.000 người bị thương nặng.
Nguyên nhân chính của sự thiệt hại nghiêm trọng này là động đất mạnh, chấn
tâm ở ngay trung tâm Thành phố. Ngồi ra cịn do cơng tác thiết kế kháng chấn
cho nhà và các cơng trình thực hiện kém. Thiệt hại được kê như sau:
- Nhà cửa : Khoảng 6,6 triệu căn phòng người dân sinh sống bị phá hủy
hoàn toàn. Tại TP Tianjin, 31,17% tòa nhà bị hư hỏng, 25,89% tòa nhà bị hư
hỏng nặng và 10,9% nhà bị sập bao gồm công xưởng, nhà máy, kho tàng, cửa
hàng, trường học, bệnh viện, cơng trình văn hóa, cơ sở sản xuất...
- Giao thông: Đa số các cây cầu trên các trục đường giao thông vào TP
Đường Sơn bị phá hủy gây gián đoạn giao thông. 85 % kho bãi, 82% nhà xưởng,
49% phương tiện vận tải công cộng bị hư hỏng. Sân bay Đường Sơn cũng bị hư
hỏng nặng.
- Nguồn điện: 80,9% các cơng trình về điện ở TP Đường Sơn bị phá hủy.
Nhà máy điện phải ngừng cung cấp điện, 70% các trạm biến thế bị phá hủy. Sự
cung cấp điện cho thành phố này bị ngừng hoàn toàn.
Đường Sơn và Tianjin trong 2 năm sau động đất. Sản lượng giảm được tính cho
TP Đường sơn trong 2 năm lần lượt là 0,31 và 0,32.
* Động đất ở Sumatra - Indonexia, 07h58ph ngày 26/12/2004 với cường
độ 9,1 - 9,3M. Địa điểm xảy ra thuộc khu vực đảo Andaman – Nicobar. Động
đất mạnh, nơng (độ sâu 10km) trong lịng đại dương đã gây ra sóng thần có sức
hủy diệt mạnh, gây thiệt hại khủng khiếp về người và của. Có khoảng gần
289.000 người thiệt mạng, hàng trăm ngàn người bị thương. Các nạn nhân
không chỉ là dân địa phương mà còn là các du khách từ các nước. Trận động
đất gây sóng thần này đã phá hủy tàn khốc nhà cửa, cơng trình dân dụng, cơng
trình quốc phịng, khách sạn, nhà nghỉ.... vùng ven biển của trên 10 nước ven
Ấn Độ dương. Hậu quả và các thiệt hại về vật chất, kinh tế và ô nhiễm môi
trường là vô cùng lớn.
* Động đất ở Tứ Xuyên – Trung Quốc, xảy ra vào ngày 12/5/2008, với
cường độ 7,9 – 8,0 độ Richter. Địa điểm xảy ra thuộc châu tự trị Ngawa, tỉnh Tứ
Xuyên. Thảm họa thiên nhiên này đã làm 69.195 người thiệt mạng, khiến 19.000
mất tích và 11 triệu người mất nhà cửa. Nó cũng ảnh hưởng nghiêm trọng tới
khu vực cách tâm động đất tới hàng nghìn dặm, cụ thể như tại Bắc Kinh và
Thượng Hải, nơi cũng phải chứng kiến những trận động đất 6,0 độ richter. Bên
* Động đất ở Chile, ngày 27-2-2010: Trận động đất mạnh 8,8 độ Richter
và gây ra sóng thần. Có gần 800 người chết, khoảng 1,5 triệu ngôi nhà bị hư
hại... Ước tính thiệt hại vật chất trong thảm họa này lên đến 30 tỷ USD.
ít nhất 400 người mất tích, 6 ngôi làng bị san phẳng, 25.426 ngôi nhà bị hỏng
nặng và ít nhất 4.000 người bị mất nhà cửa.
* Động đất kèm sóng thần ở Nhật Bản, ngày 11/3/2011: Mạnh 9 độ
Richter. Trận động đất có vị trí tâm chấn nằm cách ngồi khơi bờ biển phía
Đơng bán đảo Oshika, Tôhoku 72 kilômét, tại độ sâu 32 kilômét. Trận động đất
làm nổ 3 lò phản ứng và cháy 1 lò phản ứng tại nhà máy điện hạt nhân
Fukushima số 1; làm 15.854 người chết và 3.271 người mất tích. Số người bị
thương là 2.383 và số người bị nhiễm phóng xạ là 190 người. Khoảng 100.300
ngôi nhà bị phá hủy.
* Động đất tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, ngày 3-8-2014: Mạnh 6,1 độ
Richter, làm chết ít nhất 515 người và làm bị thương 2373 người khác, 12.000
ngôi nhà đã bị sập đổ và 30.000 bị hư hỏng sau trận động đất này. Chấn tiêu ở
độ sâu khoảng 10 km.
* Động đất ở Nepal vào 11h56’ ngày 25/4/2015: Tính đến ngày 4/5,
trận động đất lịch sử tại Nepal mạnh 7,8 độ richter đã khiến hơn 7.200 người
thiệt mạng, hơn 14.000 người bị thương, hơn 140.000 ngôi nhà bị hư hại, hơn
16.000 trường học bị phá hủy và hàng trăm di tích bị tàn phá…
Các dạng sự cố hiểm họa do động đất:
- Hiểm họa động đất trực tiếp: Bao gồm gây chết và làm bị thương con
người, yếu tố tâm lý gây nên do hư hại và sụp đổ về nhà cửa, các cơng trình, cơ
sở hạ tầng phục vụ dân sinh, các khu cơng nghiệp, sự hóa lỏng đất...
- Nguy hiểm thứ cấp: Sự cháy, lụt lội, nứt đất, sự chảy của bùn đất, đổ vỡ
đồ vật, sóng thần, sự rị rỉ của các chất độc và chất phóng xạ, các bệnh truyền
nhiễm...
Sự trượt lở đất gây ra do động đất có thể dẫn đến các q trình lún, sụt lở
đất và hóa chảy lịng đất. Hiện tượng hóa lỏng cát khô và vùi lấp có thể hình
thành trong q trình rung động của động đất gây nên sụt lún nghiêm trọng bề
mặt, gây nguy hiểm cho nền móng các các cơng trình do sự suy yếu của nền
móng chịu tải.
bề mặt qua một lớp hóa lỏng. Sự phá hủy này chủ yếu trên các dốc thoải
(0,5-5%). Chúng kéo theo dịch chuyển khoảng vài mét và trong các điều kiện ảnh
hưởng đặc biệt có thể đạt đến vài chục mét, kèm theo rạn nứt mặt đất và các
chuyển dịch thẳng đứng khác.
- Các hiểm họa liên quan do động đất : Sự tác động đến xã hội và kinh tế
khi có động đất dẫn đến nguy hại cho các hoạt động sinh hoạt hàng ngày. Sự
nghiêm trọng của nguy hiểm động đất phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền
* Nghiên cứu, đánh giá, dự báo động đất: Chủ yếu là nhiệm vụ của các cơ
quan chuyên môn liên quan đến các lĩnh vực: địa chấn, địa chấn – kiến tạo, địa
<i>chất, vật lý địa cầu. </i>
- Thu thập, phân tích các tài liệu về động đất trong lịch sử, khảo cổ.
- Điều tra, thu thập các tài liệu về động đất ở các địa phương từ nhân dân,
từ các trạm địa chấn quốc tế và khu vực.
- Quan trắc, đo đạc tại các trạm địa chấn cố định tại các địa phương, các
trạm di động ở những vùng trọng điểm trong nước.
- Xử lý các số liệu, đánh giá và dự báo động đất (cơng việc có nhiều khó
khăn nhất).
Cơ sở định hướng cho dự báo động đất là trong q trình tích lũy năng
lượng tại vùng chấn tiêu. Trước khi xảy ra động đất, vật chất vùng chấn tiêu
thường bị biến đổi về mật độ, khối lượng, đồng thời tạo áp lực từ dưới sâu lên
phía trên mặt, tạo vịm biến dạng địa hình phía trên vùng chấn tiêu, sự rung nhẹ
của các tiền chấn…
Sử dụng các thiết bị chuyên dụng để phỏng đoán trước khả năng động đất
song cũng rất khó xác định chính xác thời điểm xảy ra.
Ở Việt Nam, các nhà địa chấn và
địa chấn kiến tạo đã xây dựng bản đồ
phân vùng động đất ở miền bắc (1968),
trên lãnh thổ Việt Nam (1986); 1996;
2003 (hình 2.6).
Kết quả nghiên cứu cho thấy ở
VN có 4 đới chính có khả năng phát
sinh động đất mạnh với M>5 và chấn
cấp đạt >cấp 7, bao gồm:
(1) Đới sông Hồng và sơng Tháí
Bình, trong đó có đồng bằng Bắc bộ;
(2) Đới sơng Mã - Điện biên;
(3) Đới sông Cả;
(4) Đới ven bờ Tây biển đông.
* Ứng xử và giảm thiểu thiệt hại
do động đất: Công việc này cần được tiến
hành cả trước và sau khi động đất.
- Trước hết cần căn cứ vào kết quả nghiên cứu, đánh giá và dự báo động
đất của các cơ quan chức năng chuyên mơn để có những biện pháp hướng dẫn,
triển khai các hoạt động phòng tránh, phòng vệ nhằm giảm thiểu các thiệt hại
nếu có.
- Khi có các dấu hiệu và cơ sở để dự báo trước về thời gian xảy ra động
đất, đặc biệt là các dự báo khẩn cấp cần thông qua các cơ quan quản lý hành
chính của địa phương, kịp thời thơng báo cho cộng đồng để có điều kiện phịng
Công việc này cần phải có sự phối hợp đồng bộ, hỗ trợ của chính quyền,
các tổ chức xã hội và cộng đồng địa phương. Phải được hoàn thành trước thời
gian động đất được phỏng đoán.
- Sau khi xảy ra động đất, cần tập trung vào khâu cứu hộ, cứu trợ. Cơng
việc này địi hỏi sự phối hợp tổng lực, trong nhiều trường hợp cần kêu gọi sự hỗ
trợ quốc tế. Các nhiệm vụ cứu nạn chủ yếu là:
+ Cứu người bị chôn vùi, mắc kẹt lại trong các toà nhà bị sập đổ bao gồm
cả các người bị thương do cháy, lụt lội và nổ khí gas.
+ Hạn chế các sự cố thứ cấp gây ra do động đất, di chuyển dân khỏi các
ngôi nhà nguy hiểm, ổn định cuộc sống của nhân dân.
+ Cứu trợ các phương tiện phục vụ cuộc sống như nguồn cung cấp nước,
nguồn cung cấp điện, cung cấp khí dốt, thơng tin liên lạc và giao thông vận
chuyển.
+ Giúp đỡ nhân dân đào bới tìm kiếm của cải vật chất của họ bị chôn vùi
trong các nhà bị sập.
+ Xử lý chôn cất các thi thể bị chết của người và gia súc, giữ gìn mơi
trường sống trong sạch tránh các nạn dịch bệnh gây ra sau động đất.
+ Đưa hoạt động đời sống của quần chúng trong xã hội trở lại bình thường
càng sớm càng tốt.
+ Đảm bảo tốt tình hình an ninh xã hội. Việc tìm kiếm và cứu người kết
thúc; Các nạn nhân cơ bản được chuyển đến nơi an toàn và sự đổ nát trên các
đường chính được dọn sạch.
- Sau giai đoạn cứu hộ, thực hiện các hoạt động tái thiết mọi mặt và đưa
cộng đồng dần đi vào ổn định: trong giai đoạn này, các cơng trình cơng cộng,
các nhà ở và các nhà hàng, xí nghiệp được khơi phục và các hoạt động kinh tế xã
hội được khơi phục trở lại gần mức bình thường. Các dấu hiệu kết thúc giai đoạn
này là:
+ Dân số khôi phục trở lại;
+ Nhà cửa, sức lao động, của cải và chức năng hoạt động của thành phố
được khôi phục đáp ứng nhu cầu nhân dân.
nước. Trận động đất Philippine năm 1990 gây ra gián đoạn thông tin liên lạc,
mất điện và hư hỏng nặng các đường thoát nước ngầm dưới đất dẫn đến nguy
hiểm úng lụt trong thời gian dài.
Các vụ cháy nghiêm trọng sau các trận động đất San Francisco năm 1906
và Tokyo năm 1923 rất nổi tiếng. Nguyên nhân của cháy sinh ra do động đất là
sự bắt cháy của các ngơi nhà gỗ có trong thành phố này. Nguy cơ do cháy cũng
là nguy cơ thứ cấp trong hiểm hoạ động đất ngày nay vì khơng chỉ có các căn
nhà bằng gỗ trong các thành phố hiện đại như Kobe ở Nhật mà còn chịu nguy
hiểm của các đường dẫn khí đốt. Sự hư hại của hệ thống cấp nước càng làm tăng
mức độ thiệt hại do cháy vì thiếu nước để dập tắt lửa vào thời điểm đó. Sự nguy
hiểm của lửa sau trận động đất Loma Prieta năm 1989, động đất Nothridge năm
1994 và động đất Hanshin-Awaji chỉ ra mức độ quan trọng của việc chống nguy
cơ cháy sau động đất.
* Hiệu lực và ý nghĩa của việc tính kháng chấn: Sử dụng tài liệu của ba
trận động đất xảy ra trong năm 1993 để xem xét: Động đất Guam vào tháng 8
với Magnitude gần 8,0, động đất Ấn Độ 30/9 với Magnitude là 6,4 và động đất
Hokaido, Nhật Bản vào 12/7 với Magnitude là 7,8.
Trận động đất Ấn Độ là trận động đất nhỏ nhất trong ba trận động đất nêu
trên xét theo Magnitude nhưng gây hậu quả nghiêm trọng nhất với 10.000 người
chết và 90 làng xóm bị hư hại mà trong số đó phần lớn làng bị phá huỷ hoàn
toàn. Việc sai phạm của đánh giá độ nguy hiểm động đất và các nhà được xây
dựng khơng tính đến kháng chấn là ngun nhân gây ra sự thiệt hại nặng nề đó.
Trận động đất Guam với Magnitude lớn hơn lại gây ra thiệt hại ít nhất,
khơng có người chết trong 130.000 người sống trên đảo, một chút hư hỏng và
sập đổ của các toà nhà do đã được thiết kế kháng chấn mặc dù sự rung động của
mặt đất là rất mạnh.
Trận động đất Kokaido với Magnitude 7,8, làm 178 nhà sụp đổ, 723 nhà
sập đổ từng phần và giết hại 120 người. Magnitude của trận động đất phụ thuộc
vào giá trị đánh giá độ nguy hiểm động đất trong vùng đó và tính tốn chống
động đất mạnh hơn không được đưa ra trong khu vực này.
* Các yếu tố kinh tế và xã hội ảnh hưởng đến thiệt hại do động đất.
Tính khốc liệt của động đất liên quan mật thiết đến các yếu tố xã hội và
kinh tế của vùng. Mức độ thay đổi của thiệt hại cùng thời gian và địa điểm là rất
phức tạp trên nhiều mối quan hệ. Chẳng hạn, hai trong các trận động đất xảy ra
ở vùng Los Angeles thuộc Mỹ: trận động đất San Fernando năm 1971 có
Magnitude 6,5, cịn trận khác là động đất Nothridge năm 1994 với Magnitude là
6,3. Chấn tâm của cả hai trận động đất cách nhau chỉ là 20 km mặc dầu chúng
được ghi nhận trên hai đứt gãy khác nhau. Hai trận động đất có độ sâu chấn tiêu
- Tác động của hiểm hoạ động đất đến kinh tế - xã hội:
+ Làm chết và bị thương lực lượng lao động: là một trong những thiệt hại
chủ yếu. Chẳng hạn trận động đất Đường Sơn, Trung Quốc năm 1976 số người
chết là 255.000, chiếm 13,34% lực lượng lao động của thành phố.
thuỷ nông: 557 máy nông nghiệp hư hỏng, 50% trạm tưới nước bị hư hỏng,
7,32% diện tích đất trồng bị cát vùi lấp...
- Các ảnh hưởng của hiểm hoạ động đất đến cấu trúc kinh tế hạ tầng.
Hiệu quả của hệ thống xã hội gồm có yếu tố con người, sản phẩm, thông
tin liên lạc và tài chính.
Tại thành phố Đường Sơn:
+ Sự thiệt hại đối với giao thông và hệ thống bưu điện vào khoảng 31,48
+ Thiệt hại của kinh doanh phục vụ công cộng: Tỉ lệ thiệt hại tài sản cố
định và tài sản lưu động về kinh doanh công cộng là 85 và 36%. Số nhà bị sập
được trang bị điện tiêu dùng chiếm 80,9% tổng diện tích nhà ở, tổng điện năng
cung cấp giảm 31,1 MW, chiếm 30% lượng điện cung cấp của mạng lưới điện
Bắc Kinh - Đường Sơn - Tianjin. Sau động đất, việc cung cấp điện cho thành
phố Đường Sơn bị cắt toàn bộ.
- Tác động của thiệt hại động đất đến các hoạt động kinh tế - xã hội:
+ Ảnh hưởng của động đất gây thiệt hại trực tiếp đến các sản phẩm công
nghiệp: Động đất dẫn đến sự ngừng trệ toàn bộ hoặc từng phần sản phẩm công
nghiệp ở các thành phố Đường Sơn và Tianjin. Sản phẩm của hai thành phố chỉ
trở lại mức sản xuất bình thường hai năm sau động đất.
+ Tác động đến các hoạt động thương nghiệp: Trong động đất Đường Sơn
khoảng 17,2% các thành viên chủ chốt của hệ thống buôn bán chết, 33,1% tổng
giá trị hàng hoá bị huỷ hoại và 97% cửa hàng buôn bán cần phải xây dựng lại.
- Tác động đến các ngành khác: Tác động của động đất đến các hoạt động
khác là hết sức nghiêm trọng, nhất là trong các ngành Tài chính, Nông nghiệp,
Lâm nghiệp, nước tưới cũng như các hệ thống Giáo dục và Khoa học kỹ thuật.
- Tác động đến thu nhập và thuế: Sau động đất Đường Sơn, việc thu thuế
và tài chính để đạt được mức ban đầu phải mất từ 4 đến 6 năm sau đó.
- Tác động trực tiếp vào kinh tế:
Sơn cũng còn cung cấp điện cho Bắc Kinh và khu vực phía Bắc Trung Quốc.
Việc ngừng khai thác than của Đường Sơn ảnh hưởng mạnh đến các việc sản
+ Tác động đến các vùng khác về công tác cứu trợ trong động đất Đường
Sơn: Cho đến cuối tháng 10/1976, những đội cứu trợ từ các nơi của Trung Quốc
đã đến khu vực xảy ra động đất là 1.000 người, lượng hàng cứu trợ là hơn 700
tấn. Ngồi ra, có 9 tỉnh và thành phố tiếp nhận và điều trị cho hơn 100.000
người bị thương của thành phố Đường Sơn.
* Đánh giá độ rủi ro động đất
Khác với độ nguy hiểm động đất, độ rủi ro động đất bao hàm những tổn thất
trong các lĩnh vực xã hội và kinh tế, hay cụ thể hơn, đây là sự đánh giá những tổn
hại về người và của mà một trận động đất mạnh có thể gây ra cho khu vực nghiên
cứu. Theo Tổ chức giảm nhẹ thiên tai của Liên hợp quốc (UNDRO), độ rủi ro địa
chấn được xác định theo công thức sau: R = E * V * H.
Ở đây E là yếu tố chịu rủi ro hay là một giá trị, thường biểu thị dân số, tài
sản, các hoạt động kinh tế, dịch vụ cơng cộng... dự đốn phải chịu thiệt hại nếu
động đất xảy ra; V là điểm yếu hay độ nhạy cảm, biểu thị số đo của những tổn
thất thành phần của giá trị và H là độ nguy hiểm động đất.
Tóm lại, nếu xét cả những khía cạnh hiện thực của vấn đề, lưu ý rằng
không phải lúc nào độ rủi ro động đất cũng là một đại lượng tỉ lệ thuận với độ
nguy hiểm động đất, thì cơng thức đánh giá độ rủi ro động đất có thể được viết
một cách tổng quát dưới dạng sau: R = f(E, V, H). Theo đó, độ rủi ro động đất sẽ
được xét như một hàm của các biến E, V và H.
Trong các cơng trình thuộc loại này đã có sự phân biệt rất rõ ràng hai khái
<i>niệm độ rủi ro động đất (seismic risk) và độ nguy hiểm động đất (seismic </i>
<i>hazards), đồng thời thuật ngữ về điểm yếu (vulnerability), một khái niệm mới </i>
Ngày nay, phương pháp và thuật toán đánh giá độ rủi ro động đất trên thế
giới đã trở nên hết sức đa dạng, phong phú và đang ở đỉnh cao của trình độ ứng
dụng công nghệ mới, đặc biệt là các công nghệ tin học và hệ thông tin địa lý
(GIS).
* Tài trợ kinh tế khắc phục thiệt hại do động đất:
quan trọng để giảm nhẹ thiệt hại do động đất. Nó bao gồm nguồn tài trợ bảo
hiểm, tài trợ tài chính của Chính phủ, nguồn nâng lên của chính quyền địa
phương cùng sự tài trợ và giúp đỡ quốc tế từ nước ngoài.
Theo lý thuyết xác suất, để thiết lập quỹ bảo hiểm động đất khi dùng việc
đóng bảo hiểm của các công ty và các cá nhân và để cung cấp tiền bảo hiểm để
giảm nhẹ thiệt hại động đất, thì được gọi là bảo hiểm động đất. Vì thiệt hại do
động đất gây ra rất lớn, một công ty bảo hiểm riêng lẻ không thể bồi thường sự
mất mát lớn, nó chỉ có thể mua bảo hiểm ở các công ty bảo hiểm lớn hơn và gọi
là quỹ bảo hiểm động đất.
Nhằm giảm bớt mức độ thiệt hại của các trận động đất lớn và các thảm
hoạ tự nhiên khác, Chính phủ của nhiều nước để ra một quỹ tài chính dự trữ tài
trợ tài chính cho các thiệt hại tự nhiên và các tai nạn khác nữa. Ở một số nước
phát triển như Mỹ, Nhật Bản... tỷ lệ của quỹ cho các thảm hoạ tự nhiên đối với
tổng thu nhập của cả nước là 1,2 đến 1,42 và 1,0 đến 1,5%. Một số nước phát
triển khác có tỷ lệ 0,5 - 0,6%. Tỷ lệ của quỹ dự trữ đối với động đất so với tổng
quỹ dành cho thảm hoạ tự nhiên là khác nhau đối với các nước: Ở Mỹ chiếm
37,5%, ở Nhật chiếm 32,5%. Tại Trung Quốc, quỹ dành cho thảm hoạ tự nhiên
chiếm 1,0 - 1,2% tổng sản phẩm quốc nội, trong đó dành cho thảm hoạ động đất
Giống như chính quyền Trung ương, các chính quyền địa phương cũng
dành một quỹ đặc biệt để khắc phục giảm nhẹ thiên tai hàng năm. Nói chung,
đối với các trận động đất nhỏ và trung bình, tài trợ tài chính từ chính quyền địa
phương là chủ yếu. Sau khi một trận động đất lớn xảy ra, các thảm hoạ và thiệt
hại sẽ được loan báo cho cộng đồng và các tổ chức quốc tế, cần tranh thủ sự trợ
giúp quốc tế và giúp đỡ của nước ngoài càng nhiều càng tốt.
<i>2.3.2. Nứt đất, nứt đất ngầm </i>
<i>2.3.2.1. Khái niệm chung </i>
Là hiện tượng làm nứt vỡ vỏ trái đất do những chuyển động kiến tạo hiện
đại từ từ, mà chủ yếu là chuyển động trượt từ từ sinh ra, làm ảnh hưởng xấu đến
sự phát triển KT-XH và môi trường (Mai Xuân Bách – Viện VL địa cầu).
<i>2.3.2.2. Cơ chế hình thành và phát triển nứt đất ngầm </i>
Nguyên nhân chủ yếu để phát
sinh và hình thành nứt đất và nứt đất
ngầm là do hoạt động kiến tạo của vỏ
trái đất tạo ra các đứt gãy hay các đới
đứt gãy. Theo đó, hiện tượng này
thường diễn ra kéo dài, trên diện rộng
và từ từ theo thời gian. Ngồi ra cịn có
hiện tượng nứt đất do động đất, do con
người gây ra như khai thác khống sản
dưới lịng đất, khai thác nước ngầm, làm
đường giao thông, đắp đập thủy điện...
gián tiếp gây ra nứt đất, sự lún sụt ở một
Cấu trúc môi trường địa chất tại
các nơi có nứt đất, nứt đất ngầm thường có 3 phần (hình 2.7): tầng đá gốc cứng
(C), tầng đất đá gắn kết (B) ở dưới và lớp đất đá bở rời (A) bên trên. Móng đá
cứng bên dưới bị đứt gãy kiến tạo hiện đại cắt qua, làm các cánh dịch chuyển
khác chiều tương đối với nhau... Các dịch chuyển tại vùng móng sâu đến một
mức độ nào đó sẽ lơi cuốn các tầng đất đá bên trên biến dạng, nứt vỡ, tạo ra các
vết rạn nứt ẩn ngầm hoặc lộ rõ trên bề mặt.
Các vết nứt xuất phát từ dưới sâu, lan tỏa dần về phía trên, tạo thành
chùm khe nứt dạng cành cây (1,2). Do hoạt động trượt ngang dọc theo các khe
nứt mà trong đới khe nứt thường xuất hiện các hạng hốc ngầm (3), góp phần lan
tỏa chất ơ nhiễm, tăng xói ngầm và thất thoát nước trong các hồ chứa.
<i>2.3.2.3. Các sự cố, hiểm họa do nứt đất và nứt đất ngầm </i>
* Gây hư hại cho các cơng trình xây dựng, đê, đập, đường xá...:
Tùy theo kích thước, sự liên tục của các khe nứt, mức độ gây tác hại khác
nhau đến các cơng trình xây dựng các loại mà nứt đất được phân cấp khác nhau.
Theo Nguyễn Trọng Yêm và những người khác (1990), đặc điểm và tác
hại đến các cơng trình xây dựng của nứt đất từ cấp 5 đến cấp 9 ở Việt Nam
như sau:
- Cấp 5. Đường nứt nhỏ, tách biệt, dài vài m, rộng đến 1mm, chưa có biểu
hiện tác động rõ đến các cơng trình.
- Cấp 6. Khe nứt dài hàng chục m, chiều rộng đến hàng chục mm, xun
qua các cơng trình loại A, rạn nứt các cơng trình loại B.
- Cấp 7. Hệ thống gồm các khe nứt dài hàng chục m, rộng hàng chục mm,
làm biến dạng các cơng trình loại A, xun qua các cơng trình loại B, rạn nứt
nhỏ các cơng trình loại C.
- Cấp 8. Nứt cực mạnh. Hệ thống các đường nứt dài hàng trăm m, rộng
hàng chục cm, tạo những biến dạng rõ nét trên mặt đất. Làm biến dạng các cơng
trình loại A, B, rạn nứt nhỏ các cơng trình loại C.
- Cấp 9. Bắt đầu hiện tượng phá hủy. Hệ thống khe nứt dài hàng trăm m,
rộng hàng chục cm, xuất hiện các đứt gãy trên mặt đất, phá hoại hồn tồn các
cơng trình loại A, B, gây biến dạng rõ nét các cơng trình loại C.
Trong đó: Cơng trình loại A – Cơng trình xây dựng đơn giản như nhà cấp
4, nền đất nện, sân gạch; Loại B – Cơng trình xây dựng tương đối vững chắc
như nhà xây, nhà thờ có giàng móng, giàng tường bê tông cốt thép; Loại C –
Cơng trình xây dựng rất kiên cố.
Ví dụ: Một đới rộng dọc đường 18A từ Phả Lại đi Đơng Triều, ng Bí
hầu như nhà nào trong các làng cũng đều bị nứt vỡ ở các mức độ khác nhau,
nhiều nhà không sử dụng được nữa phải phá đi làm lại mà vẫn không khỏi bị nứt
vỡ. Nhiều nhà cửa, ruộng vườn ở các làng ven rìa Tây đồng bằng Bắc Bộ thuộc
các tỉnh như: Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình cũng bị nứt vỡ. Khu vực giữa Đông
Bắc Bắc Bộ; ở Hà Tĩnh, Quảng Trị, Bình Định, Dak Lak, Dak Nơng, . . . nhiều
nơi nhà cửa ruộng vườn đồi núi cũng bị nứt tương tự.
Làm nứt nhiều đoạn đường giao thông các cấp khác khau. Làm nứt nhiều
đoạn bờ sông, đê sông, đê, kè biển như hệ thống đê sơng Hồng, sơng Mã, sơng
* Gây thất thoát nước mặt và nước hồ chứa:
tới tình trạng gây hạn cục bộ, lâu dài có thể dẫn tới hoang mạc hóa, suy thối
mơi trường sinh thái... Điều này cũng rất cần chú ý khi xây dựng các hồ chứa
nước ở các địa phương.
* Gây ô nhiễm nguồn nước, độc hại đối với môi trường:
Trong quá trình thấm, dẫn nước mặt xuống dưới sâu của hệ thống các
đường nứt ngầm, nếu trên bề mặt của vùng chứa các chất thải, hóa chất độc hại
sẽ tạo điều kiện để chúng làm ô nhiễm nguồn nước ngầm không chỉ ở vùng xảy
ra nứt đất. Ô nhiễm nguồn nước ngầm sẽ gây nên những hậu quả hết sức nghiêm
trọng đối với đời sống con người cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội ở khu
vực đó.
Hệ thống nứt đất ngầm ở vùng ven biển, đặc biệt những nới các đường
nứt có phương cắt đường bờ, chạy sâu vào các tầng đất trong đất liền còn là
đường kênh dẫn nước mặn xâm nhập vào đất liền gây nhiễm mặn, phèn hóa đất,
gây lợ hóa nguồn nước ngầm.... Hệ thống đường nứt ngầm cịn có khả năng dẫn
một số chất khí, hơi độc như CO2, Hg, Radon... từ dưới sâu lên trên bề mặt đất
gây ảnh xấu tới sức khỏe, tính mạng của con người (vùng Thác Bà, Hịa Bình,
Sơn La – Nguyễn Văn Phổ 1999). Đặc biệt khi lưu trữ chúng ở những không
gian hẹp, ít thơng thống, với nồng độ cao.
* Gây gia tăng nhạy cảm đối với các tai biến khác như trượt, lở đất, lũ quét:
Hệ thống các đường nứt đất ngầm phát triển trên các tầng đất bở rời, sườn
đồi núi, men các sông suối, bờ biển... làm gia tăng tính nhạy cảm của các quá trình
trượt, lở, xói lở, trong một số điều kiện thuận lợi có thể gây nên các trận lũ quét.
* Gây lo sợ, hoang mang trong dân chúng, kích thích mê tín, dị đoan, ảnh
hưởng đến tinh thần tư tưởng sản xuất, an ninh xã hội và an ninh chính trị.
Có nơi, như Chí Linh (Hải Dương), đang đêm dân kéo nhau bỏ chạy vì sợ
trời làm sụt đất giết hại dân làng. Có nơi ở Đak Lây (Đak Nơng), dân làng cúng
lễ linh đình, thậm chí phạt vạ những những người có nhà bị nứt, vì bị nghi là có
tội nên Trời mới phạt cả dân làng…
<i>2.3.2.4. Ứng xử, giảm thiểu thiệt hại do nứt đất ngầm </i>
* Khảo sát, điều tra, xác định, đánh giá đặc điểm quy mô của đới đứt gãy
kiến tạo hiện đại và hệ thống nứt ngầm vùng nghiên cứu.
Đây là cơ sở quan trọng để dự báo xu thế phát triển cũng như dự báo tác
hại của hệ thống nứt đất và nứt đất ngầm tại khu vực.
Việc làm này rất có ý nghĩa trước khi tai biến nứt đất trở thành sự cố,
hiểm họa mơi trường, có tác dụng thiết thực nhằm phòng tránh, phòng vệ, giảm
thiểu thiệt hại do tai biến gây ra. Cần phổ biến rộng rãi thông tin nứt đất trong
cộng đồng, cần hướng dẫn công tác bảo hiểm cho cộng đồng trên địa bàn.
* Tiến hành lồng ghép nội dung ứng xử tai biến nứt đất trong quy hoạch
kinh tế, xã hội lãnh thổ, đề xuất các quy định về xây dựng, quy hoạch
Khi đã có những thơng tin về đặc điểm cũng như tác hại có thể của hệ
thống nứt đất tại khu vực, Chính quyền cùng các cấp, các ngành, đặc biệt cơ
quan quản lý môi trường sở tại cần tiến hành quy hoạch về các lĩnh vực: Công
nghiệp, Nông – Lâm – Ngư nghiệp, khai thác mỏ, xây dựng, giao thông, thủy
lợi, thủy điện…
* Ứng xử, cứu hộ, cứu trợ, tái thiết, ổn định kinh tế - xã hội
Do mang tính trường diễn, các hậu quả của q trình này không thể so sánh
với động đất. Tuy nhiên cũng rất cần thiết thực hiện hoạt động cứu hộ, cứu trợ, tu
sửa các cơng trình hư hại, tổ chức ổn định xã hội tại các khu vực xảy ra tai biến.
<i>2.3.2.5. Các giải pháp quan trọng phòng chống tai biến tự nhiên nứt đất </i>
- Cần có nhận thức đúng đắn về tai biến tự nhiên nứt đất. Đây là hiện
tượng tự nhiên có thật, xảy ra ở nhiều nước và đã xảy ra không kém mạnh mẽ ở
nước ta. Nhận thức này cần phổ biến rộng rãi trong các nhà lãnh đạo, quản lí,
các nhà khoa học và trong nhân dân.
- Xây dựng thành qui phạm có tính pháp luật bắt buộc khi có quy hoạch
phát triển, thiết kế, xây dựng các cơng trình lớn, đặc biệt là các cơng trình thuỷ
điện, thuỷ lợi, các nhà máy hoá chất, nguyên tử... phải điều tra đánh giá tai biến
tự nhiên nứt đất. Khi xây dựng các cơng trình lớn này nhất thiết phải có các giải
pháp phòng chống tai biến tự nhiên nứt đất.
Nước ta đang phát triển mạnh mẽ các đập thuỷ lợi, thuỷ điện lớn nhỏ khác
nhau trên những dịng sơng, trên những thung lũng. Đại đa số các dịng sơng,
thung lũng ở nước ta, đặc biệt các sông lớn, chạy theo đứt gãy, đới đứt gãy, nếu
không bị nằm trọn tồn bộ chiều dài thì cũng bị một phần nào đó. Vì thế, khi xây
dựng các cơng trình nói trên, nhất thiết phải điều tra, đánh giá kỹ tai biến tự
nhiên nứt đất.
điều tra, đánh giá tai biến tự nhiên nứt đất; (2) Phải quy định rõ quy trình điều
tra, đánh giá, phương pháp, phương tiện kỹ thuật, mức độ và khối lượng công
tác điều tra, đánh giá. Những người làm công tác này phải là những nhà chuyên
môn hiểu biết, đã từng làm quen và có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Phổ biến
trong các vùng phát triển mạnh nứt đất các loại thiết kế móng trong phịng chống
tai biến tự nhiên nứt đất đã được thử nghiệm cho nhà ở 1, 2 tầng.
<i>2.3.3. Phun trào núi lửa </i>
Núi lửa là núi có miệng ở đỉnh, qua đó, từng thời kỳ, các chất khống
nóng chảy với nhiệt độ và áp suất cao bị phun ra ngoài. Núi lửa phun là một hiện
tượng tự nhiên trên Trái Đất hoặc các hành tinh vẫn còn hoạt động địa chấn
khác, với các vỏ thạch quyển di chuyển trên lõi khống chất nóng chảy. Khi núi
lửa phun, một phần năng lượng ẩn sâu trong lịng hành tinh sẽ được giải phóng.
Trên thế giới, Indonesia, Nhật Bản và Mỹ được xem là ba nước có nhiều núi lửa
đang hoạt động nhất, theo thứ tự giảm dần về mức độ hoạt động.
<i>Theo IAVCEI (International Association of Volcanology and Chemistry of </i>
<i>the Earth's Interior), hiện có 16 ngọn núi lửa đáng chú ý: </i>
Avachinsky-Koryaksky, Kamchatka (Nga); Nevado de Colima, Jalisco và Colima (Mexico);
Mount Etna, Sicilia (Ý); Galeras, Nariño (Colombia); Mauna Loa, Hawaii (Mỹ);
Núi Merapi, Central Java (Indonesia); Núi Nyiragongo (Congo); Núi Rainier,
Washington (Mỹ); Sakurajima, Kagoshima (Nhật Bản); Santa Maria/Santiaguito
(Guatemala); Santorini, Cyclades (Hy Lạp); Taal Volcano, Luzon (Philippines);
Teide, Canary Islands (Tây Ban Nha); Ulawun, New Britain (Papua New
Guinea); Mount Unzen, Nagasaki Prefecture (Nhật); Vesuvius, Naples (Ý).
<i>2.3.3.1. Khái niệm và đặc điểm chung </i>
Núi lửa là nơi dung nham, khí nóng và các vật thể khác từ lò macma trong
lòng đất phun ra và trào lên mặt trái đất. Núi lửa có thể trên cạn, có thể ngầm
dưới nước.
<i>2.3.3.2. Hình thái, cấu trúc núi lửa </i>
Núi lửa là kênh dẫn các sản phẩm macma dưới sâu trong thạch quyển,
manti thoát lên mặt đất. Các sản phẩm núi lửa được phun lên mặt đất thường trải
qua nhiều đợt, pha, nhiều thời kỳ, phân bố xung quanh họng núi lửa, tạo thành
hình nón, vịm hoặc lớp phủ...
Các núi lửa trung tâm thường tạo thành hình nón, sườn dốc 30-35 độ.
Miệng núi lửa là chỗ trũng hình phễu nằm ở đỉnh núi hay đỉnh họng. Ở một số
núi lửa, ngồi miệng chính cịn có miệng phụ, tạo ra những chóp phụ bên cạnh
núi lửa chính.
Cấu trúc của núi lửa gồm: lò macma, họng và miệng núi lửa (xem hình 2.8).
<i>Hình 2.8. Hình thái và cấu trúc núi lửa </i>
Trong thực tế, nhiều khi sau phun trào, các vật liệu tại vịm, nón núi lửa bị
san bằng, hạ thấp so với xung quanh, tạo nên miệng trũng núi lửa khá lớn
(Candera). Trong nhiều trường hợp Candera được hình thành, gắn liền với hiện
tượng sụt lún do khuyết hụt vật chất dưới sâu sau khi một lượng lớn dung nham
đã phun lên mặt đất. Trong các núi lửa phân ra núi lửa đang hoạt động và đã tắt.
thể hình khe dài (dạng dịng chảy), có thể có nhiều miệng phụ dẫn từ các họng
xiên, xuất phát từ họng chính. Tuỳ theo độ quánh của dung nham, núi lửa được
phân ra các kiểu chính sau: 1) Kiểu Hawaii: có dung nham bazan rất lỏng, chảy
tràn và hình thành các lớp phủ dung nham rộng với dạng núi lửa hình chóp rất
Trên thế giới, núi lửa tập trung thành hai vành đai: Vành đai Thái Bình
Dương với các khu vực điển hình như Viễn Đơng (Liên bang Nga), Nhật Bản,
Inđônêsia, Tây Châu Mĩ. Vành đai Địa Trung Hải với các khu vực điển hình như
Italia, Trung Á. Ở Việt Nam, chỉ có núi lửa đã tắt, gặp nhiều ở nam Tây Nguyên,
núi lửa cuối cùng xuất hiện ở ngoài khơi Phan Thiết (1923) là Đảo Tro.
<i>2.3.3.4. Hoạt động của núi lửa </i>
Núi lửa phun thường diễn ra nhanh, đột ngột nhưng trước đó thường có
các dấu hiệu báo trước. Những dấu hiệu này có thể gián tiếp hoặc trực tiếp như
các giếng trở nên khô cạn, các khe nước nhỏ cạn kiệt, nứt đất... hoặc có khói
phun lên theo khe nứt vùng họng, miệng núi lửa có những tiếng như tiếng sấm
vọng lên từ dưới đất, có khi xảy ra động đất do sự dịch chuyển của dung nham ở
dưới sâu...
Hoạt động phun trào dung nham có thể diễn ra từ từ nhưng cũng có thể dữ
dội, kèm theo những tiếng nổ lớn. Lượng phun trào, tuỳ thời kỳ và tính chất
động lực dưới sâu mà thay đổi từ khoảng 10 km3, phủ trên diện hẹp cho đến
hàng triệu km3, trên diện tích hàng trăm nghìn km2.
Giữa các pha, các thời kỳ của phun trào của một núi lửa, thường khơng có
phun trào dung nham nhưng đơi khi vẫn quan sát thấy phun khí, xuất hiện các
nguồn nước nóng, nước khống... Nếu thời gian này đủ dài, các sản phẩm phun
trào bắt đầu bị xói mịn, phong hóa, tạo điều kiện để con người tận dụng, khai
<i>2.3.3.5. Các sản phẩm phun trào núi lửa </i>
sau, phun trong điều kiện nhiệt độ thấp (< 100oC), các khí có thành phần chứa S,
H2S, NH3, CO2…
- Các sản phẩm lỏng: Thường gọi là dung nham, chính là dung dịch
macma đã bị thốt nhiều chất khí: Dung nham bazơ (phun ở 1100 - 1200oC) là
loại dễ di động, nguội nhanh thường tạo nên các dạng địa hình như vòm thoải,
cao nguyên; Dung nham axit (700 - 1000oC); Dung nham a xít qnh, khó di
động, nguội chậm và thường tạo các dạng địa hình tương phản, các nón núi lửa.
- Các sản phẩm rắn: Các sản phẩm này khi phun lên mặt đất thường gắn
với phun nổ, tạo các khối vật chất có kích thước khác nhau từ to như bom núi
lửa, cuội tảng núi lửa đến tro núi lửa. Các sản phẩm rắn được phun cao, bay xa
có thể đến hàng ngàn km.
Ví dụ: ngày 16/9/1991, một lượng tro bụi hạt li ti màu trắng đực được
phun từ ngọn núi lửa Pinatubo (Phillipines) đã rơi xuống khắp Miền nam Việt
Nam và Campuchia theo các trận mưa do ảnh hưởng của cơn bão Yunya.
<i>2.3.3.6. Vài nét về phun trào núi lửa trên thế giới và Việt Nam </i>
* Hoạt động núi lửa trên thế giới: Người ta đã từng biết đến sự hoạt động
phun trào của trên 4500 núi lửa, hiện có khoảng 550 núi lửa đang hoạt động.
Các hoạt động phun trào núi lửa trên thế giới tập trung dọc theo các đới xung
yếu, có chế độ địa động lực nội sinh hoạt động mạnh mẽ.
* Hoạt động núi lửa ở Việt Nam:
- Hoạt động phun trào núi lửa vào Neogen - đầu đệ tứ (khoảng 15 triệu - 2
triệu năm trước đây) tập trung vào các vùng: Điện Biên, Phủ Quỳ – Nghệ An;
Vĩnh Linh – Cồn Tiên (Quảng Bình) – Dốc Miếu (Quảng Trị): vùng Tây
Nguyên.
- Hoạt động phun trào núi lửa trong giai đoạn hiện đại: Các hoạt động
phun trào chỉ diễn ra tại phần thềm lục địa ven bờ biển Nam Trung Bộ, dưới
dạng ngầm, thường liên quan tới các trận động đất yếu đến trung bình.
Trước đợt hoạt động của núi lửa Hịn Tro, 8/2/1923 tàu qn sự hồng
gia Anh khi đi ngang qua vùng này còn phát hiện 1 hòn đảo cách Hòn Tro
khoảng 3,7 km đang phun trào cao đến 12 m, xung quanh nước xốy rất mạnh.
Ngồi đợt hoạt động năm 1923, theo tài liệu lưu trữ, tại khu vực Hòn Tro
và xung quanh, động đất và núi lửa còn xảy ra 2 lần cuối thế kỉ XIX và sớm hơn.
Các nhà khoa học cho rằng, núi lửa Hịn Tro cũng có thể hoạt động trở lại. Do
vậy, việc thiết lập các trạm quan trắc địa trấn ở đảo Phú Qúy, gần cụm núi lửa
Hòn Tro rất quan trọng nhằm theo dõi sự xuất hiện của núi lửa qua những trấn
động trước khi phun trào là rất cần thiết. Núi lửa còn phân bố ở Định Quán, Đà
Lạt, Xuân Lộc, đảo Phú Quốc, Phú Q, Hịn Tranh, Lý Sơn, Đăk Lăk… Ngồi
ra, ở Việt Nam cịn một số dạng địa hình liên quan như hồ (hồ Tơ Rưng - Gia
Lai) hay các cao nguyên bazan là sản phẩm phong hóa từ đá bazan hình thành
sau núi lửa phun trào.
<i>2.3.3.7. Các tác hại chính của phun trào núi lửa </i>
- Dung nham nóng chảy trào trên mặt đất, với lượng lớn, tốc độ nhanh,
phủ trên diện rộng có thể huỷ diệt các sinh vật, biến cải môi trường sống vùng
chịu ảnh hưởng của núi lửa.
- Phủ lấp, làm hư hại các cơng trình xây dựng, tài sản của con người...
- Gây cháy rừng, biến đổi môi trường sinh thái, ảnh hưởng đa dạng sinh
học, có thể làm tăng tính nhạy cảm đối với xói mịn đất, lũ lụt, trượt lở đất...
- Gây ô nhiễm môi trường, có thể làm thời tiết thay đổi trong một thời
gian nhất định và có thể làm gia tăng tốc độ gây độc hại đối với con người (NH4,
Se, F…). Đơi khi ảnh hưởng của các khí độc xuất hiện rất nhiều năm sau khi núi
lửa ngừng hoạt động.
Tuy nhiên hoạt động phun trào núi lửa cũng có những ảnh hưởng tích cực
đối với con người như: tạo nên danh lam thắng cảnh – du lịch; Cung cấp nhiệt
năng; Tạo nên khoáng sản và kim loại quý; Tạo độ phì cho đất, làm đất đai màu
mỡ....
<i>2.3.3.8. Dự báo, ứng xử, giảm thiểu tác hại do phun trào núi lửa gây ra </i>
* Dự báo về hoạt động phun trào núi lửa
+ Các vùng đã từng có hoạt động phun trào núi lửa trong kỷ đệ tứ, đặc
biệt từ khoảng 10.000 năm lại đây.
+ Các đới đứt gãy kiến tạo hiện đại, là ranh giới giữa các mảng quyển,
giữa các đới kiến trúc nội mảng, đặc biệt đã từng có biểu hiện phun trào.
- Dự báo khu vực chịu ảnh hưởng của phun trào núi lửa:
Phạm vi chịu ảnh hưởng của mỗi kỳ phun trào, của từng núi lửa phụ thuộc
vào các yếu tố: khối lượng sản phẩm, áp lực phun trào, sản phẩm các loại cũng
như thời gian phun; Địa hình và điều kiện thời tiết của vùng, căn cứ vào đó
người ta có thể dự báo khả năng chịu ảnh hưởng của núi lửa cũng như phạm vi
- Dự báo các bước diễn biến trước thời gian phun trào: Công việc này chỉ
tiến hành sau khi biết rõ đới tập trung núi lửa, thậm chí vị trí phun, dạng phun,
chu kỳ phun… Đây là công việc mang tính mơ phỏng, dự báo nhưng rất có ý
nghĩa, giúp giảm thiểu tác hại của loại tai biến này đối với cộng đồng.
* Thông tin, quy định, hướng dẫn về ứng xử, giảm thiểu tác hại của phun
trào núi lửa:
Chương 3
TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC QUÁ TRÌNH
ĐỊA ĐỘNG LỰC NGOẠI SINH
3.1. Tai biến môi trường do các quá trình địa động lực ngoại sinh
<i>3.1.1. Những vấn đề chung về địa động lực ngoại sinh </i>
Động lực ngoại sinh được gây ra do trọng lực của trái đất và năng lượng
mặt trời. Đây là một hệ thống các quá trình rất phức tạp, bao gồm từ hoạt động
phong hóa, trọng lực rửa trơi, bóc mịn, dịng chảy, Karst, gió, hồ, đầm lầy,
biển…
<i>3.1.1.1. Hoạt động phong hóa </i>
Là quá trình phá hủy đá, tạo ra trầm tích. Đây là một mắt xích của vịng
tuần hồn vật chất trên trái đất. Vỏ phong hóa là tầng sản phẩm biến đổi của đá
gốc trên bề mặt trái đất. Phần trên đó thường hình thành lớp thổ nhưỡng có độ
cứng, độ bền vững kém nhất trong lớp vỏ phong hóa nên khả năng chống xói
mịn kém nhất. Đặc tính của đá mẹ có ảnh hưởng quyết định đến đặc tính của
Kết quả của hoạt động phong hóa đã cho lớp thổ nhưỡng với các loại đất
có thành phần cơ giới khác nhau (từ cát tơi tới sét nặng…)
<i>3.1.1.2. Hoạt động trọng lực </i>
Có thể xảy ra với các mức độ nhanh, tương đối nhanh và chậm.
- Hoạt động trọng lực xảy ra nhanh với các dạng: đổ khối, đổ vụn trên
sườn có độ dốc lớn (35 - 45 độ) gần các đỉnh núi. Quá trình xảy ra nhanh, khơng
ổn định, nguy hiểm, phổ biến nhưng diện phân bố không lớn.
- Hoạt động trọng lực xảy ra tương đối nhanh là hoạt động trượt khối,
trượt lở, trượt chảy, trượt trôi. Các hoạt động này thường xảy ra ở nước ta và gây
nên sự cố. Đặc biệt trong điều kiện rừng bị tàn phá, mưa lớn.
của trọng lực, chúng dịch chuyển xuống phía dưới cùng với việc chúng dồn ép,
đẩy phần phong hóa ở phía dưới. Vào mùa ít mưa, thể tích tầng phong hóa của
chính nơi có chiều dày lớn đó bị co ngót, tạo ra lực hướng tâm, lơi kéo phần
phong hóa ở phía trên sườn xuống. Cứ như vậy, các sản phẩm phong hóa bị dịch
chuyển rất từ từ về phía sườn dưới và tạo ra bề mặt gợn sóng.
<i>3.1.1.3. Hoạt động rửa trơi và bóc mịn </i>
- Hoạt động chảy tràn và rửa trôi bề mặt: Là quá trình chiếm ưu thế ở các
sườn thoải gần đỉnh, trên các đồi, cao nguyên. Quá trình này theo năm tháng tạo
ra sự rửa trôi bề mặt cùng với sản phẩm tích tụ của nó.
- Hoạt động bóc mịn tổng hợp: Là quá trình động lực tự nhiên, có tác
- Hoạt động xói rửa: Phát triển ở phần giữa và dưới của các sườn núi, đồi
và trên các bề mặt nghiêng của đồng bằng cao. Bắt đầu xuất hiện các mương xói
nhỏ trên đất trống khi thảm thực vật bị tàn phá.
- Hoạt động của dòng chảy tạm thời: Khi tập trung các dòng chảy lại
thành dòng chảy lớn hơn, chảy tương đối ổn định trong các mương xói. Vào
mùa mưa, các dịng chảy tạm thời xói mịn các sản phẩm phong hóa và tầng thổ
nhưỡng ở trên sườn, cắt xẻ theo hình chữ V. Lịng mương xói tích đọng ngổn
ngang các tảng, vụn thô, vụn mịn khác nhau.
- Hoạt động của dòng chảy thường xuyên (sông, suối): Thường gồm 3
phần: thượng lưu (chủ yếu hoạt động xâm thực sâu – khi tốc độ dòng chảy lớn
và đáy sơng cịn cao hơn mực xâm thực cơ sở khá nhiều), trung lưu (xâm thực
sâu và vận chuyển vật liệu) và hạ lưu (xâm thực ngang – khi sông đã đạt trắc
diện cân bằng, sơng xói mịn bờ để mở rộng lịng, uốn khúc và tích tụ vật liệu).
<i>3.1.1.5. Hoạt động Karst </i>
Xảy ra phức tạp trên địa hình có núi đá vôi (với thành phần chủ yếu là
CaCO3). Đá vơi dễ bị hịa tan trong nước tự nhiên. Các hang động Karst là kết
<i>3.1.1.6. Hoạt động của gió </i>
Các hoạt động chính là thổi mịn (hạt bụi, cát, sỏi dăm nhỏ), vận chuyển
(đất, cát, có thể tạo ra các cồn cát theo chiều gió) và tích tụ trầm tích gió (cồn cát
và đất lót ở rìa sa mạc). Trầm tích gió thường bở, gắn kết kém.
<i>3.1.1.7. Hoạt động của nước dưới đất </i>
Đây là một loại động lực ngoại sinh đáng chú ý về các mặt: Rửa rũa (hịa
tan có chọn lọc các ion, các hợp chất linh động, để lại bộ khung kém linh động);
Hịa tan, xói ngầm (tạo các lỗ rỗng, các khe rãnh ngầm); Vận chuyển và tích tụ
vật liệu, các chất hịa tan bị kết tủa lại (CaCO3, SiO2.nH2O…). Các sản phẩm kết
tủa có thể gắn kết các hạt vụn thành cuội kết, dăm kết, cát kết).
<i>3.1.1.8. Hoạt động của biển </i>
Tác động của biển được thực thi nhờ sóng biển, thủy triều và dòng chảy
dọc bờ. Các biểu hiện chủ yếu của tác động là xói lở bờ (sóng ở các mũi nhơ ra),
vận chuyển và tích đọng vật liệu.
Nhiều nghiên cứu khẳng định rằng với nguyên nhân chủ yếu là do biến
đổi khí hậu, mực nước biển sẽ dâng cao dần trong thế kỉ 21. Mực nước biển
đang dâng với tốc độ trung bình là 1,8 mm/năm trong thế kỷ qua và gần đây.
Trong kỷ nguyên sử dụng vệ tinh đo độ cao để xác định mực nước biển, từ năm
1993 đến 2000, mực nước biển đã dâng vào khoảng 2,9-3,4 ± 0,4-0,6 mm/năm.
Mực nước biển dâng do hiện tượng ấm lên toàn cầu - mà phần lớn là từ những
tác động của con người. Điều này sẽ làm tăng mực nước biển trong tương lai về
lâu dài. Nhiệt độ gia tăng làm nước giãn nở, đồng thời làm tan chảy các sông
băng, núi băng và băng lục địa khiến lượng nước bổ sung vào đại dương tăng
lên. Dự kiến, nhiệt độ tăng sẽ tiếp tục là nhân tố chủ yếu làm mực nước biển
dâng trong thế kỷ tới. Mực nước biển dâng cao đã và đang là một thách thức rất
lớn đối với nhiều hệ sinh thái, đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên, ảnh
hưởng sâu rộng đến nhiều mặt trong đời sống xã hội của con người trên qui mơ
tồn cầu.
<i>3.1.2. Một số loại tai biến môi trường sinh ra do các quá trình địa động lực </i>
<i>3.1.2.1. Trượt lở đất </i>
<i>a. Khái niệm chung: </i>
<i>suối (erosion) hay dọc bờ biển (abrasion) có liên quan trực tiếp với các quá trình </i>
địa động lực ngoại sinh, thường xảy ra tại các địa hình sườn, các bờ sơng, suối,
ven biển… Trong nhiều trường hợp đã gây ra sự cố, hiểm họa cho con người. Có
thể xếp các q trình này vào các tai biến loại cấp diễn. Trong tự nhiên, các hiện
tượng: trượt lở, đổ lở hay xói lở có thể diễn ra nhiều đợt, nhiều pha song mặc dù
đã được báo trước về khả năng có tai biến, hiểm họa này khi xảy ra luôn mang
tính bất ngờ đối với cộng đồng ở khu vực đó.
- Trượt lở đất là thuật ngữ được sử dụng để chỉ sự chuyển động của các
khối đất đá trên mặt đất hay gần mặt xuống phía dưới sườn dốc.
- Trượt lở đất là các chuyển động ảnh hưởng tới các taluy và các sườn dốc
tự nhiên. Chúng có thể gây nên những thiệt hại nghiêm trọng cho nhà cửa và các
cơng trình xây dựng, với một ảnh hưởng kinh tế rất nhạy cảm và đôi khi gây nên
cả những thiệt hại về người (Thái Anh Tuấn).
<i>b. Phân loại trượt lở đất </i>
(1) Trượt lở và đổ lở
(Rocksfall):
Về cơ chế di chuyển vật
chất của hai loại này có khác
nhau song chúng thường cùng
xuất hiện trong thực tế, nhiều
- Thể trượt: là khối đất đá
bị dịch chuyển tách khỏi nền
gốc (đới sinh trượt).
- Gương trượt: là bề mặt
chia tách phân nền gốc - đới sinh
trượt với thể trượt, thường tạo các mặt lõm trên sườn địa hình diễn ra trượt lở.
Trên các sườn dốc, hiện tượng này thường kéo theo hiện tượng trượt đổ.
Theo đó, dưới tác dụng của trọng lực, đất đá rơi tự do ngay sau khi tách khỏi nền
đá gốc (đới sinh trượt). Sườn có độ dốc càng lớn, khả năng trượt đổ càng cao.
Gương
trượt
Các thể
trượt
Đới sinh
trượt
Địa hình
sườn trước
khi trượt
Ngoài ra trong thực tế còn gặp loại trượt chảy, khi đới sinh trượt tồn tại các
mạch nước ngầm hoặc trong mùa mưa bão ở vùng nhiệt đới. Lúc này thể trượt là
lớp đất đá bở rời bão hòa nước tạo thành các dòng bùn di động linh hoạt hoặc
trong trường hợp các tầng đất sét pha và nước chưa đủ độ tạo trượt chảy cũng có
thể xuất hiện loại trượt trườn. Khi vật liệu là các mảnh đá vụn, khô, chân sườn
thoải, rộng sẽ gặp loại trượt trườn phân tán.
Tại các vùng địa cực, hàn đới, trên sườn núi cao thường gặp hiện tượng
trươt, lở tuyết gây hiểm họa nặng nề với cư dân địa phương.
Có thể thấy, quan hệ giữa lực gây trượt và lực kháng trượt của quá trình
trượt lở đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: độ nghiêng của mặt trượt, độ kết
dính, ứng suất kháng trượt, hệ số ma sát của đất đá vùng trượt. Ngồi ra, nó cịn
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: thành phần khoáng thạch, độ chứa nước,
tính chất cơ lý, mức độ phong hóa của đất đá, thảm thực vật che phủ…
(2) Xói lở:
Hiện tượng này thường diễn ra dọc các bờ sông, suối, hồ, ven bờ biển…
liên quan đến sự gia tăng quá trình
xâm thực nhanh của dòng chảy.
Dọc bờ biển, hiện tượng xói lở liên
quan rất lớn tới hiện tượng triều
cường và quá trình dâng cao của
mực nước biển so với đường bờ.
Trong điều kiện mực nước
không đồng đều nên hiện tượng xói lở bờ biển không diễn ra rộng khắp trong
cùng một thời gian mà chỉ gặp ở từng vùng, từng khu vực cũng như với các mức
độ khác nhau.
Hiện tượng xói lở bờ biển diễn ra rộng rãi, với quy mơ tồn cầu, có
ngun nhân khơng phải do kiến tạo mà liên quan tới vận động của mực nước
Hình 3.2. Triều cường xâm thực gây xói lở bờ
biển dâng cao, gắn với sự biến đổi khí hậu của trái đất. Trong Kỷ Đệ tứ đã từng
diễn ra một số thời kỳ như vậy. Sự gia tăng hiệu ứng nhà kính trong những năm
gần đây và hiện nay cũng đang tác động làm mực nước biển dâng cao, góp phần
đẩy mạnh q trình xói lở bờ biển.
Theo nhiều nhà Khoa học trên thế giới, mực nước biển đang dâng với tốc
độ trung bình là 1,8 mm/năm trong thế kỷ qua. Nhiệt độ gia tăng làm nước giãn
nở, đồng thời làm tan chảy các sông băng, núi băng và băng lục địa khiến lượng
nước bổ sung vào đại dương tăng lên. Dự kiến, nhiệt độ tăng sẽ tiếp tục là nhân tố
chủ yếu làm mực nước biển dâng trong thế kỷ tới.
Xói lở bờ sông, suối, hồ, biển… là hiện tượng tự nhiên diễn ra ở nhiều
thời kỳ, trong lịch sử phát triển trái đất, gắn với quá trình phát triển của hành
tinh. Các hiện tượng này chỉ trở thành tai biến tiềm ẩn khi có sự xuất hiện của
con người trên hành tinh và từng nơi, từng lúc đã gây ra hiểm họa, đe dọa tính
Với sự bùng nổ dân số, đặc biệt sự tập trung dân cư và đô thị hóa gia tăng
trong nhưng thập kỷ gần đây, trong đó có xu hướng tập trung ở các đới ven biển
và đại dương cũng như dọc các triền sơng ở nhiều nước trên thế giới thì nguy cơ
và mức độ tác động của các loại tai biến này đối với con người ngày càng lớn và
càng đáng được quan tâm.
(3) Sụt lở:
Các hiện tượng sụt lở mang tính tai biến tiềm ẩn và trong những hoàn
cảnh nhất định sẽ trở thành hiểm hoạ đối với con người. Liên quan đến các quá
trình địa động lực tự nhiên như sụt lở, sập lở hang động Karst, ngoài ra còn liên
quan đến tác động nhân sinh như sập lở, sụt lở hầm lò khai thác mỏ ngầm hoặc
các cơng trình xây dựng ngầm chưa đảm bảo an tồn về quy trình kỹ thuật (xem
hình 3.3).
Trên thực tế, có những hiện tượng sụt lở có thể diễn ra chậm chạp nên
thường tránh được những sự cố hoặc kịp phịng tránh để vụ việc khơng hoặc ít
gây thiệt hại cho cộng đồng trong khuôn khổ cho phép. Tuy nhiên, đây vẫn có
thể được coi là tai biến ở dạng tiềm ẩn là chủ yếu và thể hiện dưới dạng tai biến
trường diễn.
Trong việc đào hầm khai thác mỏ ngầm, hầm tuynen… đặc biệt các hầm
quy mô lớn, tách biệt, luôn xuất hiện trường ứng suất cục bộ, với xu thế đất đá
bị dồn về phía khơng gian trống khi đào. Ứng suất ép cực đại tác động lên phần
trần và sàn của hầm do chính tải trọng đất đá phần trên cũng như áp lực cân
bằng vốn có của mơi trường địa chất tại đây, tác động từ dưới sâu lên bề mặt.
Nếu không có các cơng trình chắn đỡ hoặc có nhưng chưa phù hợp khơng đúng
quy trình kỹ thuật, hầm, tuynen sẽ bị rạn nứt, trước hết tại trần, tạo nên các
Trong những năm gần đây, thuật ngữ “hố tử thần” cũng trở nên quen
thuộc với con người. Theo các chuyên gia, Hố tử thần là hiện tượng sụt lún địa
chất ở những khu vực có cấu trúc địa chất đặc biệt: trên nền đất mềm, kém ổn
định, dễ bị xói mịn hay có độ rỗng dưới lịng đất nên có thể bị sụt lún bất cứ lúc
nào. Hố tử thần có thể xuất hiện ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào mà con người khó
có thể ngờ tới. Với tốc độ sụt lún kinh hoàng, hố tử thần có thể xuất hiện trước
<i>mắt chúng ta "chỉ trong nháy mắt". </i>
<i>c. Nguy cơ thiệt hại do tai biến trượt lở, xói lở </i>
Các hiện tượng trượt lở, đổ lở, sụt lở, xói lở... xảy ra khá phổ biến trong
thiên nhiên, song trước đây chúng chưa được quan tâm đúng mức dưới góc độ
tai biến. Một phần vì nhiều trường hợp xảy ra tại các vùng khơng có người dân
sinh sống, chưa có các cơng trình xây dựng có giá trị cao, phần khác trượt lở,
xói lở diễn ra song hành cùng các quá trình tự nhiên khác như động đất, mưa
lũ… Tuy nhiên trong những thập kỷ gần đây, hiện tượng trượt lở đất các loại
được biết đến nhiều hơn vì những thiệt hại do chúng gây ra đối với con người
và môi trường.
(1) Trên thế giới:
Tai biến trượt lở đất các loại là hiện tượng xảy ra khá phổ biến tại những
vùng đồi núi ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc biệt, ở các vùng thường xảy ra
động đất, núi lửa, nền địa chất khơng ổn định thì nguy cơ này có thể gây tai họa
lớn trên diện rộng.
Theo thống kê (P. Blaikie, 1994), chỉ vài năm đầu những năm 80 của thế
kỷ XX, các hiện tượng trượt lở liên quan tới các quá trình tự nhiên và tác động
nhân sinh gắn với việc xây dựng đã gây thiệt hại cho Hoa Kỳ về tài sản khoảng
1-2 tỷ USD. Tại Nhật Bản, thiệt hại do trượt lở đất trung bình hàng năm có thể
đạt tới 4 tỷ USD. Nhiều nước khác trong khu vực quanh bờ Thái bình dương
cũng bị nhiều thiệt hại do tai biến trượt lở đất nhưng chưa có số liệu thống kê.
Khu vực Địa Trung Hải cũng là nơi xảy ra nhiều vụ trượt lở đất, lở tuyết.
Ở Italia ước tính có khoảng trên dưới 1.000 trung tâm dân cư, đô thị nằm trong
vùng bị đe dọa bởi các tai biến trượt lở. Theo thống kê của Nngân hàng dữ liệu
Liên hợp quốc vào những năm 70 của thế kỷ XX, hàng năm Italia bị thiệt hại
khoảng 1 tỷ USD do trượt lở các loại gây ra.
Hiện tượng lở tuyết thường chỉ gặp ở các vùng cận cực, hàn đới, những
vùng băng tuyết song khá phổ biến và gây tác hại đáng kể. Chỉ riêng trên địa
phận Hoa Kỳ, với con số thống kê chưa đầy đủ, đã biết tới trên 10.000 vụ lở
tuyết, trong đó hàng trăm vụ đã gây thiệt hại đáng kể đối với cư dân. Theo số
liệu thống kê của NASA (9/2015), từ giữa năm 2007 tới năm 2015, thế giới đã
ghi nhận có hơn 25.000 người thiệt mạng do các vụ lở đất khắp nơi trên thế giới.
- Vụ trượt lở tầng hoàng thổ tại Kansu, Trung Quốc vào tháng 12 năm
1920, đã làm trên 200.000 người chết.
- Vụ trượt lở tại Kure, Nhật Bản vào năm 1945 làm chết khoảng 1.100 người.
- Vụ trượt chảy tạo dòng các tảng, mảnh, kết hợp lũ quét xảy ra vào năm
1949 tại Java, Indonesia đã tàn phá trên 400 ngôi làng, gây thiệt mạng trên 500
người.
- Vụ trượt lở đất đá tại Vaiont, Italia năm 1963, với lượng đất đá vào
- Vụ trượt lở, trượt chảy
tại Rio de Janerio, Brazil vào
năm 1966 làm chết 1.000 người
và vào năm 1967 làm chết 1.700
người.
- Trận lở đất xảy ra ở Hạt
Snohomish, bang Washington
hơm 22/3/2014 đã làm ít nhất 108
người vẫn cịn đang bị mất tích và
14 người thiệt mạng (tính đến
ngày 27/3). Các nhà chức trách
cho biết mưa lớn trong thời gian
gần đây chính là nguyên nhân gây ra
sự việc trên.
- Vụ lở đất kinh hồng sau những trận mưa lớn đã chơn vùi cả ngôi làng
Hobo Barik, huyện Agro, tỉnh Badakshan nằm ở phía Đơng bắc Afghanistan vào
khoảng 13h ngày thứ Sáu (02/5/2014). Đến ngày 04/5 đã xác định được 3 người
chết và còn 2.000 người mất tích. Ngồi ra, trận lở đất cũng chôn vùi khoảng
300 ngôi nhà (chiếm 1/3) trong làng. Badakhshan là một trong những khu vực
hẻo lánh của Afghanistan. Khu vực này từng phải hứng chịu vụ sạt lở nghiêm
trọng vào tháng 2/2010 khiến hơn 170 nạn nhân thiệt mạng.
- Tổng cộng 39 người được khẳng định là đã thiệt mạng và 7 người hiện
vẫn mất tích trong ngày 20/8 sau khi xảy ra hàng loạt các vụ lở đất và lụt do
mưa lớn (cơn mưa kỷ lục 217,5 mm đổ xuống trong 3 giờ, kể từ 1h30 sáng ngày
20/8/2014) nhấn chìm lên các khu vực dân cư ở quận Asakita, tỉnh Hiroshima,
sáng cùng ngày nhưng một quan chức thừa nhận việc này là quá muộn.
- Thảm hoạ trượt lở đất xảy ra ngày 1/10/2015 ở thị trấn Santa Catarina
Pinula, cách thành phố Guatemala khoảng 15km về phía đơng, san bằng khoảng
200 ngơi nhà. Đến ngày 10/10, đã xác định được 264 người thiệt mạng và cịn
khoảng 40 người mất tích.
- Vụ lở đất kinh hoàng diễn ra vào lúc 11h40' ngày 20/12 tại khu công
nghiệp Liễu Khê ở thôn Hồng Ao, khu Quang Minh, thành phố Thâm Quyến,
tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc đã khiến cho 33 tòa nhà bị đánh sập hoặc bị hư
hại ở nhiều mức độ khác nhau, trong đó có 14 tịa là xưởng sản xuất, 2 tòa văn
phòng, 1 tòa nhà ăn, 3 tòa ký túc và 13 tòa nhà được xây dựng tầm thấp. Tính
đến 16h ngày 21/12, số người mất tích trong vụ lở đất đã lên đến 91 người.
Nhiều vụ trượt lở đất dẫn đến cái chết cho hàng trăm người đã được thống
kê khá nhiều, tập trung tại các vùng núi thuộc vành đai Thái Bình Dương như
dãy Cordile Bắc Mỹ, Andơ Nam Mỹ, quần đảo Nhật Bản, Indonesia, tại khu vực
Địa Trung Hải như Italia, Thổ Nhĩ Kỳ, vùng núi Anpơ cũng như vùng núi
Hymalaya, Tây Tạng…
(2) Ở Việt Nam:
Trượt lở đất đá các loại là một trong những loại hình thiên tai phổ biến nhất
trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tại nước ta, vấn đề này đã được chú trọng
trong khoảng 15 năm gần đây khi loại tai biến này xảy ra thường xuyên hơn.
Theo tài liệu của Nguyễn Cẩn (2002), tháng 9 năm 1995 tại xã Thái Học,
huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xảy ra vụ trượt lở đất từ độ cao khoảng 1000 m,
Hiện tượng xói lở bờ biển cũng quan sát thấy ở nhiều nơi. Trong điều kiện
mực nước biển và đại dương dâng cao hơn như hiện nay, các quá trình này chắc
chắn sẽ gia tăng. Ngay tại phần ven bờ biển ứng với đồng bằng Bắc Bộ, xói lở
bờ biển diễn ra khá rõ tại vùng Văn Lý, Hải Hậu (Nam Định), tại đoạn Đồng
Châu (Thái Bình), tại cửa Nam Triệu, Cát Hải (Hải Phòng)... Tại cửa Nam Triệu,
các bãi triều bị xói lở, biển lấn bờ trung bình 5 - 7m/năm, một vài nơi tới hàng
chục mét/năm.
Hiện tượng xói lở dọc các triền sông cũng diễn ra khá phổ biến. Nhiều
trường hợp đã làm mất đất canh tác, mất nơi sinh sống của người dân ven các
dòng sông. Các vụ lở đất dọc các dòng chảy hệ thống sông Cửu Long, hiện
tượng xói lở ở bờ sơng Thu Bồn, đặc biệt tại vùng cửa sông, tiếp cận vùng đô thị
Hội An, xói lở diễn ra phức tập tại các triền sông Hồng, sông Đà… đã gây
những thiệt hại đáng kể tới cuộc sống, đất đai, tài sản của người dân ở những
vùng xảy ra trượt lở đất này.
Các vụ sập hầm lò khai thác ngầm cũng thỉnh thoảng xảy ra, một vài nơi
gây ra thiệt hại về người, cịn nhìn chung các hoạt động này gây tác động tiêu
cực đến môi trường tự nhiên, cấu trúc môi trường địa chất cũng như cảnh quan
môi trường.
(3) Các loại hình tác hại chính do trượt lở, xói lở, sập lở
- Làm mất diện tích canh tác đất nơng, lâm nghiệp, đất thổ cư.
- Phá hoại các cơng trình xây dựng, cơ sở hạ tầng liên quan đến vùng trượt.
- Tác hại đến sức khỏe và tính mạng của con người.
- Tác động làm gia tăng tính nhạy cảm của một số loại tai biến khác: rửa
trơi, xói mịn, suy thoái đất đai, lũ lụt…
<i>d. Các tác nhân gây trượt lở, xói lở </i>
Hiện tượng trượt lở, xói lở đất diễn ra khi có lực gây trượt lớn hơn lực
kháng trượt. Mối quan hệ này phục thuộc vào nhiều yếu tố như: sức hút trọng
trường tác động lên thể trượt, độ dốc mặt trượt, thành phần, cấu trúc, tính chất
cơ lý, hệ số ma sát bên trong của đất đá, độ chứa nước, mức độ phong hóa, độ
che phủ của lớp thảm thực vật, các điều kiện liên quan tới hoạt động kiến tạo
cũng như những tác động nhân sinh trực tiếp tác động đến vùng trượt lở…
- Biểu hiện kiến tạo hiện đại mạnh mẽ, đặc biệt các hoạt động phá huỷ
kiến tạo, là những tiền đề phát triển quá trình trượt lở. Các khu vực diễn ra các
hiện tượng trượt lở mạnh, phổ biến trên thế giới đều là những điểm xung yếu về
mặt kiến tạo trong giai đoạn hiện đại của vỏ trái đất.
- Hệ quả của động đất: Trong thực tế nhiều trận động đất đã gây ra hiện
tượng trượt lở mạnh mẽ, phổ biến trên diện tích rộng lớn, thậm chí gấp hàng
trăm lần của các vụ trượt lở riêng lẻ.
- Địa hình với độ dốc cao, đặc biệt tại các vùng núi trẻ thường xảy ra các
vụ trượt lở mạnh. Trên thực tế, nơi sườn dốc trên 150, với vật liệu bở rời, khơng
có thực vật che phủ, có chứa nước đã có khả năng xảy ra trượt lở từng bộ phận.
Cịn với nơi có sườn dốc trên 300, nhìn chung đều có nguy cơ trượt lở, đổ lở lớn.
- Tính chất vật lý của đất: đất đá trên sườn bở rời, độ gắn kết yếu, phong
hóa mạnh… là các yếu tố tác động gây trượt lở mạnh. Những vụ lở đất này diễn
ra khá phổ biến trên nhiều loại hình cảnh quan đồi, núi, dọc các triền sông, suối,
ven biển…
+ Lượng mưa lớn, độ thẩm thấu cao tạo nước ngầm, nước dưới đất các
loại là một yếu tố gây gia tăng trượt lở. Tại các nước vùng nhiệt đới ẩm, đất đá
trên bề mặt phong hóa mạnh, tơi xốp và có bề dày tầng đất cao, khi có mưa lớn,
nước thấm sâu, dễ gây hiện tượng trượt lở đất đá.
+ Lớp phủ thực bì có vai trị vơ cùng quan trọng đối với việc điều tiết
nguồn nước cũng như quá trình thủy văn của rừng, đặc biệt ở những vùng đầu
nguồn. Trên các sườn đồi, núi có độ dốc cao, nếu khơng có hoặc ít lớp phủ thực
vật, hiện tượng trượt lở diễn ra càng mạnh mẽ.
(2) Các yếu tố nhân sinh:
- Các hành vi của con người do thiếu hiểu biết hoặc vì lợi ích kinh tế…
nhiều khi đã thúc đẩy tai biến tiềm năng chuyển thành hiểm họa trượt lở.
- Do nhu cầu của sự mở rộng các điểm dân cư, kèm theo nhịp độ phát
triển kinh tế cao trong những thập kỷ vừa qua, việc xây dựng cơ sở hạ tầng như:
đường giao thông, cầu cống, các cơng trình cơng nghiệp các loại cũng được đẩy
mạnh, mở rộng quy mô, phân bố trên nhiều địa bàn có nhiều nguy cơ cao về tai
biến trượt lở, xói lở.
Theo Cooke (1984), trong số khoảng 3.000 vụ trượt lở đất đá đã biết tại
phía Nam California (Hoa Kỳ), có khoảng 25 - 30% số vụ là do hoạt động xây
dựng, làm đường giao thông đã xén, vạt các chân dốc, không đảm bảo an tồn
Việc xây dựng tại các vùng đồi núi, nhiều khi còn làm gia tăng tải trọng
trên địa hình sườn mà nhiều khi vốn là thể trượt tiềm năng. Sự quá tải đối với
mái sườn nghiêng, kèm theo sự bổ sung nguồn nước các loại của một trung tâm
dân cư là những tác nhân quan trọng thúc đẩy tai biến tiềm năng về trượt lở trở
thành các sự cố, hiểm họa hiện thực.
- Các hành vi phá rừng hoặc khai thác quá tải, ảnh hưởng lớn đến lớp
thảm thực vật, đặc biệt nơi có độ dốc cao, rừng đầu nguồn… đã làm gia tăng tai
biến trượt lở rõ rệt. Trong điều kiện của các nước vùng nhiệt đới nóng ẩm, mưa
mùa, phong hóa mạnh, việc làm mất rừng và suy thối rừng cịn làm gia tăng
tính nhạy cảm đối với các loại tai biến khác, diễn ra liên hoàn, cộng hưởng với
hiện tượng trượt lở như: bóc mịn, rửa trơi, suy thối đất, lũ ống, lũ quét…
<i>e. Ứng xử, giảm thiểu thiệt hại do tai biến trượt lở </i>
- Dự báo trượt lở:
Việc dự báo tai biến trượt lở cần hướng chủ yếu vào dự báo thời gian có
thể xảy ra tai biến, quy mô và khả năng gây thiệt hại do tai biến.
+ Dự báo về thời gian xảy ra tai biến là việc làm rất có ý nghĩa song là
việc khó đạt được kết quả chính xác nên thường chỉ được tiến hành trong một số
trường hợp rất thuận lợi.
+ Dự báo các đới có khả năng trượt lở và các mối liên quan không gian
với các điểm dân cư, trung tâm kinh tế - xã hội… thường được tiến hành phổ
biến ở nhiều nước và có ý nghĩa thiết thực trong việc hoạch định phòng tránh,
ứng xử với các loại tai biến nay cũng như là cơ sở lồng ghép vào việc hoạch
định chính sách quản lý mơi trường, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của
* Hiểu biết về các quá trình địa động lực nội sinh, ngoại sinh, tác động
nhân sinh liên quan.
* Nắm được các biểu hiện trượt lở các loại diễn ra trong quá khứ, hiện tại
và nguyên nhân của chúng.
* Nắm được hệ thống phương pháp nghiên cứu, đánh giá các yếu tố tác
nhân, điều kiện tự nhiên, nhân tạo, tác động gây ra trượt lở.
* Khảo sát đo đạc các yếu tố kiến trúc địa chất, biểu hiện tân kiến tạo,
kiến tạo hiện đại, kiến tạo địa chấn, trên các đới có biểu hiện trượt lở.
* Khảo sát, đo đạc địa hình, địa mạo, đặc biệt nơi có độ dốc cao, các vật
liệu liên quan đến đới trượt lở.
* Phân tích tính chất cơ lý đất, đá, cơ học nền móng liên quan đới sinh
trượt, vật liệu bề mặt có khả năng trượt tiềm ẩn…
* Phân tích tính chứa nước, độ thẩm thấu, nước ngầm liên quan… Cần kết
hợp phân tích các yếu tố khí tượng, thủy văn của vùng nghiên cứu.
* Khảo sát, đo đạc mức độ che phủ của thảm thực vật trên địa hình sườn
vùng nghiên cứu.
* Phân tích các yếu tố kỹ thuật liên quan đến các cơng trình xây dựng,
giao thơng… trực tiếp đến các địa hình sườn có khả năng gây trượt lở.
* Phân tích ảnh hàng khơng, ảnh viễn thám
* Phân tích hệ thống, tổng hợp
Sau khi đã tổng hợp các số liệu trên, có thể xây dựng bản đồ nhạy cảm
trượt lở vùng nghiên cứu. Bản đồ này phân định các đới, vùng có độ nhạy cảm
trượt lở ở các mức khác nhau. Các nhân tố chính: độ dốc, lượng mưa, vật liệu,
cấu trúc-kiến tạo, độ chứa nước, độ che phủ thực vật, tác động nhân sinh…
* Phân cấp nhạy cảm trượt lở: Tùy từng quốc gia, có thể phân số cấp nhạy
cảm trượt lở đất theo các cấp khác nhau.
Đây là dự báo trượt đất gần nhất trong tương lai. Cơ sở của nó dựa trên bản đồ
nhạy cảm về trượt đất, tài liệu lịch sử về mối quan hệ giữa trượt đất với lượng
mưa, động đất, phá rừng, những thay đổi về hệ thống thủy văn, mặt nước, nước
ngầm, cảnh quan…
Bắt đầu từ năm 2010, NASA đã phát hành một bản đồ về tình trạng sạt lở
đất trên toàn cầu. Cơ sở dữ liệu được tổng hợp từ các báo cáo về tình trạng lở
đất khắp nơi trên thế giới, bao gồm cả vị trí của nơi xảy ra lở đất và thậm chí là
loại mưa xảy ra tại khu vực đó. Vào tháng 9 năm 2015, NASA đã công bố bản
đồ trượt lở đất tồn cầu, trên đó thể hiện số vụ trượt lở đất do mưa và số lượng
người chết được báo cáo trên toàn thế giới trong giai đoạn 2007 – 2015. Trong
dữ liệu bản đồ thể hiện, các khu vực xảy ra sạt lở đất thường tập trung chủ yếu ở
Châu Á và Đông nam á, nơi có mùa mưa kéo dài và hay chịu tác động từ các
cơn bão nhiệt đới.
- Ứng xử vào giai đoạn trước trượt lở:
+ Công bố rộng rãi bản đồ dự báo các đới nhạy cảm mức độ khác nhau về
tai biến trượt lở, những dự báo rủi ro, tác hại cũng như thời gian, địa điểm cụ thể
+ Quy hoạch sử dụng mặt bằng, đất đai của khu vực, dựa trên các kết quả
nghiên cứu, điều tra đã có nhằm giúp cộng đồng có thể phịng tránh và phòng
chống nguy cơ trượt lở đất;
+ Hướng dẫn kỹ thuật phòng vệ, phòng chống nguy cơ trượt lở đối với
các cơng trình xây dựng các loại nằm trong đới nhạy cảm trượt lở;
+ Hướng dẫn kỹ thuật phòng ngừa các hoạt động phát triển kinh tế - xã
hội tác động làm gia tăng tính nhạy cảm tai biến trượt lở;
+ Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy trình, quy định về kỹ thuật
nhằm phòng vệ, ngăn ngừa, phòng chống trượt lở, kể cả xử lý vi phạm;
+ Tiến hành triển khai công tác bảo hiểm liên quan;
- Ứng xử ở giai đoạn sau trượt lở:
+ Cứu hộ, cứu trợ, tài trợ đối với các nạn nhân của hiểm họa trượt lở;
+ Cứu trợ ý tế, đảm bảo vệ sinh mơi trường, phịng các dịch bệnh xảy ra;
+ Thực hiện bảo hiểm xã hội;
<i>3.1.2.2. Lũ, lũ quét </i>
<i>a. Khái niệm và đặc điểm chung </i>
Lũ là một trong những biểu hiện về tai biến thiên nhiên, gây ra do các
dịng nước có lưu lượng lớn, động năng mạnh dị thường, thường diễn ra trong
phạm vi các kênh dẫn dòng chảy tự nhiên hay nhân tạo hoặc mở rộng trên các
địa hình trũng thấp kề với các dịng chảy, có sức phá hủy và khả năng gây thiệt
Lũ thuộc loại tai biến cấp diễn, có thể lặp lại nhiều đợt trong mùa mưa,
bão. Mỗi đợt đều diễn ra với tốc độ nhanh và bất ngờ. Hiện tượng này thường đi
kèm sau các trận mưa nguồn lớn hoặc liên quan đến các sự cố về đê, đập, hồ
chứa. Thời gian giữa các thời điểm đỉnh mưa, bão hoặc thời điểm xảy ra sự cố
kỹ thuật liên quan và thời điểm đỉnh lũ nhiều khi rất ngắn, đặc biệt là với các
trận lũ cận nguồn, trong vùng đồi núi hoặc tại vùng ven các địa hình cao vùng
cửa rừng... Lưu lượng của lũ tại đây, tùy theo nguồn nước và diện thu nước mưa,
bão có thể đạt đến trên vài ba nghìn m3/s.
Tùy đặc điểm hoạt động của lũ, thành phần vật chất trong chúng mà còn
phân biệt các loại khác nhau như:
- Lũ lụt:
Lụt là hiện tượng nước trong sông, hồ tràn ngập một vùng đất. Lụt cũng
có thể dùng để chỉ ngập do thủy triều, nước biển dâng do bão. Lụt có thể xuất
hiện khi nước trong sông, hồ tràn qua đê hoặc gây vỡ đê làm cho nước tràn vào
các vùng đất được đê bảo vệ. Trong khi kích thước của hồ hoặc các vực nước có
thể thay đổi theo mùa phụ thuộc vào giáng thủy hoặc tuyết tan, nó khơng có
nghĩa là lũ lụt trừ khi lượng nước này tràn ra gây nguy hiểm cho các vùng đất
như làng, thành phố hoặc khu định cư khác.
Lụt có thể xảy ra khi mực nước sơng dâng cao do lũ lớn làm tràn ngập và
phá hủy các cơng trình, nhà cửa dọc theo sơng.
- Lũ ống: Thường gặp tại các vùng núi, với các dòng chảy xiết khá hung
dữ trong lòng các dòng chảy đơn giản (khe suối, hẻm dạng chữ U hoặc chữ V).
- Lũ quét:
Lũ quét là một loại lũ có tốc độ mực nước lên rất nhanh khi một khối
lượng nước khổng lồ di chuyển nhanh từ địa hình cao xuống thấp. Trong thành
phần dịng lũ, ngồi nước ra cịn có một lượng lớn vật liệu như bùn, cát, đá tảng
và các vật liệu khác bị dòng lũ cuốn theo. Lũ quét thường diễn ra trên các kênh
dẫn tương đối rộng, tràn trên các địa hình thấp lân cận kênh chính, nhiều khi hợp
nhất các kênh nhỏ tạo diện tích đáng kể chịu sự tác động của trận lũ.
Lũ quét được hình thành được hình thành, phát triển phổ biến tại vùng địa
Hình 3.6. Bãi đá do lũ quét (04/9/2013) tại bản
hình đồi núi, địa hình thấp ven sườn các dải địa hình cao, khi một khối lượng
nước khổng lồ được mang đến bởi những cơn mưa dông, bão hay bão nhiệt đới
hoặc cũng có thể do một lượng lớn băng tuyết trên núi tan chảy một cách đột
ngột. Nó cũng có thể được hình thành khi đập bị vỡ hay xả lũ đập một cách vội
vàng với khối lượng xả hàng ngàn m3/s (số lượng để tạo thành lũ quét còn tùy
vào độ rộng và độ dốc của con sông bên dưới đập). Việc xác định vận tốc của
dòng lũ bùn, lũ quét tại chân sườn dốc nơi thoát nước dòng lũ là rất quan trọng.
Vận tốc dòng lũ bùn, lũ qt tại cửa thốt của dịng lũ tại chân sườn dốc,
được tính theo cơng thức: <i>v </i> <i>2 xg</i>. .sin
Trong đó: - v : Tốc độ dịng lũ ở cửa thốt chân sườn dốc (m/s);
- x : Chiều dài sườn dốc (m);
- độ dốc của sườn (độ);
- g : Gia tốc trọng trường.
Ví dụ: nếu = 300, x = 100m thì v = 31,3m/s. Với vận tốc này, một lớp
nước dày 5 mm có thể làm chuyển động những tảng đá có kích thước 2,6 m.
<i>b. Nguy cơ thiệt hại do tai biến lũ, lũ quét </i>
Ngoài việc gây thiệt hại nhiều mặt về mùa màng, tài sản, thậm chí cả tính
mạng con người, lũ lụt cịn gia tăng tính nhạy cảm của một số loại tai biến khác
như bồi đắp luồng lạch, các đầm ni trồng thủy hải sản, gây xói lở, trượt lở, tạo
tiền đề cho cho sự hình thành lũ quét. Có thể kể đến các tác hại về tài sản, mùa
màng, cây trồng, vật nuôi, nhà cửa, đường sá, đê đập, hồ chứa, cầu cống… Tác
động tiêu cực đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thậm chí tính mạng của
con người.
Trong thực tế, lũ quét nhiều khi diễn ra liên hồn với các loại hình tai biến
khác như: mưa bão, lũ lụt, trượt lở và đôi khi đi theo sau động đất, sóng thần…
gây những thiệt hại kinh hoàng cho con người.
- Trên thế giới:
Trong nhiều tài liệu của các nước, lũ lụt, lũ quét hay lũ bùn đá thường
được đề cập cùng với các loại ta biến liên quan mang tính tiền đề như: bão, trượt
lở, động đất… Ví dụ một số trận lũ lụt điển hình như sau:
Năm 1934, tại bang California, Hoa Kỳ đã xảy ra trận lũ lịch sử với dòng
bùn đất, mảnh vụn phá hủy 400 ngôi nhà và làm 40 người chết.
Năm 1983, tại miền Tây Nepal, một dòng lũ bùn đá đã cướp đi sinh mạng
Năm 2011, tại Trung Quốc, mưa lớn từ đầu tháng 6 giúp giảm bớt hạn
hán nghiêm trọng ở miền Trung và Nam Trung Quốc nhưng lại dẫn đến lũ lụt
khiến ít nhất 54 người chết và hơn 100.000 người phải sơ tán tại nhiều khu vực
của 12 tỉnh ở Trung Quốc. Đợt lũ lụt lần này phá hủy hơn 7.500 căn hộ và nhấn
chìm 255.000 ha đất trồng trọt, gây ảnh hưởng gần 5 triệu người và ước tính
thiệt hại lên đến 760 triệu USD. Đến ngày 9/6 còn khoảng 32 người bị cho là
mất tích. Vào cuối tháng 6 đến đầu tháng 7/2015, Trung Quốc lại xảy ra trận lũ
lụt lịch sử ở 20 tỉnh miền Nam khiến ít nhất 108 người thiệt mạng, 21 người mất
tích, hơn 44.000 ngơi nhà sập hồn tồn, thiệt hại ban đầu ước tính khoảng 5,6
tỷ USD (tính đến 03/7/2015).
Năm 2012, lũ quét hoành hành tại miền Nam nước Nga trong những ngày
đầu tháng 7 đã làm 140 người chết, trong khi tại Đông bắc Ấn Độ, lũ lụt do mưa
lớn kéo dài đã cướp đi mạng sống của hơn 120 người và khiến 6 triệu người
phải sơ tán.
Tháng 07 và tháng 8 năm 2015, những trận mưa lớn kéo dài đã gây ngập
lụt nặng nề ở Myanmar. Đến 10/8/2015, Chính phủ Myanmar cho biết có hơn
100 người chết, khoảng 1 triệu người phải sống trong cảnh ngập lụt, ước tính có
hơn 486.000ha đồng lúa đang bị ngập nặng, 174.000ha bị phá hủy hồn tồn.
Có thể thấy, hiện tượng lũ lụt, lũ ống, lũ quét diễn ra khá phổ biến trong
thiên nhiên, nhiều trường hợp diễn biến phức tạp, kết hợp với những tai biến
khác gây ra các thảm họa khủng khiếp cho con người.
- Ở Việt Nam:
Việt Nam với khí hậu nhiệt đới, mưa nhiều, diện tích đồi núi nhiều, địa
Ở nhưng khu vực như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long,
lũ lụt xảy ra thường xun. Phần lớn người dân ln có sự chuẩn bị về điều kiện
sống cũng như tâm lý sẵn sàng sống chung với lũ.
dòng bùn đá di chuyển nhanh, mạnh mẽ với lưu lượng lớn cũng vẫn xảy ra hàng
năm gây nhiều thiệt hại về tài ngun, mơi trường, của cải và cả tính mạng của
con người.
<i>c. Các tác nhân gây lũ, lũ quét </i>
- Nước chảy trên mặt đất do các trận mưa lớn hoặc các đợt mưa lớn kéo
dài bất thường.
- Thiếu tán rừng che phủ trên mặt đất. Nước mưa rơi xuống nhiều với
cường độ lớn góp phần đẩy nhanh quá trình bóc mịn, rửa trơi, đặc biệt nơi sườn
dốc. Điều này đã được ghi nhận từ thực tế ở nhiều địa phương khác nhau.
- Địa hình đồi núi, sườn dốc: là nhân tố quan trọng góp phần gia tăng tính
nhạy cảm đối với tai biến lũ.
- Q trình phong hóa tạo nên các tảng đất đá bở rời trên bề mặt địa hình
sừờn dốc, dễ dàng bị cuốn theo các dòng nước mặt.
- Các tác động nhân sinh, trong nhiều trường hợp đã góp phần thúc đẩy sự
gia tăng tính nhạy cảm các loại tai biến này.
+ Đốt phá rừng làm nương rẫy.
+ Canh tác nương rẫy trên địa hình sườn dốc không đảm bảo kỹ thuật.
+ Xây dựng nhà cửa, cơ sở hạ tầng tại các vùng chân địa hình sườn núi
khơng hợp lý… gây cản đường thốt nước của các dịng chảy hoặc làm giảm độ
thấm của đất do bê tơng hóa các diện tích thu nước.
<i>d. Ứng xử giảm thiểu thiệt hại do tai biến lũ, lũ quét </i>
Việc ứng xử giảm thiểu thiệt hại do tai biến lũ, lũ quét và các tai biến khác
cần được tiến hành từ trước khi xảy ra tai biến. Với các công việc chính như sau:
- Vấn đề dự báo lũ và lũ quét.
Nguyên lý chung để dự báo là dựa trên cơ sở điều tra, nghiên cứu các biểu
hiện liên quan đến các tác nhân gây lũ, lũ quét kể cả tự nhiên và nhân sinh.
Qua các kết quả nghiên cứu về mưa, bão ở các địa phương, biết được thời
gian mùa mưa, bão, chu kỳ lặp lại của những thời kỳ mưa bão lớn bất thường...
cho phép dự báo thời gian có thể xảy ra lũ lụt, lũ quét.
- Thông báo các kết quả nghiên cứu dự báo về khả năng có thể xảy ra lũ
về địa điểm, chu kỳ mưa hàng năm, chu kỳ nhiều năm, thời điểm từng đợt có thể
xảy ra lũ.
- Phổ biến, hướng dẫn cho cộng đồng các biện pháp nhằm giảm thiểu thiệt
hại do lũ gây ra, từ việc phòng tránh khỏi những địa điểm nguy hiểm đến các
biện pháp phòng vệ, phòng chống phù hợp.
- Nghiên cứu, lồng ghép các kết quả nghiên cứu dự báo tai biến, hướng
+ Trồng rừng, bảo vệ, tái tạo các dải rừng phòng hộ, đặc biệt ở các vùng
sinh thái nhạy cảm.
+ Quy hoạch các điểm dân cư, khu công nghiệp và các cơng trình khác
tránh các địa phận có nguy cơ về lũ, lũ quét.
+ Quy hoạch và xây dựng các cơng trình khơng ngăn cản sự lưu thơng các
dịng chảy khi có lũ, tránh khả năng gia tăng tích nước tạo lũ…
<i>3.1.2.3. Bão </i>
<i>a. Khái niệm: </i>
Bão là tên gọi một loại
tai biến cấp diễn, liên quan đến
chuyển động xóay nhanh, mạnh
dị thường của tầng khơng khí
cận mặt đất.
Nhìn chung bão ln có
gió di chuyển xoáy mạnh,
nhanh, tốc độ có thể đạt trên
30m/s. Bão tố thường kèm theo
mưa, bão tuyết kèm theo tuyết
rơi, bão cát có kèm theo cát
bay, cát lấp…
Bão thường phát sinh ở vùng biển nhiệt đới, trong lớp khơng khí nóng,
ẩm, bất ổn định cao. Do sự bất ổn định của khơng khí làm cho khơng khí nóng
bốc lên cao, khơng khí ở xung quanh dồn tới tạo thành vùng áp thấp. Nhiệt độ
ban đầu của khối khơng khí phải cao để khi bốc lên cao, tiềm nhiệt tỏa ra do
ngưng kết hơi nước sẽ duy trì sự chuyển động đi lên của cả khối khơng khí rộng
lớn. Ngồi ra, phải có một ngoại lực nào đó đẩy khơng khí bốc cao (lực này có
thể do hội tụ gió hoặc sự nóng lên ngẫu nhiên của khối khơng khí), phải có lực
coriolit đủ lớn làm khơng khí có thể chuyển động xốy. Ở vùng xích đạo khơng
khí rất nóng ẩm nhưng lực coriolit rất nhỏ hoặc bằng khơng nên khơng có bão.
Ở vùng vĩ độ cao, khơng khí lạnh, khơ, dịng thẳng khơng phát triển được nên
mặc dù lực coriolit đủ lớn nhưng vẫn khơng có bão.
<i>Chú ý: Cần phân biệt giữa bão và vòi rồng (tornado hoặc twister). </i>
<i> Một đám mây đen kịt </i>
đang trôi rất thấp, chợt từ chân
mây thòi ra chiếc vòi đen khổng
lồ từ từ hạ xuống mặt đất. Bụi,
cát, đá bị cuốn lên nối với vịi
mây, uốn éo, rít lên những tiếng
ghê rợn. Đó là Vịi rồng.
Vịi rồng là một xốy khí
nhỏ nhưng cực mạnh. Khi một
khối không khí nóng, ẩm di
chuyển ở dưới một khối khơng
khí lạnh khơ thì có khả năng
làm xuất hiện những xoáy khí.
Nếu xốy khí này có áp suất
trung tâm rất thấp nghĩa là vật chất trong tâm xốy rất lỗng thì khơng khí nóng,
ẩm ở phía dưới bị hút lên tạo thành một cái vịi chuyển động xốy rất mãnh liệt.
Đó là ngun nhân phát sinh vịi rồng.
Vịi rồng là một luồng gió xốy có sức phá hoại mãnh liệt, có thể nuốt
chửng những vật nó gặp trên đường đi, cuốn chúng lên cao, mang đi xa rồi ném
trả lại mặt đất ở rải rác các nơi. Tốc độ gió trong vịi rồng cịn lớn hơn gió bão,
có khi tới hàng trăm m/s. Vòi rồng phát triển từ một cơn dông, thường từ ổ dông
rất mạnh hay siêu mạnh, nên ở đâu có dơng dữ dội là ở đó có thể có vịi rồng,
song cũng may là nó rất hiếm.
Cũng có khi nó sinh ra từ một dải gió giật mạnh hay từ một cơn bão.
Người ta cho rằng khi khơng khí ở lớp bên trên lạnh đè lên lớp khơng khí nóng
ở phía dưới, khơng khí nóng sẽ bị cưỡng bức chuyển động lên rất mạnh, thế
nhưng khí vòi rồng xảy ra trên mặt nước thì thường lại khơng thấy đối lưu và
cũng không thấy sự khác biệt nhiệt độ giữa các lớp. Vì vậy, nguyên nhân vòi
rồng con người vẫn chưa hoàn toàn hiểu được hết.
Ở nước ta, vòi rồng thường xuất hiện vào các tháng mùa hè. Năm nào
cũng xảy ra hiện tượng này, song có năm nhiều, năm ít. Ở Bắc Bộ, vịi rồng, tố
lốc khơng những xảy ra trong các tháng mùa hè, mà đặc biệt thường hay xảy ra
vào các giai đoạn chuyển tiếp từ đông sang hè (tháng 4, tháng 5), mỗi khi có một
đợt khơng khí lạnh ảnh hưởng tới. Ở Nam Bộ số lần xảy ra vịi rồng ít hơn ở Bắc
Bộ và Trung Bộ.
<i>b. Nguy cơ thiệt hại do tai biến bão tố gây ra </i>
Ngoài các tác hại do sức mạnh cơ học của gió bão, lượng nước mưa lớn do
Sức tàn phá của bão tố phụ thuộc vào cấp độ mạnh của từng trận bão,
được thể hiện qua các thông số như : áp suất vùng tâm bão, tốc độ gió bão, mức
dâng của sóng biển… Theo Oliver (1984) chia bão tố thành 5 cấp với các
ngưỡng thông số nêu trên khác nhau .
Trong thực tế trên trái đất tồn tại những khu vực, đới có mật độ bão cao
và tập trung hơn những nơi khác. Các trận bão tuyết tập trung chủ yếu tại các
khu vực hàn đới vĩ độ cao và các vùng cực trái đất. Các trận bão cát tập trung
chủ yếu tại các hoang mạc, sa mạc. Còn các trận bão, lốc nhiệt đới tập trung trên
các vùng biển, đại dương như khu vực Tây thái bình dương (Nhật, Philipin,
Băng ladet, Đới ven bờ biển Trung Quốc, Việt Nam, Úc); Ấn Độ dương (đới ven
bờ phía đơng châu Phi), Khu vực Caribe thuộc Đại tây dương, bờ biển Hoa Kỳ
kể cả một phần bờ Đơng Thái bình dương kề vùng California…
Hàng năm các trận bão trên thế giới gây thiệt hại về tài sản hàng tỷ đô la,
làm chết khoảng 30.000 người. Trong đó khoảng 80% do các trận bão nhiệt đới.
Trong những thập kỷ gần đây, có xu hướng tăng cao mật độ dân cư tại các
đới ven bờ biển. Do đó số người phải chịu ảnh hưởng của bão tố có xu hướng
tăng lên.
Một số trận bão điển hình, gây nhiều thiệt hại về người và của cải trên thế
giới trong những năm gần đây như sau:
hầu như bị mưa bão và nước biển dâng nhấn chìm với 4/5 diện tích ngập nước.
Bão Haiyan được biết đến ở Philippines với tên gọi bão Yolanda, hay cơn
bão số 14 ở Việt Nam, là một trong số những xoáy thuận nhiệt đới mạnh nhất
từng được ghi nhận. Cơn bão đã tàn phá một phần Đông Nam Á, đặc biệt là
* Ở Việt Nam : Việt Nam là một trong những quốc gia nằm trong khu vực
thường xuyên xảy ra bão. Ở nước ta, bão phát sinh từ tháng 5 đến tháng 12. Mùa
bão sớm nhất ở vùng bờ biển phía Bắc, càng vào phía Nam, mùa bão càng muộn
dần. Bão thường phát sinh từ hai nơi: Biển Đông và vùng biển Tây Thái bình
dương. Bão di chuyển vào Việt Nam thường đi theo hướng Tây, Tây Bắc. Bão ở
Việt Nam thường gây mưa to, gió lớn, tàn phá mùa màng, có thể gây lũ lụt cho
nhưng nơi mà bão đi qua. Gió bão có thể làm gãy cành cây, làm đổ cột điện, tốc
mái nhà gây thiệt hại về nhà cửa. Biển động rất mạnh... gây thiệt hại lớn về tài
nguyên, của cải và cả tính mạng con người.
Việc dự báo về khả năng, thời gian xảy ra, hướng và tốc độ di chuyển của
bão là rất cần thiết, có ý nghĩa rất lớn để con người có biện pháp phịng tránh,
phịng vệ, giảm thiểu các thiệt hại do chúng gây ra.
Trong dự báo có thể tiến hành theo các hướng như dự báo các vùng
thường xuyên có khả năng bị bão đổ bộ, hướng gió chủ đao.
Hiện nay người ta đã có thể xác định được các vùng mắt bão khá chính
xác cũng như dự báo được phạm vi bão có thể đổ bộ trong từ 50 – 100 km.
<i>d. Ứng xử, giảm thiểu thiệt hại do bão tố </i>
Việc ứng xử này được định hướng tập trung vào các cơng việc chính sau :
- Thông báo các tin về sự xuất hiện, tọa độ, hướng di chuyển, tốc độ, cấp
- Tiến hành cứu hộ, cứu trợ, giải quyết các hậu quả sau bão.
Về lâu dài, cần thực hiện các định hướng sau:
- Tiến hành bảo hiểm đối với các cơng trình xây dưng, tài sản, sức khỏe,
tính mạng con người… tại các khu vực thường xảy ra bão.
Có thể tham khảo kinh nghiệm phịng chống bão của người dân như sau :
Trước khi bão đến
- Theo dõi sát thơng tin khí tượng thủy văn về hướng bão và tọa độ bão
đang vào địa phương mình là điều tối quan trọng.
- Chuẩn bị rào chống che chắn cửa kính, cửa sắt kéo (đều có thể bị tàn phá
cho dù nhà không bị sập). Lấy bao tải cát 20kg chặn lên mái tôn (cách nhau
0,5m/bao) trên các địn tay và nhất là rìa mái dọc và ngang của mái tơn, nếu cần
thì dùng dây cáp chồng qua mái tôn và neo cọc xuống đất, cáp chằng cách nhau
2m có 1 sợi.
- Tích trữ nước ngọt càng nhiều càng tốt, nhà nào có bồn inox trên mái
phải cho nước vào đầy bồn, chuẩn bị thực phẩm và đèn cầy, đèn dầu vì trước và
sau bão sẽ bị mất điện, lâu hồi phục. Chuẩn bị thuốc men đầy đủ vì trước và sau
bão có mưa gây lụt và nước ô nhiễm gây dịch bệnh.
Trong bão
- Chọn chỗ an tồn trú thân; khơng ra ngồi để tránh bị cây đè, gió quật
ngã hay tơn bay chém vào người.
- Khi tâm bão đến thì trời bỗng lặng, nhưng chốc lát gió lại nổi lên cuồng
phong và đổi hướng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng hơn, vì thế sau vài giờ bão đi
qua mới nên rời chỗ trú ẩn để khắc phục hậu quả.
Sau bão
- Ăn chín uống chín, cẩn thận khi ăn rau sống.
- Nhiều bà con xem thường khi trước lúc bão đến nửa ngày hay 1 ngày trời
quang mây tạnh nên càng khinh thường, vì vậy khi bão đến không trở tay kịp.
PHÁT HIỆN, THEO DÕI BÃO
Từ những năm đầu của thế kỷ 20, bão được phát hiện và theo dõi thơng
qua việc phân tích các bản đồ thời tiết dựa trên các số liệu khí áp, gió, mây,
mưa... thu nhận được từ lưới trạm quan trắc khí tượng ven bờ biển, trên các hải
đảo và tàu biển trên các khu vực rộng lớn hoặc toàn cầu.
các ảnh mây đen trắng hoặc ảnh mầu có độ phân giải cao bao trùm toàn bộ trái
đất, các cơn bão có thể được phát hiện ngay từ khi chúng mới hình thành ở giữa
đại dương cách xa đất liền hàng ngàn km. Ngoài ra, khi bão cách bờ biển vài
trăm km, rađa thời tiết cũng là phương tiện hữu ích để theo dõi bão. Hiện nay,
các cơn bão được các cơ quan Khí tượng quốc tế, khu vực (trong đó có Trung
tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia) theo dõi sát sao từ khi bắt đầu hình thành,
trong suốt quá trình di chuyển, phát triển đến khi hoàn toàn tan rã. Tuy nhiên,
cũng có trường hợp bão phát sinh ngay sát bờ biển nước ta, di chuyển về hướng
Tây và đổ bộ vào đất liền chỉ trong khoảng từ vài giờ tới nửa ngày kể từ khi hình
thành. Trong trường hợp này, thời gian dự báo sớm nhất cũng chỉ được từ vài
giờ đến nửa ngày.
<i>3.1.2.4. Tai biến hạn hán </i>
<i>a. Khái niệm chung: </i>
Hạn hán là biểu hiện của một hoàn cảnh tự nhiên, được định hình bởi
nhiều yếu tố cả về khí hậu như lượng mưa, lượng bốc hơi, chế độ nhiệt ẩm,
gió… thành phần vật chất cấu tạo cùng với độ thấm nước nhất định cũng như
yếu tố địa hình mặt đất liên quan tới việc ít thuận lợi cho q trình tạo mưa…
Chính vì vây, một định nghĩa chính xác về hạn hán là rất khó. Trong một số tài
liệu có đề cập tới các khái niệm này như sau:
- Hạn là dạng thời tiết sinh ra do lâu ngày không có mưa hoặc mưa rất ít,
khơng khí và đất khơ, sự thốt hơi nước và bốc hơi nước mạnh, phá vỡ cân bằng
nước trong cơ thể thực vật, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng của
thực vật (Vương Văn Quỳnh, Trần Tuyết Hằng, 1998).
- Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm
giảm hàm lượng ẩm trong khơng khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt
dịng chảy sơng suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa
nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm mơi
trường suy thối gây đói nghèo dịch bệnh... (trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy
văn Trung ương - mục Phổ biến kiến thức Khí tượng Thủy văn – 2008).
- Theo Whithfe và Glarte (1985), tai biến hạn hán là kết quả tương tác
thiếu hụt về nước giữa cung cầu của hoàn cảnh, điều kiện tự nhiên xác định.
Hình 3.9. Cảnh nứt nẻ trên mặt hồ Ea H’Rar 1, huyện Cư M’Gar, Đắk Lắk
(tháng 3 năm 2013)
<i>b. Các loại hạn hán và nguy cơ tác hại của chúng </i>
Dựa vào tính chất cũng như mức độ nghiêm trọng của tác hại do tai biến
hạn hán gây ra, người ta chia hạn hán thành các loại chính sau:
- Hạn hán khí tượng: Liên quan trực tiếp với sự thiếu hụt lượng mưa ở
mức độ khác nhau, với thời gian kéo dài khác nhau, có thể 1 tuần, 1 tháng hoặc
cả năm.
Hạn hán khí tượng chỉ đề cập tới sự thiếu hụt lượng mưa, chưa chú ý đến
các nguồn nước khác của vùng (sông, suối, hồ, nước ngầm...), do đó trong một
số trường hợp dù nó kéo dài nhiều ngày song ảnh hưởng của nó đến môi trường
không nghiêm trọng.
+ Hạn hán thủy văn: Xảy ra do sự giảm sút hoặc cạn kiệt lượng nước
trong các dòng chảy, hồ chứa và mức độ nhất định kể cả đối với nước ngầm.
Thường hạn hán thủy văn dễ nhận ra ở các vùng đô thị, đông dân cư, nhu
cầu nước lớn và phụ thuộc vào nước tại các dòng chảy, hồ chứa, nhiều khi xảy ra
ngay tại các nước phát triển.
+ Hạn hán nông nghiệp: xảy ra khi sự thiếu hụt về nước tạo nên độ ẩm
của đất giảm ở mức dưới ngưỡng duy trì sự tăng trưởng bình thường của cây
trồng, giảm sút sản lượng nông nghiệp, mất mùa đối với vùng chịu hạn.
Ví dụ: Trận hạn hán tại miền Trung – Tây Hoa kỳ năm 1988 đã làm giảm
1/3 sản lượng ngô của Mỹ, thiệt hại 4,7 tỷ đô la.
Hạn hán nông nghiệp diễn ra tại các nước nghèo thường dẫn đến sự thiếu
hụt lương thực, có khi gây nên nạn đói. Trận hạn hán tại Nam Phi năm
1991-1992 làm giảm mức thu hoạch nông nghiệp, tùy từng vùng từ 30 - 80%, ảnh
Năm 1982-1983 là đợt hạn hán tồi tệ nhất ở Australia trong thế kỷ XX.
Đợt hạn hán này bắt đầu vào mùa thu năm 1982, với sự thiếu hụt lượng mưa
nặng nề ở phía Đơng nước Úc và sự xuất hiện của sương giá lạnh càng khiến
thời tiết trầm trọng hơn trong tháng 6 và tháng 7. Thời điểm đó, lượng nước ở
thượng nguồn sơng Murrumbidgee và các hồ chứa khắp miền Đông Nam Úc
giảm đến mức chưa từng có trước đó.
Tại Zambia, vào các năm 1982 - 1987 và 1990 đã diễn ra các đợt hạn hán
kéo dài, làm giảm 40% sản lượng ngô, gây ảnh hưởng xấu tới cuộc sống cửa
hơn 2 triệu người nông dân.
Năm 2012, gần hai mươi triệu người ở 8 quốc gia Tây Phi gồm các khu
vực Sahel đã phải đối mặt với hạn hạn khủng khiếp kèm theo loại cây trồng chết
hàng loạt, bệnh dịch hạch bùng phát, xung đột vũ trang giữa các phe phái. Điều
đó khiến họ lâm vào nạn đói khủng khiếp, thảm họa này trở thành một trong
những thảm cảnh tồi tệ nhất trên hành tinh trong những năm gần đây.
Theo thống kê của Liên hợp quốc, hiện Châu Phi có 219 triệu người thuộc
20 nước của khu vực đang bị nạn đói đe doa do hạn hán gây ra, đặc biệt là
Nigieria, Etiopia, Mali, Modambich...
Hạn hán Brazil năm 2015, là một đợt hạn hán kéo dài ảnh hưởng đến khu
vực phía Đông Nam của Brazil bao gồm cả khu vực đô thị của Sao Paulo và Rio
de Janeiro. Đợt hạn hán này được mô tả là tồi tệ nhất trong 80 năm qua.
Vào năm 1944, hạn hán kết hợp với sâu bệnh, lũ lụt trong mùa thu hoạch
và chính sách phá lúa, trồng ngơ của quân phiệt Nhật Bản đã dẫn đến nạn đói ở
Việt Nam năm 1945 làm chết khoảng 2 triệu người.
Thiếu hụt nghiêm trọng lượng mưa vào cuối năm 1992, gây hạn hán thiếu
nước cho sản xuất và dân sinh trong năm 1993. Ở Bắc bộ và Bắc trung bộ, thiếu
hụt mưa so với trung bình nhiều năm tới 30 - 70%, có nơi 100% từ tháng 8 -
11/1992 và tới 40 - 60% trong những tháng đầu năm 1993 đã gây thiếu nước
nghiêm trọng trong vụ đông xuân 1992-1993 và hè thu 1993 ở hầu hết các vùng.
Tổng diện tích lúa đơng xn bị hạn trên 176.000 ha (bị chết trên 22.000 ha).
Mực nước trên các sơng đều thấp hơn trung bình nhiều năm từ 0,1 - 0,5 m. Mặn
xâm nhập sâu vào các cửa sơng, từ 10 - 20 km, có lúc tới 30 km. Tháng 7/1993,
mực nước các hồ chứa lớn đều ở dưới mức nước chết vẫn được tiếp tục khai
thác chống hạn. Các hồ chứa vừa và nhỏ đều cạn kiệt. Hạn hán tác động mạnh
nhất đến nông nghiệp các tỉnh từ Thanh Hố đến Bình Thuận (gần 1/2 diện tích
lúa vụ hè thu năm 1993 bị hạn, bị chết 24.093 ha). Đồng bằng sơng Cửu Long,
hạn hán ít gay gắt hơn.
Mùa mưa năm 1997 kết thúc sớm hơn 1 tháng. Trong 6 tháng đầu năm
1998, lượng mưa bình quân chỉ đạt từ 30 - 70% cùng kỳ. Vùng Tây Nguyên,
Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long hầu như không mưa vào các tháng
3 - 6/1998; Vùng Trung Bộ hầu như không mưa trong tháng 6 - 9/1998. Nhiệt độ
các tháng đầu năm 1998 đều cao hơn trung bình nhiều năm từ 1 - 30C. Các đợt
nắng nóng gay gắt xảy ra liên tục và kéo dài từ 15 - 29 ngày trong tháng 3, 4,
5/1998 ở Nam Bộ và tháng 6, 7, 8/1998 ở Trung bộ. Mực nước các sông lớn đều
thấp hơn trung bình nhiều năm cùng kỳ từ 0,5 - 1,5 m. Đến đầu tháng 4/1998,
các sông suối nhỏ ở Trung bộ, Tây Nguyên, Đông nam bộ dòng chảy rất nhỏ
hoặc khơ hạn. Một số hồ vừa và tồn bộ hồ nhỏ đều khơ cạn (Nghệ An có 579
hồ, Quảng Bình 110 hồ, Quảng Trị 85 hồ...). Mực nước các hồ chứa lớn và một
số hồ chứa vừa khác ở xấp xỉ mực nước chết. Mặn xâm nhập sâu 15 - 20 km vào
nội đồng ở miền Trung và Nam bộ. Nhiều nguồn nước ngọt bị nhiễm mặn, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến cung cấp nước tưới và sinh hoạt.
hạn trên 236.000ha (bị chết gần 51.000ha); 3,1 triệu người thiếu nước sinh hoạt.
Tổng số thiệt hại về kinh tế khoảng 5.000 tỷ đồng. Chính phủ đã phải trợ giúp
hàng chục tỷ đồng để cung cấp nước sinh hoạt cho 18 tỉnh. Những thiệt hại khác
chưa thống kê và tính tốn hết được như vấn đề kinh tế, mơi trường, xói mịn, sa
mạc hố, thiếu ăn, suy dinh dưỡng, khủng hoảng tinh thần và giảm sút sức khoẻ
của hàng triệu người...
Năm 2001, các tỉnh Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Bình, Quảng Trị là
những tỉnh bị hạn nghiêm trọng. Trong tháng 6 và 7 hầu như không mưa. Chỉ
riêng ở Phú Yên, hạn hán đã gây thiệt hại cho 7200 ha mía, 500 ha sắn, 225 ha
lúa nước và 300 ha lúa nương. Trong 6 tháng đầu năm 2002, hạn hán nghiêm
trọng đã diễn ra ở vùng Duyên hải Nam trung bộ, Tây Nguyên và Đông nam bộ
gây thiệt hại về mùa màng, gây cháy rừng trên diện rộng, trong đó có cháy rừng
lớn ở các khu rừng tự nhiên U Minh Thượng và U Minh Hạ.
Những tháng trước mùa mưa năm 2003, hạn hán bao trùm hầu khắp Tây
Nguyên, gây thiệt hại cho khoảng 300 ha lúa ở Kon Tum, 3000 ha lúa ở Gia Lai
và 50.000 ha đất canh tác ở Đắk Lắc; thiếu nước cấp cho sinh hoạt của 100.000
hộ dân. Chỉ tính riêng cho Đắk Lắc, tổng thiệt hại ước tính khoảng 250 tỷ đồng.
Hạn hán năm 2004-2005 xảy ra trên diện rộng nhưng không nghiêm trọng như
năm 1997-1998. Ở Bắc Bộ, mực nước sông Hồng tại Hà Nội vào đầu tháng 3
xuống mức 1,72 m thấp nhất kể từ năm 1963 đến năm 2005. Ở miền Trung và
Tây Nguyên, nắng nóng kéo dài, dịng chảy trên các sơng suối ở mức thấp hơn
trung bình nhiều năm cùng kỳ, một số suối cạn kiệt hoàn toàn; nhiều hồ, đập
dâng hết khả năng cấp nước.
Ninh Thuận là địa phương bị hạn hán thiếu nước khốc liệt nhất trong vòng
20 năm qua, chủ yếu do mưa ít, lượng mưa trong 4 tháng (từ tháng 11/2004 đến
tháng 2/2005) chỉ bằng khoảng 41% trung bình nhiều năm. Các sông suối, ao hồ
đều khô cạn, chỉ có hồ Tân Giang còn khoảng 500.000m3 nước nhưng ở dưới
không đáp ứng đủ nhu cầu cấp nước sinh hoạt cho nhân dân, nước uống cho gia
súc. Hạn hán thiếu nước làm gần 50 ngàn người thiếu nước sinh hoạt, 16.790 hộ
thiếu đói, khoảng 123.800 con bị thiếu thức ăn và trên 89.000 bò, dê, cừu thiếu
nước uống.
Theo thống kê chưa đầy đủ, đến cuối tháng 4 năm 2005, tổng thiệt hại do
hạn hán gây ra ở các tỉnh Nam trung bộ và Tây Nguyên đã lên tới trên 1.700 tỷ
đồng. Chính phủ phải cấp 100 tỷ đồng để hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu
quả hạn hán thiếu nước và 1500 tấn gạo để cứu đói cho nhân dân.
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long thiệt hại do hạn hán, xâm mặn tới 720 tỷ đồng.
Trên sông Tiền, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên, sông Hậu, mặn xâm nhập sâu
từ 60 - 80 km. Riêng sông Vàm Cỏ, mặn xâm nhập sâu tới mức kỷ lục: 120- 140
km.
Đặc biệt đầu năm 2016, Việt Nam phải gánh chịu đợt hạn hán được cho là
chưa từng có trong lịch sử 100 năm qua. Đợt hạn hán kèm theo xâm nhập mặn này
ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 10 tỉnh Đồng bằng sơng Cửu Long, sơng ngịi trơ đáy,
đất khơ nứt nẻ... Các cơ quan chuyên môn dự báo, trong năm 2016, thiên tai gay
gắt kéo dài, nguy cơ 500.000 ha lúa hè thu không thể xuống giống, tác động
nghiêm trọng đến đời sống của một triệu hộ dân (tương đương 5 triệu người).
Riêng khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận là vùng bán khô hạn thường xuyên. Mùa
khô thường kéo dài 8 - 9 tháng (tháng 12 đến tháng 8 năm sau), với lượng mưa
trung bình năm chỉ đạt 700 - 800 mm.
Ngoài tác hại về kinh tế và xã hội, tai biến hạn hán còn có tác động mang
tính tiền đề cho các loại tai biến khác như gia tăng xói mịn đất, suy thối đất,
<i>b. Ngun nhân gây tai biến hạn hán </i>
- Lượng mưa theo mùa trong năm bị giảm sút thiếu hụt và thay đổi thất
thường.
Đặc biệt khi lượng mưa bị giảm sút vào thời kỳ mùa vụ canh tác sẽ gây
nên những tai biến hoặc hiểm họa không chỉ cho vùng bị hạn.
- Các nguyên nhân khí tượng, liên quan đến sự di chuyển bất thường của
các luồng khí lưu thơng trong khí quyển, làm giảm lượng mưa.
Các luồng gió đổi hướng bất thường có thể đưa mưa bão đi nơi khác, gia
tăng sự trầm trọng của tai biến hạn hán tại các vùng khô.
+ Áp lực bùng nổ dân số và gia tăng suy thối mơi trường các vùng khô hạn;
+ Du canh, du cư và sự gia tăng suy thối mơi trường các vùng khô hạn;
+ Phá rừng và sự gia tăng hoang mạc, sa mạc hóa;
+ Sử dụng đất khơng hợp lý và hoang mạc, sa mạc hóa;
+ Chính sách quản lý và vấn đề hạn hán, sa mạc hóa.
Những vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của hạn hán trên thế giới hiện
nay là Châu Phi. Chỉ riêng ở hai đợt hạn (1968 - 1975 và 1981 - 1984) đã làm
chết hàng ngàn người mỗi năm, phần lớn vì đói, nhất là trẻ em.
Theo thống kê của Liên hợp quốc, hiện Châu Phi có 219 triệu người đang
bị nạn đói đe dọa do hạn hán gây ra, đặc biệt là Nigieria, Etiopia, Mali,
Modambich...
Ở những vùng Nam và Đông Nam Á, hạn hán thường do sự xuất hiện
chậm của dịng phóng lưu nhiệt đới (loại gió rất mạnh thổi ở trên cao dọc theo
chí tuyến) đã làm cho gió mùa mùa hạ đến chậm.
<i>c. Ứng xử giảm thiểu khó khăn, thiệt hại do hạn hán gây ra </i>
- Thông tin, dự báo về thời gian có thể xảy ra hạn hán, khả năng kéo dài
đến cộng đồng và các tổ chức chính trị, xã hội của địa phương để có biện pháp
phòng tránh một cách chủ động.
- Tiến hành các biện pháp nhằm tiết kiệm và dự trữ nước, đảm bảo cân đối
ở mức độ tối cần thiết giữa cung và cầu.
- Chiến lược phòng vệ trong canh tác nông nghiệp, chăn thả và sử dụng đất.
Hạn hán nông nghiệp thường có nguy cơ dẫn đến nạn đói, đặc biệt ở
những nơi hạn hán thường xảy ra. Vì vậy về lâu dài cần xây dựng chiến lược
phòng vệ bằng các quy hoạch trong canh tác, chăn thả và sử dụng đất hợp lý,
đảm bảo sự phát triển bền vững tại các vùng này.
Chọn loài cây trồng, vật ni thích hợp, phương thức canh tác, sử dụng
các biện pháp chống xói mịn, hạn chế nhu cầu nước, mùa vụ phù hợp...
Chương 4
TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG LÝ - SINH VÀ MÔI TRƯỜNG
NHÂN SINH
4.1. Tai biến môi trường lý - sinh
<i>4.1.1. Khái niệm về tai biến môi trường lý – sinh </i>
Bên cạnh những loại tai biến môi trường gắn trực tiếp với các quá trình
địa động lực nội sinh và ngoại sinh, trong thiên nhiên cũng như xã hội còn tồn
tại một loại tai biến mà nguyên nhân gắn với các hiện tượng, hoàn cảnh, điều
kiện tự nhiên, trực tiếp là các biểu hiện vật lý của trái đất như nhiệt độ, áp suất
khí quyển, trường địa từ, phóng xạ hoặc gắn với môi trường sinh thái như chế độ
nhiệt, ẩm, sương giá, cảnh quan, sinh cảnh, nguồn gen… hoặc gắn với các hoạt
động nhân sinh như gây tiếng ồn, bụi, ánh sáng… Các hiện tượng nêu trên nhiều
khi gây tác động tiêu cực, ảnh hưởng lớn đến sinh vật và mơi trường. Đó được
gọi là tai biến lý sinh.
<i>Nói một cách ngắn gọn, tai biến môi trường lý - sinh (Biophysical </i>
<i>Hazards) là loại tai biến mà nguyên nhân của nó gắn với các hiện tượng, hoàn </i>
cảnh, điều kiện tự nhiên, trực tiếp là các biểu hiện vật lý trái đất, cũng như
gắn với môi trường sinh thái hoặc gắn với các hoạt động nhân sinh gây nguy
hiểm đến sức khỏe con người và các sinh vật cũng như phá vỡ tính ổn định
của mơi trường.
Như vậy tai biến môi trường lý – sinh bao hàm tai biến sinh thái và tai
biến vật lý. Trong thực tế, chúng thường được nhắc tới một cách tách biệt nhưng
cũng có khi gộp chung một cách ngắn gọn là tai biến sinh thái. Đa số tai biến lý
- sinh thuộc loại tai biến trường diễn.
<i>4.1.2. Các yếu tố tác động đến tính nhạy cảm của tai biến lý sinh </i>
<i>4.1.2.1. Các yếu tố vật lý và sinh thái </i>
Nhiệt độ cao thất thường, kèm theo độ ẩm lớn hoặc nhiệt độ quá thấp ứng
với điều kiện vi mơi trường khắc nghiệt có hại cho sức khoẻ con người, thậm chí
gây tử vong.
Ví dụ: + Đợt nóng bất thường diễn ra vào tháng 6/1966 tại Philippin. Trong
5 ngày, tỷ lệ tỷ vong tại một số vùng gia tăng thêm 36% so với mức thơng thường.
+ Đợt nóng bất thường kèm theo gió nóng vào tháng 9/1955 tại Los
Angeles làm chết 946 người.
+ Đợt nắng nóng xảy ra vào mùa hè năm 1980 tại Hoa kỳ đã làm 1.250
người thiệt mạng.
+ Mùa hè năm 2003 là đợt nóng kỷ lục ở châu Âu kể từ năm 1540. Nắng
nóng trên diện rộng cướp sinh mạng của 70.000 người, nhiều nhất là ở Pháp
(14.802 người chết). Nhiệt độ ở miền Bắc nước Pháp nóng kinh hồng trong
vịng 7 ngày, ở khoảng 40o<i>C. </i>
+ Hơn 220 người chết trong đợt nắng ở Bắc mỹ hồi tháng 7/2006. Nhiệt độ
tại nhiều khu vực lên tới 47oC. Tại Nam Dakota, mức nhiệt đỉnh điểm là 54oC.
+ Đợt nắng nóng năm 2010 tại Nga được coi là đợt nắng khắc nghiệt nhất
trong vòng 130 năm, gây cháy rừng trên diện rộng. Ước tính có khoảng hơn 55.000
ca tử vong trong đợt nắng nóng này. Nhiệt độ cao nhất được ghi nhận là 53,50C.
+ Đợt nắng nóng kéo dài với nhiệt độ xấp xỉ 500C vào cuối tháng 5/2015
ở Ấn Độ đã làm hơn 2.500 người thiệt mạng.
+ Năm 2008, khu vực Miền nam Trung Quốc từng chịu ảnh hưởng của
trận bão tuyết tồi tệ nhất trong 5 thập kỷ. Thời tiết giá rét khiến 129 người chết,
gây ùn tắc giao thông trên diện rộng, mất mùa và thiệt hại kinh tế ước tính
khoảng 23 tỷ USD.
+ Đợt rét kỷ lục ở Châu Âu vào tháng 12/2012, với nhiệt độ xuống dưới
b. Nhiệt độ khơng khí tăng dần do gia tăng của hiệu ứng nhà kính
sinh sẽ lớn hơn và con người sẽ phải đối mặt với những sự cố, thảm hoạ
nghiệm trọng hơn, phổ biến hơn. Đó chính là hậu quả của hiệu ứng nhà kính.
Hậu quả tai biến lý sinh của hiện tượng gia tăng hiệu ứng nhà kính là rất lớn,
tác động lên tất cả các hợp phần mơi trường như thạch quyển, thuỷ quyển, khí
quyển, sinh quyển.
Sự gia tăng hiệu ứng nhà kính gắn liền với nhịp độ phát triển công nghiệp,
thải ra các loại khí có tác động hấp thụ bức xạ sóng dài tạo nên trạng thái khơng
cân bằng trong việc trao đổi năng lượng giữa trái đất và khơng gian vũ trụ bao
quanh. Các khí có vai trị quan trọng tạo hiệu ứng nhà kính đó là: khí CO2
(dioxit cacbon) chiếm khoảng 50%, CFC (chlorofluocacbon) khoảng 20%, CH4
(metan) khoảng 16%, NO2 (dioxit nito) khoảng 13% và O3 (ozon) khoảng 8%.
Những hoạt động công nghiệp, giao thông, sinh hoạt hiện nay đang góp
phần gia tăng các khí nhà kính. Mặt khác, nhiều loại hình hoạt động khác của
con người như sử dụng năng lượng chất đốt, hoạt động cơng nghiệp, phá rừng…
cũng góp phần đáng kể trong việc tạo sự gia tăng nhiệt độ khơng khí mặt đất.
Cho đến nay, các mơ hình tính tốn phần lớn chỉ chú ý đến các yếu tố ở
bên ngồi hệ thống khí hậu như hiệu ứng nhà kính, tia sáng mặt trời hay khí
trong bầu khí quyển. Trong khi đó, các dao động nội tại, đặc biệt khi dự báo về
những thập niên tới không được chú ý. Giờ đây lần đầu tiên các nhà khoa học
Ngoài yếu tố khí thải gây hiệu ứng nhà kính do con người gây ra, mơ hình
tốn học này cịn tính đến nhiều biến thiên khác của biến động khí hậu như hiện
tượng El Nino cũng như sự dao động kéo dài của tuần hoàn nước và sự tích
nhiệt trong các đại dương.
Erich Roeckner, phụ trách mơ hình hóa khí hậu tại Viện Max-Planck - Khí
tượng học ở Hamburg (Đức) cho rằng cơng trình nghiên cứu của Doug Smith và
các cộng sự của ông là “một bước tiến quan trọng đầu tiên”.
Hai nhà khoa học, Gerald Meehl và Claudia Tebaldi, ở Trung tâm Nghiên
<i>cứu Khí quyển Quốc gia (National Center for Atmospheric Research - NCAR) ở </i>
Boulder, Colorado, Mỹ, đã tiến hành một nghiên cứu được các bên tài trợ chính
<i>của NCAR là Quỹ Khoa học quốc gia (National Science Foundation - NSF) và </i>
Bộ Năng lượng Mỹ tài trợ, để nghiên cứu khí hậu của Trái đất trong tương lai
bằng cách sử dụng Mơ hình khí hậu song song và đã cơng bố kết quả nghiên cứu
<i>trong Tạp chí Science. Theo G.Meehl, các đợt nóng ở Chicago, Pari và các nơi </i>
<i>khác ở Bắc Mỹ và châu Âu sẽ trầm trọng, thường xuyên và lâu hơn trong thế kỷ </i>
<i>XXI này. Các sự kiện thời tiết cực trị sẽ có tác động nghiêm trọng nhất đến xã </i>
hội loài người khi khí hậu thay đổi.
Mơ hình khí hậu song song được một nhóm các nhà nghiên cứu của
Warren Washington thuộc NCAR phát triển, quản lý và rất quan trọng đối với sự
tham gia của Bộ Năng lượng Mỹ vào Chương trình nghiên cứu những sự thay
Nghiên cứu cho thấy, các đợt nóng sẽ ngày càng trầm trọng và kéo dài
hơn trong tương lai. Số lượng các đợt nóng ước tính sẽ tăng 25% ở Mỹ và 31%
ở Pari trong 5 thập niên tới.
Theo các nhà khoa học, các rạn san hô, tôm và các sinh vật biển khác có
lớp vỏ hố vơi có thể sớm biến mất do biến đổi khí hậu làm cho tính axít của các
đại dương ngày càng tăng.
Các nhà máy, ôtô và các nhà máy điện thải cácbon điơxít (CO2) vào khí
trình axít hố đại dương khi các vùng biển hấp thụ CO2 vượt quá 25%. Tại Hội
nghị về các rạn san hô ở Fort Lauderdale, Florida, các nhà khoa học biển đã
cảnh báo rằng, các loài sinh vật biển như các rạn san hô đang chịu ảnh hưởng do
nước biển ấm lên.
Chris Langdon, phó giáo sư Trường Khoa học Biển và Khí quyển
Rosenstiel thuộc Đại học Miami cho biết, vào giữa thế kỷ này, các rạn san hơ sẽ
có q trình tự tái sinh diễn ra chậm hơn quá trình phá huỷ.
Gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng, nóng lên toàn cầu sẽ làm
Nồng độ pH là đơn vị đo kiềm hoặc đo axít, với pH = 7 là trung tính. Trong
hàng trăm nghìn năm, giá trị pH của các đại dương khoảng 8,2. Tuy nhiên từ khi
bắt đầu thời kỳ công nghiệp vào năm 1800, chỉ số này đã giảm xuống 0,1.
Theo Uỷ ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc
(IPCC), vào cuối thế kỷ XX, chỉ số pH trong đại dương sẽ tiếp tục giảm xuống
7,8 và một số nhà khoa học lo ngại con số này có thể thấp hơn.
Theo Maoz Fine, Viện Khoa học Biển thuộc Liên đại học của Israel:
Nghiên cứu gần đây về sự thoát ra của CO2 trong tự nhiên ở các vùng nước của
Italia cho thấy, các sinh vật hoá vôi như san hô, không thể tồn tại trong điều kiện
có nồng độ pH dưới 7,6. Các rạn san hô cứng như đá sẽ trở nên mềm, bộ xương
của chúng dần bị phân huỷ trong nước có tính axít. Theo ơng, trong điều kiện
thuận lợi của phịng thí nghiệm, các mẫu san hơ khơng có xương vẫn sống được
2 năm. Tuy nhiên, trong môi trường tự nhiên, chúng dễ bị tổn thương do các
động vật ăn thịt khác và chịu các tác động khác như bão. Cuối cùng, các rạn san
hô sẽ bị sụp đổ khi chúng mất đi lớp hồ gắn chúng lại với nhau.
<i>c. Hiện tượng sương mù </i>
<i>quang hoá </i>
- Khái niệm :
Sương mù quang hoá
<i>(Photochemical Smog) là thuật </i>
ngữ được sử dụng để miêu tả một
dạng ô nhiễm khơng khí xảy ra ở
Theo GS.TSKH. Lê Huy Bá, sương mù quang hóa là chất ơ nhiễm thứ cấp
được hình thành khi các hydrocacbon và oxyt nito bị giữ lại do hiện tượng đảo
nhiệt và xảy ra các phản ứng quang hóa hình thành nên peroxy acetyl nitrat
(PAN) và ơzon (O3).
Hiện tượng sương mù quang hóa xảy ra ở ngay lớp khơng khí kề sát mặt
đất, có nguồn gốc nhân tạo là chính. Các sản phẩm chủ yếu của phản ứng quang
hóa gồm: ozon, các dẫn xuất nitro của hydrocacbon và các chất hữu cơ khác.
Như vậy, có thể thấy sương mù quang hóa được hình thành khi hội đủ ba yếu tố
sau trong khí quyển:
(1) Tia UV trong thành phần ánh sáng mặt trời;
(2) Các hydrocacbon, oxyt nito…
(3) Hơi nước
Các chất ô nhiễm thứ cấp là những chất được hình thành từ sự tương tác
của nhiều chất ô nhiễm sơ cấp khác nhau như: Cacbon monoxit (CO),
hydrocacbon (HC), các dạng hạt, sunfua dioxit (SO2) và các hợp chất chứa nito
(NOx)... Những chất này được thải trực tiếp vào khí quyển với nguồn gốc và
những hình thức khác nhau. Phần lớn chúng được phát thải từ việc đốt các nhiên
nghiệp, họạt động xây dựng… Chúng có thể tương tác với nhau hoặc tương tác
với các phân tử khác có trong nguồn thải.
Sương mù quang hoá là hỗn hợp của các chất ô nhiễm được hình thành
chủ yếu từ sự tương tác của NO và NO2 dưới tác dụng của tia tử ngoại. Hai chất
có tác dụng huỷ diệt lớn nhất của sương mù quang hoá là ozon (O3) và peroxy
acetyl nitrat (PAN).
Khi hiện tượng sương mù quang hoá xảy ra, trong bầu khí quyển rất khó
chịu, tầm nhìn bị hạn chế, cư dân có nguy cơ mắc các chứng bệnh hiểm nghèo
như ung thư, viêm phổi, mờ mắt… khơng khí có nhiều khí độc, rau quả bị nhiễm
độc. Theo quy định của cơ quan chất lượng khơng khí Mỹ, ngày sương mù là
ngày có tầm nhìn xa nhỏ hơn 5 km, độ ẩm tương đối nhỏ (nhỏ hơn 60%).
- Các phản ứng chủ yếu trong q trình sương mù quang hố:
Một q trình tạo ra sương mù quang hóa nhìn chung bao gồm một chuỗi
các phản ứng phức tạp, tổng quát như sau:
Trong khơng khí bị ơ nhiễm (do giao thơng và các hoạt động sản xuất tạo
ra) có chứa NO, khi đó trong khơng khí xảy ra phản ứng:
NO +O2 NO2;
Phản ứng quang hoá đầu mối:
NO2 + h (λ <420 nm) NO + O
(v là tần số ánh sáng, hv biểu thị proton của ánh sáng)
O2 + O + M O3 + M (M là vật thứ 3 hấp thụ năng lượng)
O3 + NO NO2 + O2
Nếu trong khí thải cịn có lượng dư hydrocacbon RH, thì:
O + RH R + các sản phẩm khác
O3 + RH R
+ các sản phẩm khác.
R là gốc tự do có thể chứa hoặc khơng chứa oxy, tham gia vào các phản
ứng dây chuyền để sinh ra các gốc tự do mới. Cuối cùng có thể xảy ra phản ứng
cắt đứt dây truyền.
NO + RCOO NO2 + các sản phẩm khác
(RCOO là gốc tự do có chứa oxy)
NO2 + R
PAN là chất hydrocacbon
thơm có vịng có thể gây tác hại
- Các yếu tố môi trường ảnh
hưởng tới sương mù quang hóa
+ Vị trí địa lý và địa hình:
có ảnh hưởng đến hướng gió,
mưa, qua đó ảnh hưởng đến chất
lượng khơng khí. Địa hình có ảnh
hưởng quan trọng đến chiều và tốc
độ gió.
+ Hiện tượng nghịch đảo
<i>nhiệt (thermal inversion) trong </i>
tầng đối lưu: là trạng thái khí
tượng mà qua đó các chất gây ơ
nhiễm khơng khí xâm nhập vào
bầu khí quyển làm nhiệt độ khơng
khí giảm chậm hơn so với bình
thường theo độ cao (hình 4.2).
Khi hiện tượng đảo nhiệt
xảy ra, hình thành một lớp khơng khí nằm trên khối khơng khí lạnh. Khơng khí
sát mặt đất do lạnh hơn nên không di chuyển lên phía trên được, chất gây ô
nhiễm bị giữ lại ở tầng thấp, nồng độ tăng lên đến mức độ nguy hiểm.
Hiện tượng sương mù quang hóa đã xuất hiện ở một số thành phố lớn của
Mỹ như: New York, Washington, Los Angeles (Hoa Kỳ), Tokyo (Nhật Bản),
Luân Đôn (Anh), Mêhico (Mêhico), Bắc Kinh, Thượng Hải, Trùng Khánh...
Như vậy, có thể thấy hậu quả tai biến lý sinh do hiện tượng gia tăng hiệu
ứng nhà kính và nhiệt độ khơng khí là rất lớn, đa dạng, tác động lên tất cả các
hợp phần của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Chúng được biểu hiện
như sau:
+ Thay đổi thành phần, chất lượng khí quyển với góc độ gây hại cho sự
sống và con người.
+ Thay đổi đặc điểm hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hồn nước trong
tự nhiên.
+ Biến đổi những đặc trưng của các đới khí hậu trái đất đã ổn định.
+ Ảnh hưởng đến các hiện tượng, quá trình tác động tương tác giữa khí
quyển và các quyển khác…
<i>d. Các tia tử ngoại, phóng xạ tự nhiên </i>
Tia tử ngoại tồn tại cùng ánh sáng mặt trời và các tia vũ trụ khác song do
có tầng ozon đã giúp hấp thụ giảm nhẹ các tia tử ngoại và giữ được ở mức dưới
ngưỡng nguy hại. Nhưng nếu trong hoàn cảnh cụ thể, vượt quá ngưỡng an toàn
sinh học, tia tử ngoại sẽ dẫn đến hiểm hoạ tai biến lý sinh.
Các tia phóng xạ tự nhiên của trái đất cũng rất thấp nhưng ở những nơi có
mỏ, các chất phóng xạ hoặc các nhà máy sử dụng và thải các chất phóng xạ, khi
đó tai biến lý sinh sẽ có nguy cơ chuyển thành hiểm hoạ cho con người.
<i>e. Bụi thiên nhiên </i>
Phân loại bụi theo nguồn gốc phát sinh: bụi trong nhà, bụi đường phố, bụi
công nghiệp, bụi thiên nhiên.
Bụi thiên nhiên bao gồm: bụi do phun xuất núi lửa, bụi thiên thạch, bụi do
cháy rừng…
+ Bụi do phun trào núi lửa:
Hàng năm, hàng chục núi lửa đã phun lên bầu trời hàng trăm triệu tấn bụi,
đặc biệt là bụi lưu huỳnh. Chúng dần dần rơi xuống mặt đất gây ra sự ô nhiễm
môi trường không khí nặng nề, trong một thời gian dài ở những vùng xung
quanh núi lửa.
Trận phun xuất núi lửa Krakatoa ở Indonexia hoạt động vào năm 1883 đã
phun lên khí quyển 120 tấn hạt bụi rất nhỏ.
Sau 635 năm ngủ yên, ngày 15/6/1991 núi lửa Pinatupo ở Philippin thức
giấc và phun ròng rã trong nhiều tháng vào vào khí quyển hàng chục ngàn tấn
bụi xám, chứa 20 triệu tấn khí SO2, tạo thành một lớp mây khổng lồ làm bầu trời
Âu, chúng làm giảm cường độ ánh sáng mặt trời chiếu xuống trái đất (khoảng
20%). Điều này đã làm thiệt hại cho Hoa Kỳ hàng triệu USD vì tại sa mạc
Mosave, có 2 trung tâm đồ sộ về năng lượng mặt trời bị thiệt hại 30% hiệu suất
(280MW).
Trưa ngày 27/9/2014, núi lửa Ontake (Nhật Bản) bất ngờ phun trào, tro
bụi bao phủ xuống dọc sườn phía Nam hơn 3 km khiến số người chết lên con số
Vào giữa tháng 5/2014, các lớp tro bụi từ núi lửa Shiveluch (Nga) đã bốc
lên cao từ 7 – 10 km. Khói bụi bay theo hướng Đông Nam. Ngày 4/4/2014, núi
lửa Tungurahua ở Ecuador phun trào dữ dội làm bốc lên các cột khói tro bụi dày
đặc cao khoảng 10km. Hoạt động của núi lửa ảnh hưởng đến một phần ba các
tỉnh ở Ecuador và khiến một sân bay trong khu vực phải đóng cửa tạm thời.
Ngày 19/6/2015, núi lửa Sinabung ở tỉnh Sumatra của Indonesia lại phun trào,
tạo ra những đợt tro bụi khổng lồ, đen kịt cả bầu trời, những lớp tro bụi cao hàng
nghìn mét bốc lên ngùn ngụt từ ngọn núi lửa đã ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe
và mọi hoạt động của người dân địa phương.
+ Bụi thiên thạch:
Hàng năm trái đất nhận được một khối lượng bụi thiên thạch khoảng 2 - 5
triệu tấn. Điều cần lưu ý là chúng có thể có phóng xạ.
+ Bụi phóng xạ do bom nguyên tử:
Bụi phóng xạ xâm nhập tới bề mặt trái đất từ khí quyển, nguồn gốc của
loại bụi này là những vụ nổ thử vũ khí hạt nhân.
Vụ ném bom nguyên tử của Mỹ xuống hai thành phố Hiroshima ngày
6/8/1945 và Nagasaki ngày 9/8/1945 của Nhật Bản đã tạo nên những nấm bụi
phóng xạ khổng lồ trền bầu trời hai thành phố này. Trong bụi này chứa chất
phóng xạ Strongti 90 và Cesi 137 gây nhiễm phóng xạ chết người.
Vụ thử bom nguyên tử của Anh ở vùng sa mạc Emuphinlo tại miền Trung
Australia ngày 15 tháng 10 năm 1953 đã tung lên khí quyển hàng ngàn tấn bụi
Sự cố Tchernobưn (Ukraina) vào 10/5/1986 đã tung vào khí quyển bụi
phóng xạ làm chết ngay 47 công nhân và hàng trăm ngàn người bị nhiễm phóng
xạ trong thời gian dài.
Những đám cháy rừng đã mang lượng lớn bụi vào khơng khí với nhiều
chất độc hại như khói, bụi, khí SO2, CO...
Ngồi ra bụi có nguồn gốc như bão cát (thường xảy ra ở vùng đất trơ,
không được che phủ bởi thảm thực vật).
<i>f. Các tác nhân sinh học gây tai biến lý sinh </i>
Tai biến mơi trường lý sinh có nguồn gốc sinh học chính là các bệnh do vi
rút, vi khuẩn, sâu bệnh hại... gây nên. Chủ thể là con người và các sinh vật như
cây nông nghiệp, cây công nghiệp, cây lâm nghiệp, thuỷ sản, vật nuôi... Trong
điều kiện môi trường thuận lợi cho tác nhân gây bệnh, thiếu sự phòng ngừa,
ngăn chặn, các loại tai biến lý sinh sẽ có thể chuyển thành hiểm hoạ, thảm hoạ.
Môi trường để dịch hại tồn tại, thường được kéo dài và ở dạng tai biến tiềm
năng nhưng đang chuyển tiếp đến cận ngưỡng an toàn. Khi vượt qua ngưỡng này,
sẽ thành trở thành dịch hại, gây hiểm họa cho con người và môi trường.
Theo Seimas và các cộng sự (1984), các yếu tố liên quan dẫn đến tai biến
lý sinh vượt ngưỡng an toàn trở thành hiểm hoạ bao gồm:
- Sự ủ bệnh đã có từ trước, gặp các điều kiện thuật lợi sẽ bùng phát.
- Thay đổi môi trường dẫn đến tạo điều kiện thuận lợi cho sự lan truyền
- Di tán dân, xáo trộn ổn định dân cư.
- Các quy trình kiểm sốt dịch bệnh bị phá vỡ.
- Sức đề kháng của cộng đồng đối với bệnh tật giảm sút.
Khí hậu nước ta nóng ẩm, đất thường ẩm thấp, thành phố thoát nước kém,
mặt đường vỉa hè nhiều rác bẩn, rải rác khắp phố phường có các chợ bán rau
xanh và thực phẩm. Các hạt bụi có mang theo vi sinh vật có ảnh hưởng trực tiếp
hay gián tiếp đến sức khoẻ, nhiều khi nó là nguyên nhân của các dịch bệnh về
đường hô hấp, đau mắt, tiêu hoá....
Năm 1995, ở Bangkok đã phát hiện 13 loại nấm gây bệnh và 16 loài vi
khuẩn trong lớp bụi ở thành phố. Cứ 6 người ở thành phố thì có 1 người dị ứng
với các loại nấm và vi khuẩn đó gây ra.
Ví dụ:
- Ngộ độc E.coli
bệnh phát triển (vi khuẩn gây ngộ độc có điều kiện). E.coli theo phân người và
gia súc ra ngoài thiên nhiên. Con người dùng phân đó để bón cho cây nên nó
nhiễm vào cơ thể con người khi ăn các loại rau mà khơng rửa sạch bằng thuốc
tím hay muối.
Ecoli gây bệnh truyền nhiễm có tính chất lưu hành như bệnh tả của tiểu
gia súc, bệnh ỉa chảy ở trẻ em, viêm đường tiểu, nhiễm khuẩn máu, viêm màng
não...
- Bệnh cúm gia cầm H5N1:
Tác nhân gây bệnh là do các loại virus cúm A hay cúm type A thuộc họ
Orthomyxovirida, giống Influenzavirus A, gọi tắt là cúm A.
Loại bệnh cúm gia cầm này xuất hiện đầu tiên tại Italy năm 1878 làm chết
hàng triệu gà vịt, sau này ở Mỹ tại bang Pennsylpania năm 1983 - 1984 giết chết
hơn 17 triệu con gà làm thiệt hại 65 triệu USD. Năm 1992 cũng xảy ra ở Hồng
Kơng có 18 người mắc bệnh, 6 người chết.
Ở nước ta, dịch cúm gà được phát hiện đầu tiên ở các tỉnh phía Bắc, cụ
thể ngày 24 tháng 6 năm 2003 tại Hà Nội rồi lan ra các tỉnh lân cận. Dịch cúm
bùng phát từ tháng 12/2003 tại trại gà giống Chương Mỹ.
Ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm (cúm gà):
+ Ảnh hưởng của virus cúm lên mơi trường: khơng khí: mùi, các khí độc
hại; mơi trường nước; mơi trường đất.
+ Ảnh hưởng của virus cúm đến sức khoẻ con người: có nguy cơ lan rộng
và gây tử vong cho người. Loại virus có khả năng đột biến nhanh.
Cách lây truyền: có thể sống ngồi mơi trường 4 ngày ở nhiệt độ 22oC và
30 ngày ở nhiệt độ 0oC, sống vô thời hạn dạng bào tử ở trong băng tuyết. Con
người bị nhiễm cúm qua tiếp xúc trực tiếp với gia cầm, phân gia cầm mang mầm
bệnh, hoặc thức ăn mang mầm bệnh.
- Hiện tượng thủy triều đỏ (Red Tide):
Hình 4.3. Thủy triều đỏ xuất hiện ngày 10/1/2015 ở TP. Chu Hải, Quảng Đông,
Trung Quốc (Theo China New)
<i>4.1.2.2. Các yếu tố do con người tác động đến tính nhạy cảm của tai biến lý sinh </i>
Các tác động của con người trong nhiều trường hợp đã góp phần thúc đẩy
tai biến môi trường lý sinh vượt qua ngưỡng tới hạn để chuyển sang sự cố hoặc
hiểm họa môi trường.
<i>a.Tiếng ồn: </i>
Tiếng ồn gây ra từ hoạt động công nghiệp, phương tiện giao thông... một
cách thường xuyên sẽ gây căng thẳng cho hệ thần kinh của con người tại các
vùng trung tâm cơng nghiệp, các khu đơ thị. Tình trạng tiếng ồn vượt ngưỡng an
toàn đối với thần kinh con người ở các thành phố lớn là một trong những tai biến
lý sinh, tác hại đến sức khoẻ con người, cần tìm cách hạn chế, giảm thiểu.
<i>b. Bụi nhân tạo trong khơng khí </i>
Bụi là một loại vật chất gây ơ nhiễm khơng khí, thường là vật chất lơ lửng
(bụi nhẹ) nhưng cũng có một số bụi nặng bị gió cuốn hội nhập với tầng bình lưu
gần mặt đất của khí quyển.
- Kích thước của một số loại bụi trong khơng khí:
+ Sương mù: 0,01 – 1 Micromet;
+ Thuốc trừ sâu: 1 – 10 Micromet;
+ Phấn hoa: 10 – 100 Micromet.
- Các nguồn bụi nhân tạo:
+ Bụi khói thải từ các nhà máy;
+ Bụi từ các chất thải sinh hoạt, bụi đường, xây dựng;
+ Bụi khói từ các lị gạch, gốm, lị nung các loại, bếp củi…
+ Bụi khói xả ra từ các xe cơ giới, ô tô, xe máy...
+ Bụi xi măng, bụi amiăng, bụi kim loại.
Tất cả các loại bụi trên thường tập trung ở các khu công nghiệp, khu đô
thị và là một trong những yếu tố gây tai biến môi trường lý sinh, có nguy cơ gây
hại tới sức khỏe và tính mạng của con người, đặc biệt khi con người phải tiếp
xúc với chúng trong thời gian dài.
- Tác hại của bụi đối với sức khoẻ:
+ Bệnh bụi phổi;
+ Bệnh nhiễm độc mãn tính: ung thư, kích ứng và các tổn thương viêm
nhiễm phổi, dị ứng và các đáp ứng cảm ứng khác, bệnh bụi phổi bông, bệnh sốt
kim loại, nhiễm khuẩn;
+ Tác động bên ngồi đường hơ hấp do tiếp xúc với bụi.
- Tác hại của bụi đối với môi trường:
+ Gây ô nhiễm, hấp thụ bức xạ, làm giảm tầm nhìn: Ở đơ thị lớn, khu
công nghiệp, bức xạ mặt trời chiếu xuống nhỏ hơn vùng nông thôn 15 – 20%,
làm giảm ánh sáng tự nhiên từ 1/3 vào mùa hè và 2/3 vào mùa đông...
+ Đóng vai trị trong sự thay đổi thời tiết, gây ra hiện tượng sương mù
quang hố (tai biến sương mù Ln Đơn năm 1952)...
+ Gây ăn mịn điện hố các cơng trình xây dựng.
+ Gây hại cho công nghiệp điện tử.
Bảng 4.1. Nồng độ bụi các nút giao thơng chính trong khu vực nội thành
thành phố Hà Nội (Trần Thị Hương, 2013)
<i>Đơn vị: </i><i>g/m3</i>
Vị trí các điểm nghiên cứu Toạ độ đông Toạ độ bắc Nồng độ bụi PM10
(trung bình 24 giờ)
1 Ngã tư Đại Cồ Việt – Giải Phóng 587412 2323183 386,3
2 Ngã tư Vọng 587544 2322056 212,8
3 Ngã tư Cửa Nam 587518 2325526 258,0
4 Ngã tư Phố Huế - Bạch Mai 588490 2323374 373,5
5 Ngã tư Tràng Tiền – Đinh Tiên Hoàng 588658 2325281 249
6 Chân Cầu Chương Dương 588818 2326282 515,2
7 Bến xe buýt Long Biên 588298 2326926 491,3
8 Ngã tư Nguyễn Du – Bà Triệu 588272 2324434 274,6
9 Ngã 5 Hà Nội – Hải Phòng – Bắc Ninh 592202 2328487 581,6
10 Ngã tư Ngô Gia Tự - Đức Giang 592535 2326392 441,6
11 Ngã tư Cầu Mai Động 589585 2321962 398,3
12 Bến xe Giáp Bát 587423 2320132 406,5
13 Ngã tư Trường Chinh – Lê Trọng Tấn – TTT 586127 23224 273,5
14 Ngã tư Ô Chợ Dừa 586226 2324476 318,4
15 Ngã Tư Sở 585158 2322761 298,3
16 Ngã tư Bạch Mai – Trương Định 588364 2321927 275,2
17 Ngã tư tại bến xe Nước Ngầm 587510 2318528 466,2
18 Ngã tư Chùa Bộc – Phạm Ngọc Thạch 586407 2323068 233,4
19 Ngã tư Tôn Đức Thắng 586868 2325754 197,7
20 Ngã tư Chùa Bộc – Thái Hà – Tây Sơn 585697 2323395 275,2
21 Ngã tư Hùng Vương 586900 2326996 198,6
22 Ngã tư Nguyễn Chí Thanh – Đê La Thành 584305 2325100 314,0
23 Ngã tư Nguyễn Chí Thanh – Láng –
Trần Duy Hưng - - 227,9
24 Ngã tư Cầu Giấy – Bưởi – Láng 583278 2325622 332,0
25 Ngã tư Liễu Giai – Đội Cấn 584659 2326482 196,7
26 Ngã tư Hoàng Hoa Thám – Văn Cao –
Dốc Tam Đa 584838 2327046 364,8
27 Bến xe Kim Mã 586139 23259 315,6
28 Ngã tư Láng Hạ - Thái Hà 584628 2324227 216,6
29 Ngã tư Cầu Giấy – Xuân Thủy –
Nguyễn Phong Sắc 582057 2326402 288,2
30 Ngã tư Liễu Giai – Kim Mã 584483 2325798 248,3
31 Ngã tư Cổ Nhuế 5813 2328890 336,7
Vị trí các điểm nghiên cứu Toạ độ đơng Toạ độ bắc Nồng độ bụi PM10
(trung bình 24 giờ)
33 Khu liên hợp thể thao Mỹ Đình 579918 2325756 203,3
34 Ngã 3 Khuất Duy Tiến - - 388,9
35 Ngã 3 Nguyễn Trãi – Khương Trung - - 411,6
36 Chân cầu Vượt – Phạm Văn Đồng 581110 2326708 381,2
37 Ngã tư Nguyễn Phong Sắc –
Hoàng Quốc Việt 582107 2327399 225,5
38 Bến xe Mỹ Đình 581006 2325511 321,6
39 Ngã tư Trần Duy Hưng – Phạm Hùng 582277 2322792 265,0
40 Bến xe Hà Đông - - 486,1
41 Bưu điện Hà Đông 580952 2319365 354,6
42 Ngã 3 Ba la 578680 2317480 403,3
43 Cầu Mai Lĩnh 5755857 2315440 432,8
44 Trục 32 – Nhổn
(trước cổng trường ĐH Công Nghiệp) - - 524,4
45 Viện 103 – Hà Đông 581921 2318786 427,2
QCMT 05-2009/BTNMT (trung bình 24 giờ) 1
Từ bảng 4.1 cho thấy, tại tất cả các vị trí nghiên cứu, nồng độ bụi đều
vượt ngưỡng cho phép, giá trị bụi dao động từ 196,7 đến 581,6 g/m3. Các vị trí
có bụi nhiều nhất là bến xe buýt Long Biên, chân cầu Chương Dương, bến xe
<i>Hà Đông, trục 32 – Nhổn với lượng bụi gấp QCVN từ 2,8 đến 3,4 lần. </i>
<i>c. Nhiễu ánh sáng tự nhiên tại các đô thị </i>
Trong q trình đơ thị hóa, một hiện tượng có xu thế gia tăng mạnh mẽ là
hiện tượng kính hố. Trong xây dựng, trang trí nội thất, quảng cáo, kết cấu của
các thiết bị công nghiệp, sinh hoạt, giao thông… đã tạo nên một môi trường
nhiễu ánh sáng tự nhiên được hiểu đó là loại ánh sáng bị khúc xạ qua kính, phản
xạ qua kính, triết xạ qua kính, thậm được nhân lên nhiều cấp vì qua nhiều tầng
kính các loại, tạo nên môi trường loạn quang. Hiện tượng kính hóa, kính màu
hóa, cùng với ánh sáng màu từ các loại đèn điện với nhiều màu sắc, nhấp nháy
tạo nên môi trường của một “phức hợp loạn quang” phi tự nhiên.
Cơ thể con người có khả năng thích nghi với hồn cảnh tự nhiên nhưng
cũng chỉ đến ngưỡng cho phép. Mắt người có thể chấp nhận được chiết suất
phản xạ ánh sáng, tiếp cận dưới 12%.
đó cũng có thể làm mất đi một vài “sắc tố” của ánh sáng tự nhiên, vốn quen
thuộc với đồng hồ sinh học của con người.
Theo ý kiến của một số nhà khoa học trong lĩnh vực quang sinh học, hiện
tượng nhiễu ánh sáng tại các đô thị khi đã vượt ngưỡng chấp nhận của cơ thể
con người, có thể dẫn đến các hậu quả như:
+ Biến đổi di truyền tế bào, làm cho tế bào bình thường chết nhanh, tế bào
dị thể phát triển.
+ Tăng bệnh giòn xương ở tuổi già.
+ Làm trẻ em chậm lớn vì thiếu canxi do thiếu ánh sáng tự nhiên.
Trong một vài trường hợp đặc biệt, cịn có thể gây cháy do hiện tượng hội
<i>d. Tăng nguồn gen động, thực vật ngoại lai và loại bỏ các nguồn gen đã </i>
<i>thuần hóa trong hệ sinh thái </i>
Việc nhập các nguồn gen lạ, ngoại lai, thiếu sự đánh giá, kiểm dịch,
thiếu những hiểu biết chúng về mặt sinh học, đặc tính sinh thái sẽ ảnh hưởng
rất lớn đến mơi trường sinh thái, có nguy cơ gây tai biến môi trường cho khu
vực. Ngược lại, cố ý hoặc vơ ý có những hành vi làm phương hại các nguồn
gen đã thuần hóa và ổn định trong khu vực, thậm chí loại bỏ chúng cũng là
việc làm cần tránh.
<i>4.1.2.3. Các bệnh xã hội và tai biến lý sinh </i>
Khi xã hội phát triển, bên cạnh những mặt tích cực, tốt đẹp cho con người
thì cũng có những hạn chế nhất định, một số người với cuộc sống buông thả, bị
áp lực xã hội... có hành vi quan hệ xã hội không lành mạnh, tạo điều kiện để
phát sinh bệnh tật, gây hại đến sức khoẻ bản thân, cho cộng đồng.
Các loại bệnh xã hội là: bệnh giang mai, hiện tượng nghiện hút, tiêm
chích ma tuý là tiền đề gây bệnh thần kinh, suy nhược tồn thân, nhiễm các bệnh
như HIV-AIDS.
<i>4.1.3. Phịng vệ tai biến lý sinh </i>
người hiểu biết, dựa vào các quy luật tự nhiên để có những giải pháp đề phịng, hạn
chế, khơng để tai biến tiềm năng dịch chuyển, vượt quá ngưỡng tới hạn.
Nhìn chung, cách phù hợp và có cơ sở khoa học nhất trong q trình ứng
Ứng xử đối với các tai biến lý sinh, cần định hướng vào ba vấn đề sau:
<i>4.1.3.1. Phòng vệ từ nguồn gen </i>
- Duy trì, bảo vệ, phát triển các nguồn gen của hệ động thực vật đã tồn tại
lâu dài, ổn định trên một điều kiện tự nhiên đã xác định, giữ cân bằng sinh thái
của môi trường tự nhiên. Đặc biệt đối với các nguồn gen quý hiếm, đặc hữu.
- Thận trọng trong việc loại bỏ những động, thực vật được cho là gây hại
hoặc khơng là nguồn lợi, chưa nhìn thấy tính hữu ích…
- Thận trọng trong việc du nhập các loài ngoại lai. Cần có những quy định
trong kiểm dịch các lồi động, thực vật ngoại nhập.
- Cần có những quy định và giải pháp bảo vệ các nguồn gen đã phát triển
ổn định, ngay cả khi đã có những thành cơng trong việc lai tạo được những lồi
mới nhưng chưa rõ tính bền vững.
<i>4.1.3.2. Phịng vệ dưới góc độ bảo vệ mơi trường lý sinh </i>
Đối với các yếu tố môi trường lý sinh do thiên nhiên gây nên tai biến:
tăng nhiệt độ khí quyển, hiệu ứng nhà kính, tăng tia tử ngoại do thủng tầng ozon,
nước biển dâng, phóng xạ tự nhiên… cần phịng vệ theo hai hướng sau:
- Không tác động đẩy nhanh và làm gia tăng tính nhạy cảm tai biến (giảm
bớt chất thải gây gia tăng các hiện tượng trên).
- Các biện pháp kỹ thuật nhằm giảm bớt ảnh hưởng của tai biến lý sinh
đến con người.
Các cơ quan quản lý mơi trường, Chính quyền các cấp… cần kết hợp chặt
chẽ trong việc tiến hành nghiên cứu, đề xuất giải pháp cũng như xây dựng các
văn bản pháp quy trong việc quản lý bảo vệ mơi trường.
<i>4.1.3.3. Phịng vệ chủ động trong hoạt động của con người về công nghiệp, nông </i>
<i>– lâm – ngư nghiệp, xây dựng, giao thông, khai thác tài nguyên, du lịch </i>
các biểu hiện tai biến như tiếng ồn, bụi, nhiễu xạ ánh sáng… Phương hại tới mơi
trường lý sinh, từ đó gây hại đến sức khỏe và tính mạng của con người. Về vấn
đề này con người có thể chủ động phòng vệ thông qua cơ chế quản lý môi
trường, giảm bớt chất thải, xử lý chất thải, tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý
thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng, kiểm tốn mơi trường, đánh giá tác động
môi trường.
Trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ khách sạn cần có những hướng dẫn, văn
bản pháp quy, các giải pháp quản lý mang tính đặc thù, nhằm tránh những nguy
cơ gây ra các tai biến môi trường chung, mơi trường văn hóa xã hội, phịng ngừa
các bệnh xã hội gia tăng, đẩy đến ngưỡng dịch bệnh, gây nên hiểm họa môi
trường sinh thái đối với khu vực, lãnh thổ.
4.2. Tai biến môi trường nhân sinh
<i>4.2.1. Khái niệm và các loại tai biến nhân sinh phổ biến </i>
<i>a. Khái niệm: </i>
Các loại tai biến gắn với các hoạt động kinh tế của con người.
Các tai biến nhân sinh có biểu hiện về dạng tai biến, quy mô và mức độ
tác hại rất khác nhau, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.
b. Một số loại tai biến nhân sinh phổ biến
- Các loại tai biến trong lĩnh vực công nghiệp
Mọi cải cách trong cuộc cách mạng công nghiệp, các ứng dụng tiến bộ
khoa học công nghệ trong các hoạt động kinh tế một mặt mang lại lợi ích kinh
tế, mặt khác cũng tạo nguy cơ gây tai biến, hiểm họa.
Giá trị thiệt hại do các loại tai biến thường phụ thuộc vào chính sách xã
hội và sự đầu tư cho việc phòng chống tai biến các loại ở từng quốc gia. Thực tế
cho thấy các tai biến dẫn đến sự cố, hiểm họa trong công nghiệp hiện nay diễn ra
khá phổ biến nhưng mức độ thiệt hại của chúng gây ra tại các nước phát triển
thường nhỏ hơn so với các nước chậm phát triển.
+ Vụ đổ dầu dẫn đến hỏa hoạn tại Cubato – Brazin (5/2/1984) làm trên
500 người thiệt mạng.
+ Vụ nổ khí hóa lỏng ở thành phố Mehico – Mehico (19/11/1984) làm
chết 450 người, hơn 30.000 người mất nhà cửa.
+ Vụ rị rỉ chất phóng xạ từ nhà máy điện hạt nhân Checnobưn - Ukraina
(26/4/86) làm chết và nhiễm phóng xạ nhiều ngàn người. Sự rị rỉ phóng xạ trên
phạm vi bán kính vài trăm km, sau đó khói và khí phóng xạ đã lan phần lớn khu
vực Tây Bắc Châu Âu gây ra những hậu quả nghiêm trọng.
+ Những vi phạm và sự cố trong q trình thi cơng vận hành thử nghiệm
tổ hợp nhà máy của công ty Formosa Hà Tĩnh là nguyên nhân gây ra ô nhiễm
- Các tai biến trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, nhiên liệu
Khai thác khống sản, nhiên liệu là lĩnh vực ln có khả năng xảy ra sự
cố, hiểm họa cho những người trực tiếp lao động tại nơi đó cũng như cho cả
cộng đồng khu vực lân cận.
+ Khai thác than: Thể
hiện ở các vụ sập hầm mỏ, nổ
khí metan gây chết người, còn
tạo nên các bãi thải gây hủy
hoại môi trường sinh thái.
Riêng tại vùng Hòn Gai
và Cẩm Phả, hàng năm đã bóc
bỏ khoảng 1 tỷ m3 đất đá đắp
thành các bãi thải lớn, khi có
mưa lớn, rất dễ gây ra các dòng
chảy mạnh, bồi lấp chỗ trũng và
chảy ra vùng vịnh... Có thể gây
chết rừng ngập mặn, làm san hơ bị suy thối và chết.
+ Khai thác vàng và đá quý: sập lị, giếng, xả chất hóa học (Syanua), phá
rừng, đất đai canh tác... làm ô nhiễm môi trường đất, nước.
+ Khai thác dầu khí:
- Các tai biến trong lĩnh vực xây dựng, giao thông - vận tải:
+ Tai nạn giao thơng: Trung bình 1 năm có trên 200 người chết vì tai nạn
giao thơng...
+ Tai nạn giao thông liên quan đến vận chuyển các vật liệu gây cháy nổ,
độc hại, xả thải khí đốt, tràn dầu…
Hình 4.4. Nguy cơ gây hiểm họa ở các
bãi thải than
+ Xây dựng nhà cửa, cơng trình cơng cộng, cơng trình thủy lợi, thủy điện,
hồ chứa…
- Các tai biến trong lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư nghiệp:
+ Gây ơ nhiễm mơi trường đất, nước, làm giảm tính đa dạng sinh học do
các hóa chất độc hại từ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật;
+ Do canh tác nương rẫy trên các vùng đất dốc không đúng kỹ thuật, du
canh du cư, chăn thả gia súc;
+ Phá, đốt rừng đầu nguồn;
+ Cháy rừng;
+ Canh tác, nuôi trồng thủy hải sản, khai phá rừng ngập mặn thiếu quy
hoạch;
+ Khai thác thủy hải sản q mức, có tính chất hủy diệt;
+ Du nhập các loài sinh vật mới có tính cạnh trạnh cao, gây hại, làm mất
cân bằng sinh thái;
+ Tai biến sinh học do bùng phát các sinh vật được biến đổi gen.
<i>4.2.2. Ứng xử, giảm thiểu đối với các thiệt hại do các tai biến nhân sinh </i>
Các tai biến liên quan đến tác động nhân sinh rất đa dạng, phong phú.
Những hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực đều luôn tác động mà phần
lớn là tác động tiêu cực tới môi trường, gây nên nguy cơ tai biến tiềm năng đến
môi trường.
Vì vậy, việc đề xuất chiến lược ứng xử, giảm thiểu đối với các thiệt hại do
tai biến môi trường nhân sinh gây nên là hết sức cấp thiết.
- Xây dựng, hoàn chỉnh các văn bản pháp quy.
Nhằm kiểm sốt tác động đến mơi trường do các hoạt động nhân sinh gây
ra, đặc biệt các nguy cơ gây tai biến, sự cố, hiểm họa môi trường.
- Phổ biến rộng rãi các tài liệu văn bản pháp quy nhằm nâng cao ý thức
cho cộng đồng.
Nhằm giảm thiểu nguy cơ gây tai biến, sự cố, hiểm họa môi trường do các
tác động nhân sinh, đồng thời giáo dục ý thức của cộng đồng trong việc tự giác
thực hiện các văn bản, pháp quy về bảo vệ môi trường.
- Quy hoạch và xây dựng các kế hoạch thực hiện chính sách mơi trường
đối với từng địa phương.
- Tiến hành bảo hiểm đối với tai biến, sự cố, hiểm họa môi trường do tác
động nhân sinh ở quy mô lớn đến quy mơ gia đình, cá nhân.
Chương 5
MỘT SỐ TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP
Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất độc lập của nền kinh tế quốc dân
có chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế
biến lâm sản và phát huy các chức năng phịng hộ văn hóa, xã hội... của rừng.
Hoạt động sản xuất Lâm nghiệp tuy đa dạng nhưng luôn gắn liền với rừng, đất
và nước. Các tai biến môi trường liên quan tới hoạt động sản xuất Lâm nghiệp
cũng rất đa dạng. Trong đó, nhiều loại tai biến môi trường liên quan đến sản xuất
Lâm nghiệp đã được đề cập tới trong các chương trước của môn học như: trượt
lở đất, bão, lũ, núi lửa, hạn hán, sinh vật xâm hại… Trong chương này, sẽ giới
thiệu một số tai biến khác như: dịch sâu hại rừng, cháy rừng, suy thoái đất với
các hình thức khác nhau…
5.1. Dịch sâu hại rừng
<i>5.1.1. Khái niệm </i>
- Côn trùng: Côn trùng là lớp động vật phong phú và đa dạng nhất của
ngành Chân đốt (Arthroppoda). Động vật thuộc ngành Chân đốt là những động
vật không xương sống; thân thể được chia làm nhiều đốt, các đốt mang các chi
phụ và các chi phụ cũng chia đốt; cơ thể được bao bọc bởi một lớp vỏ kitin hóa
cứng; chúng lớn lên bằng cách lột xác; cơ thể được chia làm 3 phần: đầu, ngực
và bụng. Cơn trùng có 1 đơi râu đầu, 3 đơi chân và có 1 hoặc 2 đơi cánh.
- Dịch sâu hại rừng là: Hiện tượng phát sinh sâu hại rừng với số lượng
<i>5.1.2. Đặc điểm của lớp cơn trùng </i>
<i>5.1.2.1. Đặc điểm chung </i>
- Cơn trùng có một lớp da cứng chắc nhẹ nhàng, đàn hồi được để bảo vệ
cơ thể.
- Thân thể nhỏ bé, chỉ cần một lượng thức ăn nhỏ chúng cũng sống được
nên dễ chiếm một vị trí thích hợp trong không gian.
- Côn trùng là động vật không xương sống duy nhất có cánh nên phân bố
rộng rãi.
<i>5.1.2.2. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của côn trùng </i>
(a) Các phương thức sinh sản của cơn trùng
Tính đa dạng cao của cơn trùng thể hiện ở sự phân hóa ngay trong nhiều
phương thức sinh sản của chúng.
- Sinh sản hữu tính: Đa số cơn trùng đều có phương thức sinh sản hữu
tính, tức là có sự phát sinh của hai cơ quan sinh sản cái và đực ở hai cá thể có
giới tính riêng biệt, có q trình giao phối và thụ tinh. Các lồi sinh sản hữu tính
thường có đầy đủ các pha phát triển khác nhau, từ trứng tới pha trưởng thành.
Đa số côn trùng sau quá trình giao phối, con cái tiến hành đẻ trứng. Tuy nhiên,
có một số hiện tượng đặc biệt như sinh sản đa phôi và sinh sản đẻ con.
- Sinh sản đơn tính: Là phương thức sinh sản đẻ ra trứng không qua giao
phối, trứng vẫn nở ra sâu non. Phương thức sinh sản này khá phổ biến ở các lồi
cơn trùng. Xét về mặt tế bào học, có hai loại sinh sản đơn tính chính là sinh sản
- Một số lồi cơn trùng cịn có khả năng sinh sản ở các pha trước trưởng
<i>thành. Hiện tượng ấu sinh được phát hiện thấy ở loài cánh cứng Micromalthus </i>
<i>debilis (họ Micromalthidae) và muỗi năn giống Miastor (họ Cecidomyidae). </i>
Trong cơ thể ấu trùng, tế bào trứng đã phát triển đầy đủ và nở ra ấu trùng sống
trong cơ thể ấu trùng mẹ rồi cắn vỡ vỏ cơ thể mẹ chui ra ngoài.
- Ngoài ra, một số lồi cơn trùng cịn có phương thức sinh sản nhiều phôi,
thấy nhiều ở ong ký sinh. Trứng của các loài ong này thường nghèo chất dinh
dưỡng, được để vào cơ thể một lồi cơn trùng khác. Tận dụng chất dinh dưỡng
của cơ thể vật chủ, trứng phân cắt thành dải phôi bào rồi tự phân thành nhiều
đoạn nhỏ. Mỗi đoạn phát triển thành ấu trùng rồi sau đó trưởng thành. Với khả
năng sinh sản này, côn trùng ký sinh có thể nhân số lượng rất nhanh chóng.
(b) Quá trình phát triển và biến thái của cơn trùng
chỉnh những bộ phận và cơ quan cịn thiếu trong q trình phát triển phơi thai.
Trong q trình sinh trưởng và phát triển, cơn trùng đều trải qua các pha
(hoặc giai đoạn) khác nhau: trứng, con non và trưởng thành, với hai kiểu biến
thái (xem hình 5.1):
Hình 5.1. Hai kiểu biến thái chính của cơn trùng (theo daln.gov.vn)
(A) Biến thái hồn tồn; (B) Biến thái khơng hồn tồn
<i>- Biến thái khơng hồn tồn (Hemimetabola): Có đặc điểm là sâu non nở </i>
từ trứng ra có hình thái và sinh hoạt gần giống sâu trưởng thành. Sâu non sau
nhiều lần lột xác lớn dần lên, các bộ phận của cơ thể cũng dần dần hoàn thiện để
tiến tới sâu trưởng thành (châu chấu, bọ xít…).
Vịng đời của cơn trùng thuộc biến thái khơng hồn tồn có 3 pha: Trứng
– Sâu non – Sâu trưởng thành.
<i>- Biến thái hồn tồn (Holometabola): Có đặc điểm là sâu non nở từ trứng </i>
ra có hình thái và sinh hoạt khác hẳn với sâu trưởng thành. Sâu non qua nhiều
lần lột xác, lớn lên rồi vào nhộng, sau nhộng thành sâu trưởng thành. Kiểu biến
thái này có vịng đời với 4 pha: Trứng – Sâu non – Nhộng – Sâu trưởng thành.
(c) Vòng đời, lứa sâu và lịch phát sinh của côn trùng
- Một chu kỳ phát triển của côn trùng được kể từ trứng mới đẻ ra và kết
thúc ở sâu trưởng thành bắt đầu đẻ trứng được gọi là một vòng đời của cơn trùng.
Thời gian và số lượng của vịng đời trong năm tùy thuộc vào từng lồi cơn
trùng và điều kiện ngoại cảnh, trong đó chủ yếu là nhiệt độ, độ ẩm và thức ăn.
Trứng <sub>Sâu non </sub>
9-13 tháng
(Lột xác 8 lần)
Trưởng thành
6-7 tuần
Ví dụ: Lồi Sâu xám có 6 - 7 vịng đời/năm, lồi Sâu róm thơng có 4 - 5 vòng
đời/năm.
- Lứa sâu hay còn gọi là thế hệ sâu là thời gian tồn tại của tất cả những cá
thể sâu do cùng một con mẹ đẻ ra. Thời gian đẻ hết trứng của một con mẹ
- Lịch phát sinh của cơn trùng là bảng ghi số lửa phát sinh trong một năm
của từng loài theo năm tháng.
Lịch phát sinh của côn trùng rất quan trọng, giúp con người nắm được các
thời kỳ côn trùng phá hoại và thời gian các pha biến thái, nhờ đó có thể tiến
hành dự tính, dự báo và định kỳ phun thuốc phòng trừ hiệu quả.
<i>5.1.3. Quan hệ giữa quá trình phát dịch của sâu hại và môi trường </i>
<i>5.1.3.1. Đặc điểm của dịch sâu hại </i>
(a) Quá trình phát dịch của sâu hại
Do có khả năng sinh sản nhanh, chu kỳ sống khá ngắn nên nhiều lồi cơn
trùng có thể phát sinh rất mạnh, gây nên những thiệt hại nghiêm trọng cho thực
vật. Khi sâu phát sinh bất thường sẽ tạo ra dao động mật độ vượt quá biên độ
bình thường và phát triển thành dịch. Thiệt hại do chúng gây ra chỉ có thể được
ngăn chặn thơng qua các biện pháp phịng trừ ở quy mơ lớn. Dịch sâu hại xảy ra
khi sâu hại có số lượng lớn, gây hại nghiêm trọng cho một diện tích canh tác và
vì vậy, con người buộc phải tiến hành các biện pháp phịng trừ.
Thường có hai khả năng để côn trùng phát dịch:
(1) Sự xâm lấn của một loài vào một khu vực mới,
(2) Sự phát triển mạnh mẽ của quần thể loài bản địa.
0
50
100
450 Mật độ
quần thể
I II III IV V VI VII
Bình thường
(Tiềm ẩn)
Latenz
Non-outbreak
Chuẩn bị Bành trướng
(Trước dịch)
Progradation
Building Phase
Phát
dịch
Gradation
Outbreak
Giảm sút dịch
(Sau dịch)
Retrogradation
Hình 5.2. Quá trình phát dịch của côn trùng
- Giai đoạn chuẩn bị (giai đoạn tiềm tàng): Các điều kiện thuận lợi cho
sâu hại đã xuất hiện nhưng bản thân chúng chưa chuẩn bị để tiếp thu những
thuận lợi đó. Chúng dần tăng nhanh khả năng sinh sản, tích lũy lại và chuẩn bị
thành dịch. Trong các ổ chuẩn bị thành dịch, mật độ sâu thường cao hơn xung
quanh, tốc độ sinh sản nhanh, tỷ lệ trứng nở cao, các loài thiên địch chưa xuất hiện.
- Giai đoạn bành trướng (giai đoạn tăng số lượng cá thể). Các thế hệ cứ
tiếp nhau tăng số cá thể. Cơ thể sâu có nhiều chất dinh dưỡng, nhiều mỡ. Sâu cái
đẻ trứng nhiều, thời gian đẻ kéo dài, tỷ lệ trứng nở cao, tỷ lệ sâu non chết thấp,
tỷ số sâu cái trong quần thể cao. Một số điểm xuất hiện mật độ cao và gây hại
nghiêm trọng. Các loài thiên địch đã bắt đầu xuất hiện và hoạt động nhưng mật
độ còn thấp.
- Giai đoạn dịch (giai đoạn cực đại). Mật độ tuyệt đối và mật độ tương đối của
sâu đều ở mức tối đa. Số lượng tăng một cách nhảy vọt, một số yếu tố sinh thái
trở nên cực kỳ thuận lợi cho sự phát triển về số lượng sâu. Sâu xuất hiện nhiều,
đạt đến mức cao nhất trên phạm vi rộng, khi thiếu thức ăn di cư hàng đàn. Hoạt
động của từng cá thể cũng tăng, chúng phàm ăn hơn, lượng thức ăn giảm sút
nhanh. Các loài thiên địch tăng lên cả về số lượng lẫn chủng loại. Các điều kiện
trên làm cho sâu hại bị chết hàng loạt và trận dịch bắt đầu giảm dần.
sinh sản, kèm theo đó có hiện tượng cạnh tranh thức ăn. Các loài hiện đang phát
triển tới đỉnh cao tiêu diệt lồi sâu hại. Trận dịch kết thúc.
Ví dụ: Ở Hoa Kì, trong 25 năm qua, lồi mọt hại thông hằng năm gây dịch
làm hỏng một khối lượng lớn gỗ, trị giá 17,4 triệu USD; Ở Việt Nam, dịch Sâu
róm thơng đã xảy ra khá phổ biến ở nhiều địa phương từ miền Bắc đến miền
Trung. Điển hình vào năm 1959 ở vùng Cầu Cấm (Nghệ An), năm 1969 ở nông
trường Yên Dũng (Bắc Giang) ăn trụi lá thông, sâu di cư bị vào xóm làng lân
cận, dân phải sơ tán.
(b) Ổ dịch sâu hại:
Ổ dịch là nơi
sâu hại sống và ẩn
nấp trong thời kỳ giữa
hai lần phát sinh hàng
loat. Ổ dịch đầu tiên
<i>được gọi là ổ dịch sơ </i>
<i>cấp. Tại phạm vi ổ </i>
dịch, có điều kiện
sinh thái, đặc biệt là
khí hậu và thức ăn rất
thuận lợi với loài sâu
hại. Những ổ dịch
mới xuất hiện do sâu
hại di chuyển từ ổ
dịch sơ cấp sang được
<i>gọi là ổ dịch thứ cấp. </i>
<i>5.1.3.2. Nguyên nhân của dịch sâu hại </i>
Một đặc điểm quan trọng của dịch sâu hại là sâu có số lượng cá thể rất
lớn, gây hại nghiêm trọng. Vì vậy, điều kiện để sâu có thể phát dịch chính là
điều kiện để một lồi cơn trùng có số lượng cá thể lớn. Phân tích quy luật của
dịch sâu hại cho thấy có hai điều kiện cơ bản để sâu phát dịch là điều kiện bên
trong và điều kiện bên ngoài.
Điều kiện bên trong (khả năng sinh sản cao - tiềm năng phát dịch), được
thể hiện ở bốn chỉ số: chỉ số sinh dục (tỷ lệ cá thể cái thích hợp); chỉ số sinh sản
Hình 5.3. Hàng trăm ha rừng thông nhựa tại huyện Bố
cao (khả năng đẻ của một cá thể cái); tỷ lệ sống cao; thời gian vòng đời ngắn.
Khi cả bốn chỉ số này đều thuận lợi, sâu hại sẽ có khả năng phát sinh hàng loạt,
dẫn tới mật độ lớn, gây hại nghiêm trọng. Tiềm năng phát dịch cao chỉ trở thành
hiện thực khi sâu hại gặp điều kiện bên ngoài thuận lợi.
Điều kiện bên ngoài: Các yếu tố khí tượng (nhiệt độ khơng khí, độ ẩm
khơng khí, ánh sáng, gió…) thích hợp; thức ăn đầy đủ và có chất lượng cao;
thiên địch khơng đủ mạnh để kìm hãm sâu hại. Yếu tố điều chỉnh xác định mật
độ cuối cùng của quần thể và điều hòa mật độ thực tế thường là yếu tố sinh vật.
<i>5.1.3.3. Quan hệ của dịch sâu hại với môi trường </i>
(a) Ảnh hưởng của các yếu tố khí tượng, thủy văn
<i>* Nhiệt độ khơng khí: </i>
- Cơn trùng có thân nhiệt khơng ổn định, biến đổi theo nhiệt độ của mơi
trường. Trong điều kiện bình thường, nhiệt độ cơ thể côn trùng tỷ lệ thuận với
nhiệt độ môi trường. Nhiệt độ cơ thể khác nhau có ảnh hưởng rất lớn tới quá
trình trao đổi chất. Nhiệt độ khác nhau, tốc độ các phản ứng sinh hóa khác nhau,
ảnh hưởng đến cường độ trao đổi chất, dẫn đến chất lượng của các sản phẩm
sinh học. Vì thế, cơn trùng có khả năng sinh sản và phát dịch khác nhau.
- Cường độ trao đổi chất của côn trùng phụ thuộc chặt chẽ vào kích thước
và màu sắc cơ thể của chúng. Ni sâu non ở nhiệt độ khác nhau thì kích thước
sâu trưởng thành cũng như màu sắc của chúng khác nhau. Số lần lột xác của côn
<i>trùng cũng phụ thuộc vào nhiệt độ (Châu chấu Melanopus mexicanus lột xác 6 </i>
lần ở 22 - 27oC, 5 lần ở 33 - 37oC).
- Cường độ hoạt động của côn trùng phụ thuộc vào nhiệt độ của môi
trường:
+ Nhiệt độ tối thấp (Tmin): Giới hạn nhiệt độ thấp nhất mà côn trùng chịu
đựng được. Vượt quá giới hạn này, côn trùng sẽ chết vì lạnh.
+ Nhiệt độ tối cao (Tmax): Giới hạn nhiệt độ cao nhất mà côn trùng chịu
đựng được. Vượt quá giới hạn này, côn trùng sẽ chết vì nóng.
+ Nhiệt độ thích hợp (T1 - T2): Khoảng nhiệt độ thích hợp đối với hoạt
động sống của côn trùng (cường độ hoạt động cao, khả năng sinh trưởng phát
triển tốt, sinh sản cao).
+ Nhiệt độ tối thích (Topt): Nhiệt độ thích hợp nhất cho mọi hoạt động
sống của côn trùng (khả năng sinh sản cao nhất, tốc độ phát triển cao nhất, tiêu
hao năng lượng ít nhất).
+ Khoảng nhiệt độ khiến cơn trùng tê liệt vì nóng (Tn-Tmax) hoặc vì lạnh
(Tmin – To).
+ Tốc độ phát triển là số đảo của thời gian phát triển (V=1/N).
+ Nhiệt độ hữu hiệu (Thh): Hiệu số giữa nhiệt độ môi trường với nhiệt độ
+ Tổng nhiệt độ hữu hiệu (S) là tích của nhiệt độ hữu hiệu và thời gian
cần thiết để hoàn thành sự phát triển {S = N.(T-To)}.
- Nhiệt độ khơng khí ảnh hưởng đến khả năng đẻ trứng và tỷ lệ chết của
côn trùng.
- Sự điều tiết nhiệt độ của côn trùng:
+ Côn trùng điều tiết thân nhiệt bằng biến đổi cường độ hấp thụ oxy và
thoát hơi nước (loài Mọt bọt ở 10oC hấp thụ 45 mm3/h; 20oC hấp thụ 199 mm3/h
và ở 30oC hấp thụ 199 mm3/h).
+ Cơn trùng điều hịa nhiệt độ bằng sự vận động các cơ và các đặc điểm
hình thái, sinh lý khác nhau. Ví dụ: Châu chấu, chuồn chuồn đầu nghiêng trên
ngọn cỏ, bướm dang rộng cánh để hấp thụ được nhiều nhiệt năng hơn; Ong mật
rung ngực chụm lại với nhau để sưởi ấm, quạt cánh hay tha nước khi tổ nóng;
mối, kiến xây tổ hợp lý…
*Độ ẩm khơng khí, lượng mưa
- Đối với cơn trùng, việc duy trì một lượng nước trong cơ thể là rất quan
trọng. Lượng nước này lại phụ thuộc chủ yếu vào lượng mưa và độ ẩm của mơi
trường.
- Đối với mỗi lồi cơn trùng hoặc từng pha biến thái của nó đều yêu cầu
một khoảng độ ẩm tương đối thích hợp nhất định đối với môi trường sống. Đa số
các lồi cơn trùng có thể sống được bình thường trong khoảng độ ẩm tương đối
của môi trường từ 70 - 100%, nhưng khoảng độ ẩm thích hợp chỉ từ 80 - 90%.
hướng tăng hay giảm đều làm giảm sức sống của côn trùng. Nếu độ ẩm tương
đối tiếp tục dao động xa hơn nữa thì cơn trùng sẽ rơi vào trạng thái hơn mê, sau
đó sẽ chết.
- Nếu độ ẩm tương đối của môi trường thấp, nước trong cơ thể mất nhanh
thường thúc đẩy côn trùng phát dục nhanh nhưng độ ẩm quá thấp lại trì hỗn
phát dục, thậm chí làm cơn trùng chết.
- Độ ẩm tương đối của môi trường cao, thời gian phát dục của côn trùng
thường bị kéo dài và làm chúng dễ mắc bệnh.
* Ánh sáng: Loại ánh sáng, tính chất và thời gian chiếu sáng trong ngày có
ảnh hưởng tới hoạt tính của các men, dó đó ảnh hưởng khác nhau đến cơn trùng
(thời gian ngày dài, sâu non sinh trưởng nhanh hơn, có kích thước lớn hơn).
- Thời gian phát triển cá thể, tỷ lệ sống, chết, mức sinh sản, sự phát triển
các sản phẩm sinh dục, quá trình đẻ trứng… phụ thuộc vào ánh sáng, Sâu non
nuôi trong môi trường tối có khả năng đẻ cao hơn trong điều kiện sáng chói; độ
chín sinh dục của rệp xảy ra nhanh hơn trong điều kiện ánh sáng đầy đủ; trứng
của Ong kén chỉ được thụ tinh trong điều kiện ánh sáng bình thường; Gián chỉ
giao phối trong tối; Bọ ngựa chỉ giao phối khi trời nắng…
<i>(b) Thức ăn </i>
Thức ăn cần thiết cho côn trùng để tăng kích thước cơ thể, phát triển các
sản phẩm sinh dục và để bù đắp năng lượng bị mất trong hoạt động sống. Thức
ăn ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất, khả năng đẻ, tốc độ phát
triển, tỷ lệ chết, mật độ, phân bố, cấu tạo cơ thể của côn trùng.
- Bướm Laphygnia sp, ăn vào mùa xuân đẻ 1200 - 1700 trứng, vào mùa
<i>hè để 300 - 600 trứng; loài sâu xám (Agrotis segetum) ăn cây rau muối </i>
<i>(Chenopodium album) là thức ăn thích hợp thì phát dục 40 - 43 ngày, ăn lá táo </i>
thì phát dục trung bình 90 ngày; ăn cây rau muối thì lượng trứng để từ 940 -
1700 trứng, cịn ăn lá ngơ để 80 - 290 trứng.
- Tỷ lệ giới tính ở Ong, Rệp có liên quan trực tiếp với số lượng và chất
lượng thức ăn (tỷ lệ đực tăng khi thiếu thức ăn). Mối loài cây trồng thường tập
hợp loài sâu hại nhất định.
<i>c. Quan hệ sinh thái của côn trùng với thực vật: Thực vật là nguồn dinh </i>
dưỡng của côn trùng, là nơi ở, nơi trốn tránh kẻ thù. Côn trùng là kẻ phá hại thực
vật, thụ phấn cho thực vật và cũng là thức ăn của thực vật. Thực vật có những
đặc điểm thích nghi với cơn trùng: Khi bị sâu hại tấn cơng, thực vật có thể tái
sinh chồi hay tái sinh lá… sâu hại thường chọn cây có khả năng bảo vệ kém để
tấn cơng hoặc thay đổi đặc tính trao đổi chất, một số lồi có cơ quan chun hóa
giải độc (bướm Phượng không bị hại bởi tinh dầu).
<i>5.1.4. Dự báo khả năng phát dịch và hướng ngăn chặn dịch sâu hại </i>
Dự báo dịch sâu hại được hiểu là dự báo khi nào sâu hại có mật độ lớn, từ
đó dự báo khả năng phát dịch của chúng.
Có một số phương pháp dự báo dịch sâu hại như sau:
- Phương pháp dự báo dựa vào kết quả tính mật độ sâu hại;
- Phương pháp dựa vào điều kiện khí tượng;
- Phương pháp dựa vào các chỉ số kinh nghiệm.
<i>5.1.4.1. Dự báo dịch sâu hại dựa vào kết quả tính mật độ sâu </i>
- Xác định mật độ sâu hại ở thời điểm đầu tiên của giai đoạn dịch
(Ngưỡng phát dịch – NPD).
- Xác định lứa sâu cần dự báo: MLI = MHT.a.b(1-c).
Trong đó: MLI: Mật độ lứa sâu I cần dự báo; MHT: Mật độ hiện tại là mật
độ xác định sâu điều tra (nhộng, sâu trưởng thành); a: Chỉ số sinh dục (cá thể
cái/ tổng số các thể) dựa vào hình thái râu đầu, vị trí hệ sinh dục, kích thước,
trọng lượng; b: số lượng trứng của một con cái (kích thước, trọng lượng của
nhộng cái có quan hệ chặt với số lượng trứng, với dạng hàm y=a+bx); c: tỷ lệ
chết cho đến pha cần tính (tính riêng cho từng giai đoạn rồi gộp lại).
- So sánh MLI với NPD: Nếu MLI ≥NPD, suy ra dịch sâu hại có thể xảy ra
và ngược lại, cần tiếp tục dự tính cho lứa sâu tiếp theo (lứa i+1) và tiếp tục so
với NPD.
<i>5.1.4.2. Dự báo khả năng phát dịch dựa vào số liệu khí tượng thủy văn </i>
Phương pháp này dựa trên giả thiết khí hậu có ảnh hưởng quyết định đến
khả năng phát dịch của sâu hại và có thể dự báo được trên cơ sở phân tích khí
hậu các năm trước đó. Khi khí hậu của năm trước phát dịch giống với năm hiện
tại thì khí hậu của năm sau (năm dự báo) rất có thể sẽ giống năm phát dịch.
<i>5.1.4.3. Dự báo khả năng phát dịch dựa vào chỉ số kinh nghiệm </i>
- Theo dõi tình hình dịch sâu hại nhiều năm và phân tích các yếu tố ảnh
hưởng khác nhau để xác định các chỉ số kinh nghiệm.
- Có thể sử dụng hệ số p/t, w/t để làm cơ sở cho dự báo.
Ở Tây Giang (Trung Quốc) nếu p/t của tháng 5 cao hơn trị số bình quân thì
lứa sâu một năm đó sẽ phát dịch, p/t tháng 8 cao hơn trung bình thì sâu non qua
đơng năm sau sẽ phát dịch.
- Xây dựng công thức tốn học trên cơ sở các yếu tố khí tượng:
Theo Shao Xingshan (1981): Mx = 0,048X1 + 0,0341X2
Trong đó: X1: Lượng mưa tháng 5 (tháng trước mùa dịch chính) – mm;
X2: Nhiệt độ bình qn tháng 2 (tháng sâu non qua đông) – oC;
Nếu Mx > 4,240 thì sâu róm thơng phát dịch và ngược lại.
<i>5.1.5. Phương hướng ngăn chặn dịch sâu hại </i>
Để xác định phương hướng ngăn chặn dịch sâu hại, cần căn cứ vào các
nguyên nhân gây ra.
<i>5.1.5.1. Đối với sâu hại </i>
- Xác định lồi cơn trùng có tiềm năng phát dịch, cách nhận biết sự xuất
hiện, hình thức phá hại, đặc điểm sinh học, sinh thái khác.
- Làm tốt công tác giám sát bằng các phương pháp điều tra dự báo để xác
định được hiện trạng của quần thể sâu hại.
- Xác định ngưỡng phịng trừ để có căn cứ đưa ra các phương pháp phịng
trừ thích hợp.
- Trên cơ sở kết quả giám sát, căn cứ vào đặc điểm sinh học của loài sâu
<i>5.1.5.2. Đối với các yếu tố khí tượng thủy văn </i>
- Tiến hành các biện pháp kỹ thuật để điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm sao cho
khơng thích hợp với sâu hại (giảm hoặc tăng nhiệt độ kho lâm sản, nông sản, che
bớt ánh sáng, phơi nắng, hun khói, đốt tàn dư cây trồng.
- Sử dụng hiểu biết này làm cơ sở cho dự báo nguy cơ dịch sâu hại.
- Thiết kế rừng trồng hợp lý, vườn cây hợp lý để tạo mơi trường có nhiệt
độ, độ ẩm thích hợp với cây trồng, hạn chế sự phát sinh của sâu hại.
<i>5.1.5.3. Đối với thức ăn của sâu hại </i>
- Chọn giống chống chịu sâu bệnh.
- Làm tốt công tác điều tra theo dõi, dự báo dịch sâu hại, đặc biệt ở khu vực
buộc phải trồng độc canh.
- Làm tốt công tác vệ sinh khu vực canh tác.
- Tiến hành các biện pháp ngăn cách nguồn thức ăn bằng các biện pháp
thiết kế băng xanh.
- Làm tốt cơng tác chăm sóc cây trồng, nâng cao sức đề kháng của chúng.
<i>5.1.5.4. Đối với thiên địch của sâu hại </i>
- Tạo điều kiện để thiên địch phát triển mạnh.
- Thực hiện tốt các biện pháp bảo vệ thiên địch như tuyên truyền, tạo điều
kiện thức ăn, nơi ở, nơi sinh sản.
- Tăng tính đa dạng sinh học.
5.2. Cháy rừng
<i>5.2.1. Khái niệm </i>
Theo F.A.O: Cháy rừng là những đám cháy xuất hiện và lan tràn ở trong
rừng mà khơng có sự điều khiển của con người, gây nên những tổn thất nhiều
mặt về tài nguyên, của cải, môi trường và những thiệt hại khác.
Cần phân biệt những đám cháy rừng và những đám cháy có điều khiển ở
trong rừng và ven rừng để phục vụ mục đích của con người.
<i>5.2.2. Điều kiện, nguyên nhân và </i>
<i>tác hại của cháy rừng </i>
<i>5.2.2.1. Điều kiện của cháy rừng </i>
Để có thể xảy ra cháy phải
có sự kết hợp đồng thời của ba
nhân tố cơ bản bao gồm: chất duy
trì sự cháy (oxy), chất bị cháy (vật
liệu cháy) và nguồn nhiệt gây cháy.
Nếu thiếu một trong ba yếu tố đó
q trình cháy sẽ khơng xảy ra.
Sự kết hợp của ba nhân tố
này tạo nên một tam giác lửa (hình
5.4).
- Oxy:
có thể thấp hơn một chút do quá trình phân giải một số chất hữu cơ trong rừng
làm cho hàm lượng cacbonic tăng lên. Khi nồng độ oxy giảm xuống tới 15% thì
q trình cháy khơng cịn khả năng duy trì.
- Vật liệu cháy:
Vật liệu cháy là tất cả những chất có khả năng bén lửa và bốc cháy trong
điều kiện có đủ nguồn nhiệt và oxy. Tuy nhiên, trong phạm vi cháy rừng, chúng
ta chủ yếu quan tâm đến các dạng vật liệu hữu cơ, nhất là cành khô, lá rụng,
thảm tươi, cây bụi, các bộ phận khác nhau của cây cũng như mùn và than bùn.
Vật liệu cháy trong rừng được xem là nhân tố nền tảng của cháy rừng. Việc kiểm
soát những đám cháy rừng thường được tiến hành thông qua sự tác động vào
nguồn vật liệu cháy này. Nhìn chung, độ ẩm của vật liệu cháy được coi là nguy
hiểm về sự xuất hiện của cháy rừng ở thời điểm ban đầu thường dưới 30%.
- Nguồn nhiệt:
Trong ba nhân tố của sự cháy nói trên, nguồn nhiệt chính là yếu tố khơng
có sẵn trong rừng. Hầu hết các vật liệu cháy trong rừng thường có điểm bén lửa
nằm trong khoảng 220 - 250oC. Ở nhiệt độ trên 260oC, đa số các vật liệu có khả
năng tự duy trì ngọn lửa mà không cần sự cung cấp thêm nguồn nhiệt từ bên
ngoài. Nhiệt độ tại đó được gọi là nhiệt độ cháy hay cịn gọi là điểm cháy của
vật liệu. Điểm cháy của các loại vật liệu sẽ khác nhau do chúng có tính dẫn
nhiệt, độ ẩm, thành phần hố học và kích thước khác nhau. Điểm cháy của cỏ
khô từ 150-200oC, điểm cháy của gỗ xấp xỉ 300oC.
<i>5.2.2.2. Nguyên nhân gây cháy rừng </i>
Nguồn lửa là nguyên nhân cơ bản dẫn tới cháy rừng. Sự hiểu biết chính
xác về nguyên nhân gây cháy rừng là rất cần thiết để có thể thực hiện các biện
pháp phòng và chữa cháy rừng một cách hiệu quả.
(a) Lửa do các hiện tượng tự nhiên
Ở Việt Nam, hiện tượng sấm sét gây cháy rừng hầu như rất ít, mới chỉ ghi
nhận được hai vụ xảy ra ở Cà Mau và Kon Tum năm 1998.
(b) Lửa do các hoạt động của con người
Phần lớn số vụ cháy rừng xảy ra ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt
Nam đều xảy ra từ nguồn lửa do hoạt động của con người gây nên. Ở Việt Nam,
nguồn lửa gây cháy rừng do các hoạt động của con người gây nên rất đa dạng,
trong đó có một số hoạt động gây nên cháy rừng chủ yếu như sau:
- Đốt phá rừng làm nương rẫy và xử lý thực bì bằng lửa khi canh tác
nương rẫy. Nguyên nhân này chiếm tỷ lệ rất cao, với số vụ cháy rừng đã xảy ra ở
các địa phương chiếm trên 60%.
- Sử dụng lửa trong rừng và ven rừng không cẩn thận như đun nấu, sưởi
ấm trong rừng, săn bắt động vật, lấy mật ong, tảo mộ, trẻ em nghịch lửa, đốt
thực bì để rà tìm phế liệu...
- Các hoạt động kinh tế - xã hội khác như đốt thực bì phục vụ trồng rừng,
khảo sát địa chất, đốt phục vụ dọn đường giao thông, đốt đồng cỏ phục vụ chăn
nuôi, khai thác bừa bãi, đốt làm giảm vật liệu cháy trong công tác bảo vệ rừng
khơng đúng quy trình kỹ thuật, hoạt động tham quan du lịch...
- Đốt do hằn thù cá nhân: Một số người làm ăn phi pháp trong rừng đã bị
phạt, một số người làm thuê mâu thuẫn với chủ rừng nên đốt rừng để trả thù,
hoặc với những lý do khác...
Ở một số tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Thừa Thiên Huế... cịn có hiện
tượng bom, mìn cịn sót lại sau chiến tranh tự phát nổ gây ra nguồn lửa, trong
điều kiện có nguồn vật liệu cháy khơ nó đã dẫn tới cháy rừng. Nguồn lửa phát
sinh trong rừng và ven rừng chủ yếu do con người gây ra. Vì vậy, việc tăng
cường quản lý và ngăn chặn các hoạt động của con người gây ra nguồn lửa là
khâu mấu chốt đảm bảo không phát sinh cháy rừng và giảm tổn thất do cháy
rừng gây ra. Ngồi ra cũng cịn có cả những nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cháy
rừng, với các nhóm sau: kinh tế - xã hội; tổ chức quản lý; khoa học kỹ thuật và
cơ chế chính sách
<i>5.2.2.3. Tác hại của cháy rừng </i>
đã thiêu đốt hơn 4 triệu ha rừng và đất rừng, gây thiệt hại hơn 6 tỷ USD. Ngoài
ra khói bụi từ đám cháy cịn làm ơ nhiễm môi trường và gây hại cho sức khỏe
nhiều người ở cả các nước láng giềng.
Ở nước ta, mặc dù Đảng và Nhà nước rất coi trọng công tác PCCCR
nhưng hàng năm cháy rừng cũng vẫn thường xảy ra, có lúc, có nơi rất nghiêm
trọng. Theo báo cáo của Cục Kiểm lâm, từ năm 2000 đến hết năm 2011 trên cả
<i>nước đã xảy ra 7210 vụ cháy với tổng diện tích thiệt hại là 48.537,5 ha, trong đó </i>
cháy rừng tự nhiên 12.160,6 ha, cháy rừng trồng là 36.377,2 ha.
(a) Tác hại của cháy rừng đến tài nguyên, của cải
Cháy rừng gây ra nhiều tổn thất về kinh tế. Sau cháy rừng, những cây còn
lại tán thường bị cháy xém, ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của chúng.
Cháy rừng làm thay đổi thành phần và số lượng của các lồi động vật, cơn
trùng, vi sinh vật trong rừng do thay đổi môi trường sống và mất nguồn thức ăn.
Ngồi ra cịn làm thiệt hại đến nhà cửa, các cơng trình được xây dựng ở trong
rừng, nhiều khi còn gây nguy hiểm đến tính mạng của con người. Khi chữa
cháy, mọi công việc đều ngừng lại. Nhiều khi nếu thiếu sự chuẩn bị chu đáo còn
rất dễ gây thương vong cho nhân viên chữa cháy.
(b) Tác hại của cháy rừng đến môi trường sinh thái
Tác hại của cháy rừng đến môi trường thể hiện ở các mặt như:
- Cháy rừng sẽ làm thay đổi tính chất đất rừng. Ngay sau khi cháy, hàm
lượng các chất khoáng và độ pH của đất tăng nhưng giảm hàm lượng nitơ và các
chất hữu cơ. Sau khi cháy, đất rừng dễ bị xói mịn, rửa trơi và thối hố nhanh
chóng. Điều này đặc biệt nguy hiểm khi cường độ đám cháy lớn hoặc sự cháy
diễn ra thường xuyên với chu kỳ ngắn.
- Cháy rừng cịn làm ơ nhiễm khơng khí do thải ra một số chất độc, tro,
bụi than… ảnh hưởng tới sức khoẻ con người và các sinh vật khác không chỉ ở
vùng rừng bị cháy; làm tiểu khí hậu rừng thay đổi... Ngồi ra cịn góp phần làm
thay đổi khí hậu tồn cầu.
Như vậy, ngoài việc gây những thiệt hại như việc mất rừng nói chung,
cháy rừng cịn làm tăng mức độ nghiêm trọng đối với những thiệt hại gây ra cả
về tài nguyên và môi trường, gây mất bằng sinh thái. Nhận thức được điều này
càng thấy rõ hơn tầm quan trọng của
công tác PCCCR.
<i>5.2.3. Các loại cháy rừng </i>
Tuỳ theo sự hình thành, kiểu
thảm thực vật và tuỳ điều kiện thời tiết
mà đám cháy có thể xảy ra ở các dạng
khác nhau. Hiện nay người ta căn cứ
vào sự phân bố của các lớp vật liệu
cháy trong không gian mà phân cháy
rừng thành 3 loại:
<i>5.2.3.1. Cháy dưới tán </i>
Loại cháy này còn gọi là cháy
bề mặt và xảy ra nhiều nhất (khoảng
96%) nhưng gây tác hại ít nhất. Ngọn lửa thường làm cháy toàn bộ vật liệu dưới
tán rừng như: thảm mục, thảm khô, cây bụi, cây tái sinh, một phần gốc và rễ cây
sát mặt đất. Lửa cháy nhanh, nhưng chiều cao thường không quá 2m. Cháy dưới
tán thường xảy ra ở những khu rừng thưa, cây bụi, thảm cỏ chiếm ưu thế, ở
những khu rừng rụng lá theo mùa… Mức độ thiệt hại của chúng phụ thuộc vào
cường độ cháy, loài cây, tuổi cây và hệ thống rễ cây rừng.
<i>5.2.3.2. Cháy tán </i>
Cháy tán thường được phát
triển từ cháy dưới tán lên, chỉ hay xảy
ra trong điều kiện thời tiết khô hanh
Hình 5.5. Cháy dưới tán
Loại cháy này thường gây tác hại rất lớn. Cháy tán thường gặp ở những khu
rừng thuần loài, lá có chứa tinh dầu, nhựa dễ bắt cháy hoặc rừng tự nhiên hỗn
giao có độ dốc lớn, tán cây nọ gối tán cây kia.
<i>5.2.3.3. Cháy ngầm </i>
Quá trình cháy các chất hữu cơ
nằm dưới bề mặt đất, chủ yếu là than
bùn và mùn được gọi là cháy ngầm.
Lửa có thể cháy tầng chất hữu cơ dày từ
0,5 m đến vài mét. Ngọn lửa cháy
chậm, cháy âm ỉ, đám cháy thường khó
phát hiện, khó dập và nguy hiểm cho
người chữa cháy. Do cháy chậm nên
cháy triệt để, thời gian kéo dài, thường
thiêu huỷ hầu hết rễ cây rừng, làm cây
khô héo, chết đứng và đổ hàng loạt khi
có gió mạnh. Ở nước ta, cháy ngầm thường xảy ra ở rừng tràm hoặc những khu
Tuy nhiên việc phân loại trên chỉ là tương đối. Dưới ảnh hưởng của gió,
địa hình, vật liệu cháy… các loại cháy trên có thể chuyển hố cho nhau. Cần căn
cứ vào nguyên nhân hình thành và đặc điểm của các loại cháy để tiến hành các
biện pháp PCCCR thích hợp và hiệu quả.
<i>5.2.4. Một số biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng </i>
<i>5.2.4.1. Tuyên truyền giáo dục cộng đồng về PCCCR </i>
Ở nước ta, hầu hết các vụ cháy rừng đều do con người gây ra. Vì thế điều
quan trọng nhất là phải giải thích cho người dân mối nguy hiểm đe doạ rừng do
cháy, nhắc nhở về nhiệm vụ của mỗi công dân trong việc cảnh giác phòng ngừa,
phát hiện và dập tắt nhanh đám cháy nhằm nâng cao sự hiểu biết, ý thức và tinh
thần tự giác của mỗi người dân đối với cơng tác PCCCR.
Có thể tiến hành với các hình thức: tiếp xúc cá nhân, tiếp xúc với các tổ
chức xã hội, qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua trường học, qua các
bức tranh, áp phích cổ động, bảng nội quy, biển báo cấm lửa… Chúng phải được
trình bày rõ ràng, nội dung thiết thực, dễ nhớ và đặt ở những vị trí đã được xem
xét cân nhắc kỹ cho phù hợp mới phát huy tác dụng. Luật pháp, các văn bản quy
định của Nhà nước và các quy ước của cộng đồng là một phần quan trọng của
các biện pháp phòng cháy rừng. Việc ban hành và tuyên truyền chúng góp phần
quản lý được nguồn lửa, giảm bớt tổn thất do cháy rừng.
<i>Thực hiện Quản lý lửa dựa trên cơ sở cộng đồng hiện là một biện pháp </i>
được nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển rất quan tâm. Mục
tiêu chủ yếu của hoạt động này nhằm huy động sự tham gia của cả cộng đồng
vào công tác PCCCR, nâng cao hiệu quả của công tác này tại cộng đồng.
Song song với công tác tuyên truyền giáo dục, lực lượng Kiểm lâm còn
phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện luật Bảo vệ và phát triển
rừng, kiểm tra, hướng dẫn hoạt động canh tác nương rẫy, thực hiện những quy
định dùng lửa ở trong rừng... Những người vi phạm phải được giáo dục và
nghiêm trị, những người có công cần được khen thưởng xứng đáng.
<i>5.2.4.2. Xác định vùng trọng điểm cháy rừng </i>
Phân vùng trọng điểm cháy rừng là việc phân chia lãnh thổ thành những
vùng có mức nghiêm trọng khác nhau về cháy rừng. Đây là cơ sở để Nhà nước
và các chủ rừng đầu tư có trọng điểm cho cơng tác phịng cháy, chữa cháy rừng.
Sự khác biệt về mức nghiêm trọng của cháy rừng giữa các địa phương chủ
yếu do điều kiện khí hậu và kiểu rừng gây nên. Vùng nào càng khơ hạn và càng
có nhiều diện tích rừng dễ cháy thì vùng đó càng dễ xảy ra cháy rừng, mức
nghiêm trọng của cháy rừng càng cao. Vì vậy, cơ sở quan trọng nhất để phân
vùng trọng điểm cháy rừng là đặc điểm phân hố khí hậu và phân bố của các
trạng thái rừng dễ cháy của các địa phương cùng với số liệu về các vụ cháy rừng
đã xảy ra trong nhiều năm.
<i>5.2.4.3. Dự báo và cảnh báo nguy cơ cháy rừng </i>
Dự báo cháy rừng là dự báo khả năng xuất hiện và mức độ nguy hiểm của
cháy rừng làm cơ sở cho việc chủ động đề ra các biện pháp PCCCR hữu hiệu.
Hiện nay ở hầu hết các địa phương nước ta đã thực hiện công tác dự báo
cháy rừng theo quy định về cấp dự báo, báo động và biện pháp thực hiện
PCCCR. Các bước chủ yếu trong công tác dự báo cháy rừng ở nước ta bao gồm:
Xác định mùa cháy rừng, dự báo ngắn hạn hoặc dài hạn và thông tin dự báo.
cháy rừng ở địa phương đó trong nhiều năm.
- Dự báo cháy rừng hàng ngày và dài hạn: Hiện nay ở nước ta việc dự
báo nguy cơ và mức độ nguy hiểm của cháy rừng chủ yếu căn cứ vào các yếu tố
thời tiết như: nhiệt độ, độ ẩm khơng khí, lượng mưa, số ngày khơng mưa. Thơng
qua các chỉ số tính tốn, tiến hành dự báo mức độ nguy hiểm của cháy rừng theo
5 cấp tương ứng với các chỉ số đó. Trong đó cấp I là ít nguy hiểm đối với cháy
rừng, cấp IV là rất nguy hiểm và cấp V là cực kỳ nguy hiểm. Việc dự báo có thể
cho từng ngày hoặc nhiều ngày.
- Thông tin về cấp dự báo cháy rừng: Sau khi dự báo viên tính tốn được
cấp cháy, các cơ quan dự báo cháy rừng phải thông báo kịp thời để mọi người
dân và cán bộ ở các cơ quan, trường học gần đó biết được mức độ, khả năng
xuất hiện cháy rừng theo từng cấp, làm tồn thể cộng đồng ln coi trọng việc
PCCCR và có ý thức cảnh giác cao.
Để đạt được yêu cầu trên, cần phải sử dụng các phương tiện thông tin đại
chúng như: internet, đài, báo, tivi, điện thoại, biển báo hiệu cấp dự báo cháy
rừng...
<i>5.2.4.4. Biện pháp kỹ thuật trong phòng cháy rừng </i>
Biện pháp kỹ thuật thông qua công tác kinh doanh, quản lý rừng như thiết
kế trồng rừng, chọn loại cây trồng, phương thức trồng, các biện pháp lâm sinh
tác động, khai thác, vận xuất, vận chuyển... nhằm tạo ra các khu rừng khó cháy
hoặc hạn chế được sự lan tràn của đám cháy.
<i>(a) Các biện pháp nâng cao khả năng chống, chịu lửa của rừng </i>
<i>- Xây dựng rừng khó cháy </i>
Xây dựng các khu rừng khó cháy với việc trồng rừng bằng những lồi cây
có khả năng chống, chịu lửa tốt. Biện pháp này thường gắn với việc quy hoạch
sản xuất lâm nghiệp của từng địa phương hay từng vùng sinh thái, đặc biệt là từ
khâu thiết kế trồng rừng của các đơn vị chủ rừng. Việc lựa chọn loài cây
trồng, mật độ, phương thức trồng hợp lý (trồng rừng hỗn giao theo dải hoặc theo
đám, nông lâm kết hợp...) cho từng điều kiện lập địa sẽ góp phần làm giảm nguy
cơ cháy rừng do chủ động tạo ra những loại hình vật liệu cháy và môi trường
không thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của những đám cháy rừng có
cường độ từ trung bình trở lên.
<i>- Cải tạo rừng dễ cháy thành rừng khó có khả năng cháy </i>
trồng thuần loài với các lồi cây có chứa nhiều dầu, nhựa dễ cháy, rừng mới
trồng, rừng trồng có mật độ thấp, rừng non mới phục hồi, rừng sau khai thác...
cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh để cải biến chúng theo hướng an
toàn với lửa hơn. Các biện pháp thường áp dụng là:
+ Điều chỉnh mật độ và mạng hình phân bố của tầng cây gỗ tạo ra một
kết cấu hợp lý hơn.
+ Điều chỉnh tán rừng theo hướng nâng cao chiều cao dưới cành của
lâm phần bằng cách tỉa cành và tỉa thưa các cá thể sinh trưởng kém, bị sâu
bệnh…
+ Có những tác động, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài cây bụi và cây
tái sinh khó cháy sinh trưởng và phát triển. Ngồi ra có thể trồng xen các lồi
cây gỗ có khả năng chống, chịu lửa tốt để tạo nên những lâm phần khó cháy
hơn.
<i>- Xây dựng hệ thống đường băng cản lửa </i>
Băng cản lửa là những tuyến được xây dựng để ngăn chặn sự lan tràn của
đám cháy rừng. Băng cản lửa có thể là đường băng trắng hoặc băng xanh.
<i>+ Đường băng trắng là những dải trống đã được chặt trắng, trên đó thu </i>
dọn hết vật liệu cháy, có thể cuốc hoặc cày lật đất.
<i>+ Đường băng xanh là đường băng được trồng cây lá rộng hỗn giao, đặc </i>
biệt là trồng các lồi cây có khả năng chống chịu lửa tốt.
Đường băng trắng có một số nhược điểm: vừa lãng phí đất, chi phí cao,
đầu tư kinh phí nhiều lần, nơi thiếu nhân lực càng gặp khó khăn và dễ gây ra xói
mịn đất. Vì vậy hiện nay người ta thường chú ý tới xây dựng đường băng xanh
thành một hệ thống hoặc các đai rừng phòng cháy.
<i>Hướng của đường băng phụ thuộc vào hướng gió chính trong mùa cháy </i>
<i>và điều kiện địa hình thực tế. Khoảng cách giữa các đường băng tuỳ thuộc theo </i>
từng loại rừng. Với rừng tự nhiên từ 1 đến 2km, với rừng trồng khoảng cách này
<i>từ 0,5km đến 1km. Bề rộng của đường băng có thể từ 10 đến 30m, phụ thuộc </i>
vào loại hình vật liệu, vị trí địa hình, kinh phí thực hiện… nhưng tốt nhất phải
lớn hơn chiều cao trung bình của cây trồng ở giai đoạn rừng sào.
Khi thiết kế và thi công các đường băng cản lửa cần chú ý một số vấn đề:
- Cần phải đảm bảo hai yêu cầu: Đủ để ngăn chặn hoặc hạn chế cháy lan,
đồng thời giá thành xây dựng đường băng phải được chấp nhận.
nước, bãi đá…; những cơng trình nhân tạo như: đường sắt, đường giao thông,
đường vận suất, vận chuyển… để làm đường băng, nhưng cần xây dựng dọc hai
bên đường băng đó một hoặc hai đai cây xanh cản lửa có chiều rộng từ 5 – 6m.
- Hàng năm vào trước mùa cháy phải chăm sóc, dọn VLC trên đường băng.
<i>(b) Các biện pháp làm giảm vật liệu cháy </i>
Ở những khu rừng trọng điểm dễ cháy cần tiến hành các biện pháp như
kết hợp tỉa thưa, tỉa cành, động viên khuyến khích nhân dân thu dọn cành khô lá
rụng, hạ thấp chiều cao của thực bì… Tất cả các vật liệu đó có thể được tận
dụng làm chất đốt hoặc thu gọn rồi đốt, đảm bảo an toàn cho rừng.
Ngồi các biện pháp trên, có thể áp dụng một số biện pháp khác như: Đốt
trước vật liệu cháy ở những khu rừng có mức độ nguy hiểm cháy cao, xây dựng
các lâm phần khó cháy, cải tạo lâm phần dễ cháy thành rừng khó cháy, chặt tỉa
thưa nuôi dưỡng, kịp thời dọn vệ sinh hoặc trồng lại các khu rừng sau khai thác
và sau cháy rừng… Tuỳ vào tình hình cụ thể về cả điều kiện tự nhiên, kinh tế và
xã hội của mỗi địa phương mà vận dụng các biện pháp này cho phù hợp.
<i>5.2.4.5. Hệ thống theo dõi, phát hiện cháy rừng </i>
Ở nước ta hiện nay, để theo dõi thường xuyên những khu rừng dễ có khả
năng cháy và những vùng trọng điểm cháy đặc biệt có thể thực hiện thơng qua
những đội tuần tra và các trạm gác đặt trên những điểm có tầm nhìn bao quát
một diện tích rừng lớn hoặc trên các chịi quan sát lửa rừng. Trong đó tuần tra
mặt đất thường được áp dụng rộng rãi hơn. Ngoài ra còn phát hiện cháy rừng
bằng máy bay hoặc qua hệ thống thông tin địa lý (GIS).
Như vậy có thể thấy rằng có nhiều biện pháp phòng cháy rừng nhưng
trong thực tế để thu được kết quả tốt, chúng ta không chỉ dựa vào chỉ một biện
pháp nào đó mà cần phải phối hợp các biện pháp, tuỳ điều kiện cụ thể về tự
nhiên, kinh tế và xã hội của từng địa phương sử dụng cho phù hợp. Ngoài ra còn
một số biện pháp phòng cháy khác như: Quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy và
<i>5.2.5. Biện pháp chữa cháy rừng </i>
<i>5.2.5.1. Biện pháp tấn công trực tiếp </i>
của đám cháy, tốc độ gió, địa hình…
* Khi tốc độ gió yếu, ngọn lửa lan chậm và có xu hướng lan sang hai bên,
chiều cao của ngọn lửa thấp. Nên bố trí lực lượng thành từng tổ từ 8 - 10 người,
dùng các dụng cụ cầm tay dập vào đám cháy. Ngồi ra nếu đám cháy khá mạnh,
có nhiều nhân lực nên tiến hành làm một băng trắng có chiều rộng từ 2,5 - 3m.
Trên băng bố trí theo từng tổ, người nọ cách người kia khoảng 3m, dùng cào,
cuốc gạt vật liệu ra khỏi đường băng và do vậy đám cháy chỉ gói gọn trong
đường băng.
* Khi tốc độ gió mạnh, đám cháy lan nhanh theo chiều gió, đội hình bố trí
ở hai bên đám cháy. Một số ít lực lượng dùng các dụng cụ dập vào hai bên gần
phía sau đám cháy, phần lớn lực lượng còn lại sẽ tập trung làm hai hai băng
trắng ở hai bên đám cháy để ép ngọn lửa thu nhỏ dần. Sử dụng cách chữa cháy
này những người chữa cháy đỡ mệt hơn, nhưng đòi hỏi người chỉ huy phải xác
định chính xác hướng lan của đám cháy.
<i>5.2.5.2. Biện pháp chữa cháy gián tiếp </i>
Biện pháp này thường áp dụng với những đám cháy lớn, cường độ đám
cháy cao, người chữa cháy không thể dập lửa trực tiếp được.
* Trong trường hợp đám cháy có cường độ cao nhưng di chuyển chậm thì
phương pháp song song được sử dụng. Nó bao gồm việc xây dựng một tuyến
ngăn lửa tạm thời song song và khép kín mép ngoài của đám cháy. Khoảng cách
* Trong trường hợp cháy với cường độ cao và tốc độ của đám cháy nhanh
thì phương pháp đốt ngăn chặn trước được áp dụng. Khi sử dụng phương pháp
này phải hết sức lợi dụng những đường cản lửa tự nhiên hoặc những đường băng
cản lửa phòng cháy được xây dựng từ trước. Phương pháp đốt chặn trước là hết
sức nguy hiểm và việc xây dựng đường băng rất vất vả.
Đường băng phải đảm bảo đủ rộng để chống buông tàn lửa hoặc cháy lan
(thường 20-50m), đồng thời tiến hành cơng việc phải khẩn trương, nhanh chóng,
vì vậy nó địi hỏi phải có đầy đủ trang, thiết bị cần thiết cho việc xây dựng
đường băng cản lửa.
không phải chỉ sử dụng một phương pháp nhất định. Việc lựa chọn phương pháp
nào là hết sức linh hoạt, nó phụ thuộc vào tốc độ lan tràn, cường độ đám cháy,
khả năng buông tàn lửa, phụ thuộc vào khả năng của lực lượng chữa cháy, phụ
thuộc vào loại hình vật liệu, điều kiện thời tiết, địa hình…
5.3. Suy thoái đất
<i>5.3.1. Khái niệm </i>
Đất bị suy thoái là những loại đất do những nguyên nhân tác động nhất
định theo thời gian đã và đang mất đi những đặc tính và tính chất vốn có ban đầu
trở thành các loại đất mang đặc tính và tính chất khơng có lợi cho sinh trưởng và
phát triển của các loại cây trồng nông lâm nghiệp.
Đất vùng đồi núi của nước ta gồm nhiều loại đất do hình thành trên các
<i>5.3.2. Hậu quả của sự suy thoái đất </i>
Sự suy thoái đất là một trong những yếu tố sinh thái có hại nghiêm trọng
đối với sự sống trên hành tinh của chúng ta. Hậu quả của sự suy thối đất này
thật khơn lường và tác hại nghiêm trọng đến sản xuất nông lâm nghiệp và môi
trường tự nhiên, môi trường sống của con người. Sự suy thoái đất sẽ dẫn đến:
− Giảm diện tích đất sản xuất nơng nghiệp, dẫn đến sự nghèo đói.
− Giảm sản lượng và năng suất cây trồng, vật ni.
− Giảm diện tích rừng tự nhiên cùng các loài động vật hoang dã.
− Tăng diện tích đất hoang mạc, sa mạc, đất trống đồi núi trọc.
− Mất cảnh quan sinh thái đặc trưng cho từng vùng.
− Nền kinh tế quốc gia và cộng đồng bị suy giảm hoặc là nguy cơ bị đe dọa.
<i>5.3.3. Ngun nhân của sự suy thối đất </i>
Có nhiều ngun nhân khác nhau dẫn đến sự thối hóa đất. Có thể phân ra
các loại nguyên nhân gây thối hóa đất khác nhau để làm cơ sở cho các giải pháp
ngăn chặn hoặc khắc phục hiện tượng thối hóa đất thích hợp và có hiệu quả.
- Vận động địa chất của trái đất: sóng thần, thay đổi dịng chảy, núi lở...:
+ Hiện tượng sóng thần khơng những chỉ gây thiệt hại cho người và của
cải vật chất đời sống, mà đặc biệt cịn làm ơ nhiễm một diện tích đất trồng trọt
của nông dân trong vùng. Các nhà khoa học đất của Thái Lan đã nghiên cứu
vùng đất bị sóng thần tác động và cho thấy đất bị sóng bóc hẳn đi lớp đất mặt
hoặc nước biển tràn vào gây nhiễm mặn nặng, khơng cịn khả năng sản xuất
nơng nghiệp.
+ Sơng suối thay đổi dịng do những chấn động địa chất cũng làm nhiều
diện tích đất trên hành tinh bị thối hóa, thậm chí bị chết (biến thành sa mạc) do
khơng cịn sự sống vốn có của đất.
- Do thay đổi khí hậu, thời tiết: mưa, nắng, nhiệt độ, gió, bão...:
+ Mưa liên tục, cường độ lớn gây: lũ qt, rửa trơi xói mịn trên vùng đồi
núi và ngập úng ở vùng thấp trũng. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới
nóng ẩm, mưa lớn nên hiện tượng thoái hóa đất do nguyên nhân này rất phổ
biến. Trên vùng đất dốc, xói mịn rửa trơi mạnh sẽ tạo nên đất xói mịn trơ sỏi đá
hoặc mất lớp đất mặt. Ngược lại, tại những vùng thấp trũng ngập nước liên tục
sẽ tạo nên các loại đất lầy thụt, úng trũng, chỉ thích hợp với các loại thực vật
thủy sinh.
+ Khơ hạn, nóng kéo dài: Cây trồng khơng sinh trưởng, phát triển được,
dẫn đến đất bị hoang mạc hóa, đất trống, đồi núi trọc. Một số vùng với khí hậu
khơ nóng lục địa, đất bị sa mạc hóa. Hiện tượng đất bị hoang mạc hóa và đất
trống đồi núi trọc là phổ biến ở nước ta.
+ Một số vùng đồi với khí hậu hai mùa mưa và khơ rõ rệt, với đất bị mất
nước tưới thì vào mùa khơ đất hoang, trống sẽ có hiện tượng bốc mặn, nghĩa là
nước mặn theo mao quản trong đất sẽ leo lên tầng mặt đất và khi bị bốc hơi
nước sẽ để lại một lượng muối, gây mặn cho đất. Tại một số vũng biển cũ, đất
phù sa được hình thành trên các bãi sú vẹt cũ có chứa khá nhiều lưu huỳnh -
tầng bã chè tạo nên loại đất phèn vừa chua vừa mặn vừa chứa nhiều chất độc là
nhôm di động (Al3+).
<i>5.3.3.2. Ngun nhân của sự thối hóa đất do con người </i>
Sự thối hóa của đất trồng do con người gây nên rất phổ biến và bởi nhiều
phương thức khác nhau, với những nguyên nhân chính sau đây:
- Chặt phá, đốt rừng làm nương rẫy, trồng cây lương thực ngắn ngày trên
đất dốc, khơng có biện pháp chống rửa trơi, xói mịn, khơng có biện pháp trả lại
chất hữu cơ cho đất. Chỉ sau vài ba năm trồng tỉa, đất bị thoái hóa khơng cịn
khả năng sản xuất do đất khơng cịn chất dinh dưỡng, tầng đất mỏng, trơ sỏi đá,
thiếu nước.
- Trong quá trình trồng trọt, khơng có biện pháp bồi dưỡng, bảo vệ đất
hoặc chỉ trồng độc canh, sau một thời gian canh tác sẽ dẫn đến đất bị thối hóa
theo con đường bạc màu hóa hoặc bạc điền hóa (đất chua, mất phần tử cơ giới
limon và sét trên tầng mặt, mất chất hữu cơ, mất kết cấu đất, kiệt quệ chất dinh
dưỡng), làm giảm khả năng sản xuất, năng suất cây trồng thấp và bấp bênh. Đây
là ngun nhân gây thối hóa đất phổ biến nhất ở vùng đồng bằng nước ta.
- Việc chỉ bón phân vơ cơ trong thời gian dài dẫn đến đất trồng vừa giảm
- Đất bị thối hóa do bị ơ nhiễm chất độc bởi các hoạt động khác của con
<i>người như rác thải sinh hoạt và công nghiệp, nước thải sinh hoạt và công nghiệp, </i>
nước thải của chế biến thực phẩm, làng nghề. Đặc biệt nghiêm trọng khi đất bị
nhiễm kim loại nặng vượt ngưỡng cho phép của tiêu chuẩn đo lường quốc gia.
- Đất bị thối hóa theo hướng nhiễm mặn do con người gây nên. Sự thối
hóa đất do ngun nhân này đang là nguy cơ mất đất sản xuất nông nghiệp của
nhiều nông hộ vùng đất cát ven biển miền Trung và vùng ven biển đồng bằng
sông Cửu Long.
<i>5.3.4. Các thể loại suy thối đất </i>
<i>5.3.4.1. Chua hóa, nghèo kiệt dinh dưỡng trong đất </i>
chua với pH đất từ 4,0 đến 5,5. Thực tiễn sản xuất cho thấy, thường sau 3 đến 4
năm canh tác trồng các loại cây ngắn ngày, pH của đất giảm trung bình 0,5 đơn
vị. Trong tổng diện tích đất sản xuất nơng nghiệp của nước ta, có đến 6 triệu ha
(chiếm 84% diện tích) là đất chua. Độ chua của đất ảnh hưởng đáng kể đến sinh
trưởng và năng suất cây trồng với đa số các loại cây trồng thích hợp với đất ít
chua đến trung tính. Đất bị chua cũng ảnh hưởng đến sự hoạt động vi sinh vật
đất, đến chất lượng chất hữu cơ đất và sự tích lũy và chuyển hóa các chất dinh
dưỡng từ đất đến cây trồng.
Sự suy thoái đất thể hiện rất rõ ở các chỉ tiêu: đất ngày càng chua hơn, các
cation kiềm, độ no bazơ, hàm lượng mùn, các chất dinh dưỡng tổng số và dễ
tiêu, đa lượng, trung lượng và vi lượng trong đất ngày càng giảm. Cân bằng dinh
dưỡng trong hệ thống đất - cây - môi trường bị phá vỡ, tăng nhiều độc tố như Fe,
2S, SO4
2-, lân bị cố định.
Đa số đất đồi núi trở nên nghèo, chua, khơ và rắn. Mùn ít khơng đủ để bảo
vệ keo đất nên bị phá hủy, tiếp tục giải phóng nhơm di động làm cho đất ngày
càng chua. Lân dễ tiêu đã ít lại bị giữ chặt. Kali dễ tiêu rất nghèo. Đất đỏ vàng
sau một chu kỳ nương rẫy, lượng Al3+ đạt tới 50-60mg/100g đất, phải bỏ hóa
khơng trồng trọt được.
<i>5.3.4.2. Quá trình kết von đá ong </i>
rất khó có thể phục hồi đất này trở về đất đồi ban đầu.
<i>5.3.4.3. Xói mịn, rửa trơi đất </i>
Trên các sườn đồi núi cao, dốc, nhất là các vùng rừng và thảm thực vật đã
bị phá hủy mạnh, đất bị hoang trống, vào mùa mưa, đất bị rửa trơi, xói mịn, tạo
thành các rãnh xói mịn và lớp đất mặt bị mỏng dần, nhiều nơi trơ ra lớp sỏi,
tầng đá phía dưới. Những đất này hầu như khơng cịn khả năng sản xuất và trồng
rừng, điển hình cho diện tích đất trống đồi núi trọc ở các vùng đồi núi do đất vừa
khơng cịn hoặc cịn rất ít
tầng đất mặt, vừa khơng
cịn các chất dinh dưỡng
cần thiết cho cây trồng như
chất hữu cơ, chất dinh
dưỡng N,P, K dễ tiêu ...
- Xói mịn đất:
Xói mịn đất gắn
liền với độ dốc, phân bố độ
dốc, sự chia cắt của địa
hình đất dốc, đất trống
hoặc các loại lớp phủ thực
vật/cây trồng khác nhau và
dòng chảy của nước đặc biệt rõ vào mùa mưa nhiệt đới lớn và tập trung như ở
nước ta. Trên 7 vùng sinh thái của Việt Nam có diện tích đất đồi núi, các loại đất
dốc đã bị chặt phá rừng để sản xuất nơng nghiệp đều có hiện tượng đất bị thối
hóa do xói mịn. Sự xói mịn đất đơi khi dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là sụt lở
đất khi dòng chảy quá lớn trên độ dốc cao khơng cịn thực vật che phủ.
Theo nhiều nghiên cứu về xói mịn ở Việt Nam thì q trình xói mịn có
thể xuất hiện từ độ dốc 3 độ. Nếu độ dốc tăng 2 lần thì cường độ xói mịn tăng
hơn 4 lần, nếu chiều dài sườn dốc tăng 2 lần thì xói mịn tăng 2 - 2,5 lần.
Sự thối hóa đất dốc do xói mịn dẫn đến đất bị mất một lượng đất tầng
mặt ảnh hưởng đến độ dày tầng canh tác. Lượng đất mất phụ thuộc chủ yếu vào
độ dốc, chiều dài sườn dốc, thực trạng lớp phủ trên mặt đất... dao động từ 100
đến 500 tấn đất/ha/năm. Đất còn mất đi một lượng đáng kể các chất hữu cơ và
dinh dưỡng của đất mặt do lượng đất mất.
- Rửa trôi:
Hiện tượng rửa trôi không chỉ xảy ra trên đất dốc bị xói mịn mà có thể
xuất hiện ở trên các loại đất ở nước ta, kể cả vùng đồng bằng và trũng úng.
Nguyên nhân của hiện tượng rửa trôi trong đất là do:
+ Khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa mưa nhiệt đới cường độ lớn và tập
trung, tạo nên lượng nước và dòng chảy lớn.
+ Đất dốc khi có mưa lớn tạo dòng chảy thường gây ra rửa trơi đi cùng
với sự xói mịn đất.
+ Đất hình thành trên các bậc thềm dốc thoải hay lượn sóng thì sự rửa trơi
xảy ra trên mặt và theo chiều sâu.
+ Tại những vùng đất thấp bị ngập úng nước theo mùa hoặc lâu năm thì
sự rửa trơi xảy ra từ trên mặt đất theo chiều sâu xuống các lớp đất dưới.
Sự rửa trôi trong đất bao gồm:
+ Rửa trôi chất hữu cơ và hợp chất mùn trên bề mặt hoặc theo chiều sâu
tầng đất, làm cho đất nghèo mùn có màu xám trắng, khả năng giữ nước và giữ
chất dinh dưỡng kém, mất kết cấu đất.
+ Rửa trôi cấp hạt sét hoặc trên mặt hoặc theo chiều sâu đất làm cho lớp
đất mặt chứa nhiều cát, khả năng hấp phụ kém, dễ khơ hạn, nghèo dinh dưỡng,
đất bị dí, dẽ bí, khó thốt nước khi mưa kéo dài.
+ Rửa trôi các chất dinh dưỡng chủ yếu là các hợp chất sắt, nhôm, các
Cation Ca, Mg, đặc biệt là NPK, làm cho đất bị nghèo kiệt dinh dưỡng, đất bị chua.
Sự thối hóa đất do q trình rửa trơi là thể loại đất thối hóa phổ biến ở
nước ta và gây hậu quả khá nghiêm trọng, tạo ra những loại đất bị thối hóa với
diện tích khá lớn.
Theo PGS.TS. Đào Châu Thu (2006), kết quả nghiên cứu nhiều năm trên
> K > N > Mg > P. Các Cation kiềm và Cation kiềm thổ như Na, K, Ca, Mg bị
mất dần trong đất do quá trình rửa trôi, cây hút làm chất dinh dưỡng mà con
người khơng chú ý bổ sung kịp thời, đất chỉ cịn lại các Cation gây chua (H+, Al3+)
và các gốc axit. Quá trình này thường xảy ra ở các đất đồi núi bị khai phá làm
nương rẫy, trồng trọt liên tục với phương thức độc canh, lạc hậu, đất bị thối
hóa, rửa trơi xói mịn mạnh.
Tính chất các loại đất có sự biến động lớn theo thời gian, không gian và
phương thức sử dụng. Q trình thối hóa đất do rửa trơi diễn ra mạnh mẽ và rõ
ràng. Hàm lượng mùn ở lớp đất mặt hàng năm giảm 0,10 - 0,20%, tương ứng
đến 1 - 2 tấn mùn/ha; đạm tổng số giảm trung bình 50kg/ha/năm; lân tổng số
giảm trung bình 50kg/ha/năm; kali tổng số giảm trung bình 500 kg/ha/năm; trị
số pH
KCl của hai nhóm đất đỏ vàng và mùn vàng đỏ trên núi phân tích trong
những năm 1960 - 1970 dao động phổ biến từ 4,1 - 5,4. Hiện nay trị số này phổ
biến từ 3,4 - 3,8; sự phân dị của phẫu diện đất về thành phần cơ giới thể hiện
ngày càng rõ (phần trên phẫu diện đất nghèo sét hơn các tầng đất sâu).
<i>5.3.4.4. Bạc màu hóa </i>
Đất bị nghèo thành phần khống sét, chất hữu cơ cũng như các nguyên tố
vô cơ do sự rửa trôi hoặc thấm trôi của nước trên bề mặt đất hoặc theo chiều sâu
tầng đất. Sự khống hóa chất hữu cơ mạnh do đất bị khơ hạn hoặc quá tơi xốp.
Lớp đất mặt thường có màu xám, thành phần cát bụi, mất kết cấu, rất nghèo chất
hữu cơ và các chất dinh dưỡng khác. Quá trình này thường xảy ra ở các vùng đất
phù sa hình thành trên phù sa cổ hoặc phù sa cũ và các vùng đồi thấp bị khai phá
sử dụng lâu đời mà đất không được bảo vệ, bồi dưỡng, thảm thực vật và cây
trồng phát triển kém, tạo sinh khối kém. Đất thối hóa do bị bạc màu hóa thường
phổ biến ở các vùng ven rìa đồng bằng sơng Hồng thuộc các bậc thềm phù sa cổ
và cũ, khơng cịn chịu ảnh hưởng bồi đắp phù sa sơng và có một q trình lâu
đời canh tác lúa nước và hoa màu lạc hậu: cấy chay, bừa chùi, thiếu nước.
<i>5.3.4.4. Quá trình sa mạc hóa </i>
Khơ hạn, sa mạc
hóa được coi là sự thối
hóa đất trong điều kiện
khô hạn, bán khô hạn
hay vùng thiếu ẩm do
các nguyên nhân khác
nhau hoặc do sự thay
đổi về khí hậu, hoặc do
hoạt động của con
người. Chỉ tiêu quan
trọng để xác định mức
độ sa mạc hóa là tỷ lệ
lượng mưa hàng năm so
với lượng bốc thoát hơi
tiềm năng trong giới hạn
từ 0,05 đến 0,65 (theo Công ước của Liên hiệp quốc về chống sa mạc hóa).
Hiện tượng sa mạc hóa thể hiện rõ nhất trên đất trống đồi núi trọc khơng
cịn lớp phủ thực vật và địa hình dốc, chia cắt, nơi có lượng mưa thấp 700 - 800
mm, lượng bốc thoát hơi tiềm năng đạt 1.000 - 1.800 mm/năm (Ninh Thuận,
Bình Thuận, Cheo Reo, sơng Mã, n Châu…).
<i>5.3.4.6. Q trình mặn hóa </i>
Đất bị thối hóa theo hướng nhiễm mặn chủ yếu do các nguyên nhân sau:
Sự biến đổi khí hậu tại những vùng ven biển; q trình canh tác khơng hợp lý
của con người: khai hoang trồng một vụ, mùa khô bỏ hóa do thiếu nước tưới,
muối mặn từ nước ngầm bốc lên, gây mặn cho đất; khai hoang trồng trọt một
thời gian, khơng có nước tưới, bỏ hóa, đất nhiễm mặn trở lại; những khu vực
làm muối, đất bị nhiễm mặn mạnh; những khu vực ni tơm nhân tạo…
Nhìn chung đất bị mặn hóa sẽ khơng thể sản xuất nơng nghiệp với các loại
hình sử dụng đất trồng các loại cây lương thực, thực phẩm hoặc cây ăn quả như
ở các vùng đất phù sa. Vì vậy, phần lớn diện tích này sẽ trở thành loại đất suy
thối theo kiểu hoang hóa. Đất có độ mặn lớn (tổng số muối tan cao), cấu trúc
hình cột chai cứng khi khơ và nhão nht khi mưa, pH trung tính đến kiềm, chỉ
Hình 5.9. Nguy cơ sa mạc hóa ở Ninh Thuận
(Ảnh từ văn phịng Cơng ước chống sa mạc hố –
có các lồi thực vật chịu mặn mọc trên đất này.
<i>5.3.4.4. Q trình ơ nhiễm đất do các chất thải gây độc </i>
Đất bị thối hóa do bị ô nhiễm chất độc do các hoạt động khác của con
người như rác thải và nước thải sinh hoạt và công nghiệp, nước thải của chế biến
thực phẩm, làng nghề. Nhiều diện tích sản xuất nơng nghiệp và thủy sản quanh
các khu dân cư, khu công nghiệp và sản xuất làng nghề bị thối hóa do ơ nhiễm
chất độc, trở thành các cánh đồng hoang, bãi đất trống. Ngun nhân gây thối
hóa đất này còn gây độc cho con người và sinh vật khi ăn sản phẩm và uống
nước ở khu vực đất và nước bị ô nhiễm. Đặc biệt nghiêm trọng khi đất bị nhiễm
kim loại nặng vượt ngưỡng cho phép của tiêu chuẩn đo lường quốc gia. Hiện
tượng ô nhiễm đất do chất thải gây độc sẽ là những nỗi đe dọa và hậu quả rất lớn
đến khả năng sản xuất của đất và đặc biệt đến sức khỏe của con người: sinh
bệnh, gây mùi hôi thối, nước bẩn, mất cảnh quan sinh thái.
Tại Quảng Trị và một số tỉnh miền Trung, do hậu quả Mỹ rải chất độc
màu da cam chứa Dioxin từ thời chiến tranh đã tàn phá một diện tích lớn rừng
trên vùng đồi núi và rừng ngập mặn ven biển. Cho đến nay, vẫn cịn khá nhiều
diện tích đất đồi núi hoang hóa chưa phục hồi thành rừng được mà chỉ là những
sườn đồi cỏ tranh và cây bụi lúp xúp. Sự suy thoái đất này cũng thuộc về nguyên
nhân hủy hoại sự sống của đất do chất độc hóa học.
<i>5.3.5. Những giải pháp phục hồi đất bị suy thoái </i>
Sự phục hồi đất là cách thức tự trả lại cho đất những tính chất và khả năng
sản xuất mà nó từng có trước khi lâm vào tình trạng suy thối. Hay nói cách
khác, đó là những biện pháp khoa học kỹ thuật tác động vào các loại đất đã,
đang bị suy thối (do q trình sử dụng đất khơng hợp lý hoặc do tác động của
môi trường xung quanh gây nên), nhằm tạo cho đất trở lại với những tính chất
và khả năng ban đầu.
Tùy từng trạng thái suy thoái của đất mà người ta áp dụng những giải
<i>5.3.5.1. Biện pháp công trình </i>
Trên vùng đồi núi, canh tác đất dốc phải đảm bảo chống xói mịn rửa trơi
đất, chống hiện tượng đất bị khô hạn, dẫn đến kết von đá ong hóa. Biện pháp
kiến thiết ruộng trên đất dốc hữu hiệu nhất là làm ruộng bậc thang, trồng cây
theo đường đồng mức hoặc theo hố vẩy cá.
<i> - Ruộng bậc thang: </i>
Biện pháp này cịn có thể khắc phục được tập qn bỏ hóa theo chu kỳ, thậm chí
cịn tăng vụ trong năm và áp dụng thâm canh tăng năng suất cây trồng và phục
hồi độ phì của đất dốc canh tác nhiều năm. Một khó khăn và hạn chế của biện
pháp cơng trình này là rất tốn công lao động xây dựng ruộng bậc thang và
những ruộng bậc thang phải gần nguồn nước, vì nó thích hợp nhất với canh tác
lúa nước.
Hình 5.10. Canh tác ruộng bậc thang ở Hồng Su Phì - Hà Giang
(theo dantri.com.vn)
<i>- Trồng cây theo đường đồng mức: Đây là biện pháp cơng trình phổ biến </i>
trên các vùng đồi trồng các loại cây lương thực, cây ăn quả dạng cây bụi và thấp
cây như chè, dưa, mía đồi, cà phê chè... Có thể xây dựng ruộng với đường đồng
mức đơn (từng hàng) hoặc theo băng có những băng cây phân xanh hoặc cây cỏ
xen giữa hỗ trợ thêm khả năng chống xói mịn. Các mơ hình trồng cây theo
đường đồng mức được ghi nhận rất rõ trên khắp vùng đồi núi phía Bắc Việt
Nam, đặc biệt có hiệu quả đối với trồng chè, trồng dứa, trồng mía đồi.
<i>- Trồng cây theo hình vẩy cá: Thường được áp dụng cho các loại cây </i>
<i>5.3.5.2. Biện pháp thủy lợi </i>
+ Khai thác từ nguồn nước tự nhiên và nhân tạo: nước sông, suối, ao, hồ.
+ Xây dựng hệ thống kênh mương, trạm bơm tưới và tiêu nước.
Hệ thống thủy lợi cịn có tác dụng giảm thiểu sự ô nhiễm nước và đất do
các chất độc thải ra từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người. Tuy nhiên,
nếu nước kênh, mương không được bảo vệ và xử lý tốt thì nó lại trở thành mối
nguy cơ gây ô nhiễm độc hại trở lại cho sản xuất nông nghiệp và môi trường
sống của con người.
Để tiêu nước ở các loại đất bị thối hóa do úng trũng, cần sử dụng kỹ
thuật lên luống/làm giồng đất để hạ mực nước ngầm, đào rãnh tạo dòng chảy
thoát nước, đào mương tiêu nước ở những vùng đất thường bị nhiễm mặn,
nhiễm phèn.
<i>5.3.5.3. Biện pháp sinh học và hữu cơ </i>
Nguyên nhân chính của nhiều loại đất bị suy thoái như ngày nay là do bị
khai phá mất lớp thảm thực vật ban đầu, sử dụng triệt để các nguồn và các sản
phẩm hữu cơ của đất trong sản xuất mà không trả lại cho đất lượng hữu cơ nào,
khơng bón hoặc bón rất ít phân hữu cơ cho cây trồng, không đủ lượng hữu cơ đã
lấy đi của đất. Vì vậy, một trong những biện pháp quan trọng nhất và được chú ý
nhất nhằm phục hồi đất bị suy thoái là biện pháp sinh học/hữu cơ. Hơn nữa, với
điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của nước ta, các loại cây trồng và thực vật
sinh trưởng phát triển mạnh, đã tạo sinh khối lớn, trả lại chất hữu cơ cho đất.
Trong những năm gần đây, trên thế giới và ở nước ta, các cơng trình
nghiên cứu khoa học và ứng dụng các biện pháp cải tạo, phục hồi và bảo vệ đất
nông nghiệp bằng hữu cơ/sinh học đã và đang phát triển. Các biện pháp này
khơng chỉ có tác dụng bảo vệ đất, phục hồi đất đã bị thối hóa, mà cịn có tác
dụng duy trì một nền nơng nghiệp bền vững và an tồn về mơi trường. Ví dụ về
một số các báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng biện pháp này của
các tác giả thuộc các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành ở nước ta: Chương trình
phủ xanh đất trống đồi núi trọc với Dự án 327 của thập kỷ 90 (Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nơng thơn).
- Chương trình định canh định cư và Dự án 5 triệu ha rừng.
- Chương trình đa dạng hóa cây trồng vùng đồng bằng.
khoảng 8 tấn đất/ha/năm, chỉ bằng 1/4 lượng đất bị xói mịn ở phương thức canh
tác trồng ngơ thuần. Năng suất chất xanh trả lại cho đất từ băng phân xanh: băng
cốt khí là 5,4 đến 6,0 tấn/ha; băng muồng là 5,0 đến 5,6 tấn /ha. Mỗi năm lượng
dinh dưỡng của các cây phân xanh bổ sung cho đất khoảng 20 - 30 kg đạm, 2 - 4
kg lân và 17 - 28 kg kali.
- Nghiên cứu biện pháp sinh học để cải tạo/phục hồi đất đồi bị suy thoái
sau nhiều năm trồng bạch đàn (Phạm Tiến Hồng, Viện Thổ nhưỡng Nơng hóa):
Mơ hình gồm trồng cây lâm nghiệp trên đỉnh đồi (Keo tai tượng, Keo lá tràm);
cây phân xanh phủ đất (Cốt khí, Đậu mèo, Đậu cơng); cây ăn quả (cây Vải); cây
đậu đỗ lấy hạt (Lạc, Đậu đen). Đất đồi trồng bạch đàn chu kỳ II bị thối hóa
nghiêm trọng, đã bị kết đá ong hóa đến 20 - 30%, đất khô kiệt chai cứng, mất
khả năng thấm nước và giữ nước, hàm lượng dinh dưỡng của đất nghèo kiệt từ
trên đỉnh đồi xuống chân đồi.
Sau 3 năm thí nghiệm kết quả cho thấy: Các loại cây lâm nghiệp sang
<i>5.3.5.4. Biện pháp thâm canh </i>
- Làm đất thích hợp với từng loại cây trồng: cày, bừa, đánh luống, rạch
rãnh gieo hạt, đánh ụ/giồng (trồng cây ăn quả ở vùng đất trũng thấp hoặc trồng
cây lấy củ ở vùng đất có mực nước ngầm nơng).
- Tưới nước theo nhu cầu sử dụng nước của các loại cây trồng hoặc tưới
tiêu nước để cải tạo đất bị thối hóa (chua hóa, mặn hóa, phèn hóa).
- Giống cây trồng thích hợp cho các loại đất, giống chịu được các đặc
tính đất bị thối hóa như chịu chua, chịu thiếu lân, chịu mặn, chịu khô hạn,
chịu ngập úng...
tăng khả năng giữ nước, giữ phân vơ cơ của đất, góp phần điều hòa khả năng
trao đổi dinh dưỡng của đất với cây trồng...
- Chăm sóc và bảo vệ cây trồng, đặc biệt ưu tiên chăm sóc các loại cây
trồng trên những loại đất thối hóa mạnh, vì trên những loại đất này, hàm lượng
hữu cơ, hoặc dung tích hấp thu, hoặc một số tính chất vật lý của đất rất
thấp/kém, nên các loại cây trồng thường dễ bị tổn thương khi thời tiết hoặc môi
trường sản xuất bị thay đổi đột ngột.
<i>5.3.5.5. Biện pháp kinh tế - xã hội </i>
Việc đầu tư các chương trình/dự án cải tạo đất và khắc phục sự thối hóa
đất là rất quan trọng. Nội dung đầu tư gồm hai hợp phần:
- Đầu tư kinh tế: Kinh phí tiền tệ (các nguồn vốn đầu tư) và cơ sở vật chất
trong đầu tư.
- Đầu tư xã hội: Nguồn lực (lực lượng lao động và trình độ văn hóa kỹ
thuật), phát triển cộng đồng (môi trường xã hội, sự tham gia của nhiều thành phần).
Trong các hoạt động - dự án phục hồi đất bị thối hóa, cần phải chú ý đến
tính hiệu quả kinh tế và hiệu quả phát triển xã hội, cộng đồng. Trong thực tế,
nhiều chương trình - dự án đầu tư phục hồi, cải tạo đất bị thất bại, hoặc người
dân không hưởng ứng do tính hiệu quả kinh tế hoặc hiệu quả cải thiện môi
trường xã hội không cao, hoặc không đạt yêu cầu như mong muốn.
<i>5.3.5.6. Xây dựng thể chế, pháp chế, chính sách bảo vệ mơi trường </i>
Để thực hiện được những ý tưởng và kế hoạch phục hồi/cải tạo các loại
đất đã bị suy thối, ngồi các biện pháp khoa học kỹ thuật, biện pháp kinh tế - xã
hội, thì vấn đề xây dựng thể chế và pháp chế phục vụ cho các hoạt động này
cũng vô cùng quan trọng và là cơ sở pháp luật cơ bản. Chính vì vậy, những năm
qua, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng, phát triển
các cơ quan chức năng và kỹ thuật, có nhiệm vụ và trách nhiệm ngăn chặn sự
suy thoái đất và phục hồi, cải tạo đất đã bị suy thoái.
Để có thể thực hiện được những chương trình và dự án liên quan đến các
vấn đề bảo vệ, cải thiện và cải tạo/phục hồi đất sản xuất nông lâm nghiệp, Nhà
nước đã xây dựng các bộ luật và các nghị định dưới luật như: Luật Bảo vệ và
phát triển rừng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Sử dụng Tài nguyên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
<i>1. Lê Huy Bá, Vũ Chí Hiếu, Võ Đình Long (2005). Tài nguyên môi </i>
<i>trường và phát triển bền vững. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, TP Hồ Chí Minh. </i>
<i>2. Lê Huy Bá (2008). Độc chất môi trường. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. </i>
<i>3. Nguyễn Cẩn, Nguyễn Đình Hịe (2005). Tai biến môi trường. Nxb. </i>
Đại học Quốc gia Hà Nội.
<i>4. Bế Minh Châu, Vương Văn Quỳnh (2008). Nghiên cứu hoàn thiện </i>
<i>phương pháp dự báo và phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam. </i>
Báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ cấp ngành, Hà Nội.
<i>5. Bế Minh Châu (2012). Quản lý lửa rừng. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội. </i>
<i>6. Nguyễn Hữu Danh (2003). Tìm hiểu thiên tai trên trái đất. Nxb. Giáo </i>
dục, Hà Nội.
<i>7. Nguyễn Đình Hịe, Nguyễn Thế Thôn (2001). Địa chất môi trường. </i>
Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
<i>8. Trần Thị Hương (2013). Đánh giá thực trạng môi trường khơng khí </i>
<i>tại Hà Nội. Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ, trường Đại học </i>
Lâm nghiệp.
9. Lê Văn Khoa, Nguyễn Xuân Cự, Trần Thiện Cường, Nguyễn Đình Đáp
<i>(2010). Ơ nhiễm mơi trường đất và biện pháp xử lý. Nxb. Giáo dục, Hà Nội. </i>
<i>10. Hoàng Nga, Việt Hoa (12/2015). Xung quanh tình trạng sạt lở bãi thải </i>
<i>11. Nguyễn Sỹ Ngọc, Trần Văn Dương (2010). Địa chất công trình. Nxb. </i>
Giao thơng vận tải, Hà Nội.
<i>12. Nguyễn Thế Nhã (2009). Côn trùng học. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội. </i>
<i>13. Vương Văn Quỳnh, Trần Thị Tuyết Hằng (1998). Khí tượng thủy văn. </i>
Giáo trình trường Đại học Lâm nghiệp, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
<i>14. Võ Thanh Sơn (2008). Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ </i>
<i>môi trường và phát triển nông thôn - thực tiễn ở Việt Nam và Quảng Trị. Trình </i>
bày báo cáo của CRES, Đại học Quốc gia Hà Nội.
<i>16. Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc (1974). Khí hậu Việt Nam. Nxb. Khoa </i>
học kỹ thuật, Hà Nội.
<i>17. Đào Châu Thu (2007). Thối hóa và phục hồi đất. Bài giảng trường </i>
Đại học Nông nghiệp, Hà Nội.
18. Trần Thị Mỹ Thành, Nguyễn Đình Xuyên, Nguyễn Văn Dương,
Nguyễn Lê Minh (2011). Đánh giá nguy cơ sóng thần ở các vùng ven biển Việt
<i>Nam. Tạp chí Các khoa học về Trái đất. </i>
<i>19. Lê Thị Hồng Trân (2008). Đánh giá rủi ro môi trường. Nxb. Khoa </i>
học và Kỹ thuật.
20. Luật bảo vệ môi trường Việt Nam Số 55/2014/QH13 (2014).
<i>21. Trung tâm Môi trường Nông thôn (2007). Hỏi đáp về bảo vệ tài </i>
<i>22. Alois Schafer (1998). Environmental Risk Assessment for Tropical </i>
<i>Ecosystem. Center for Environmental Research University OD Saarland </i>
Saarbrucken.
23. G.tyler Miller (2010). Living Environment.
<i>24. Jon Hellin (2006). Better Land Husbandry – From Soil to Holistic </i>
<i>Land Management, ISBN 1-57808. Science Publishers, USA. </i>
<i>25. Hudson N. (1971). Soil Conservation. B.T. Bastford Ltd. London </i>
26. Wishmeier W.H. (1959). A rainfall erosion index for a universal soil
loss equaltion. Soil sci.soc.Am.Proc.23., pp 246-249.
<i>27. Storey, P.J. (2002). The conservation and Improvement of Sloping </i>
<i>Land, Volume I, II. Oxford and IHB Puplishing. </i>
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ... 2
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TAI BIẾN VÀ RỦI RO MÔI
TRƯỜNG ... 5
1.1. Khái niệm tai biến và rủi ro môi trường ... 5
<i>1.1.1. Khái niệm tai biến môi trường ... 5 </i>
<i>1.1.2. Khái niệm rủi ro môi trường ... 7 </i>
1.2. Phân loại tai biến môi trường ... 10
1.3. Nhạy cảm tai biến môi trường và các yếu tố làm tăng tính nhạy cảm mơi trường .... 10
<i>1.3.1. Khái niệm về nhạy cảm tai biến ... 10 </i>
<i>1.3.2. Nhạy cảm tai biến chủ quan của con người ... 11 </i>
<i>1.3.3. Nhạy cảm tai biến khách quan của môi trường tự nhiên ... 12 </i>
<i>1.3.4. Nhạy cảm tai biến môi trường nhân sinh ... 12 </i>
<i>1.3.5. Các yếu tố làm tăng tính nhạy cảm của tai biến ... 13 </i>
1.4. Dự báo tai biến môi trường ... 18
1.5. Tổng quan về tai biến, rủi ro môi trường trên thế giới và Việt Nam ... 18
<i>1.5.1. Trên thế giới ... 18 </i>
<i>1.5.2. Tại Việt Nam ... 22 </i>
1.6. Ứng xử tai biến môi trường ... 26
<i>1.6.1. Ứng xử theo hướng tiếp cận tai biến môi trường ... 26 </i>
<i>1.6.2. Ứng xử theo hướng tiếp cận cộng đồng ... 31 </i>
<i>1.6.3. Công tác ứng xử tai biến, sự cố môi trường tại Việt Nam ... 32 </i>
Chương 2. TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC QUÁ
TRÌNH ĐỊA ĐỘNG LỰC NỘI SINH ... 36
2.1. Giới thiệu chung về động lực môi trường địa chất ... 36
2.2. Một số vấn đề về địa động lực nội sinh... 37
<i>2.2.1. Cấu trúc mảng của thạch quyển và vận động của mảng ... 37 </i>
<i>2.2.2. Những hình thái cơ bản của địa hình hiện đại... 39 </i>
<i>2.2.3. Các dấu hiệu của vận động nâng chồi và sụt hạ hiện đại ... 39 </i>
<i>2.2.4. Hoạt động đứt gãy ... 39 </i>
2.3. Các loại tai biến mơi trường liên quan đến các q trình địa động lực nội sinh 40
<i>2.3.1. Động đất ... 40 </i>
<i>2.3.2. Nứt đất, nứt đất ngầm ... 58 </i>
Chương 3. TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC QUÁ
TRÌNH ĐỊA ĐỘNG LỰC NGOẠI SINH ... 69
3.1. Tai biến mơi trường do các q trình địa động lực ngoại sinh ... 69
<i>3.1.1. Những vấn đề chung về địa động lực ngoại sinh ... 69 </i>
<i>3.1.2. Một số loại tai biến môi trường sinh ra do các quá trình địa động lực </i>
Chương 4. TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG LÝ - SINH VÀ MÔI TRƯỜNG
NHÂN SINH ... 101
4.1. Tai biến môi trường lý - sinh ... 101
<i>4.1.1. Khái niệm về tai biến môi trường lý – sinh ... 101 </i>
<i>4.1.2. Các yếu tố tác động đến tính nhạy cảm của tai biến lý sinh ... 101 </i>
<i>4.1.3. Phòng vệ tai biến lý sinh ... 117 </i>
4.2. Tai biến môi trường nhân sinh ... 119
<i>4.2.1. Khái niệm và các loại tai biến nhân sinh phổ biến ... 119 </i>
<i>4.2.2. Ứng xử, giảm thiểu đối với các thiệt hại do các tai biến nhân sinh ... 121 </i>
Chương 5. MỘT SỐ TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP ... 122
5.1. Dịch sâu hại rừng ... 122
<i>5.1.1. Khái niệm ... 122 </i>
<i>5.1.2. Đặc điểm của lớp côn trùng ... 122 </i>
<i>5.1.3. Quan hệ giữa quá trình phát dịch của sâu hại và môi trường ... 125 </i>
<i>5.1.4. Dự báo khả năng phát dịch và hướng ngăn chặn dịch sâu hại ... 131 </i>
<i>5.1.5. Phương hướng ngăn chặn dịch sâu hại ... 132 </i>
5.2. Cháy rừng ... 133
<i>5.2.1. Khái niệm ... 133 </i>
<i>5.2.2. Điều kiện, nguyên nhân và tác hại của cháy rừng ... 133 </i>
<i>5.2.3. Các loại cháy rừng ... 137 </i>
<i>5.2.4. Một số biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng ... 138 </i>
<i>5.2.5. Biện pháp chữa cháy rừng ... 142 </i>
5.3. Suy thoái đất ... 144
<i>5.3.1. Khái niệm ... 144</i>
<i>5.3.2. Hậu quả của sự suy thoái đất………..144 </i>
<i>5.3.3. Nguyên nhân của sự suy thoái đất ... 145 </i>
<i>5.3.4. Các thể loại suy thoái đất ... 146 </i>