Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.37 MB, 60 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<i><b> Khổng Tử Cây Tùng – biểu tượng của người quân tử </b></i>
<i>ấn đề con người nói chung và </i>
<i>bản tính con người nói riêng </i>
<i>ln được triết học và các khoa </i>
<i>học khác quan tâm. Khổng Tử (551- 479 </i>
<i>TCN), người sáng lập Nho giáo, một nhà </i>
<i>triết học lớn nhất Trung Quốc thời cổ đại đã </i>
<i>đề ra những nguyên tắc và phẩm chất đạo </i>
<i>đức cá nhân của người quân tử. Bằng việc </i>
<i>khái quát hình mẫu người quân tử trong tác </i>
<i>phẩm “Luận Ngữ” của Khổng Tử, người viết </i>
<i>bài này mong mỗi chúng ta hãy nhìn lại </i>
<i>mình, xem mình có phải là người quân tử </i>
<i>hay không? Làm gì để trở thành người quân </i>
<i>tử? </i>
<i>Theo Bách khoa toàn thư mở </i>
<i>Wikipedia, Quân tử (tiếng Trung: 君子) (chỉ </i>
áp dụng với đàn ơng con trai) là hình mẫu
con người lý tưởng theo nhân sinh quan của
Nho giáo. Nguyên nghĩa của quân tử là "kẻ
Trong các tác phẩm nổi tiếng của Nho
giáo nguyên thuỷ (Tứ Thư, Ngũ Kinh),
<i>“Luận Ngữ” là một trong những tác phẩm đề </i>
cập nhiều và rõ nét nhất về những nguyên tắc
và phẩm chất đạo đức của người quân tử.
Theo Khổng Tử, người quân tử trước hết
<i>phải có nhân, nghĩa. Khổng Tử nói: “Người </i>
<i>quân tử mà bỏ mất điều nhân, sao có thể gọi </i>
<i>là quân tử”; “Người quân tử không làm trái </i>
<i>điều nhân dù chỉ trong khoảng cách một bữa </i>
<i>ăn, dù cấp thiết vội vã cũng không rời bỏ, dù </i>
<i>phải khốn cùng phiêu bạt cũng không xa rời </i>
<i>đạo nhân” (Luận Ngữ, Lý nhân, tiết 5). </i>
<i>Khổng Tử cũng cho rằng: Hiếu đễ là </i>
<i>gốc của nhân. Hiếu (là yêu cha mẹ), đễ là </i>
sống hoà thuận với anh em, yêu quý mọi
người. Khi học trò hỏi về đạo hiếu, Khổng
<i>Tử nói: “Những người ni dưỡng được cha </i>
<i>mẹ thì được gọi là có hiếu. Thế nhưng đến </i>
<i>như chó, ngựa mà người ta cũng nuôi được, </i>
<i>nếu nuôi dưỡng cha mẹ mà khơng kính trọng </i>
<i>thì chẳng khác chi ni chó, ngựa” (Luận </i>
Ngữ, Vi chính, tiết 7). Và Đức nhân của
<i>người quân tử có hai mặt “trung” và “thứ”. </i>
<i>“Trung” là ngay thẳng, thành thật. “Thứ” là </i>
Trong cách tư duy của mình, Khổng Tử
luôn phân biệt rõ người quân tử và kẻ tiểu
nhân. Ông cho rằng: Mọi việc làm của người
quân tử đều xuất phát từ lòng nhân nghĩa còn
kẻ tiểu nhân thì chỉ xuất phát từ ý thích hay
<i>lợi ích cá nhân. Khổng Tử nói: “quân tử chỉ </i>
<i>quan tâm đến điều nghĩa, tiểu nhân chỉ quan </i>
<i>tâm đến điều lợi” (Luận Ngữ, Lý nhân, tiết </i>
16). Người quân tử là người yêu điều nhân
và ghét điều bất nhân; luôn coi người trong
bốn biển như anh em một nhà. Người quân
tử muốn có địa vị, tiếng tăm trước hết phải
có đức tài; có lối sống giản dị, thoải mái,
khơng tìm cách làm giàu hoặc thoát nghèo
bằng con đường phi nghĩa; luôn luôn cẩn
thận, biết tự kiềm chế, thận trọng trong lời
nói, có lỗi phải biết hối cải.
Việt Nam chúng ta là một quốc gia chịu
hàng ngàn năm Bắc thuộc nên Nho giáo đã
ảnh hưởng sâu rộng đến quan niệm, lối sống
của con người Việt. Trong lịch sử Việt Nam,
người đời luôn coi trọng mẫu người quân tử,
người qn tử ln được đặt lên vị trí hàng
đầu, được ví như cây Tùng (một loại cây
đứng vững trước bão táp mưa sa) trong tứ
quý (Tùng, Trúc, Cúc, Mai).
Quan niệm của Hồ Chí Minh về người
quân tử được xem là “những bông hoa trái
mùa” (khi thế kỷ XIX kết thúc với sự kết
thúc sinh mệnh chính trị của Nho giáo và thế
kỷ XX mở ra với sự xuất hiện các triết thuyết
Tây phương). Trong thơ Hồ Chí Minh bên
cạnh người quân tử hành động, chúng ta còn
bắt gặp người quân tử nhàn cư, một hiền
nhân luôn hướng tình cảm của mình đến
thiên nhiên như hướng đến một người bạn
tâm giao. Và có thể khẳng định, Hồ Chí
Minh chính là mẫu hình tiêu biểu về người
quân tử.
Có thể nói rằng dù xã hội có thay đổi
bao nhiêu đi nữa thì những chuẩn mực đạo
đức trên của người quân tử mà Khổng Tử và
các vị tiền bối đã chắt lọc vẫn vẹn nguyên
giá trị. Trong mọi thời đại, mẫu người quân
tử vẫn là một mẫu người đáng được tôn vinh.
Ngày nay, với những ảnh hưởng từ
khuyết tật của cơ chế thị trường, ranh giới
giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân dường
như rất mong manh. Lợi nhuận, tiền bạc có
thể biến người quân tử thành kẻ tiểu nhân bất
cứ lúc nào. Để có thể thực hiện được những
nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức của người
Mỗi chúng ta nên nhớ lời dặn của
<i>Khổng Tử: “Người quân tử làm việc gì cũng </i>
<i>lấy nghĩa làm gốc, lấy lễ tiết mà thi hành, lấy </i>
<i>khiêm tốn mà phát biểu, lấy chữ tín mà phấn </i>
<i>đấu hoàn thành”. Và hãy làm theo Tăng Tử </i>
<i>(học trò của Khổng Tử): Mỗi ngày ta nên xét </i>
<i>ba điều: Làm việc cho ai có hết lịng khơng? </i>
<i>Đối với bạn bè có vẹn chữ tín khơng? Đạo </i>
<i>thầy truyền có học khơng? Mong độc giả </i>
nhớ và cố gắng trở thành, xứng đáng là
người quân tử.
[1] Bài giảng Một số tác phẩm triết học trước Mác, PGS.TS Nguyễn Tấn Hùng, ĐH Đà Nẵng
[2] .
<b>Những ngun lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin là học phần bắt buộc đối với sinh </b>
viên, không chỉ là điều kiện tiên quyết để hiểu rõ cơ sở lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh và
đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn là nền tảng cơ sở để học tập và
nghiên cứu các học phần khoa học khác, đặc biệt là các học phần kinh tế chuyên ngành.
Thực tế, rất ít sinh viên thấy được vai trò của học phần, đa số chỉ xem là một học phần đại
cương, việc học chỉ mang tính chất đối phó, cách học thường là học thuộc lịng từng câu, chữ
hay nói cách khác là “học vẹt”, “học tủ” và do đó, thường không nắm được nội dung cốt lõi,
không hiểu được bản chất của vấn đề. Hơn nữa, với việc áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ
hiện nay thì cách đánh giá và hình thức thi cũng thay đổi theo hướng chặt chẽ, toàn diện, khách
quan và cũng “khắt khe” hơn. Ví dụ, học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin 2 đã có 1.200 câu trắc nghiệm và tự luận bao phủ tồn bộ những nội dung trong giáo
trình và cả những kiến thức liên hệ thực tế mà sinh viên phải nắm được từ những nguồn tư liệu
<b>có liên quan. </b>
Bởi thế, việc dạy và học “theo lối mòn”; giáo viên đọc, sinh viên chép và về nhà học
thuộc lịng sẽ khó có thể đáp ứng được u cầu đặt ra. Do vậy, vấn đề bức thiết đặt ra cho cả
người dạy và người học phải tìm ra phương pháp giảng dạy và học tập phù hợp.
Thực hiện phương châm lý luận gắn với thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
giảng dạy. Qua thực tế giảng dạy, bản thân đã đưa một số bài tập vận dụng đơn giản, chủ yếu
tập trung vào phần Kinh tế chính trị nhằm củng cố phần lý thuyết đã học, khắc ghi nội dung,
đồng thời cũng tạo sự hứng thú cho sinh viên và giúp sinh viên thoát khỏi tâm lý học phần
nặng tính lý thuyết.
Dưới đây là một số bài tập tơi đã sử dụng trong q trình giảng dạy, việc giải những bài
tập này theo hướng đưa lý thuyết lồng vào bài giải.
như tổng lượng giá trị của hàng hóa, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa...; có thể xét ví dụ 1
như sau:
Một người lao động trong một ngày (8h) sản xuất được 20 sản phẩm có tổng giá trị là
600.000 (đồng). Hỏi giá trị của tổng sản phẩm làm ra trong ngày và giá trị của một đơn vị sản
phẩm là bao nhiêu, khi:
a. Năng suất lao động tăng lên 2 lần;
b. Cường độ lao động tăng lên 1,5 lần.
<i><b>Bài giải: </b></i>
Lượng giá trị hàng hóa tỷ lệ thuận với hao phí lao động sản xuất ra hàng hóa và tỷ lệ
nghịch với năng suất lao động. Ta có:
Tổng giá trị của 20 sản phẩm được biểu hiện bằng tiền là 600.000 (đồng)
Vậy, giá trị của một đơn vị sản phẩm là:
20
000
.
600 <sub>= 30.000 (đồng) </sub>
<i>a. </i> <i>Khi tăng năng suất lao động lên 2 lần </i>
Khi năng suất lao động tăng lên 2 lần thì số lượng sản phẩm được sản xuất ra là:
20 x 2 = 40 (sản phẩm)
Ngày lao động của người công nhân vẫn là 8h và giá trị của ngày lao động được tính bằng
tiền vẫn là 600.000 đồng.
Giá trị của một đơn vị sản phẩm là:
40
000
.
600 <sub>= 15.000(đồng) </sub>
<i>b. </i> <i>Khi cường độ lao động tăng lên 1,5 lần </i>
Cường độ lao động tăng lên 1, 5 lần thì số lượng sản phẩm được sản xuất ra là:
20 x 1,5 = 30 (sản phẩm)
Cường độ lao động tăng lên tức hao phí lao động trong khoảng thời gian (8h) lao động đó
cũng tăng lên (vì thực chất tăng cường độ lao động là kéo dài ngày lao động);
Do đó, tổng lượng giá trị của 30 sản phẩm cũng tăng lên là: 600.000x1,5=900.000 (đồng)
Vậy giá trị của một đơn vị sản phẩm là
30
000
.
900 <sub>= 30.000 (đồng) </sub>
Đáp án:
a. Lượng giá trị của tổng sản phẩm làm ra trong ngày: 600.000 (đồng); Giá trị của một
đơn vị sản phẩm: 15.000 (đồng)
b. Lượng giá trị của tổng sản phẩm làm ra trong ngày: 900.000 (đồng); Giá trị của một
<i>Kết luận: </i>
+ Khi tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động đều tăng số lượng sản phẩm;
+ Khi tăng năng suất lao động thì hao phí sản xuất ra sản phẩm khơng đổi nên tổng lượng
giá trị hàng hóa khơng đổi, giá trị một đơn vị hàng hóa giảm và ngược lại.
+ Khi tăng cường độ lao động thì hao phí sản phẩm tăng lên nên tổng lượng giá trị của
sản phẩm được sản xuất ra cũng tăng lên.
2. Trong chương V có rất nhiều nội dung để đưa bài tập vận dụng nhưng trong giới hạn
bài viết này tôi chỉ giới thiệu bài tập nhằm nhớ được cơ cấu giá trị hàng hóa bao gồm những
yếu tố nào, nội dung các yêu tố trong cơ cấu giá trị hàng hóa, bản chất và phương thức chu
chuyển của các loại tư bản.
Ta có ví dụ 2: Cơng ty Hương Nam sản xuất sản phẩm X. Trong quá trình sản xuất sản
phẩm, hao mịn máy móc thiết bị 50 triệu đồng; chi phí nguyên liệu, vật liệu và nhiên liệu là
150 triệu đồng. Yêu cầu xác định chi phí tư bản khả biến nếu biết rằng giá trị sản phẩm là 500
triệu đồng và trình độ bóc lột là 200%.
<i>Bài giải: </i>
Ta có: Chi phí tư bản bất biến bao gồm: Chi phí hao mịn máy móc thiết bị, chi phí
nguyên liệu, vật liệu và nhiên liệu nên:
Chi phí tư bản bất biến (c) = 50 + 150 = 200 (triệu đồng)
Giá trị của sản phẩm: c + v + m = 500 (triệu đồng)
Chi phí tư bản khả biến và giá trị thặng dư là:
v + m = 500 – 200 = 300 (triệu đồng) (1)
Mà tỷ suất giá trị thặng dư m’= <i>x</i>
<i>v</i>
<i>m</i>
100% = 200% nên 1m = 2v (2)
Lấy (2) thay vào (1) ta được v = 100 (triệu đồng)
Đáp án: Chi phí tư bản khả biến (v): 100 (triệu đồng)
Ví dụ 3: Xí nghiệp A sản xuất sản phẩm Y. Trong quá trình sản xuất có các chi phí như
sau: tư bản ứng trước: 100 triệu đồng; trong đó đầu tư vào nhà xưởng là 40 triệu đồng, máy
móc thiết bị 20 triệu đồng; nguyên liệu, nhiên liệu và vật liệu gấp 3 lần giá trị sức lao động.
Hãy xác định tổng số tư bản bất biến, tư bản khả biến, tư bản cố định, tư bản lưu động.
<i><b>Bài giải: </b></i>
Chi phí tư bản ứng trước (k) = c + v = 100 (triệu đồng)
Ta có tư bản cố định bao gồm máy móc thiết bị và nhà xưởng nên Chi phí tư bản cố định
= tư bản đầu tư vào nhà xưởng + tư bản đầu tư vào máy móc thiết bị.
Chi phí tư bản cố định = 40 + 20 = 60 (triệu đồng)
Tư bản lưu động bao gồm nguyên liệu, nhiên liệu và vật liệu và giá trị sức lao động nên
Chi phí tư bản lưu động = chi phí tư bản ứng trước – chi phí tư bản cố định.
Chi phí tư bản lưu động = 100 – 60 = 40 (triệu đồng)
Theo đề bài, nguyên liệu, nhiên liệu gấp 3 lần giá trị sức lao động nên: 4v= 40(triệu đồng)
Vậy, chi phí tư bản khả biến (v) = 10 (triệu đồng)
Chi phí tư bản bất biến (c) = chi phí tư bản ứng trước (k) – chi phí tư bản khả biến (v)
Chi phí tư bản bất biến (c) = 100 – 10 = 90 (triệu đồng)
<i>Đáp án: </i>
Tư bản cố định : 60 (triệu đồng); Tư bản lưu động: 40 (triệu đồng); Tư bản bất biến: 90
(triệu đồng) và Tư bản khả biến: 10 (triệu đồng)
rong thư gửi thanh niên và nhi đồng
toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán
<i>năm 1946, Bác Hồ đã viết: “Một </i>
<i>năm khởi đầu từ mùa xuân, đời người khởi đầu </i>
<i>từ tuổi trẻ, tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” </i>(1)
, cây cối đâm chồi nảy
lộc, xanh
tràn trề sinh lực, có đầy đủ nhiệt huyết để biến
bao suy nghĩ thành hi
.
hết sức quan trọng. I-va-nốp, nhà tâm lý học
<i>con người ta sống dưới ánh sáng của nó ta thấy </i>
<i>hết ý nghĩa của cuộc đời”</i>
người
sức mạnh vượt qua khó khăn và thử thách trong
cuộc sống như nhà văn Pháp Đi-dơ-rơ từng nói:
<i>“Nếu khơng có mục đích, anh khơng làm được </i>
<i>gì cả. Anh cũng khơng làm được gì vĩ đại nếu </i>
<i>mục đích tầm thường</i>
tộc, của nhân loại, vì sự tiến bộ của bản thân và
xã hội. Chúng ta vẫn còn nhớ, cách đây hơn
100 năm, ngày 5/6/1911
vọng giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách áp
bức của thực d
tưởng cộng sản, tìm thấy con đường cứu nước
giải phóng dân tộc đúng đắn.
của đại đa số than
trong thời đại hiện nay là gì?
: “
<i>ắng lợi trên đất nước </i>
<i>-thực hiện lý tưởng của dân tộc, của Đảng: “Xây </i>
<i>dựng nước Việt Nam độc lập, dân giàu, nước </i>
<i>mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh</i>
tiến bộ vượt bậc về mọi mặt và được đánh giá
rất cao. Nhiều bạn trẻ đã chứng tỏ được sức bật
của bản thân không chỉ trong phạ
mới. Đó khơng chỉ là kết quả của sự nỗ lực
phấn đấu không ngừng từ mỗi người mà còn
xuất phát từ những điều
tưởng bản thân, không xác định ước mơ cho
chính mình và rồi họ khơng cố gắng hết sức vào
học tập, phấn đấu vươn lên. Nguyên nhân dẫn
đến những hạn chế này có thể xuất phát từ
những nguyên nhân khách quan như bối cảnh
phát triển chung của thế giới với đời sống kinh
tế thị trường ít nhiều thực dụng, là chính sách
xuyên tạ
,
đạo làm người của mỗi thanh niên. Sự thiếu cố
gắng học tập, tu dưỡng, rèn luyện c
. Công tác giáo dục đạo đức trong nhà
và rèn luyện, trong việc mở mang kiến thức
trên mọi mặt, tiến tới làm chủ công nghệ thông
tin và các thành tựu khoa học kỹ thuật khác, nỗ
lực sáng tạo và hội nhập với bạn bè quốc tế để
khỏi tụt hậu với thời đại. Thanh niên phải tích
cực tham gia các hoạt động xã hội, phải dám
dấn thân, trải nghiệm và khẳng định chính
mình. Nh
nghe và chia sẻ với mọi người, khơng kì thị với
những người đã từng lầm lỡ, khơng xả rác
ngồi đường; tham gia hiến máu nhân đạo…
hải quan tâm đến việc giáo
dục lập trường tư tưởng cho thanh niên thật
vững vàng. Việc giáo dục này có thể thơng qua
nhiều hình thức khác nhau như tổ chức các
cuộc thi tìm hiểu lịch sử, tun truyền các chính
sách của Đảng và Nhà nước, tổ chức các buổi
tọa đàm, hội thảo, các buổi chiếu phim truyền
-
-. Cần
không
thanh niên.
Các gia đình cần thắt chặt hơn nữa công tác
quản lý, giáo dục con cái, ngay từ nhỏ, cần hình
thành cho trẻ nhân cách, bản lĩnh sống để có thể
tự đưa ra những cách hành xử phù hợp trong
các tình huống khó khăn trong cuộc sống.
Giáo dục lý tưởng cho thanh niên là hoạt
động tổng thể tác động đến chính tầng lớp trẻ,
chú trọng giáo dục niềm tin và khả năng đạt lý
tưởng đó, điều này phải dựa trên điều kiện thực
tế hiện tại làm nề
qua các biện pháp nêu gương sáng của các danh
nhân, tôn vinh những cá nhân điển hình “Thanh
niên tiên tiến làm theo lời Bác” trên tất cả các
mặt của đời sống và phong trào than
cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh mang ý nghĩa rất lớn, có
tác dụng xây dựng hình tượng chuẩn mực, một
nhân cách sống cao đẹp và góp phần định
hướng thẩm mỹ cho mỗi cá nhân trong xã hội.
Đặc biệt, không chỉ định hướng, Đảng, Nhà
nước và tồn xã hội cịn cần tạo điều kiện để
thanh niên Việt Nam có cơ hội thực hiện tốt và
hồn thành những mục tiêu của mình để đạt
được lý tưởng đã xây dựng, tạo động lực cho
các thế hệ thanh niên kế cận mạnh dạn xây
dựng và thực hiện lý tưởng của mình. Đây là
vấn đề cần sự chung tay của toàn xã hội để đảm
bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
[1] Hồ Chí Minh, Tồn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, trang 167
[2] , 1989, trang 20
[3]
[4]
<b>Từ những con số biết nói… </b>
<i><b>* Lạm phát quý 1 năm 2012 tăng </b></i>
<i><b>2,55%,</b></i> thấp nhất trong 20 tháng qua. Đây
dường như là con số mơ ước của các nhà
hoạch định kinh tế vĩ mô Việt Nam trong
công cuộc kiềm chế lạm phát. Cùng với chỉ
số này, giá lương thực thực phẩm giảm trên
1% mang lại tín hiệu vui cho người tiêu
dùng nhưng lại hứa hẹn cuộc sống vất vả
hơn cho người nông dân (chiếm khoảng
70% dân số Việt Nam).
<i><b>* GDP quý 1 tăng 4%,</b></i> thấp nhất trong
vòng 3 năm trở lại, hoạt động sản xuất kinh
doanh ngày càng khó khăn với các doanh
nghiệp. Khi thị trường xuất khẩu truyền
thống (Mỹ, Nhật, Châu Âu) bị ảnh hưởng
nghiêm trọng do khủng hoảng kinh tế toàn
cầu, các doanh nghiệp tìm về thị trường Việt
như là cứu cánh. Tuy nhiên, với người dân
Việt Nam việc tìm kiếm việc làm, tăng thu
nhập là điều khó khăn trong thời điểm hiện
nay; trong khi giá các loại hàng hóa thiết
yếu tăng thì tất nhiên việc tiêu dùng hàng
đang phát triển hướng đến nền kinh tế bền
vững). Điều đáng nói là, hiệu quả sử dụng
vốn đã thấp thì hiệu quả sử dụng vốn trong
khu vực đầu tư công lại càng thấp. Các dự
án đầu tư dàn trải, thiếu kế hoạch trong
phạm vi cả nước, tăng dự tốn cơng trình,
chậm tiến độ, kém chất lượng. Những
nguyên nhân này ảnh hưởng rất lớn đến sự
phát triển kinh tế xã hội và an sinh của
người dân.
<b>Vậy nguyên nhân của những hiện </b>
<b>tƣợng này là do đâu? </b>
Nguyên nhân chính là do tiêu dùng
giảm. Trong nền kinh tế thị trường, nhà sản
xuất kinh doanh phải dựa vào nhu cầu thị
trường, mà với người dân Việt Nam hiện
nay, việc tăng tiêu dùng là ước mơ xa xỉ. Lý
do:
<i><b>* Thuế phải nộp.</b></i> Mức thu nhập bắt
đầu tính thuế thu nhập cá nhân là 4 triệu
đồng, đây là mức hợp lý của năm 2005 –
2006 (thời điểm xây dựng luật), tuy nhiên
thời điểm đó, lương tối thiểu là
450.000đ/tháng, giá rau muống 2.000đ/bó,
giá vàng 1 triệu đồng/1 chỉ; thời điểm hiện
tại, lương tối thiểu là 830.000đ/tháng, giá
rau muống 6.000đ/bó, giá vàng 4,3 triệu
đồng/chỉ. Vậy với thu nhập như thế, mức
thuế như thế, giá hàng hóa tiêu dùng như thế
thì đối với người tiêu dùng Việt Nam, tìm
cách trang trải đủ chi tiêu cho nhu cầu sinh
lý (ăn, mặc, ở) đã là chật vật lắm rồi, tiền
đâu mà du lịch, mua sắm để kích cầu cho
sản xuất?
<i><b>* Lãi suất ngân hàng tăng quá cao </b></i>
<i><b>(18%/năm).</b></i> Đây là hệ quả của việc kiềm
chế lạm phát. Tuy nhiên lãi suất ngân hàng
tăng, người tiêu dùng nếu có tiền tích lũy sẽ
tăng gửi tiền vào ngân hàng thay vì tiêu
dùng. Nhà sản xuất hạn chế vay để sản xuất,
người tiêu dùng giảm vay tiêu dùng, đây là
nguyên nhân gây suy thoái kinh tế, hàng sản
xuất ra không bán được, hàng tồn kho quá
nhiều, muốn tồn tại doanh nghiệp phải sa
thải lao động hoặc giảm giờ làm, điều này
<i><b>* Việc làm và thu nhập giảm.</b></i> Theo
thống kê từ Vietnamworks.com, số lượng hồ
sơ ứng viên cho mỗi vị trí đăng tuyển năm
2011 và những tháng đầu năm 2012 tăng từ
20% – 25% so với năm 2010. Đây chính là
hệ quả tất yếu của việc hoạt động sản xuất bị
ngưng trệ, doanh nghiệp sa thải lao động; do
vậy các ứng viên phải cạnh tranh khốc liệt
trên con đường tìm việc, và những ai đang
còn việc làm phải chấp nhận một mức lương
thấp hơn và phải cố cơng tìm cách giải bài
tốn làm sao để có thể trả số tiền nhiều hơn
cho các khoản chi tiêu tối thiểu trong khi thu
nhập ngày càng giảm?
<i><b>* Giá các loại hàng hóa thiết yếu </b></i>
<i><b>tăng.</b></i> Cuối năm 2011 giá điện được điều
chỉnh tăng 1.304đ/kwh và được dự báo sẽ
tiếp tục tăng trước áp lực thua lỗ và thiếu
điện trong mùa khô; ngày 1/3/2012 giá gas
tăng 52.000đ/bình gas 12kg; ngày 7/3/2012
giá xăng dầu tăng 2.100đ/lit, giá cước vận
tải hàng hóa tăng 1,78% so với quý 4/2011
và tăng 7,87% so với cùng kỳ. Điện, gas,
xăng dầu, vận tải là đầu vào thiết yếu cho
từng ngành sản xuất kinh doanh, từng hộ gia
đình. Các doanh nghiệp phải chật vật lo tìm
cách tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành,
<b>Một số giải pháp đề xuất </b>
<i><b>* Giảm thuế thu nhập cho người dân </b></i>
<i><b>và doanh nghiệp </b></i>
Đề xuất mức khởi điểm nộp thuế thu
nhập cá nhân là mức thu nhập gấp 10 lần
mức lương cơ bản (hiện nay là
830.000đ/tháng) và thuế suất thuế thu nhập
doanh nghiệp là 22%. Điều này sẽ hỗ trợ
doanh nghiệp tăng lượng vốn đầu tư vào
hoạt động sản xuất kinh doanh, người dân có
thêm tiền để tiêu dùng, và sẽ kích thích kinh
tế tăng trưởng. Trong ngắn hạn có thể Ngân
sách Nhà nước sẽ mất một khoản thu đáng
kể nhưng trong dài hạn, nhiều doanh nghiệp
tham gia sản xuất kinh doanh, nhiều người
lao động có mức lương cao hơn mức thu
nhập chịu thuế thì đây hứa hẹn là niềm vui
lớn cho ngân sách quốc gia.
<i><b>* Giảm lãi suất ngân hàng </b></i>
Mức lãi suất ngân hàng được đề xuất là
14% - 15%/năm, với mức lãi suất này một
mặt vẫn kiểm soát được lạm phát trong mức
cho phép, một mặt giúp hỗ trợ cho sản xuất
và tiêu dùng. Tuy nhiên, hoạt động cho vay
tiêu dùng cần được giám sát một cách chặt
chẽ, ưu tiên cho vay tiêu dùng đối với khu
vực nông dân và nơng thơn để cải thiện cuộc
sống và kích thích chất lượng sản xuất nơng
nghiệp, bên cạnh đó vẫn tiếp tục hạn chế
vay đầu tư bất động sản.
<i><b>* Kiểm soát giá các mặt hàng thiết </b></i>
<i><b>yếu </b></i>
Nhà nước cần tiếp tục kiểm soát và
kiềm chế sự tăng giá các mặt hàng thiết yếu
như giá điện, gas, xăng…Đối với mặt hàng
điện, không thể tăng giá bán điện cho người
dân để bù lỗ các hoạt động đầu tư trái ngành
của EVN như bất động sản, viễn thông. Với
mặt hàng gas, xăng dầu tùy từng thời điểm
có thể giảm thuế nhập khẩu, trợ giá để bình
ổn giá hỗ trợ người dân và doanh nghiệp.
Các mặt hàng khác như gạo, sữa, phí dịch
vụ y tế, giáo dục phải ln được kiểm sốt
trong mức chấp nhận được của người dân.
<i><b>* Giảm chi tiêu công </b></i>
Với nguồn thu ngân sách giảm do giảm
thuế (thuế thu nhập, thuế nhập khẩu…) và
hoạt động chi nhiều hơn trong việc bình ổn
giá các mặt hàng thiết yếu, Nhà nước buộc
phải giảm các hoạt động đầu tư công. Đây
cũng là điều cần thiết để giảm các dự án đầu
tư không hiệu quả, dàn trải. Bên cạnh đó,
Nhà nước cũng cần tính đến việc thu hút
nguồn vốn đầu tư từ các tập đoàn kinh tế tư
nhân và vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào
lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng theo
phương thức BOT (xây dựng – kinh doanh –
chuyển giao) và BTO ( xây dựng – chuyển
giao – kinh doanh) để nâng cao hiệu quả đầu
tư và sử dụng cơng trình, đồng thời làm
giảm chi tiêu công ngân sách nhà nước.
Với việc thực hiện đồng bộ các giải
pháp trên, hy vọng nền kinh tế Việt Nam sẽ
vượt qua cơn khủng hoảng. Cuộc sống của
người dân được cải thiện, người dân sẽ nghĩ
đến việc thỏa mãn nhu cầu cao hơn và cách
hiện thực hóa chúng là các hoạt động tiêu
dùng, nhà sản xuất đẩy mạnh hoạt động, tạo
ra nhiều sản phẩm chất lượng tốt hơn, nhà
cung ứng dịch vụ tạo thêm nhiều giá trị cho
khách hàng. Thu nhập các công ty tăng, thu
nhập người lao động tăng lại là điều kiện để
tăng trưởng kinh tế và tăng thu ngân sách
[2] Cand.com
<i><b>ThS. Trần Thị Hoài Nam </b></i>
<i><b>GV. Khoa Quản trị kinh doanh </b></i>
<b>I. Đặt vấn đề </b>
Ngày nay, nền kinh tế thị trường cạnh tranh vô cùng khốc liệt đang khiến cho các doanh
nghiệp (DN) phải nỗ lực rất lớn để tồn tại và phát triển. Nói cách khác, họ ln phải tìm ra
những cách thức để ghi dấu ấn của mình đối với người tiêu dùng. Một trong những cách thức
tiếp cận người tiêu dùng dễ dàng và ít tốn kém nhất chính là tham gia vào việc trưng bày hàng
hóa, dịch vụ. Đặc biệt, đối với một nhà phân phối bán lẻ, trưng bày hàng hố chính là bộ mặt
và là ấn tượng ban đầu của doanh nghiệp trong mắt người tiêu dùng. Đây cũng là cách thức
cạnh tranh đơn giản và dễ ứng dụng nhất.
Vậy trưng bày hàng hóa, dịch vụ là gì?
Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động xúc tiến thương mại của thương
nhân dùng hàng hoá, dịch vụ và tài liệu về hàng hoá, dịch vụ để giới thiệu với khách hàng về
hàng hố, dịch vụ đó. Trưng bày khơng đơn giản “lấp đầy quầy kệ”, thơng qua đó, khách hàng
Các hình thức trưng bày, giới thiệu hàng hố, dịch vụ bao gồm:
1. Mở phịng trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ.
2. Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ tại các trung tâm thương mại hoặc trong các
hoạt động giải trí, thể thao, văn hố, nghệ thuật.
3. Tổ chức hội nghị, hội thảo có trưng bày, giới thiệu hàng hố, dịch vụ.
4. Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ trên Internet và các hình thức khác theo quy
định của pháp luật.
<i>Có 3 kiểu trưng bày hàng hóa: Kiểu kẻ ơ: các hàng hóa được trưng bày trên các quầy kệ </i>
<i>được xếp thành các đường song song; Kiểu tự do: các hàng hóa được trưng bày theo các kiểu </i>
<i>mở (khách hàng có thể di chuyển theo các hướng); Kiểu bontique: các hàng hóa được trưng bày </i>
theo từng vùng riêng biệt, theo từng chủ để mua sắm. Tuy nhiên trên thực tế, các doanh nghiệp
đã có sự kết hợp giữa các kiểu trưng bày trên như: Kiểu kẻ ô và kiểu tự do; tập hợp các kiểu
trên theo từng vùng, từng chủ đề mua sắm sẽ có được kiểu bontique.
<i>Trưng bày hàng hóa, dịch vụ được ví như “người bán hàng thầm lặng”, thể hiện tài năng, </i>
nghệ thuật của nhà bán lẻ trong việc tác động đến người tiêu dùng. Hoạt động này giúp doanh
nghiệp củng cố được quyết định của người mua theo hướng có lợi cho nhà bán lẻ và đóng vai
trị rất lớn trong thành cơng chung của thương hiệu bán lẻ.
Một cuộc điều tra khảo sát và nghiên cứu của Ogilvy Action trên 6.000 người tiêu dùng
tại Mỹ được công bố vào tháng 11/2008 cho thấy, việc trưng bày bên trong cửa hàng có hiệu
quả hơn cả giảm giá. Trong 29% người mua hàng một cách ngẫu nhiên, có đến 18% cho biết họ
<i>(Nguồn: thế giới bán lẻ.vn; “ Nghệ thuật trưng bày hàng hóa, truy cập ngày 01/05/ 2012) </i>
Để hiểu rõ hơn thực tế các doanh nghiệp bán lẻ đầu tư cho hoạt động trưng bày hàng hóa
như thế nào, thực trạng dưới đây sẽ làm rõ điều này.
<b>II. Thực trạng hoạt động trƣng bày hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp bán lẻ </b>
<b>trên địa bàn thành phố Đà Nẵng </b>
Trong những năm gần đây, không chỉ những thương hiệu bán lẻ nổi tiếng mà ngay cả
các quầy tạp hóa nhỏ lẻ, bắt đầu có xu hướng chuyển dần từ cách bán hàng truyền thống sang
bán hàng tự chọn. Việc thay đổi này có phần đóng góp khơng nhỏ trong hoạt động đầu tư cho
trưng bày. Từ việc hàng hóa lộn xộn, để khơng ngăn nắp, các ông chủ (bà chủ) cảm thấy mất
thời gian, mất khách hàng vì khơng có đủ thời gian và cơng sức để có thể phục vụ một khối
<i>lượng lớn khách hàng vào một lúc. Do đó, thiết nghĩ, phải đầu tư cho hoạt động trưng bày. Chị </i>
<i>Nga “tạp hóa Mai Nga” nói. Có thể nhận ra rằng, Big C; Co.op mart; Nguyễn Kim; Best </i>
Outlet; Phi Long; Tiến Thu; Nam Á là một trong những nhà bán lẻ thành công ở Đà Nẵng trong
nhiều lĩnh vực như: hàng tiêu dùng, điện máy, tin học - thiết bị viễn thông; xe máy; điện thoại
di động. Mỗi thương hiệu nêu trên đều có những cách trưng bày hàng hóa của mình “theo lối”
riêng biệt, theo từng kiểu khác nhau, đảm bảo hấp dẫn nhóm khách hàng mục tiêu của chính
họ.
Tầng 3 của siêu thị Big C, điều dễ nhận thấy là tùy theo từng mặt hàng mà các hàng hóa
được trưng bày theo từng kiểu nhất định. Với nhiều hàng hóa mang đến cho người tiêu dùng,
nên ở tầng 3 siêu thị Big C kết hợp nhiều kiểu trưng bày hàng hóa.
Đối với gian hàng sách vở: hàng hóa này được trưng bày trên kệ song song (kiểu kẻ ô),
gian hàng xà phòng các sản phẩm được sắp xếp thành hình nón vng ở giữa khơng gian của
siêu thị (kiểu tự do, hướng mở) giúp khách hàng tự do di chuyển. Bontique là sự kết hợp trưng
bày theo từng khu vực hàng hóa, từng chủ đề (hàng thực phẩm, bánh mỳ, quần áo, đồ chơi cho
trẻ, .v.v.v)
Một sự kiện thu hút lượng khách hàng khá lớn tập trung tại giao lộ Điện Biên Phủ - Hải
Phòng vào ngày 6/12/2011; chính thức khai trương Siêu thị điện máy Nguyễn Kim tại Đà
Nẵng. Nguyễn Kim với nhiều loại hàng hóa về điện máy, đặc tính của nó to, cồng kềnh, thế
nhưng với nghệ thuật trưng bày đẹp, khoa học, bắt mắt, kết hợp các kiểu trưng bày Nguyễn
Kim đã mang đến cho khách hàng một khơng gian thống mát, rộng rãi, tạo cảm giác thích thú
khi bước chân vào cửa hàng.
Best Outlet Đà Nẵng chính thức mở cửa vào ngày 11/01/2011 tại số 125 đường 3/2 Quận
Hải Châu, TP.Đà Nẵng là siêu thị tứ 4 trong tập đoàn siêu thị điện máy EBEST. Nhận ra tầm
quan trọng của việc thu hút khách hàng, xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp thông qua trưng
bày, hoạt động này được Ban giám đốc thường xuyên quan tâm.
<b>Kiểu kẻ ô </b>
<b>Kiểu kẻ ô – kiểu tự do </b>
<b>Kiểu kẻ ô – kiểu tự do </b>
(mặt hàng máy giặt và tủ lạnh)
<b>Kiểu tự do – Kiểu kẻ ô </b>
(mặt hàng máy xay sinh tố, ấm điện,...)
<b>Kiểu kẻ ô </b>
<b>(mặt hàng máy giặt) </b>
<b>Kiểu kẻ ô và kiểu tự do </b>
(mặt hàng tivi)
<b>Kiểu kẻ ô – kiểu tự do </b>
(mặt hàng máy ảnh, điện thoại, đồng hồ,...)
<b>Kiểu tự do </b>
Để tạo được hiệu quả trong việc tác động tới hành vi mua hàng, việc trưng bày còn phải
phù hợp với hành vi mua sắm, tạo ra sự tương tác cao độ giữa người mua với sản phẩm.
Sau khi tìm hiểu hoạt động trưng bày hàng hóa của một số nhà bán lẻ ở địa bàn Đà Nẵng,
tác giả có một vài nhận xét như sau:
<b>2.1 Ƣu điểm </b>
* Doanh nghiệp bán lẻ đều nhận thức được tầm quan trọng của việc trưng bày, nên đầu tư
nhiều cho hoạt động này.
* Việc trưng bày hàng hóa của mỗi doanh nghiệp đều hướng đến khách hàng mục tiêu,
* Các doanh nghiệp đều biết cách tận dụng triệt để không gian để trưng bày sản phẩm,
các sản phẩm được bố trí một cách khoa học, logic và hài hòa trên quầy kệ.
* Kết hợp nhiều kiểu trưng bày đa dạng, lối đi được chừa đủ rộng để khách hàng dễ di
chuyển trong quá trình tìm kiếm sản phẩm.
<b>2.2 Nhƣợc điểm </b>
* Ít chú ý đến việc thay đổi cách thức trưng bày sản phẩm (bố trí quầy kệ, thay đổi khu
vực trưng bày, sản phẩm trưng bày…) dễ tạo ra cảm giác nhàm chán cho khách hàng.
* Chưa đầu tư nhiều việc trưng bày cho những mặt hàng tiêu thụ chậm, gây nên sự tồn
đọng hàng hóa, khơng kích thích khách hàng mua sắm sản phẩm.
* Một số khu vực bố trí chưa thật sự hợp lý (về chiều cao của quầy kệ, vị trí, tầm nhìn,
hàng hóa cịn lộn xộn trên quầy kệ…)
<b>3. Lời kết </b>
Vậy làm sao trưng bày hàng hóa để cửa hàng hiệu quả nhất. Bài viết này nhằm hướng dẫn
và chia sẻ các kinh nghiệm về trưng bày hàng hoá sao cho một cửa hàng bán lẻ thật sự là nơi
dành riêng cho khách hàng, là nơi để khách hàng thoải mái, thích thú và sẵn sàng mua hàng
hoá. Trưng bày hàng hóa đi theo tuần tự các bước như sau:
- Trưng bày hàng hóa địi hỏi năm cái đúng: đúng hàng; đúng giá; đúng chất lượng; đúng
chỗ và đúng thời điểm.
- Tiến hành phân loại hàng hóa: nhóm các sản phẩm dựa vào tính chất hay công dụng
- Tiến hành thiết kế và phân khu: bao gồm đặt những nhóm sản phẩm giống hoặc có liên
<i>hệ (cùng nhãn hiệu, giới tính, cơng năng, màu sắc, theo mùa…) lại với nhau theo một cách dễ </i>
hiểu và theo hướng di chuyển trong cửa hàng có logic, giúp khách hàng dễ dàng định vị được
sản phẩm họ muốn mua ở đâu trong cửa hàng/trung tâm mua sắm.
Ngồi ra, trong q trình trưng bày hàng hóa, cần lưu ý: làm nổi sản phẩm nhờ ánh sáng,
sử dụng hình nộm vui nhộn, phải thật sự sáng tạo, tạo ra được chủ đề…
Nói tóm lại, các doanh nghiệp bán lẻ ngày nay nếu nhận thức được tầm quan trọng của
trưng bày hàng hóa trong kinh doanh bán lẻ sẽ xây dựng hình ảnh thương hiệu, tạo ra nhu cầu,
tăng sản lượng bán, tăng doanh số, tăng lợi nhuận và thị phần.
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>
[1]
[2]
[3]
,
đặc biệt trong lĩnh vực du lịch. Việc đơn
giản hóa các thủ tục nhập cảnh cho khách
du lịch đã thúc đẩy mạn
. Trong xu hướng
tăng nhu cầu du lịch, đặc biệt là nhu cầu du
lịch tàu biển đã thúc đẩy sự phát triển
nhanh chóng và tạo nên sự đa dạng của
hoạt động du lịch này ở các khu vực: Đông
Nam Á, Đông Bắc Á, Châu Âu và Mỹ.... Trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới, Việt Nam
là quốc gia có bờ biển dài thứ 27, là nước có lãnh thổ giáp biển lớn ở khu vực Đông Nam Á.
Lợi thế để phát triển du lịch tàu biển của Việt Nam là khá lớn và mục tiêu của chúng ta là "đưa
<i>Việt Nam trở thành trung tâm du lịch tàu biển trong khu vực và trên thế giới” (Ơng Hồng </i>
<i>Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phát biểu tại Hội nghị quốc tế về du lịch </i>
<i>tàu biển lần thứ nhất tại Việt Nam, 10/12/2007).</i>
, l
lịch Tàu biển Việt Nam <i>7/2007); </i>
Cơ hội hợp tác phát triển du lịch tàu biển với Singapore ; Đà
Nẵng - Singapore ký kết bản ghi nhớ về dự án bến phà và bến tàu du lịch
<i>15/3/2010)...</i>
cập bến trong
, dịch vụ, sân bay đang trên
đà phát triển tốt...
:
, chư chiến lược phát triển du lịch tàu biển
;
, kết cấu hạ tầng tại cảng biển còn hạn chế, các trang thiết bị tại cầu cảng chưa
được đầu tư đúng mức. C
, nhiều tàu có tải trọng lớn không cập được bờ, du khách
thường phải chờ đợi lâu, nhất là khi có tàu hàng cùng cập cảng, do tàu hàng thường được ưu
tiên cập trước; thiếu các du thuyền chất lượng cao. Bên cạnh đó, chất lượng dịch vụ tại cảng
biển chưa cao, không đáp ứng được nhu cầu của số lượng lớn du khách tàu biển. Trong khi đó,
đặc điểm của khách du lịch tàu biển là số lượng đông, nhiều quốc tịch và tham quan theo nhiều
chương trình riêng; các dịch vụ vui chơi giải trí và bán hàng phần nhiều mang tính tự phát, dẫn
đến tình trạng lộn xộn;
, nhiều tầng nấc;
;
chưa ;
: C
;
. H
,
t p
sẵn.
...;
. V
. V
, ngay cả đội ngũ hướng dẫn viên sử dụng ngoại ngữ
thơng dụng thì kinh nghiệm và kỹ năng vẫn còn hạn chế;
.
<b> 2. </b>
t p
.
<i><b>a Trung ương </b></i>
- , và C
xây dựng chiến lược phát triển du lịch tàu biển Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Tăng
;
- Áp dụng chính sách miễn visa cho khách du lịch đường biển, kể cả những khách đến
bằng đường biển và xuất cảnh bằng đường hàng không hoặc đường bộ. Điều chỉnh mức cảng
phí phù hợp, sao cho có thể cạnh tranh hơn với các nước trong khu vực; mở cửa, tạo điều kiện
cho các hãng tàu nước ngoài được chạy định tuyến dọc bờ biển Việt Nam;
- Xóa bỏ cơ chế độc quyền về cơng tác đón tàu và phân phối khách;
- Thống nhất lệ phí chung cho tất cả các cảng biển từ Trung ương đến địa phương khi có
tàu du lịch cập cảng, đồng thời giảm phí nhập cảng cho các con tàu ngang bằng với các cảng
biển của các nước trong khu vực và trên thế giới;
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường khách du lịch tàu biển; hỗ trợ các công ty lữ
hành trong nước tham gia các hội chợ về du lịch tàu biển trên thế giới, tổ chức các sự kiện xúc
tiến du lịch tại các thị trường du lịch tàu biển lớn như Mỹ, Canada, Anh, Italia... để thu hút
khách; nghiên cứu mở văn phòng đại diện du lịch tại Mỹ và một số nước Tây Âu để hỗ trợ
nghiên cứu thị trường và tổ chức các hoạt động xúc tiến du lịch tàu biển tại những thị trường
này; tăng cường quảng bá trên các kênh truyền hình lớn về du lịch biển Việt Nam; sản xuất các
ấn phẩm về du lịch tàu biển theo hướng chuyên nghiệp hơn.
- Tập trung q
C
;
-ộ
, và
;
- Có cơ chế khuyến khích phát triển các trung tâm mua sắm hiện đại tại cảng biển, khuyến
khích phát triển các dịch vụ nhà hàng, giải trí tại khu vực cảng đến;
- Chú trọng cơng tác giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường sinh thái biển, đặc biệt tại cảng
biển và các điểm du lịch biển, đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững;
- , và
giới;
-.
<i> </i>
<i>tập trung dày đặc các Di sản Thế g</i> <i>, </i>
<i>là cửa ngõ ra vào giao thương với thế giới bằng đường biển thông qua hệ thống cảng biển </i>
<i>nước sâu, nhờ vậy đã mang lại lợi thế to lớn trong việc phát triển kinh tế nói chung và khai </i>
<i>thác nguồn khách du lịch tàu biển từ các quốc gia trong khu vực và thế giới nói riêng. Khi nhu </i>
<i>cầu du lịch ngày càng nâng lên tầm cao mới, du khách không chỉ tham gia du lịch thuần tuý mà </i>
<i>cịn để trải nghiệm chính mình qua những cuộc hải trình lênh đênh trên biển vừa thưởng ngoạn </i>
<i>sự hùng vĩ của biển cả, vừa tự khám phá để nâng ca</i>
<i>. </i>
<i> </i>
<i>t</i>
<i>; tăn</i>
<i>Đà Nẵng</i>
<i>. </i>
2 2009 - Năm của du lịch tàu biển, Lao động số 27 ngày 09/02/2009.
3 Việt Nam-Singapore: Cơ hội hợp tác phát triển du lịch tàu biển, cập nhật Thứ
năm, 9/7/2009.
4 Phát triển loại hình du
15/02/2008.
rong quá trình
phát triển du
Không phải ngẫu nhiên
mà Hội An được cho là bảo
tàng sống. Khách du lịch khi
đến Hội An, không phải chỉ
để nhìn ngắm những ngơi
nhà cổ với mái ngói phủ đầy
rêu phong; không phải chỉ để
đến những ngôi chùa để cầu
cho mình và gia đình sự bình
an, thịnh vượng; cũng khơng
đơn thuần chỉ để mua những
thước vải lụa tơ tằm nổi
tiếng được dệt thủ công bởi
người Quảng Nam… mà họ
đến để tận hưởng trọn vẹn
cảm giác của cuộc sống bình
yên những ngày xưa: được
hít thở khơng khí trong lành,
được đi tản bộ với tinh thần
nhẹ nhõm mà không phải lo
lắng trộm cắp hay chèo kéo
mua hàng, được giao tiếp và
sống với cuộc sống của
những người dân phố cổ hiền
hịa…
Chính vì vậy mà Hội
An đã thu hút được rất nhiều
du khách quốc tế và nội địa.
Thông tin từ Sở Văn hóa Thể
thao và Du lịch Quảng Nam
cho hay, tháng 01/2012,
Hiệp hội Du lịch Mỹ
(USTOA) đã công bố kết quả
khảo sát những quốc gia và
điểm đến được thực hiện
cuối năm 2011. Theo đó,
Việt Nam là quốc gia đứng
đầu trong danh sách được du
khách quốc tế lựa chọn khám
phá trong năm 2012. Đặc
biệt hơn, Di sản văn hóa thế
giới phố cổ Hội An (cùng
với thành phố vì hịa bình Hà
Không phải ngẫu nhiên
mà Hội An được bình chọn
là một trong 10 điểm đến hấp
dẫn nhất, thu hút được trên
555.000 lượt khách tham
quan trong năm 2011 và
cũng không đơn giản chút
nào để duy trì được một phố
cổ được đánh giá là bảo tàng
sống. Đó là một nỗ lực lớn
và lâu dài của cả chính
quyền và cộng đồng cư dân
phố Hội. Hội An đã phát
động và duy trì được thành
phố khơng có dây điện lộ
thiên, khơng có cột anten
tivi, khơng có xe máy chạy
trong phố cổ, các cửa hàng
không sử dụng bảng hiệu đèn
neon, mọi nhà dân khơng
thắp sáng bằng bóng điện
neon vào các ngày rằm,
khơng có kinh doanh các
dịch vụ dễ phát sinh tệ nạn
xã hội, không chèo kéo
Một buổi tối cuối tuần
tháng 2, đang đi tản bộ trong
khu phố cổ Hội An, tôi chợt
giật mình, dừng lại để nhìn
và tự hỏi: Tại sao ở Hội An
lại có cảnh tượng này? Thế
mà “Hello, 2 USD… 1
USD…” đó là câu nói làm
tơi phải giật mình. Một
người phụ nữ chạy chen chân
khó chịu. Tơi nhìn người bán
hàng, tơi nhìn xung quanh
xem có người bán hàng nào
nữa khơng: vẫn cịn một vài
người!. Tôi thất vọng về
những người bán hàng này,
tôi lại thất vọng về sự quản
lý của Lãnh đạo thành phố
Hội An.
Trong q trình lên lớp
của mình, tơi thường lấy ví
dụ minh họa về Hội An: một
thành phố phát triển du lịch
bền vững của Việt Nam. Thế
mà bây giờ, lại xuất hiện một
vài người dân bán hàng rong
như vậy! Tôi cảm thấy thất
vọng!.
Tôi vẫn tin rằng, chủ
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>
<b>1. Vài nét về Giáo dục đào tạo (GD-ĐT) trong cơ chế kinh tế thị trƣờng </b>
nhà quản lý GD nói riêng và cho mọi nhà GD nói chung trong q trình xác định và điều chỉnh
<i>mục tiêu GD-ĐT của nhà trường. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để duy trì được "cân bằng động" </i>
này đối với một cơ sở GD-ĐT nói chung và của một trường ĐH nói riêng.
Cơ chế thị trường (CCTT) sẽ tác động lên GD-ĐT trên các mặt chủ yếu sau:
- Vai trò của xã hội cho đầu tư phát triển giáo dục đào tạo, nhất là ở những phân khúc
phù hợp với cơ chế thị trường (như GD-ĐT chất lượng cao, nơi có nhu cầu lớn, đào tạo nghề
nghiệp gắn với nhu cầu nhân lực xã hội…).
- Phát triển và đa dạng hoá các thành phần, các chủ thể tham gia cung ứng hàng hóa dịch
vụ (HHDV) GD-ĐT (cả trong nước và nước ngoài).
- Hình thành thị trường HHDV GD-ĐT (thị trường khơng hồn hảo), thị trường trong
nước và thị trường quốc tế.
- Tạo sự cạnh tranh trong GD-ĐT (cạnh tranh khơng hồn hảo); cạnh tranh giữa cơng lập
và ngồi cơng lập, giữa các cơ sở GD-ĐT với nhau về chất lượng - thương hiệu, về nguồn lực
đầu tư, về giáo viên, về người học, về nội dung - chương trình - phương pháp GD-ĐT; cạnh
tranh trong nước với quốc tế, cạnh tranh về thị phần cung ứng HHDV GD-ĐT …
- Hình thành sự phân khúc các HHDV GD-ĐT; phân khúc nào GD-ĐT công chiếm ưu
thế, phân khúc nào GD-ĐT tư có hiệu quả cao hơn, sự kết hợp cơng - tư thế nào cho có hiệu
quả nhất cả về kết quả GD-ĐT, về hiệu quả đầu tư và về mặt chính sách xã hội.
- Tạo cơ sở để các cơ sở GD-ĐT thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ trong điều kiện
kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; hình thành đa dạng cơ chế hoạt động khơng vì lợi
- Thực hiện mục tiêu giáo dục được gắn với hiệu quả kinh tế, hiệu quả đầu tư cho
GD-ĐT.
- Thúc đẩy hội nhập, hợp tác quốc tế về GD-ĐT theo CCTT.
- Tạo quyền lựa chọn người cung cấp HHDV giáo dục, đào tạo của người học; tạo điều
kiện học tập suốt đời gắn với thay đổi nghề nghiệp và nâng cao kỹ năng lao động, hiểu biết.
- Đòi hỏi gắn giáo dục, đào tạo với nhu cầu của xã hội, với nghiên cứu và ứng dụng khoa
học công nghệ (nhất là đối với đào tạo nghề nghiệp, đào tạo đại học…).
- Kết hợp lợi ích của xã hội, nhà nước, nhà đầu tư, người quản lý - cung ứng HHDV
GD-ĐT và người học trong phát triển GD-ĐT.
Xét về nội dung cốt lõi nhất, bản chất nhất và về mục tiêu cuối cùng thì giáo dục khơng
phải là quá trình sản xuất vật chất, mà là quá trình phi vật chất – quá trình sản xuất và truyền
thụ tri thức. Ngày nay được gọi là quá trình cung ứng dịch vụ giáo dục. Tuy nhiên để tạo nên
q trình giáo dục đã có cả những yếu tố, những quá trình sản xuất vật chất, sản xuất hàng hố
vật chất, có cả những yếu tố, những q trình vừa mang tính vật chất vừa mang tính phi vật
chất, có cả những yếu tố, những quá trình phi vật chất. Mỗi yếu tố đó, q trình đó “đi vào”
kinh tế ở mức độ khác nhau và trong kinh tế thị trường (KTTT) chúng được vận hành thành
quy luật thị trường khơng hồn hảo do đặc tính của hoạt động GD tạo nên.
<b>2. Marketing trong GD-ĐT </b>
<i><b>hàng và đáp ứng tốt hơn nhu cầu về GD-ĐT của cộng đồng xã hội. Từ việc phân tích nhu cầu </b></i>
học tập của cộng đồng xã hội để xác định và điều chỉnh mục tiêu GD-ĐT cho thích hợp đến
việc thiết kế quy trình GD-ĐT phù hợp. Đa dạng hố phương thức dạy học nhằm tăng cường
các nguồn lực và phát triển bền vững trong CCTT. Ta thường được nghe CCTT làm cho mọi
người năng động, bởi vì ở đó quy luật cạnh tranh tác động lên mọi người, ở đó quy luật
cung-cầu, hàng hố, tiền tệ... sẽ chi phối các hoạt động của xã hội. Trong SXKD và dịch vụ, mâu
thuẫn giữa cung-cầu gay gắt và với sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường luôn thay đổi địi hỏi
phải có chiến lược thích ứng để giải quyết những vấn đề đó thì khoa học Marketing ra đời và
Marketing đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển SXKD và dịch vụ. GD-ĐT cũng là
một hoạt động xã hội và ở nước ta khi chuyển đổi cơ chế cũng xuất hiện một số vấn đề mới ví
dụ như mối quan hệ giữa các chức năng phúc lợi xã hội, dịch vụ xã hội, phát triển xã hội của
GD-ĐT; vấn đề đa dạng hoá nguồn lực; vấn đề phân hoá xã hội ..v..v. Rõ ràng cơ chế kinh tế
thị trường (CC KTTT) đã đặt ra những yêu cầu mới cho GD-ĐT, nó chi phối các điều kiện phát
triển GD-ĐT, đồng thời nó cũng làm biến đổi một số quan niệm truyền thống. Trong bối cảnh
của nền kinh tế nhiều thành phần và mở cửa vấn đề nghiên cứu nhu cầu GD-ĐT của xã hội; vấn
đề uy tín, chất lượng... trở thành vấn đề của mọi người tham gia họat động giáo dục. Các câu
hỏi: Dạy ai? Dạy cái gì? Dạy ở đâu? Dạy như thế nào?..v.v. trở thành các câu hỏi thường xuyên
<i><b>được đặt ra trong mối quan hệ với vấn đề “chi phí- lợi ích”. Một vấn đề cịn có nhiều ý kiến </b></i>
khác nhau đó là GD-ĐT có phải là một lĩnh vực dịch vụ hay khơng. Nếu là có thì có thể dùng
chiến lược Marketing để tăng cường lợi nhuận như các hoạt động dịch vụ khác được không và
điều đó có trái với bản chất của khái niệm GD hay khơng? Nếu là khơng thì giải thích thế nào
về sự nở rộ các loại hình trường lớp từ GD mầm non (các trường mầm non tư thục) cho đến
GD đại học (đại học dân lập, đại học nước ngoài vào...) trong cơ chế KTTT khi nhà nước có
chính sách đa dạng hố và mở cửa. Tuy nhiên có một vấn đề được nhiều người thống nhất đó là
trong lĩnh vực đào tạo nhân lực cho xã hội, GD-ĐT phải gắn với thị trường sức lao động và
mục đích của chức năng dịch vụ xã hội phải hướng vào việc phát triển xã hội. Với nhận thức
đó, việc nghiên cứu tư tưởng Marketing trong GD-ĐT có lẽ là một hướng tiếp cận đáng quan
tâm trong quản lí GD-ĐT trong cơ chế KTTT. Từ việc phân tích nhu cầu học tập của cộng
đồng xã hội để xác định và điều chỉnh mục tiêu GD-ĐT cho thích hợp đến việc thiết kế quy
trình GD-ĐT phù hợp. Đa dạng hoá phương thức dạy học nhằm tăng cường các nguồn lực và
phát triển bền vững trong CCKTTT. Như vậy, tư tưởng chủ yếu của Marketing trong GD-ĐT là
<i><b>GD-ĐT. Chỉ như vậy mới có thể phát triển bền vững trong CCKTTT. Có hai khái niệm cần phải </b></i>
Chúng ta đều biết quản lý điều hành một cơ sở GD-ĐT chủ yếu xoay quanh 3 vấn đề lớn
đó là quản lý q trình GD-ĐT; quản lý các điều kiện, môi trường, nguồn lực; quản lý đội ngũ
sư phạm. Vận dụng tư tưởng Marketing trong quản lý GD chính là việc tạo cơ chế, mơi trường
cho cả 3 yếu tố đó vận hành theo hướng lấy người học làm trung tâm, góp phần giải bài tốn
chi phí - lợi ích một cách có hiệu quả nhất. Marketing trong SXKD có nêu ra 5 tư tưởng cơ
bản, đó là:
- Thị trường là quan trọng, khách hàng là thượng đế.
- Bán cái thị trường cần chứ khơng phải bán cái mình sẵn có.
- Quyền đánh giá sản phẩm là của khách hàng.
- Hãy cạnh tranh bằng uy tín, chất lượng và sự thuận tiện tối đa cho khách hàng.
- Tăng cường lợi nhuận bằng cách bảo đảm tốt mong muốn của người tiêu dùng.
Tuy nhiên khi vận dụng tư tưởng Marketing vào lĩnh vực GD-ĐT khơng thể rập khn
hồn tồn những điều nêu trên một cách giáo điều mà phải có sự chuyển đổi cho phù hợp. 5 tư
tưởng trên cần được hiểu như sau:
- Phải quán triệt tư tưởng lấy người học là trung tâm trong mọi hoạt động của nhà
trường, phải bám sát yêu cầu của xã hội trong công tác kế hoạch hố.
<i><b>- Dạy những gì xã hội cần và “khách hàng” cần chứ không chỉ dạy cái mình sẵn có </b></i>
- Quyền đánh giá chất lượng, hiệu quả GD-ĐT là của người học và cộng đồng xã hội
(khách hàng của GD).
- Hãy khẳng định uy tín của mình bằng chất lượng và hiệu quả GD-ĐT.
- Phát triển bền vững cơ sở GD-ĐT của mình bằng việc đa dạng hoá nguồn lực trên cơ
sở bảo đảm nguyên tắc lợi ích của cả 2 phía (của cơ sở và của cộng đồng xã hội ).
Có thể nói 5 tư tưởng nêu trên có mối quan hệ với nhau và nó cũng gợi ý cho chúng ta
cách tiếp cận mới trong quản lý GD-ĐT, quản lý nhà trường trong bối cảnh mới của kinh tế xã
hội. Cho dù lĩnh vực GD-ĐT không giống lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ nhưng khi chuyển sang
cơ chế mới muốn phát triển bền vững không thể khơng quan tâm đến xã hội hố và tư tưởng
Marketing.
Vấn đề đặt ra là phải xây dựng được một cơ chế phát triển GD-ĐT thích ứng được với
CCTT, vận dụng được những yếu tố tích cực và hạn chế những yếu tố tiêu cực của CCTT.
Nhưng “mức độ thích ứng” này là rất khác nhau giữa các nước, phụ thuộc vào thể chế chính trị
- xã hội, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, vào quan điểm mục tiêu, điều kiện cụ thể, và truyền
thống của mỗi nước.
Vận dụng tốt tư tưởng Marketing trong GD sẽ sáng tạo ra những cách nghĩ, cách làm
năng động, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, điều kiện cụ thể và sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của
người học, của địa phương, của cộng đồng xã hội, tăng khả năng hội nhập.
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>
<i><b>[1] Roysingh (1994): " Nền giáo dục cho thế kỷ 21, Những triển vọng của châu Á - Thái </b></i>
<i><b>Bình Dương"; Viện Khoa học Giáo dục. </b></i>
<i><b>[2] Lynton Gray (1972); “Marketing in Education” ; London. </b></i>
<i><b>[3] Đặng Xuân Hải; “Cân bằng động Giáo dục và đào tạo với phát triển kinh tế - xã hội”; </b></i>
<i><b>Huỳnh Văn Bình </b></i>
<i><b>GV. Khoa Kế toán – Kiểm toán </b></i>
<i>o lường đối tượng kế toán là sử dụng các loại đơn vị đo để lượng hố đối tượng </i>
<i>kế tốn cho những mục đích nhất định. Đơn vị đo có thể bằng hiện vật, thời gian </i>
<i>và giá trị. Mỗi loại đơn vị đo có ưu và nhược điểm khác nhau. Tuỳ thuộc vào mục </i>
<i>đích sử dụng và cung cấp thơng tin kế tốn cho các đối tượng sử dụng thơng tin kế toán mà kế </i>
<i>toán sử dụng các đơn vị đo cho phù hợp. Bài viết này bàn về các loại giá (thước đo giá trị) sử </i>
<i>dụng trong đo lường đối tượng kế toán. </i>
<i><b>1. Giá gốc: Là giá thực tế phát sinh liên quan đến sự hình thành tài sản, nợ phải trả ở </b></i>
doanh nghiệp. Đối với tài sản thì đo lường theo giá gốc phản ánh số tiền hoặc tương đương tiền
được chi ra để có một tài sản tại thời điểm tiếp nhận tài sản đó. Đối với nợ phải trả, khoản nợ
được ghi nhận theo giá của tài sản nhận được để đổi lấy mỗi nghĩa vụ pháp lý; hay trong một số
trường hợp là số tiền hoặc tương tiền phải thanh toán để đảm bảo một nghĩa vụ, một cam kết
trong q trình kinh doanh.
<i><b>Ví dụ: Ngày 01/01/2012 doanh nghiệp mua TSCĐ, giá mua chưa thuế: 500.000.000đ, </b></i>
thuế suất thuế GTGT: 10%, lệ phí trước bạ: 5.500.000đ, chi phí chạy thử: 1.500.000đ. TSCĐ
đã đưa vào sử dụng ngay.
- Vậy giá gốc của TSCĐ được ghi nhận như sau:
+ Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
500.000.000 + 5.500.000 + 1.500.000 = 507.000.000đ
+ Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp:
550.000.000 + 5.500.000 + 1.500.000 = 557.000.000đ
- Giả sử trong trường hợp này doanh nghiệp mua TSCĐ chưa trả tiền, thì khoản nợ phải
trả người bán được ghi nhận là: 550.000.000đ.
Giá gốc là loại giá được sử dụng phổ biến trong đo lường tài sản và nợ phải trả vì tính
khách quan và xác thực của nó giữa các bên có liên quan đến một nghiệp vụ kinh tế. Thơng tin
kế tốn được phản ánh qua giá gốc đảm bảo tính tin cậy do có những bằng chứng đáng tin cậy
(thể hiện qua chứng từ kế tốn). Do vậy có ích đối với người sử dụng trong việc ra quyết định.
Tuy nhiên, việc sử dụng giá gốc cũng bộc lộ một số hạn chế. Bởi khi có sự biến động lớn
của một số tài sản trên thị trường hay ở nền kinh tế có mức lạm phát cao thì việc thốt ly khá
lớn giữa giá gốc với giá thị trường đã làm cho thơng tin kế tốn phản ánh khơng thực chất tình
hình tài chính ở đơn vị. Khi đó, giá trị tài sản thực tế ở đơn vị tại thời điểm lập báo cáo tài
chính có thể cao hơn nhiều giá trị trên báo cáo hoặc ngược lại. Và để khắc phục nhược điểm
này, người ta sử dụng giá thay thế thay cho giá gốc.
<i><b>2. Giá hợp lý: Thường được sử dụng sau khi đơn vị tiếp nhận một tài sản hay cam kết một </b></i>
khoản nợ phải trả. Bởi giá hợp lý phản ánh số tiền hay tương đương tiền phải chi ra tại thời
điểm hiện tại để có được một tài sản tương tự hay thanh lý một khoản nợ phải trả tương tự. Lúc
này, giá hợp lý là giá gần đúng nhất với giá trị của tài sản trên thị trường. Chính vì vậy, giá hợp
lý cung cấp thơng tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ xác thực hơn trong điều kiện
thị trường có biến động lớn về giá.
Tuy nhiên, cũng như phương pháp giá gốc, giá hợp lý có nhược điểm là khơng đảm bảo
tính tin cậy và khách quan vì nó khơng có những chứng cứ minh bạch để chứng tỏ là có một số
tiền hoặc tương đương tiền bỏ ra để tiếp nhận một tài sản tương tự đang có ở doanh nghiệp nên
loại giá này thường ít được sử dụng trừ những nước có mức lạm phát quá cao.
<i><b>3.Giá trị thuần có thể thực hiện được: Khi doanh nghiệp bị giải thể, phá sản hay bị bán </b></i>
đi do thay đổi về hình thức sở hữu doanh nghiệp thì giá được quan tâm là giá trị thuần có thể
thực hiện được (hay giá trị thanh lý). Đó chính là số tiền hay tương đương tiền mà đơn vị kỳ
vọng có thể thu được từ bán những tài sản hiện tại của đơn vị do yêu cầu thanh lý tài sản.
Ngồi ra, giá trị thuần có thể thực hiện được cũng là một trường hợp đặc biệt của cơ sở đo
lường này. Nó được xác định là số tiền hay tương đương tiền có thể thu được từ bán tài sản sau
khi trừ đi chi phí trực tiếp liên quan đến bán tài sản này (khi bán cổ phiếu, chứng khoán hay
khi xác định giá trị để lập dự phòng). Mặc dù vậy, loại giá này ít được vận dụng trong cơng tác
kế tốn trừ trường hợp doanh nghiệp có chứng cứ chắn chắc phải thanh lý.
<i><b>4. Giá trị hiện tại (hiện giá): Trong thực tế cơng tác kế tốn, nhiều tài sản hay nợ phải trả </b></i>
phát sinh liên quan đến quyền thu tiền hay nghĩa vụ thanh toán tiền trong một khoảng thời gian
dài. Lúc này, trên phương diện kinh tế thì do việc thanh tốn xảy ra sau một thời gian khá dài
sau khi tiếp nhận tài sản hay nợ phải trả nên chi phí cơ hội ln được các nhà kinh tế quan tâm
trong các giao dịch đó. Bởi vậy, giá trị hiện tại như là một cơ sở đo lường tương đương so với
trường hợp thu tiền ngay hay thanh toán tiền ngay.
Giá trị hiện tại (hiện giá) là giá trị dự kiến của các dịng tiền trong tương lai có liên quan
đến một tài sản hoặc một khoản nợ phải trả, được chiết khấu theo một lãi suất nào đó. Theo
cách đo lường này, giá trị của tài sản là giá trị chiết khấu hiện tại của các dòng tiền vào trong
tương lai dự kiến thu được từ tài sản này. Tương tự, giá trị khoản nợ phải trả là giá trị chiết
Đo lường theo giá trị hiện tại thực chất là dựa vào khái niệm lợi nhuận kinh tế. Cách đánh
giá này có một số ưu điểm vì đã quy đổi tài sản, nợ phải trả theo một giá trị tương đương. Tuy
nhiện, hạn chế của loại giá này liên quan đến tính tin cậy khi xác định các yếu tố để hiện tại
hoá, như: rủi ro, tỷ lệ chiết khấu, thay đổi tỷ lệ lãi suất và tính khơng chắc chắn của dịng tiền
tương lai.
<i>Tóm lại, mỗi loại giá có những ưu điểm và hạn chế riêng trong quá trình đo lường kế </i>
<i>toán. Trong thực tiễn, việc vận dung loại giá nào do chuẩn mực kế toán ở mỗi nước quy định </i>
<i>đối với từng đối tượng kế toán cụ thể. Trong bốn loại giá trên, giá gốc là cơ sở đo lường </i>
<i>thường được vận dụng nhiều nhất. Ngoài ra, loại giá này thường được kết hợp với loại giá </i>
<i>khác. Như đối với hàng tồn kho sử dụng giá trị thuần có thể thực hiện được; Các khoản đầu tư </i>
<i>chứng khốn có thể đo lường theo giá thị trường. Theo IAS Framework cho phép Báo cáo tài </i>
<i>chính được sử dụng các giá sau: Giá gốc; Giá hiện tại; Giá trị thuần có thể thực hiện được. </i>
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>
hân tích hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp là nhằm giúp cho các đối
tượng sử dụng thơng tin đánh giá một cách chính xác về tình hình hoạt động sản
Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ đề cập đến việc thu thập số liệu để tính chỉ tiêu số
vịng quay của hàng tồn kho một cách chính xác, đúng với ý nghĩa kinh tế của chỉ tiêu.
- Xét về mặt khả năng thanh toán nợ ngắn hạn: Chỉ tiêu số vòng quay hàng tồn kho phản
ánh khả năng chuyển đổi thành tiền từ hàng tồn kho nhanh hay chậm, tạo điều kiện cho việc
thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, qua đó đánh giá khả năng thanh tốn nợ
ngắn hạn thuận lợi hay khó khăn.
- Xét về mặt hiệu quả hoạt động kinh doanh: Chỉ tiêu số vòng quay hàng tồn kho phản
ánh trình độ tổ chức dự trữ và tổ chức tiêu thụ sản phẩm hàng hóa tốt hay xấu.
Trong các tài liệu nghiên cứu chỉ tiêu này được xác định theo công thức:
Số vòng quay Giá vốn hàng bán trong kỳ
hàng tồn kho Hàng tồn kho bình qn trong kỳ
Từ cơng thức trên ta thấy số vòng quay của hàng tồn kho trong kỳ lớn thì số ngày của một
vịng quay hàng tồn kho nhỏ. Chứng tỏ doanh nghiệp tổ chức dự trữ hợp lý, khả năng tiêu thụ
hàng hóa của doanh nghiệp là tốt, khả năng chuyển đổi thành tiền từ hàng tồn kho nhanh và
ngược lại.
Tuy nhiên để xác định chỉ tiêu này, việc thu thập số liệu hiện nay là:
<b>- Giá vốn hàng bán trong kỳ: Chỉ tiêu này thu thập số liệu căn cứ vào mã số 11 trong Báo </b>
cáo kết quả kinh doanh. Theo phương pháp kế toán, số liệu của chỉ tiêu này căn cứ vào số phát
sinh bên Có của tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán” đối ứng với bên Nợ tài khoản 911”Xác định
ánh giá trị hao mòn của bất động sản đầu tư (phương pháp kế tốn trích khấu hao bất động sản
đầu tư).
<b>- Hàng tồn kho bình quân: Chỉ tiêu này thu thập số liệu căn cứ vào mã số 140 trong Bảng </b>
cân đối kế toán. Theo phương pháp kế toán, chỉ tiêu này căn cứ vào số dư cuối kỳ bên nợ của
các tài khoản: 151 “Hàng mua đang đi đường”; 152 “Nguyên vật liệu”; 153 “Công cụ dụng
cụ”; 154 “Sản phẩm dở dang”; 155 “Thành phẩm”; 156 “Hàng hóa”; 157 “Hàng gởi bán”; 158
“Hàng hố bảo thuế” sau khi trừ khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho (số dư bên có của TK
159 “Dự phòng giảm giá hàng tồn kho”).
<i>Từ việc thu thập số liệu như trên ta thấy: </i>
- Trong giá vốn hàng bán, số liệu bị chi phối bởi giá trị hao mòn bất động sản đầu tư
(doanh nghiệp có kinh doanh bất động sản đầu tư).
- Trong hàng tồn kho, số liệu bị chi phối bởi giá trị của một số loại hàng tồn kho như:
nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ… những loại hàng tồn kho này không thể tiêu thụ được mà
chỉ để phục vụ cho sản xuất tạo ra thành phẩm để tiêu thụ, như khi xuất kho nguyên vật liệu,
cơng cụ ra sản xuất sản phẩm thì giá trị hàng tồn kho giảm, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
tăng (phương pháp kế tốn Nợ TK 621/Có TK 152) thậm chí có những giá trị của cơng cụ dụng
cụ khi xuất kho chuyển sang vốn phí chờ phân bổ (đối với cơng cụ dụng cụ có giá trị lớn xuất
kho sử dụng cho sản xuất kinh doanh), trường hợp này giá trị hàng tồn kho bị tác động giảm.
Những trường hợp trên, hàng tồn kho trong kỳ đều bị ảnh hưởng nhưng lại không liên quan đến
giá vốn hàng bán. Như vậy, việc tính số vịng quay của hàng tồn kho trong kỳ theo cách thu
thập số liệu hiện nay là không chính xác.
- Bên cạnh đó, trong thực tế một số loại hình kinh doanh dịch vụ như: khách sạn, du lịch,
bưu chính… thì trong kỳ giá vốn hàng bán rất lớn do kế toán kết chuyển chi phí kinh doanh
trong từng kỳ sang giá vốn hàng bán, trong khi đó giá trị hàng tồn kho rất nhỏ (do tính chất của
ngành kinh doanh khơng địi hỏi lượng giá trị hàng tồn kho nhiều), như vậy số ngày của một
vịng quay có thể tính từng giờ và bản thân của giá trị hàng tồn kho khi luân chuyển chỉ mang
tính chất phục vụ cho kinh doanh mà khơng hình thành nên giá vốn hàng bán (khác với hàng
hóa, thành phẩm khi tiêu thụ bản thân giá trị nhập kho của nó sẽ hình thành nên giá vốn hàng
bán).
Từ sự phân tích trên, cá nhân tơi thiết nghĩ để xác định chính xác chỉ tiêu số vòng quay
hàng tồn kho phục vụ cho việc đánh giá được phù hợp theo ý nghĩa kinh tế của chỉ tiêu này, thì
<i>nhà phân tích cần phải lựa chọn loại tài sản tồn kho nào khi luân chuyển ra khỏi kho phải hình </i>
<i>thành nên giá vốn hàng bán và không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng sử dụng được chỉ tiêu </i>
này.
Mục tiêu của phân tích là biến các con số trên tài liệu hạch toán thành con số “biết nói”
phục vụ cho việc ra các quyết định đúng đắn. Do vậy, cơng việc phân tích khơng chỉ thuần túy
là áp dụng các phương pháp tính tốn số liệu, mà còn phải nắm được bản chất của các chỉ tiêu
kinh tế có liên quan và vận dụng chỉ tiêu phân tích. Có như vậy mới thu thập tài liệu phân tích
một cách chính xác, phù hợp.
<i><b>ThS. Nguyễn Thị Bích n </b></i>
<i><b>GV. Khoa Kế tốn - Kiểm tốn </b></i>
<i>Cùng với Luật kế toán, hệ thống chuẩn </i>
<i>mực kế toán Việt Nam ban hành từ 2001 đến </i>
<i>Mặc dù chuẩn mực kế toán Việt Nam rất </i>
<i>gần với chuẩn mực kế toán quốc tế, nhưng vẫn </i>
<i>còn một số điểm khác biệt quan trọng, nhất là </i>
<i>đối với chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc </i>
<i>tế. Một trong số đó là việc định giá tài sản theo </i>
<i>chuẩn mực kế toán quốc tế, yêu cầu các tài sản </i>
<i>phải được định giá theo giá trị hợp lý của thị </i>
<i>trường. Còn theo chuẩn mực kế toán của Việt </i>
<i>Nam, phần lớn các tài sản phải được định giá </i>
<i>theo giá trị gốc. Sự chênh lệch này có thể dẫn </i>
<i>đến các số liệu báo cáo tài chính theo chuẩn </i>
<i>mực báo cáo quốc tế khác với số liệu độc lập </i>
<i>theo chuẩn mực kế toán Việt Nam. </i>
<i>Theo PGS.TS Đặng Thái Hùng - Vụ phó </i>
<i>Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán - Bộ Tài chính </i>
<i>trong bài viết “Hệ thống chuẩn mực kế toán </i>
<i>Việt Nam: sự cần thiết, nội dung và lộ trình của </i>
<i>việc cập nhật và ban hành mới” đã chỉ rõ </i>
<i>“Chuẩn mực kế toán Việt Nam phải được sửa </i>
<i>đổi bổ sung theo hướng tăng cường việc công </i>
<i>khai và thuyết minh chi tiết về các thơng tin tài </i>
<i>chính, đồng thời nghiêng về ngun tắc giá trị </i>
Như chúng ta đã biết, trong quá trình phát
triển của kế tốn, đã có nhiều loại giá khác
nhau được sử dụng, trong đó giá trị hợp lý ngày
càng đóng vai trị quan trọng, nhằm mục đích
trình bày thông tin trên báo cáo tài chính một
cách trung thực và hợp lý hơn. Giá trị hợp lý là
một loại giá thay thế có tính đến giá trị hiện tại.
Theo Simon (2000), giá trị hợp lý được sử dụng
lần đầu tiên vào năm 1953 nhằm phản ánh giá
trị thực của các khoản mục trên bảng cân đối kế
toán. Giá trị hợp lý là một trường hợp đặc thù
của các ước tính kế tốn. Nguyên tắc giá trị hợp
lý đã được thừa nhận và áp dụng ở một số nước
trên thế giới.
Điều này cũng liên quan đến việc phân
biệt sự khác nhau giữa Chuẩn mực kế toán quốc
tế (IAS) và Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính
quốc tế (IFRS).
Trước đây, nói đến kế tốn người ta nghĩ
đến đúng định nghĩa của nó, đó là xác định, ghi
chép, tổng hợp và trình bày thơng tin tài chính
cho người sử dụng. Có nghĩa là nhấn mạnh
nhiều hơn đến đầu vào của thông tin tài chính
và q trình xử lý thơng tin. Yếu tố người thụ
đề nguyên tắc giá trị hợp lý trong một số chuẩn
mực, tuy nhiên vẫn còn chưa đủ, gặp phải nhiều
vấn đề chưa giải quyết được, không đồng bộ và
khó tư duy trong bối cảnh khái niệm “giá gốc”
đã ăn sâu vào trong tiềm thức của nhiều thế hệ
đi trước và lâu năm trong nghề tài chính, kế
tốn nhất là trong tư tưởng kế hoạch hóa.
Vậy “ giá trị hợp lý” được hiểu như thế
nào?
Giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể được
trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh
toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy
<i>đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá (Theo </i>
<i>chuẩn mực kế toán Việt nam). </i>
Khái niệm này cho thấy giá trị hợp lý phải
được xác định qua thị trường (theo nghĩa rộng).
Khái niệm này cũng gần giống với khái
niệm “Giá trị thị trường” trong Tiêu chuẩn
Thẩm định giá Việt Nam (TĐGVN): “Giá trị thị
Còn theo chuẩn mực kế toán quốc tế, theo
nhiều tài liệu khác nhau thì trong kế tốn có hai
mơ hình định giá. Đó là mơ hình Giá gốc (Cost
Model) và mơ hình Giá trị hợp lý (Fair Value
Model). Mơ hình Giá gốc dựa trên ngun tắc
kế tốn chung được thừa nhận đó là ngun tắc
giá gốc. Với mơ hình Giá trị hợp lý tài sản được
ghi nhận theo sổ sách kế toán ban đầu theo giá
gốc và được đánh giá lại theo giá trị hợp lý tại
thời điểm lập bảng cân đối kế toán.
Trong thực tế, khi áp dụng mơ hình Giá
gốc gặp nhiều vướng mắc. Chẳng hạn, đối với
tài sản là bất động sản (BĐS). BĐS là toà nhà
văn phòng cho thuê, được theo dõi theo ba chỉ
tiêu là nguyên giá, khấu hao luỹ kế và giá trị
còn lại. Nhưng khi gần kết thúc thời gian hoạt
động của tồ nhà theo ước tính ban đầu, giá trị
của tồ nhà có thể còn cao hơn cả nguyên giá
Như vậy, so sánh với phương pháp kế
toán truyền thống (cách tiếp cận giá gốc), vận
dụng giá trị hợp lý có 3 ưu điểm chính: tính
khách quan; cung cấp nhiều giá trị thơng tin
trong báo cáo tài chính; cho phép kiểm soát tốt
hơn các hành động của nhà quản lý doanh
nghiệp. Những đánh giá truyền thống dựa trên
những ước tính xấp xỉ mang tính chủ quan của
nhà kế tốn. Vận dụng giá trị hợp lý cải thiện
một phần tính khách quan của thơng tin kế tốn
ở một góc độ nhất định và từ đó làm cho thơng
tin kế toán trung thực hơn. Tuy nhiên, vận dụng
giá trị hợp lý không thể được xem là một giải
pháp hồn hảo, bởi vì giá trị thị trường nào sẽ
được lựa chọn để ước tính, kỹ thuật xác định
cho từng loại đối tượng kế toán... là một bài
toán khó trong cơng tác kế toán tại các doanh
nghiệp.
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>
[1] Lý thuyết Kế toán, Đại học Đà Nẵng - Trường Đại học Kinh tế.
[2] 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Tài chính, 2008.
[3] FASB (Mỹ) nới lỏng kế toán giá trị hợp lý (12/6/2009, theo kiemtoan.com.vn).
[4] Ths. Bùi Thị Ngọc, Bàn về quy định giá trị hợp lý trong hợp nhất kinh doanh, Trường ĐH Lao động -
Xã hội.
gày nay, khái niệm chuyển giá khơng cịn mới lạ với những người am hiểu về
kinh tế nói chung và kế tốn quản trị nói riêng. Vậy chuyển giá diễn ra như thế
nào ở các đơn vị thành viên của một doanh nghiệp và nhà quản trị quyết định như
thế nào khi đứng trước một số lựa chọn? Đứng trên quan điểm lợi nhuận, bài viết trình bày khái
quát lý thuyết về chuyển giá và làm rõ vấn đề chuyển giá trong nước.
<b>Khái niệm: Giá chuyển giao là giá bán sản phẩm (SP) nội bộ giữa các đơn vị thành viên </b>
hoặc giữa đơn vị cấp dưới với đơn vị cấp trên trong một doanh nghiệp. Việc định giá chuyển
giao chỉ xuất hiện khi cơng ty có sự phân cấp quản lý và hạch tốn. Mỗi cơng ty con hoặc liên
doanh là một đơn vị phải hạch toán đầy đủ, lập báo cáo tài chính và xác định kết quả hoạt động
kinh doanh.
<b>Các yêu cầu khi định giá chuyển giao: 1) Bù đắp chi phí thực hiện SP; 2) Đảm bảo lợi </b>
ích chung của tồn doanh nghiệp và 3) Kích thích các bộ phận phấn đấu tiết kiệm chi phí và
tăng cường trách nhiệm với mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp.
<b>Các phƣơng pháp định giá chuyển giao: 1) Định giá chuyển giao theo chi phí thực </b>
hiện: Giá chuyển giao = Chi phí thực hiện SP; 2) Định giá chuyển giao theo giá thị trường: Đơn
giá chuyển giao = Biến phí đơn vị + Phân bổ số dư đảm phí của sản phẩm bán ra ngồi bị thiệt
hại; 3) Định giá chuyển giao theo sự thoả thuận (thương lượng).
Trong các doanh nghiệp, xác định giá chuyển giao trong từng tình huống cụ thể là nhiệm
vụ trọng tâm mà các nhà quản lý phải thực hiện. Chúng ta tìm hiểu vấn đề này qua một số tình
huống cụ thể sau:
<b>Tình huống 1: Đơn vị A là thành viên của công ty Lambda sản xuất SP X, bán cho đơn vị </b>
B (sản xuất SP Y) và SP Y được bán cho đơn vị C (sản xuất SP Z). SP Z bán ra cho khách hàng
ngồi cơng ty Lambda. Giá chuyển giao các SP này được tính bằng chi phí định mức + 10 %
giá trị TSCĐ và hàng tồn kho.
<b>Chi phí chuẩn </b> <b>Sản phẩm X Sản phẩm Y </b> <b>Sản phẩm Z </b>
Chi phí NVL ($) 2 3 1
Chi phí NCTT ($) 1 1 2
Biến phí SXC ($) 1 1 2
Định phí SXC ($) 3 4 1
Sản lượng định mức 10.000 10.000 10.000
Hàng tồn kho ($) 70.000 15.000 30.000
TSCĐ ($) 30.000 45.000 16.000
<b>Yêu cầu tính giá chuyển giao cho sản phẩm X, Y và chi phí định mức cho sản phẩm </b>
<b>Z. Áp dụng phương pháp định giá chuyển giao (3) ta có kết quả: </b>
<b>Chi phí chuẩn </b> <b>Sản phẩm X </b> <b>Sản phẩm Y </b> <b>Sản phẩm Z </b>
Chi phí NVL ($) 2 3 1
Chi phí NCTT ($) 1 1 2
Biến phí SXC ($) 1 1 2
Định phí SXC ($) 3 4 1
Chi phí định mức 7 17 <b>23,6 </b>
Sản lượng 10.000 10.000 -
Hàng tồn kho ($) 70.000 15.000 -
TSCĐ ($) 30.000 45.000 -
Lợi nhuận mong muốn ($) 100.000*10%=10.000 60.000*10%=6.000 -
Giá chuyển giao ($) <b>7+10.000/10.000=8 </b> <b>17.6 </b> <b>- </b>
<b>Tình huống 2: Các điều kiện khác như trên nhưng SP chuyển giao giữa các đơn vị tính </b>
bằng biến phí định mức đơn vị + chi phí hàng tháng. Chi phí hàng tháng = chi phí cố định cho
mỗi SP +10% giá trị hàng tồn kho và TSCĐ bình qn tính cho từng SP.
<b>Tính giá chuyển giao của SP X, Y và tính chi phí định mức đơn vị cho SP Y, Z? </b>
<b>Áp dụng phương pháp định giá chuyển giao (3) ta có kết quả: </b>
<b>Chi phí chuẩn </b> <b>Sản phẩm X </b> <b>Sản phẩm Y </b> <b>Sản phẩm Z </b>
Chi phí NVL ($) 2 3 1
Chi phí NCTT ($) 1 1 2
Biến phí SXC ($) 1 1 2
Định phí SXC ($) 3 4 1
Chi phí định mức ($) 7 <b>16,5 </b> <b>22,8 </b>
Sản lượng 10.000 10.000 -
Hàng tồn kho ($) 70.000 15.000 -
TSCĐ ($) 30.000 45.000 -
Lợi nhuận mong muốn ($) 100.000*10%/2=5.000 60.000*10%/2=3.000 -
<b>Tình huống 3: Giá bán hiện nay của SP Z là 28$. Trên thị trường có sự giảm gía để cạnh </b>
tranh và sự giảm giá này ảnh hưởng đến lượng hàng tiêu thụ của đơn vị C nếu đơn vị C không
giảm giá.
<b>Câu hỏi tình huống và cách giải quyết </b>
1. Với giá chuyển giao đã tính ở tình huống 1, đơn vị C nên duy trì mức giá bán 28$ hay
giảm giá theo từng mức giá cạnh tranh trên?
Giá có thể
cạnh tranh
Khối lượng
hàng bán nếu
giá 28$
Khối lượng
hàng bán theo
giá cạnh tranh
Lợi nhuận - nếu đơn vị
C duy trì ở mức giá 28$
Lợi nhuận - nếu
đơn vị C giảm giá theo
giá thị trường
1 2 3 4= (28-23,6)*cột 2 5=(cột 1-23,6)*cột3
$27 9.000 10.000 39.600 34.000
$25 5.000 10.000 22.000 14.000
$23 2.000 10.000 8.800 -6.000
$22 0 10.000 0 -16.000
<b>TC </b> <b>23.000 </b> <b>50.000 </b> <b>101.200 </b> <b>50.000 </b>
Vậy đơn vị C nên duy trì ở mức giá bán 28$ để có được mức lợi nhuận cao hơn 51.200$.
2. Với giá chuyển giao đã tính ở tình huống 2, đơn vị C nên duy trì mức giá bán 28$ hay
giảm giá theo từng mức giá cạnh tranh trên?
Giá có thể
cạnh tranh
Khối lượng
hàng bán nếu
giá 28$
Khối lượng
hàng bán theo
giá cạnh tranh
Lợi nhuận - nếu đơn
vị C duy trì ở mức
giá 28$
Lợi nhuận - nếu
đơn vị C giảm giá
theo giá thị trường
1 2 3 4= ($28-22.8)*cột 2 5=(cột1-22.8)*cột3
$27 9.000 10.000 46.800 42.000
$26 7.000 10.000 36.400 32.000
$25 5.000 10.000 26.000 22.000
$23 2.000 10.000 10.400 2.000
$22 0 10.000 0 -8.000
<b>TC </b> <b>23.000 </b> <b>50.000 </b> <b>119.600 </b> <b>90.000 </b>
Vậy đơn vị C nên duy trì ở mức giá bán 28$ để có được mức lợi nhuận cao hơn 29.600$.
3. Quyết định nào được cho là tốt nhất đến lợi ích của công ty khi các điều kiện khác
không đổi?
Dựa vào 2 bảng tính ở trên, doanh nghiệp nên chọn trường hợp 1 để có được mức lợi
nhuận cao hơn.
4. Với giá chuyển giao ở trường hợp 1, giả sử nhà quản trị của đơn vị C có quyền đưa ra
<b>quyết định trái ngược với lợi ích chung của tồn cơng ty. Chi phí cơ hội nào đã bị mất trong </b>
mỗi trường hợp giá cạnh tranh ở trên?
Giá có thể
cạnh tranh
Khối lượng
hàng bán
nếu giá 28$
Khối lượng
hàng bán
theo giá cạnh
tranh
Lợi nhuận -
nếu đơn vị C
duy trì ở mức
giá 28$
Lợi nhuận - nếu
đơn vị C giảm giá
theo giá thị trường
Lợi nhuận bị mất đi
khi nhà quản trị của
đơn vị C ra quyết định
trái ngược
1 2 3 4=
(28-23,6)*cột 2 5=(cột 1-23,6)*cột3 6= cột5- cột4
$27 9.000 10.000 39.600 34.000 -5.600
$26 7.000 10.000 30.800 24.000 -6.800
$25 5.000 10.000 22.000 14.000 -8.000
$23 2.000 10.000 8.800 -6.000 -14.800
$22 0 10.000 0 -16.000 -16.000
TC 23.000 50.000 101.200 50.000 -51.200
<b>Tình huống 4. Đơn vị C quan tâm đến việc tăng doanh thu của SP Z. Giá bán hiện tại của </b>
<b>Câu hỏi tình huống và cách giải quyết </b>
1. Nếu là người quản lý của đơn vị C bạn sẽ trả bao nhiêu cho việc quảng cáo nếu bạn
mua sản phẩm Y với giá chuyển giao được tính ở vấn đề 1?
SL bán ra khi
chưa quảng cáo
SL bán ra tăng
cáo
Doanh thu đạt
được sau quảng
cáo
Chi phí quảng
cáo
Lợi nhuận sau quảng
cáo
1 2 3 4 5
10.000 10.000 560.000 100.000 -2.000
10.000 19.000 812.000 200.000 -53.400
10.000 27.000 1.036.000 300.000 -110.200
10.000 34.000 1.232.000 400.000 -172.400
10.000 40.000 <b>1.400.000 </b> <b>500.000 </b> <b>-240.000 </b>
Cột 5= cột 1 * (28 –23,6) + cột 2*(28-22,6) - cột 4
Vậy, khi đơn vị C quan tâm đến việc tăng doanh thu của sp Z, nhà quản lý sẽ trả 500.000$
2. Nếu là người quản lý của đơn vị C bạn sẽ trả bao nhiêu cho việc quảng cáo nếu bạn
mua sản phẩm Y với giá chuyển giao được tính ở vấn đề 2?
SL bán ra khi
chưa quảng cáo
SL bán ra tăng thêm
khi quảng cáo
Doanh thu đạt được
sau quảng cáo
Chi phí quảng
cáo
Lợi nhuận sau
quảng cáo
1 2 3 4 5
10.000 10.000 560.000 100.000 14.000
10.000 19.000 812.000 200.000 -30.200
10.000 27.000 1.036.000 300.000 -80.600
10.000 34.000 1.232.000 400.000 -137.200
10.000 40.000 <b>1.400.000 </b> <b>500.000 </b> <b>-200.000 </b>
Cột 5= cột 1 * (28 – 22.8) + cột 2*(28-21.8) - cột 3
Vậy, khi đơn vị C quan tâm đến việc tăng doanh thu SP Z, nhà quản lý sẽ trả 500.000$
cho việc quảng cáo nếu nhà quản lý mua SP Y với giá chuyển giao được tính ở vấn đề 2.
3. Nếu đứng trên quan điểm của công ty quyết định nào là đúng? Dựa trên 2 bảng tính ở
tình huống 4 trên, doanh nghiệp nên chọn trường hợp 2 để bị lỗ ít hơn.
4. Cơng ty sẽ mất bao nhiêu lợi nhuận từ việc sử dụng giá chuyển giao ở trường hợp 1?
So với trường hợp 2, nếu công ty chọn trường hợp 1, công ty sẽ mất 40.000$ .
Thực tế ở các doanh nghiệp, tuỳ từng giai đoạn cụ thể, mục tiêu cụ thể mà có rất nhiều cơ
sở để các nhà quản lý ra quyết định. Tuy nhiên, trong ngắn hạn hay dài hạn thì lợi nhuận vẫn là
động lực chính mà các doanh nghiệp vươn tới.
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>
<b>1. Thực trạng áp dụng pháp luật xử </b>
<b>lý thỏa thuận ấn định giá tại Việt Nam </b>
Sau gần 5 năm thực hiện Luật Cạnh
tranh, vai trò của Luật này đã ngày càng thể
hiện rõ trong việc điều tiết nền kinh tế và
định hướng cho hành vi kinh doanh của các
doanh nghiệp, góp phần quan trọng tạo ra
môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh
với cơ hội được san sẻ cho các doanh
nghiệp, kể cả doanh nghiệp hiện có và doanh
nghiệp tiềm năng của thị trường.
Từ khi Luật Cạnh tranh có hiệu lực đến
nay, đặc biệt trong giai đoạn 2009 - 2010,
Cục Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công
thương đã tiếp nhận được 22 vụ việc hạn chế
cạnh tranh, tăng 155% so với hai năm trước
đó, trong đó Cục Quản lý cạnh tranh đã
quyết định điều tra chính thức 04 vụ việc,
tiến hành điều tra tiền tố tụng đối với 18 vụ
việc, ra quyết định xủ lý đối với 01 vụ việc
(19 doanh nghiệp tham gia thỏa thuận ấn
định giá bảo hiểm phi nhân thọ)(1)
.
Có thể nói, với một cơ quan mới ra đời
chưa lâu như Cục Quản lý cạnh tranh và Hội
đồng cạnh tranh với trọng trách là cơ quan
thi hành pháp luật cạnh tranh, những năm
vừa qua cơ quan quản lý cạnh tranh đã phát
huy tối đa vai trò của mình trong xã hội.
đảo báo giới, dư luận xã hội và các cơ quan
hữu quan khác. Những hoạt động tích cực
của cơ quan quản lý cạnh tranh đã dần dần
giúp cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các
doanh nghiệp có quyền lực thị trường ý thức
hơn về cách hành xử của mình trong các mối
quan hệ kinh doanh, điều mà các doanh
nghiệp nghĩ các hành vi như vậy là bình
thường và phù hợp với luật pháp.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, xử
lý các thỏa thuận nhằm hạn chế cạnh tranh
nói chung và thỏa thuận ấn định giá nhằm
hạn chế cạnh tranh nói riêng, cơ quan quản
lý cạnh tranh đã vướng phải những khó
khăn, thử thách sau đây:
<i><b>Thứ nhất</b><b>, theo quy định pháp luật cạnh </b></i>
tra rất phức tạp và cơng phu, địi hỏi sử dụng
những phép tính đặc biệt để cho ra kết luận
cuối cùng.
Để đáp ứng việc điều tra thị trường liên
quan một cách chính xác hơn, quy định của
pháp luật cạnh tranh đòi hỏi cần phải xem
xét phạm vi đối thủ cạnh tranh trên cùng một
Sau đó, cơ quan cạnh tranh phải tính
tốn thị phần từng doanh nghiệp và tổng thị
phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia
thỏa thuận để tính xem thỏa thuận ấn định
giá có bất hợp pháp hay không. Thị phần của
doanh nghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch
vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh
thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng
doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh
doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị
trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa
doanh số mua vào của doanh nghiệp này với
tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh
nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó
trên thị trường liên quan theo tháng, quý,
năm. Thị phần kết hợp là tổng thị phần trên
thị trường liên quan của các doanh nghiệp
tham gia vào thoả thuận hạn chế cạnh tranh
hoặc tập trung kinh tế. Quá trình đánh giá này
cũng không đơn giản, đặc biệt trong trường
hợp các doanh nghiệp bị điều tra sản xuất
phản ánh những khả năng xảy ra biến động
thị trường bởi vì thị trường ln biến đổi theo
thời gian và theo nhu cầu, mọi diễn biến trên
thị trường hoặc các yếu tố khách quan khác
đều có ảnh hưởng đến cấu trúc thị phần của
thị trường liên quan đó.
<i><b>Thứ hai,</b></i> các biện pháp mang tính chế
tài đối với các vi phạm về thỏa thuận ấn định
giá nhằm hạn chế cạnh tranh chưa thực sự đủ
mạnh nhằm có tác dụng răn đe và phòng
ngừa vi phạm. Theo quy định tại các Điều
4,5, và 10 của Nghị định 120/2005/NĐ-CP
ngày 30/9/2005 về xử lý vi phạm pháp luật
về cạnh tranh thì hành vi thỏa thuận ấn định
giá nhằm hạn chế cạnh tranh có thể bị phạt
tiền cao nhất lên đến 10% doanh thu của
năm tài chính trước năm thực hiện hành vi
của từng doanh nghiệp tham gia thỏa thuận.
Như vậy, nếu như lợi nhuận do việc tham gia
thấy điều khoản nào quy định về trường hợp
này.
<i><b>Thứ ba,</b></i> việc tuân thủ các quy định của
pháp luật cạnh tranh nói chung và các hành
vi vi phạm thỏa thuận ấn định giá nhằm hạn
chế cạnh tranh nói riêng phụ thuộc vào nhận
thức và hiểu biết, nắm rõ các quy định của
pháp luật cạnh tranh của doanh nghiệp rất
nhiều. Thực tế, trong các doanh nghiệp, nếu
các doanh nghiệp nước ngoài thường có bộ
phận pháp chế tư vấn pháp luật cho doanh
nghiệp và thường xuyên liên lạc với cơ quan
hữu quan, thì các doanh nghiệp trong nước
chưa chú trọng tới bộ phận này hoặc nhân
lực của bộ phận pháp chế này chưa đủ khả
năng theo yêu cầu để tư vấn các vấn đề liên
quan đến pháp luật cạnh tranh cho doanh
nghiệp. Theo khảo sát gần đây của cơ quan
quản lý cạnh tranh có 44.8% doanh nghiệp
khơng biết có Luật cạnh tranh và 23.2%
doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm
hiểu nội dung của Luật Cạnh tranh(2)<sub>. Điều </sub>
này dẫn đến việc các doanh nghiệp xem các
<i><b>Thứ tư,</b></i> vị thế của cơ quan cạnh tranh
và đội ngũ nhân lực của cơ quan cạnh tranh.
Ngay tại Điều 2, Luật Cạnh tranh 2004
quy định đối tượng áp dụng: Một là tổ chức,
cá nhân kinh doanh (sau đây gọi chung là
doanh nghiệp) bao gồm cả doanh nghiệp sản
xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ cơng ích,
doanh nghiệp hoạt động trong các ngành,
lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh
nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam.
Hai là hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt
Nam. Như vậy, đối tượng chịu sự điều chỉnh
của Luật này là rất rộng, nền kinh tế của Việt
Nam là một nền kinh tế nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng
XHCN, kinh tế Việt Nam đang ngày càng
hội nhập sâu rộng và toàn diện vào nền kinh
tế của khu vực và trên quốc tế. Để đảm bảo
cho việc định hướng XHCN kinh tế Nhà
<i><b>Thứ năm,</b></i> sự chồng chéo trong các quy
định của pháp luật khác với pháp luật cạnh
tranh dẫn tới việc có nhiều cách hiểu và áp
dụng khác nhau ảnh hưởng đến tính hiệu lực
và mục đích của pháp luật cạnh tranh.
nhằm hạn chế cạnh tranh và hành vi liên kết
độc quyền về giá mà có tới hai văn bản là
<i><b>Thứ sáu,</b></i> với sự phát triển của khoa
học kĩ thuật, đặc biệt là lĩnh vực truyền
thông, thông tin cộng với sự toan tính của
các doanh nghiệp, nhằm né tránh sự phát
hiện của cơ quan cạnh tranh, các doanh
nghiệp ngày càng sử dụng các hình thức thỏa
thuận ấn định giá một cách tinh vi, khó
lường. Hình thức thỏa thuận ấn định giá
không phải lúc nào cũng được thể hiện dưới
dạng văn bản thỏa thuận mà các bên tham
gia trực tiếp gặp nhau ký kết, mà nó có thể
hiện trong các tài liệu trao đổi gián tiếp, thư
từ, e-mail, điện thoại, điện tín v.v…
Như vậy, việc cơ quan cạnh tranh tiến
hành điều tra thu thập chứng cứ, tài liệu có
liên quan là quá trình rất khó khăn, địi hỏi
phải sử dụng các biện pháp kỹ thuật mang
tính nghiệp vụ. Tuy nhiên, cơ sở vật chất hạ
tầng phục vụ cho cơng tác điều tra cịn nhiều
hạn chế, trong nhiều trường hợp cần có sự
<b>2. Một số đề xuất hoàn thiện pháp </b>
<b>luật về thoả thuận ấn định giá nhằm hạn </b>
<b>chế cạnh tranh </b>
<i><b>Thứ nhất, về cách tiếp cận điều chỉnh </b></i>
<i><b>của pháp luật cạnh tranh Việt Nam đối với </b></i>
<i><b>hành vi thỏa thuận ấn định giá nhằm hạn </b></i>
<i><b>chế cạnh tranh </b></i>
Hiện nay, pháp luật về cạnh tranh của
chúng ta vẫn xem hành vi thỏa thuận ấn định
giá không phải là loại thỏa thuận đen, tức là
thỏa thuận bị cấm tuyệt đối. Chúng tôi nhận
thấy rằng, với mục tiêu ưu tiên hàng đầu của
Đảng và Nhà nước trong kinh tế là bảo vệ
môi trường cạnh tranh, đảm bảo bình đẳng
trong kinh doanh, bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng, thì tiêu chí cạnh tranh hàng đầu
giữa các doanh nghiệp và cũng chính là lợi
ích khách hàng hưởng lợi từ quá trình cạnh
tranh lành mạnh là giá cả của sản phẩm trong
đời sống xã hội, đặc biệt trong điều kiện giá
cả sinh hoạt ngày càng tăng và Chính phủ
đang ưu tiên và nỗ lực kiềm chế lạm phát
<i><b>Thứ hai, về cơ chế phát hiện các </b></i>
<i><b>trường hợp thỏa thuận ấn định giá nhằm </b></i>
<i><b>hạn chế cạnh tranh </b></i>
Bên cạnh nhiệm vụ phát hiện hành vi
thỏa thuận ấn định giá của cơ quan quản lý
cạnh tranh, các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và người tiêu dùng, để tăng tính
phịng ngừa và khuyến khích các hành vi tố
giác phát hiện hành vi thỏa thuận ấn định
giá, hiện nay chúng ta chỉ mới coi việc tự
giác thông báo đến cơ quan quản lý nhà
nước về cạnh tranh các hành vi thỏa thuận ấn
định giá như một tình tiết giảm nhẹ, thì chưa
thực sự khuyến khích các bên được mời
tham gia hoặc đã tham gia vào thỏa thuận ấn
định giá đứng ra tố giác hành vi này. Vì vậy,
chúng tơi đề xuất nên quy định các trường
hợp được hưởng miễn trách nhiệm pháp lý
trong pháp luật cạnh tranh và đưa hành vi tự
giác báo cáo với cơ quan cạnh tranh hoặc có
cơng trong việc cung cấp thông tin, tài liệu,
Vấn đề thị trường liên quan và thị phần
là vấn đề thường thay đổi theo thời gian và
quy mô thị trường, thường thì xác định rất
khó và chỉ có tính chất tương đối. Vì vậy, để
xác định chính xác mức độ nguy hại của
hành vi thỏa thuận ấn định giá và có các chế
tài phù hợp, chúng ta cần quy định rõ thời
điểm điều tra thị trường liên quan và thị phần
là thời điểm các bên thực hiện thỏa thuận ấn
định giá hoặc thời điểm bắt đầu thực hiện
theo các thỏa thuận ấn định giá đó, chứ
khơng phải là xác định tại thời điểm điều tra.
<i><b>Thứ tư, về cơ chế xử lý các thỏa thuận </b></i>
<i><b>ấn định giá nhằm hạn chế cạnh tranh </b></i>
Các quy định hiện nay của Luật Cạnh
tranh và văn bản hướng dẫn thi hành chưa có
quy định xử lý các hành vi né tránh, không
hợp tác trong việc cung cấp các tài liệu,
chứng cứ của các bên bị điều tra khi có yêu
cầu của cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh,
trong khi đó nguồn tài liệu, chứng cứ do các
bên bị điều tra là rất quan trọng trong việc
xác định hành vi vi phạm của các doanh
nghiệp.
Vì vậy, chúng tơi đề xuất nên sửa đổi
Luật Cạnh tranh năm 2004 và văn bản hướng
dẫn thi hành theo hướng đưa thêm vào các
quy định các hành vi không chấp hành,
không chịu hợp tác, né tránh trong việc cung
cấp tài liệu, chứng cứ hoặc cung cấp các tài
liệu, chứng cứ sai lệch gây khó khăn cho
cơng tác điều tra, xử lý hành vi thỏa thuận ấn
định giá khi cơ quan điều tra vụ việc cạnh
tranh yêu cầu. Đồng thời, cũng cần các quy
định mang tính chế tài đủ sức răn đe, trừng
phạt khi các doanh nghiệp có hành vi không
chịu hợp tác với cơ quan điều tra vụ việc
cạnh tranh trong quá trình điều tra.
<i><b>Thứ năm, về địa vị pháp lý của cơ </b></i>
<i><b>quan quản lý nhà nước về cạnh tranh </b></i>
Kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển,
đặc biệt khi chúng ta đã dần dần hội nhập
sâu rộng vào kinh tế quốc tế, tính chất phức
tạp và đa dạng của các quan hệ kinh tế ngày
càng lớn hơn, đồng nghĩa là có khả năng
xuất hiện các hành vi phản cạnh tranh nói
chung và hành vi thỏa thuận ấn định giá nói
riêng ngày càng tinh vi hơn và nhiều hơn về
số lượng. Như vậy, cơ quan cạnh tranh phải
đối mặt với việc phải điều tra và xử lý các
<i>Một là, quy định cơ quan quản lý cạnh </i>
tranh là cơ quan trực thuộc Chính phủ hoặc
Quốc hội nhằm nâng cao vị thế và sức mạnh
quyền lực cho cơ quan này trong quá trình
thực hiện chức năng của mình.
<i>Hai là, để đảm bảo cho cơ quan quản lý </i>
cạnh tranh hoàn thành nhiệm vụ của mình
trong thời gian tới, Nhà nước cần có sự đầu
tư thích hợp về cơ sở vật chất hạ tầng lẫn đầu
tư về nhân lực cho cơ quan này về chất
lượng lẫn số lượng.
đó như thương nhân lâu năm, có uy tín, hoặc
người làm lâu năm trong hiệp hội ngành và
<i><b>Thứ sáu, về quy chế phối hợp phát </b></i>
<i><b>hiện và xử lý các thỏa thuận ấn định giá </b></i>
<i><b>nhằm hạn chế cạnh tranh </b></i>
Phạm vi công việc liên quan đến xử lý
các vụ việc thỏa thuận ấn định giá là rất rộng
lớn vì nó liên quan tới mọi ngành nghề của
nền kinh tế, đòi hỏi sự phối hợp giữa các cơ
quan cạnh tranh với các cơ quan nhà nước
hữu quan như cơ quan thanh tra chuyên
ngành, cơ quan thuế, cơ quan kiểm toán, cơ
quan cảnh sát điều tra về kinh tế. Vì vậy,
chúng tơi đề xuất nên có quy định cụ thể về
việc phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan nói
trên với cơ quan cạnh tranh trong quá trình
điều tra các hành vi thỏa thuận ấn định giá
nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi
vi phạm.
<i><b>Thứ bảy, tăng cường thể chế để xây </b></i>
<i><b>dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh </b></i>
<i><b>trong kinh doanh và tăng cường công tác </b></i>
<i><b>truyền thông </b></i>
Nhà nước cần có chiến lược và bước đi
dài hạn, phù hợp nhằm tạo dựng môi trường
cạnh tranh công bằng theo pháp luật, hạn chế
sử dụng các biện pháp can thiệp trực tiếp vào
Cần tạo lập hành lang pháp lý để thúc
đẩy canh tranh lành mạnh trong mọi lĩnh
vực, mọi ngành nghề của nền kinh tế, tạo
điều kiện để các doanh nghiệp trong nước
nâng cao năng lực cạnh tranh, có thể độc lập
trong kinh doanh và không bị lệ thuộc các
doanh nghiệp đầu mối nước ngoài.
Yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy
pháp luật cạnh tranh được nghiêm chỉnh thực
hiện nhằm duy trì mơi trường cạnh tranh
lành mạnh như mong muốn của Nhà nước và
xã hội là việc các doanh nghiệp nhận thức
được các quy định của pháp luật điều chỉnh
hành vi thỏa thuận ấn định giá. Để đạt được
điều này, chúng ta cần phải có các hình thức
tun truyền pháp luật cạnh tranh phù hợp
đến cho các doanh nghiệp. Các biện pháp cụ
thể có thể như sau:
- Khuyến khích doanh nghiệp xây
dựng bộ phận pháp chế trong cơ cấu tổ chức
của doanh nghiệp mình nhằm tư vấn đúng
- Tổ chức các chương trình hội thảo,
giao lưu giữa các doanh nghiệp có lồng ghép
chương trình giới thiệu về pháp luật cạnh
tranh.
- Khuyến khích các hiệp hội tổ chức
các hoạt động của mình tuyên truyền về Luật
Cạnh tranh cho doanh nghiệp biết.
- Tổ chức các hình thức tuyên truyền
pháp luật cạnh tranh phù hợp và có hiệu quả
trên phương tiện thơng tin đại chúng như
truyền hình, báo chí, băng rơn ở nơi công
cộng.
- Xuất bản các ấn phẩm giới thiệu nội
dung pháp luật cạnh tranh để doanh nghiệp
có thể tiếp cận, tìm hiểu.
- Củng cố và phát triển bộ phận tư
vấn, hỗ trợ thuộc cơ quan cạnh tranh nhằm
giải đáp các thắc mắc của doanh nghiệp khi
có yêu cầu.
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>
[1] Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương, Báo cáo hoạt động thường niên của
<b>1. Đặt vấn đề </b>
Qua thực tế giảng dạy
của bản thân và những
thông tin chia sẻ từ đồng
nghiệp, sinh viên (SV),
nhận thấy một trong những
tồn tại ở Trường Cao đẳng
Thương mại là tình trạng
SV chưa thể hiện tinh thần
tích cực, chủ động học tập
và khả năng tự học chưa
cao. Đây là nguyên nhân
dẫn đến chất lượng giáo dục
cao đẳng, đại học chưa được
cải thiện; triết lý giáo dục
của phương thức đào tạo
theo học chế tín chỉ chưa
Với mục đích nhằm
hồn thiện hơn cơng tác dạy
và học theo học chế tín chỉ,
trên cơ sở vận dụng lý luận
của các nhà nghiên cứu về
hoạt động học và động cơ
học, người viết xin đưa ra
một số đề xuất nhằm phát
huy tính tích cực, chủ động
và khả năng tự học của SV
tại Trường Cao đẳng
Thương mại.
<b>2. Các yếu tố ảnh </b>
<b>hƣởng đến tính tích cực, </b>
<b>chủ động và khả năng tự </b>
<b>học của SV </b>
Hoạt động học.
Theo PGS.TS Nguyễn
Văn Thàng: Hoạt động học
là hoạt động đặc thù của con
người, được điều khiển bởi
mục đích tự giác lĩnh hội
những tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo, những hình thức hành
vi và những hoạt động nhất
định.
Hoạt động học được
cấu tạo bởi các thành phần:
- Đối tượng của hoạt
động học: là những tri thức,
kỹ năng trong các học phần
mà SV phải lĩnh hội thông
qua việc tổ chức, hướng dẫn
của giảng viên.
- Nhiệm vụ hoạt động
học: là hệ thống câu hỏi, bài
tập lý luận và thực tiễn mà
SV phải thực hiện trong quá
trình học.
được hình thành ở các giai
đoạn học tập trước.
- Điều kiện hoạt động
học: là sự thống nhất giữa
hoạt động dạy và hoạt động
học mà trong đó chất lượng
và hiệu quả của hoạt động
học chủ yếu phụ thuộc vào
nội dung và tính chất của
hoạt động dạy.
Động cơ học
Bất cứ hoạt động học
nào cũng được thúc đẩy bởi
động cơ và cũng có thể xem
đây là nguồn gốc của tính
tích cực, chủ động trong
việc học của SV. Động cơ
học tập khơng phải là có
sẵn, cũng không thể áp đặt
từ bên ngồi mà nó được
hình thành dần dần trong
quá trình học tập của SV
dưới sự hướng dẫn, tổ chức
của người thầy. Như vậy
vấn đề là giảng viên khi dạy
học có kích thích được động
cơ học tập của SV hay
khơng.
Căn cứ vào tính chất
của động cơ, thì động cơ
học tập có thể phân làm hai
loại:
- Động cơ hoàn thiện
tri thức: SV học tập vì sự
hấp dẫn, lôi cuốn bởi tri
thức và các phương pháp
+ Nếu việc dạy học
chủ yếu dựa vào nguyên tắc
khái quát hóa hình thức (so
sánh sự vật, hiện tượng
riêng lẻ, rút ra những dấu
hiệu chung về bề ngồi
khơng bản chất, rồi từ đó
khái quát hóa thành khái
niệm) dẫn đến việc SV hiểu
các khái niệm một cách
hình thức, hoặc hiểu khái
niệm theo kinh nghiệm,
không đủ sức giải quyết
những nhiệm vụ học tập và
những vấn đề cuộc sống đặt
ra. Từ đó, SV gặp nhiều khó
khăn trong học tập, dẫn đến
chán học, khơng thích học,
hoặc học tập là một gánh
nặng tâm lý.
+ Nếu dạy học dựa
vào những nguyên tắc khái
- Động cơ quan hệ xã
hội: SV say sưa học tập vì
sự hấp dẫn, lôi cuốn bởi cái
khác chứ không phải tri
thức khoa học, như vì phần
thưởng vật chất, sự hài lịng
của cha mẹ, sự khâm phục
của bạn bè, các phong trào
Ba yếu tố chính ảnh
hưởng đến tính tích cực chủ
động và khả năng tự học
của SV:
(1) Chương trình giáo
dục và đề cương chi tiết học
phần
Kiến thức và kỹ năng
mà SV lĩnh hội chứa đựng
trong đề cương chi tiết của
các học phần thuộc chương
trình giáo dục. Đề cương
chi tiết các học phần được
xây dựng một cách khoa
học, logic, có tính kế thừa
sẽ tạo điều kiện cho SV tích
lũy kiến thức một cách có
hệ thống, hình thành
phương tiện học tập cho SV
giúp họ lĩnh hội tri thức tốt
hơn. Ngoài ra, những yêu
Hệ thống câu hỏi, bài
tập do giảng viên thiết kế
trước tiên là dựa vào mục
tiêu của từng chương, bài
học. Bên cạnh đó, nội dung
giảng dạy cũng đóng vai trị
quan trọng khơng kém. Nội
dung mang tính ứng dụng
cao và luôn được cập nhật
những thông tin, kiến thức
mới sẽ hấp dẫn và lơi cuốn
SV đào sâu nghiên cứu, tìm
hiểu. Một yếu tố hết sức
quan trọng giúp SV có được
động cơ và khả năng tự học
là phương pháp tổ chức
giảng dạy và hướng dẫn học
tập của giảng viên. Giảng
viên cần có phương pháp
dạy học tích cực và biết áp
dụng các kỹ thuật hướng
(3) Bản thân SV và
các mối quan hệ xã hội của
họ
Nhận thức của bản
thân và mối quan hệ với gia
đình, nhà trường, thầy cô,
bạn bè là cơ sở để SV xác
định mục tiêu học, nỗ lực và
chủ động trong học tập.
Trong các yếu tố đó, vai trị
của nhà trường hết sức quan
trọng, vì đây là môi trường
để SV rèn luyện và phấn
đấu. Một môi trường năng
động, thân thiện và có nét
văn hóa riêng sẽ hình thành
nên động cơ học tập tích
cực cho SV.
<b>3. Một số đề xuất </b>
<b>nhằm phát huy tính tích </b>
<b>cực, chủ động và khả năng </b>
<b>tự học của SV tại Trƣờng </b>
<b>Cao đẳng Thƣơng mại </b>
(1) Chương trình giáo
dục và đề cương chi tiết học
phần
- Mục tiêu đào tạo cần
chú trọng đến việc trang bị
cho SV những kiến thức và
kỹ năng mang tính ứng
dụng cao, phù hợp với
những vấn đề thực tiễn đang
đặt ra của ngành đồng thời
đáp ứng được yêu cầu của
các nhà tuyển dụng.
- Nội dung chi tiết của
các học phần cần bám sát
với mục tiêu và lĩnh vực
đào tạo, tránh trình bày
những kiến thức một cách
khái quát, chung chung và
sự trùng lắp giữa các học
phần. Nội dung chi tiết của
mỗi học phần chuyên ngành
cũng cần đảm bảo sự nhất
quán để SV dễ dàng hệ
thống kiến thức, là phương
tiện giúp SV lĩnh hội tốt
kiến thức cũng như có khả
năng tự học.
- Đề cương chi tiết
phải tăng những tiết học
hoặc tham quan tại các cơ
sở kinh doanh giúp SV tiếp
cận với môi trường và
những vấn đề đang đặt ra
trong thực tế. Như chuyên
ngành du lịch khách sạn, SV
thường hào hứng và tích
cực học tập hơn trong
những buổi đi tham quan
thực tế tại các điểm du lịch,
nhà hàng, khách sạn.
(2) Nội dung và
phương pháp giảng dạy
- Bộ môn tổ chức xây
dựng và liên tục nâng cấp
chất lượng giáo trình, bài
giảng; một mặt đảm bảo
được chiều sâu kiến thức,
kỹ năng; mặt khác, cập nhật
được nhiều kiến thức mới
có tính thực tiễn cao.
- Ngồi giáo trình và
bài giảng, để SV có khả
năng tiếp cận và rèn luyện
tính tư duy, sáng tạo, bộ
- Giảng viên phải áp
dụng phương pháp dạy học
tích cực. Để chuẩn bị cho
một buổi lên lớp cần đầu tư
cho phần warm-up; tài liệu,
giáo cụ cho nội dung bài
giảng (nhất là phương pháp
dạy học theo vấn đề); chọn
lọc và sử dụng các phương
pháp giảng dạy phù hợp với
từng nội dung cũng như
phương pháp đánh giá kết
quả buổi học một cách kỹ
lưỡng, công phu thông qua
giáo án hay kịch bản lên
lớp.
cho SV, ngoài việc chuẩn bị
- Giảng viên cần
hướng dẫn SV phương pháp
tự học sao cho hiệu quả,
như hướng dẫn SV tự lực
suy nghĩ giải quyết vấn đề,
cách ghi nhớ, tâm thế thi
đua, vượt thử thách…
Ngoài ra để tạo động cơ học
tập trong SV, giảng viên cần
phải lồng ghép việc định
hướng nghề nghiệp, giúp
SV hình dung ra công việc
sau này, thêm yêu thích
chuyên ngành mà mình đã
chọn để có nỗ lực và chủ
(3) Các chương trình
ngoại khóa và hoạt động
phong trào, đồn thể
- Các chương trình
ngoại khóa như: hội thảo,
diễn đàn có sự tham gia của
các doanh nghiệp hoặc
những buổi đi tham quan, đi
thực tế bên ngoài là cơ hội
rất tốt cho SV tiếp cận và
làm quen với ngành nghề,
tạo động cơ học tập cho SV
ở những buổi học trên lớp.
- Bộ môn, khoa có thể
phối hợp với đồn trường và
các khoa khác tổ chức
những cuộc thi mang tính
chất hướng nghiệp như: Tập
làm hướng dẫn viên du lịch,
Tập làm nhà lãnh đạo… để
SV có sân chơi, rèn luyện
kỹ năng và làm quen với
nghề.
- Hoạt động phong
(4) Các vấn đề khác
- Nhà trường cần xây
dựng và triển khai cho toàn
thể SV nắm bắt và hiểu rõ
được “văn hóa” của trường.
- Cơng tác cố vấn học
tập phải được xem là một
nhiệm vụ độc lập khác của
giảng viên ngồi cơng tác
giảng dạy. Cần phải có sự
hỗ trợ về thời gian, địa điểm
hoặc quy định những cách
thức tương tác giữa cố vấn
học tập với SV.
- Website nhà trường
cũng cần cung cấp các
thông tin liên quan đến
ngành nghề, trao đổi thông
tin và tham gia các diễn đàn
ở đây.
- Nhà trường cần đầu
tư về cơ sở vật chất, trang
thiết bị học tập, nhất là
phòng thực hành dành cho
sinh viên.
- Thư viện cần bổ sung
thêm đầu sách, xây dựng
thư viện mở trên website
nhà trường để tạo điều kiện
thuận lợi nhất cho quá trình
tự học của sinh viên.
- Thiết kế những khu
vực, không gian trong
khuôn viên trường giúp sinh
viên có thể thuận tiện cho
việc học nhóm.
<b>Kết luận </b>
Mặc dù còn hạn chế,
<i><b>Hồ Thị Mỹ Kiều </b></i>
<i><b>GV. Khoa Quản trị kinh doanh </b></i>
<b>1. Mở đầu </b>
Tín chỉ là phương thức đào tạo có
nhiều ưu điểm so với phương thức đào tạo
niên chế truyền thống. Khoảng 10 năm trở
lại đây, một số trường đại học Việt Nam đã
chủ động áp dụng phương thức đào tạo tiên
tiến này nhưng vẫn trong tình trạng “mị
mẫm”. Do bước đầu mới chuyển sang đào
tạo theo tín chỉ nên cả giảng viên (GV) và
sinh viên (SV) còn nhiều bỡ ngỡ trong
phương pháp dạy và học. Vì vậy, việc tìm ra
<b>2. Thực trạng dạy và học theo tín chỉ </b>
<b>tại Trƣờng Cao đẳng Thƣơng mại </b>
<b>(TCĐTM) </b>
TCĐTM đã tiến hành đào tạo tín chỉ kể
từ năm học 2010 – 2011 cũng gặp phải
những trở ngại về quản lý đào tạo, giảng
dạy, đánh giá kết quả, đăng ký học phần, tổ
chức thi và chấm thi, cố vấn học tập… Việc
dạy theo tín chỉ chưa đạt được kết quả mong
muốn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của
GV, SV và cả nhân tố mơi trường. Để đóng
góp vào tính thực tiễn trong dạy và học tại
trường, xin được nêu ra một số vấn đề như
sau:
<i><b>2.1. Nhân tố giảng viên </b></i>
Trong quá trình lên lớp, GV phải sử
dụng nhiều phương pháp giảng dạy như
thuyết trình, giảng dạy dựa trên vấn đề,
semina, thảo luận nhóm, thực hành, hướng
dẫn SV nghiên cứu bài trước khi đến lớp,
giao bài tập về nhà để huấn luyện kỹ năng
cá nhân và kỹ năng nhóm. Trong đó, yêu
Hiện nay, vấn đề mà TCĐTM đang
gặp phải về GV là đội ngũ còn khá trẻ, tuổi
đời và tuổi nghề cịn ít nên kinh nghiệm
chưa nhiều; trình độ ngoại ngữ yếu nên việc
nghiên cứu các tài liệu nước ngồi cịn hạn
chế.
<i><b>2.2. Nhân tố thái độ và thói quen học </b></i>
<i><b>tập của sinh viên </b></i>
Đào tạo theo tín chỉ yêu cầu giảm thời
lượng lên lớp nhưng không giảm yêu cầu
học tập. Vì vậy, SV phải tăng cường tự học,
tự nghiên cứu. Tuy nhiên, thực tế SV còn
khá thụ động do một số nguyên nhân như đã
quen với cách học từ phổ thông trung học,
chuyển sang bậc đại học họ thường bị bỡ
ngỡ. Sự thụ động còn do SV không ngồi
cùng những bạn quen ở lớp sinh hoạt nên
và không muốn triển khai nhiều phương
pháp khác nhau.
<i><b>2.3. Nhân tố cơ sở vật chất của nhà </b></i>
<i><b>trường </b></i>
Trong những năm vừa qua nhà trường
gặp khó khăn về cơ sở vật chất nên rất khó
tổ chức giảng dạy đúng “tinh thần tín chỉ”.
Thứ nhất, số lượng phòng học bị thiếu, đã
xảy ra việc xáo trộn lớp học trong vài tuần
đầu năm học mới gây tâm lý bất an cho GV
và SV. Thứ hai, một số phòng học chịu ảnh
hưởng bởi âm thanh bên ngoài như tiếng xe,
tiếng nhạc của các quán cafe, tiếng ồn của
hoạt động hoàn thiện các phòng học mới và
chịu ảnh hưởng bởi ánh nắng soi vào làm
SV mất tập trung. Thứ ba, tính khơng hiệu
quả một số thiết bị do không hoạt động được
<i><b>2.4. Nhân tố chất lượng đầu vào của </b></i>
<i><b>sinh viên </b></i>
đầu vào có học lực cao vì độ khó của đề đại
học và cao đẳng khác nhau.
<b>3. Một số kiến nghị </b>
<i><b>3.1. Cải thiện chất lượng tuyển sinh </b></i>
Bắt đầu từ câu chuyện ý thức, kiến
thức hình thành nên cách thức học tập. Cho
dù GV có tuyệt vời đến đâu đi nữa nhưng
khơng được sự hưởng ứng của SV thì cũng
khơng tạo ra được kết quả tốt. Như đã trình
bày ở trên, nhà trường nên mở rộng thêm
<i><b>3.2. Cải thiện đối tượng tuyển dụng </b></i>
<i><b>giảng viên </b></i>
Trong những năm gần đây số lượng
GV của trường tăng lên đáng kể; GV trẻ
chiếm tỉ trọng lớn và nữ chiếm gần 70%.
<i>Tuy nhiên, “trẻ” và “khỏe” vẫn chưa đủ; </i>
nhà trường cịn cần có nhiều GV giàu kinh
nghiệm. Vì vậy, nên mở rộng tiêu chuẩn
tuyển dụng đối với người có kinh nghiệm
thực tế vào cả vị trí cán bộ quản lý. Có thể
tại thời điểm thi tuyển họ khơng hồn thành
đề thi tốt nhưng tin rằng họ sẽ trở thành
<i>người phù hợp hơn với công việc khi “ nghề </i>
<i>dạy nghề”. </i>
<i><b>3.3. Tăng cường vai trò của cố vấn </b></i>
<i><b>học tập </b></i>
Cố vấn học tập có vai trị rất quan
trọng trong việc định hướng cách học và kế
hoạch học của SV; giúp SV biết được môn
học nào học trước, môn nào học sau và môn
tự chọn nào là cần thiết. Điều này ảnh
hưởng rất lớn đến việc học của SV và việc
giảng dạy của GV. Thời gian qua đã có một
số SV rút học phần, đăng ký học phần mới
sau vài tuần bắt đầu lịch học tập; kế hoạch
học tập bị đảo lộn… gây tâm lý không tốt
cho cả SV và GV.
<i><b>3.4. Nâng cao trình độ chun mơn và </b></i>
<i><b>sư phạm của GV </b></i>
Nhà trường đã tổ chức nhiều chương
trình tập huấn đào tạo theo học chế tín chỉ
và cơng tác cố vấn học tập, cung cấp tài liệu
và cẩm nang học theo tín chỉ cho GV và SV.
GV phải đổi mới phương pháp giảng dạy
đồng thời phải tự giác nghiên cứu tài liệu,
nghiên cứu khoa học, tự học tập nâng cao
trình độ chun mơn để từ đó tìm ra cách tổ
chức giảng dạy phù hợp. Bên cạnh đó, cần
có sự quan tâm của Ban Giám hiệu trong
việc tạo điều kiện cho GV được học tập
nâng cao trình độ, thực tập và tu nghiệp;
chính sách lương và đãi ngộ phải tương
xứng hơn; điều kiện cơ sở vật chất phải đảm
bảo phù hợp hơn cho hệ thống đào tạo theo
tín chỉ. Nhà trường, cố vấn học tập và GV
<i>hãy cùng đánh thức tính “thụ động‟ của GV, </i>
SV.
<b>4. Kết luận </b>
GD-ĐT có vai trị rất lớn trong sự phát
triển kinh tế xã hội của đất nước. Với những
ưu điểm của phương thức đào tạo theo học
chế tín chỉ mà các nhà Giáo dục học đã chỉ
ra; nhiệm vụ của nhà trường, bao gồm cả
GV, cố vấn học tập và SV là phải hiện thực
hóa nó; trước hết là khắc phục những khó
khăn, hạn chế để đổi mới, nâng cao chất
lượng giảng dạy và học tập.
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>
[1] PGS - TS. Đặng Xuân Hải: “Kỹ thuật dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ”; Nxb
Bách khoa, Hà Nội; 2011.
[2] PGS – TS. Nguyễn Văn Khải: “Đào tạo giáo viên theo hệ thống tín chỉ ở trường ĐHSP
Thái Nguyên; Kỷ yếu hội thảo VUN Đà Nẵng, 2006.
<i><b>Hồ Thị Thùy Linh </b></i>
<i><b>GV. Khoa Tài chính - Ngân hàng </b></i>
Bắt đầu triển khai thực
hiện từ năm 2005 tại một số
Như chúng ta đã biết,
nét đặc trưng của HCTC là
kiến thức được cấu trúc
thành các học phần (HP).
Lớp học được tổ chức theo
từng HP; SV sẽ phải chủ
động xây dựng lộ trình học
tập, từ lựa chọn HP đến thời
gian học, thậm chí cả việc
lựa chọn GV. Với phương
thức học tập này, GV không
còn đơn thuần truyền thụ
kiến thức mà là người hướng
dẫn, hỗ trợ và tư vấn cho SV
tìm chọn và xử lý thơng tin
để ra cho mình một lịch trình
và phương pháp học tập hiệu
quả nhất. Đào tạo theo
HCTC đòi hỏi tính chủ động
của SV rất cao trong việc lập
kế hoạch dự kiến các HP,
chọn lựa HP ngay từ đầu cho
cả chương trình học. SV phải
chủ động tìm hiểu đề cương
chi tiết (ĐCCT) các HP, rồi
theo đó mà chuẩn bị tài liệu
trước giờ học, tích cực chủ
động tham gia thảo luận
trong lớp, cũng như làm bài
tập, viết tiểu luận, làm bài
tập nhóm.
Để giúp SV thực hiện
những điều đó, GV đóng vai
trị là người hướng dẫn. Vai
trò này được thể hiện trước
hết từ khâu xây dựng
ĐCCTHP. ĐCCTHP được
xem là một kế hoạch dạy và
học được biên soạn công
phu, bao gồm lịch trình dạy
và học từ tuần đầu tiên đến
tuần cuối cùng. Căn cứ vào
ĐCCT, SV có thể định
hướng nội dung học của
mình. ĐCCT được xem như
một kịch bản hồn chỉnh
trong đó GV đóng vai trò
như một “đạo diễn” định
hướng quá trình học tập của
SV. Vì vậy, khi xây dựng
ĐCCT, GV phải dự thảo cho
mình và SV một phương án
dạy – học tốt nhất có thể, từ
việc lựa chọn phương pháp
dạy cho từng giờ học, xây
dựng bài tập nhóm cũng như
những mơ hình giảng dạy.
<b>50 </b>
lượng SV trong lớp khơng
đồng đều; có lớp q ít, có
lớp khá đơng. Đối với những
lớp có số SV q ít, rất khó
cho GV áp dụng một “kịch
bản” đã định hướng sẵn; ví
dụ vấn đề tổ chức các nhóm
và triển khai bài tập nhóm.
Trong trường hợp này GV
phải linh hoạt lựa chọn, điều
chỉnh phương pháp dạy một
cách phù hợp. Ngược lại, với
lớp có số lượng SV vượt
mức, GV cũng gặp những
khó khăn tương tự và phải
xử lý một cách sáng tạo. Nhờ
có sự hỗ trợ của thiết bị hiện
đại, hầu hết các GV đã sử
dụng giáo án điện tử trong
giảng dạy. Những bài giảng
điện tử được biên soạn cơng
phu, có những minh họa
sống động và thực tế sẽ giúp
SV tiếp thu bài hiệu quả hơn.
Nhưng để có được những
trang bài giảng ấy, GV phải
trải qua quá trình nỗ lực làm
việc miệt mài, cập nhật
những thông tin thực tiễn
theo từng ngày.
Không chỉ là người đạo
diễn trên lớp, GV còn là
người định hướng cho SV
thơng qua vai trị cố vấn học
tập. GV phải cố vấn, dẫn
đường, định hướng cho SV
lựa chọn, xây dựng một thời
khóa biểu hiệu quả và phù
hợp nhất với năng lực cá
nhân ngay từ khi mới nhập
học. Do SV học phân tán
theo lớp học phần và trình độ
tiếp nhận của mỗi SV có
khác nhau nên việc quản lý
và hỗ trợ, tư vấn, định hướng
cho SV trở nên khó khăn
hơn. HCTC gắn liền với hình
ảnh SV túc trực chờ đăng kí
lịch học trên mạng Internet
và cũng gắn liền với hình
ảnh cố vấn học tập kiên trì tư
vấn lịch học cho từng SV
trong lớp.
Một vấn đề quan trọng
trong đổi mới phương pháp
dạy học là đổi mới cách thức
đánh giá SV. Nếu trước đây,
nhiều tài liệu khi làm bài ở
nhà và tổ chức học theo
nhóm. Tuy vậy, để đánh giá
đúng lực học của SV là một
vấn đề không phải GV nào
cũng có thể giải quyết tốt.
Trong thực tế triển khai,
đánh giá được thực chất kết
quả học tập SV gặp rất nhiều
khó khăn. Ở trình độ cao
đẳng khả năng làm việc
nhóm của SV chưa cao. Kết
quả quá trình làm việc nhóm
đa số chỉ tập trung vào một
số ít SV có năng lực, chưa
phản ánh được sự hợp tác
của các thành viên, dẫn đến
việc đánh giá đôi lúc chưa
công bằng và chưa đạt hiệu
quả. Điều này đòi hỏi kinh
nghiệm, khả năng quan sát
và điều chỉnh tốt của GV.
<b>1. Đặt vấn đề: Trong Excel, để thực hiện lọc dữ liệu, thông thường ta sử dụng </b>
phương pháp lọc AutoFilter và Advanced Filter. Các phương pháp này khá phổ biến và
thơng dụng; giúp người sử dụng thực hiện trích lọc những thông tin cần thiết theo một điều
kiện nhất định, có thể là điều kiện đơn hay điều kiện kết hợp. Giả sử có bài tốn muốn lấy
thông tin của một số nhân viên dựa vào mã nhân viên. Nếu áp dụng các phương pháp lọc
nêu trên với đều kiện kết hợp đều có thể trả về kết quả; tuy nhiên nếu số lượng nhân viên
lớn (hàng trăm nhân viên trở lên) và điều kiện trích lọc khơng chỉ một vài mã nhân viên mà
lên đến cả trăm nhân viên thì đây khơng phải là giải pháp tốt vì mất rất nhiều thời gian. Để
<b>thực hiện nhanh lọc hơn, có thể lựa chọn giải pháp tạo macros. </b>
<b>2. Trình tự thao tác: 1) Tạo sheet 1 chứa dữ liệu gốc; 2) Tạo sheet 2 chứa kết quả </b>
lọc; 3) Tạo sheet 3 chứa điều kiện lọc; 4) Tạo Macros và thực hiện lọc bằng Macros.
<b>3. Ví dụ </b>
<i><b>3.1. Giới thiệu bài tốn: Trong Sheet 1 của bảng tính có nội dung như sau: </b></i>
<i><b>3.2. Giới thiệu vùng tiêu chuẩn </b></i>
<b>52 </b>
Yêu cầu thực hiện lọc ra những nhân viên có mã nhân viên là PP03, TP03 hoặc NV05
<i><b>3.3. Thao tác </b></i>
- Chọn Tab View/ Macros/ chọn như hình vẽ:
Xuất hiện hộp thoại:
- Chọn Tab View/ Macros/ chọn như hình vẽ:
Đặt tên Macros
Phím tắt cho
Macros
Mơ tả Macros
Xuất hiện hộp thoại:
Trong cửa sổ VBAProject, kích đúp chuột sheet 3 để thực hiện viết đoạn mã cho sheet đó.
Chi tiết đoạn mã như sau:
<b>Sub Macro_locdl() </b>
<i><b> Dim i, j, k, n, n1 As Integer „ Khai báo các biến số sử dụng trong đoạn mã </b></i>
<i><b> Dim temp „ Khai báo các biến số sử dụng trong đoạn mã </b></i>
<i>'n là số mẫu tin của sheet 3 </i>
<i>'n1 là số mẫu tin của sheet 1 </i>
<b> n = 15 </b>
<b> n1 = 15 </b>
<i>„ tạo vòng lặp lặp từ mẫu tin thứ 2 đến mẫu tin cuối cùng của sheet chứa mã nhân </i>
<i>viên (sheet 3) </i>
<b> For i = 2 To n </b>
<i><b> temp = Sheet 3.Cells(i, 2) „ lưu giá trị hàng thứ i, cột thứ 2(mã nhân viên) vào </b></i>
<i>biến tạm </i>
Chọn để
viết Code
<b>54 </b>
<i>„ tạo vòng lặp lặp từ mẫu tin thứ 2 đến mẫu tin cuối cùng của sheet chứa danh sách </i>
<i>nhân viên (sheet 1) </i>
<b> For j = 2 To n1 </b>
<i><b> If temp = Sheet 1.Cells(j, 2) Then „ kiểm tra nếu mã nhân viên trong sheet 1 </b></i>
<i>trùng với biến tạm (temp) thì tạo tiếp vịng lặp duyệt qua các cột của mẫu tin tìm thấy </i>
<i><b> k = 2 </b></i>
<i><b> Do While Not IsEmpty(Sheet1.Cells(j, k)) </b></i>
<i><b> Sheet 2.Cells(i, k) = Sheet 1.Cells(j, k) „ cập nhật dữ liệu </b></i>
<i><b> vào trong sheet 2 </b></i>
<b> k = k + 1 </b>
<b> Loop </b>
Sau khi gõ xong đoạn mã, nhấn phím F5 để chạy macros trên, kết quả sẽ hiển thị ở sheet2
<i><b>Lưu ý: Trong trường hợp nếu muốn khi thay đổi dữ liệu trong sheet 1 macros sẽ tự </b></i>
động cập nhật lại dữ liệu trong sheet 2, thao tác thực hiện như sau:
- Thực hiện lại bước 5 như trên
<b>- Trong cửa sổ VBAProject, kích đúp chuột vào sheet 1, chọn Worksheet ở trong </b>
listbox bên trái phía trên và chọn phương thức Change ở trong listbox bên phải; xuất hiện
nội dung như sau:
Sau đó thực hiện copy đoạn mã đã viết ở trên vào trong thủ tục như hình trên.
<b>4. Kết luận: So với các phương pháp lọc AutoFilter và Advanced Filter, lọc bằng </b>
macros có ưu điểm nhanh và gọn hơn khi áp dụng cho những bài toán lọc với số lượng
điều kiện kết hợp lớn. Tuy nhiên để thực hiện lọc bằng macros đòi hỏi người sử dụng phải
có kiến thực nhất định về lập trình trên máy tính để tạo được các macros thích hợp.
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>
[1] Những chuyên đề Excel - Nhóm nhiều tác giả
[2] Website
[3] Những giải pháp excel. Website
<b> </b>
<b> ThS. Nguyễn Thị Hạnh </b>
<b>GV. Bộ môn Cơ bản </b>
chỉ là một thủ tục.
<b>56 </b>
. N
thành tích ca .
<i><b>Khối lượng và thời gian khởi động </b></i>
Khối lượng, cường độ và thời gian khởi động phụ thuộc vào mỗi cá nhân: thể lực và
mức chịu đựng của người tập. Nói chung khởi động dài thì tốt hơn nhưng không phải bao
giờ cũng vậ
thấp hơn VĐV.
. Khi trời lạnh nên mặc áo ấm khởi động, khi
trời nóng khởi động trong bóng mát.
.
<i><b>Kết luận </b></i>
ộng, chuẩn bị cho thi đấu và tập chính. Đa số các nghiên cứu đều
cho rằng ảnh hưởng chính của khởi động liên quan tới nhiệt độ. Tăng nhiệt độ cơ thể sẽ
xảy ra:
- Tăng lượng máu đến cơ; tăng độ nhạy cảm của thần kinh cảm giác; tăng sự phân
tích oxy từ hemoglobin và myoglobin; tăng tốc độ dẫn truyền thần kinh; giảm tính nhão
của cơ; làm năng lượng tiêu hao cho hoạt động chuyển hóa giảm đi; làm giảm nguy cơ
chấn thương cơ xương.
Khối lượng, cường độ và thời gian khởi động khác nhau ở mỗi cá nhân tùy thuộc vào
đ . Một ảnh hưởng có lợi khác nữa của khởi động là
Những tài liệu thường được chuyển thành file PDF và thiết lập các chế độ chống sao
chép nên việc chuyển đổi nội dung từ file PDF sang file Word bằng thao tác thường dùng
là gặp nhiều khó khăn, phải nhờ tới các phần mềm chuyển đổi File PDF thành file Word.
<b>Hiện nay có rất nhiều phần mềm chuyển đổi như: PDF2Word v3.0; 1-2-3PDFConverter, </b>
<b>PDFtoWord Converter, FPDC, Able2Extract, Quick PDF To Word Converter. Mỗi </b>
phần mềm có những ưu điểm nhất định. Tuy nhiên, trong khi sử dụng thì cũng gặp một số
<b>Yêu cầu </b>
Máy tính có kết nối internet; Có địa chỉ Email; Biết nhận file đính kèm từ email.
<b>Các bƣớc thực hiện </b>
<i>Bước 1: </i>
<b>58 </b>
<i>Bước 2: </i>
- Tại mục Select PDF to convert; Kích chọn Browse / chọn file PDF cần chuyển đổi
- Tại mục Email file to word: Nhập địa chỉ Email (email này chương trình sẽ gửi file
word sau khi chuyển đổi)
- Tại mục Send news & special offers: Nếu chọn chương trình sẽ gửi cho chúng ta
những thơng tin đặc biệt (nên chọn).
<i>Bước 3: </i>
Kích chọn Convert to Word để thực hiện việc chuyển đổi
Giao diện khi thực hiện thành cơng (Hình 2)
Sau khi thực hiện 3 bước thì chương trình chuyển đổi PDF trực tuyến sẽ thực hiện
chuyển đổi cho chúng ta thành file word với font chữ là Times New Roman và sau thời
Cách thực hiện thật đơn giản mà hiệu quả. Chúc bạn đọc thực hiện thành cơng.
Hình 1
ách là sản phẩm tinh thần
đồng thời là sản phẩm vật
chất do lao động của con
người sáng tạo nên. Nhưng tình cảm của
mỗi người dành cho sách lại có sự khác
nhau. Tình cảm của Karl Marx dành cho
sách không chỉ dừng lại ở tình cảm đơn
thuần mà đã trở thành … tình yêu.
Là một người rất ham mê đọc sách,
khi đọc xong ông không cho ai xếp lại
chúng bởi vì cách sắp xếp của người khác
chỉ làm đảo lộn trật tự sách vở của ơng.
Nhìn bề ngồi, người ta tưởng rằng sách
vở của ông rất lộn xộn nhưng thực ra
chúng đều có chỗ nhất định và khi cần
Karl Marx coi sách là những vật
dụng tinh thần chứ không phải những đồ
trang trí. Vì vậy ơng không quan tâm
nhiều đến khuôn khổ, màu sắc hay hình
thức của sách. Ơng nói: “Sách là nơ lệ của
<i><b>“Bạn hãy học cách tôn trọng sách. </b></i>
<i><b>Bạn hãy nhớ rằng sách là do con </b></i>
<i><b>người tạo ra, vì vậy bạn tơn trọng </b></i>
<i><b>sách cũng chính là bạn tơn trọng con </b></i>
<i><b>người”. </b></i>
<b>60 </b>
tôi và chúng phải phục vụ tôi khi tơi cần
đến”. Ơng thường thích đến bên giá sách
rút lấy một cuốn bất kỳ, mở ra một trang
nào đó rồi quên hết mọi chuyện trên đời
để cắm cúi đọc. Sau đó ơng lại để sang kế
Ít ai biết được rằng, trong những giờ
phút hết sức đau khổ của cuộc đời mình
khi người vợ thân yêu của ông sắp qua
đời, ông đã viết một tác phẩm về “phép
tính các đại lượng vô cùng bé” mà ngay
cả các nhà chun mơn khó tính cũng phải
cơng nhận là một đóng góp lớn cho tốn
học. Chi tiết này có thể làm cho một số
người nghĩ rằng Mác không quan tâm đến
cuộc sống của gia đình, đến sinh mệnh
của vợ mình nhưng thực tế chính người
vợ của ơng đã thơi thúc ơng hình thành
những đứa con tinh thần cho nhân loại.
Ngoài việc say mê đọc sách, Mác
cịn có một sở thích khác, đó là “lục tìm
trong sách báo cũ” vì nó mang lại cho ông
những khám phá không ngờ. Trên những
trang sách ố vàng vì thời gian của những
quyển sách xấu xí, người ta đã tìm thấy
mới trong cuộc đời của các tác giả ở
những thời kỳ khác nhau, thấy được
những tác phẩm mà ta chưa từng biết đến
hay đã bị lãng quên vì những lí do khác
nhau.
Đọc sách, nghiên cứu, trao đổi, phê
bình nội dung trong sách là công việc
thường xuyên của Karl Marx. Cả cuộc đời
ông gắn liền với sách, nắm vững nhiều
ngoại ngữ, nghiên cứu nhiều nguyên bản
tác phẩm của các nhà bác học ở nhiều
nước, nhiều trường phái khác nhau. Nhờ
đó, ơng đã nắm chắc những kiến thức về
triết học, kinh tế học, lịch sử, khảo cổ
học…giúp cho ông am hiểu tường tận nền
văn minh nhân loại. Từ đó ơng rút ra kết
luận: khơng có gì làm cho người ta dễ
quen nhau và hiểu nhau hơn là việc trò
chuyện về những cuốn sách đã được đọc.
Qua thái độ của người đọc đối với tác
phẩm, qua cách hiểu của người đó mà
những người xung quanh có thể thấy được