Tải bản đầy đủ (.pdf) (80 trang)

Nghiên cứu động cơ tham gia hoạt động TDTT của sinh viên trường đại học kinh tế nghệ an

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (965.7 KB, 80 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN VĂN CHIẾN

NGHIÊN CỨU ĐỘNG CƠ THAM GIA HOẠT ĐỘNG
THỂ DỤC THỂ THAO CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KINH TẾ NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC THỂ CHẤT

Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Mã số:
60.14.61.03
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Mạnh Hùng

Nghệ An, 2017


i

Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Trường Đại học Vinh, phòng Đào tạo
sau đại học, Trường Đại học Kinh tế Nghệ An đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo, các nhà khoa
học đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong q trình học tập, nghiên
cứu và hồn thành khóa học.
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Mạnh Hùng đã dành nhiều
thời gian và tâm huyết chỉ bảo cho tác giả những kiến thức và kinh nghiệm quý
báu, giúp tơi tự tin trong q trình nghiên cứa để hồn thiện luận văn thạc sĩ này.


Tơi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh tế
Nghệ An, các cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên đã giúp đỡ tơi trong q
trình điều tra, khảo sát, thu thập các dữ liệu liên quan đến đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã
tận tình giúp đỡ trong q trình học tập, nghiên cứu và hồn thành khóa học.
Mặc dù trong q trình học tập và hồn thành luận văn tốt nghiệp, bản
thân đã rất nổ lực và cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn
chế, thiếu sót. Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa
học, các nhà giáo, bạn bè và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 8 năm 2017
Tác giả


ii

Mục lục
Lời cảm ơn.......................................................................................................... i
Mục lục .............................................................................................................. ii
Danh mục bảng biểu......................................................................................... iv
Bảng ký hiệu các chữ viết tắt ............................................................................ v
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ......................... 5
4. Những đóng góp mới của đề tài................................................................. 6
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 6
6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 6
7. Cấu trúc của luận văn................................................................................. 7
Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu .................................................. 9
1.1. Khái quát vấn đề nghiên cứu .................................................................. 9

1.2. Khái quát về động cơ học tập ............................................................... 15
1.2.1. Khái niệm về động cơ .................................................................... 15
1.2.2. Động cơ học tập.............................................................................. 20
1.2.3. Đặc điểm của động cơ học tập ....................................................... 24
1.2.4. Sự hình thành động cơ học tập ....................................................... 25
1.2.5. Vai trò của động cơ đối với hoạt động học tập của sinh viên ........ 26
1.2.6. Sự phát triển hiện đại của động cơ tham gia học tập ..................... 27
1.2.7. Các định nghĩa và sự đánh giá trong GDTC và hoạt động TT ...... 27
1.2.8. Các yếu tố quyết định đến động cơ bên trong, động cơ bên ngoài và
thiếu động cơ ............................................................................................ 32
1.2.9. Phương pháp thực nghiệm xác định động cơ ................................. 34
1.3. Đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên ...................................................... 35
1.3.1. Sự phát triển cơ thể......................................................................... 38
1.3.2. Những thay đổi về tâm lý ............................................................... 39
Chương 2 Thực trạng động cơ tham gia tập luyện TDTT của sinh viên
trường Đại học Kinh tế Nghệ An .................................................................... 43


iii

2.1. Sơ lược về trường Đại học Kinh tế Nghệ An ....................................... 43
2.2. Điều tra động cơ tham gia tập luyện TDTT của sinh viên ................... 45
2.3. Điều tra thái độ của sinh viên đối với giờ học thể dục nội khóa .......... 50
2.4. Điều tra nguyên nhân làm hạn chế tính tích cực học thể dục của SV .. 54
Chương 3 Các giải pháp bồi dưỡng và kích thích động cơ tham gia tập luyện
TDTT của sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An................................... 57
3.1. Tuyên truyền, giáo dục ý thức tham gia tập luyện TDTT trong SV .... 57
3.2. Giảng viên cần quan tâm phát hiện động cơ tham gia hoạt động TDTT
của sinh viên để có hướng giáo dục phù hợp .............................................. 58
3.3. Đảm bảo tính mới trong nội dung và hình thức giảng dạy ................... 59

3.4. Không ngừng nâng cao mục tiêu và yêu cầu đối với sinh viên ............ 61
3.5. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc dạy học nhằm kích
thích hứng thú học tập của sinh viên ........................................................... 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 63
Kết luận ........................................................................................................ 63
Kiến nghị...................................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 66
Phụ lục ............................................................................................................. 70


iv

Danh mục bảng biểu
Bảng 1. 1. Các mục trọng thang độ đánh giá động cơ trong thể thao ............. 31
Bảng 2. 1. Kết quả điều tra tương quan giữa sinh viên các năm .................... 45
Bảng 2. 2. Kết quả điều tra thời gian SV chủ động tập luyện ngoại khóa ...... 45
Bảng 2. 3. Thời gian tập luyện TDTT trong một tuần của SV trong trường .. 46
Bảng 2. 4. Kết quả điều tra hứng thú học tập môn GDTC của sinh viên ....... 46
Bảng 2. 5. Kết quả điều tra động cơ tham gia tập luyện TDTT của SV ......... 49
Bảng 2. 6. Thái độ của sinh viên khi lên lớp giờ thể dục nội khóa ............... 51
Bảng 2. 7. Kết quả điều tra nguyên nhân thái độ không nghiêm túc trong giờ
học TD của SV ................................................................................................ 51
Bảng 2. 8. Kết quả điều tra nguyên nhân thái độ nghiêm túc của sinh trong giờ
học GDTC của SV........................................................................................... 52
Bảng 2. 9. Kết quả điều tra mong muốn của SV về PPGD của GV ............... 53
Bảng 2. 10. Kết quả điều tra nguyên nhân làm hạn chế tích cực học tập thể
dục của SV....................................................................................................... 55
Bảng 2. 11. Kết quả điều tra ảnh hưởng của tập luyện TDTT ngoại khoá tới
kết quả học tập nội khóa của SV ..................................................................... 56



v

Bảng ký hiệu các chữ viết tắt

QMF

Question of Motivation Formation

GDTC

Giáo dục thể chất

TDTT

Thể dục thể thao

SV

Sinh viên

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

GD-ĐT

Giáo dục – Đào tạo

TW


Trung ương

ĐCHT

Động cơ học tập


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục thể chất (GDTC) trong trường học là một mặt giáo dục quan
trọng không thể thiếu được trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần
thực hiện mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”
cho đất nước, để cho mỗi công dân, nhất là thế hệ trẻ có điều kiện “Phát triển
cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về
đạo đức” [26]. Đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, mà trong đó yếu tố sức khoẻ là quan trọng nhất.
GDTC học đường thực sự có vị trí quan trọng trong việc đào tạo thế hệ
trẻ phát triển tồn diện, hồn thiện về nhân cách, trí tuệ và thể chất để phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ vững và tăng cường an
ninh, quốc phòng. Muốn phát triển được phong trào thể dục thể thao của đất
nước không thể coi nhẹ vai trò của giáo dục thể chất trong trường học.
GDTC góp phần cùng với thể thao thành tích cao, đảm bảo cho nền thể
dục thể thao nước ta phát triển cân đối và đồng bộ, nhằm thực hiện mục tiêu
chiến lược củng cố, xây dựng và phát triển thể dục thể thao Việt Nam từ nay
đến năm 2025, đưa nền thể dục thể thao nước ta hoà nhập và đua tranh với
các nước trong khu vực và trên thế giới.

Quán triệt Nghị quyết Trung ương IV khoá VII, Nghị quyết Trung
ương II khoá VIII, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần
thứ X, đặc biệt là mục tiêu giáo dục toàn diện trong nhà trường, Bộ Giáo dục Đào tạo đang triển khai cải tiến nội dung, chương trình các mơn học, cân đối
đội ngũ giáo viên với yêu cầu đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, phù
hợp với xu hướng phát triển chung của ngành Giáo dục - Đào tạo. Trong đó


2

yêu cầu về việc đào tạo các cán bộ thể dục thể thao nhiều hơn nữa cả về số
lượng lẫn chất lượng để kịp cung cấp cho những vùng còn thiếu cán bộ thể
dục thể thao là mục tiêu quan trọng cần đặt ra cho ngành Giáo dục và Đào tạo
Ngày nay sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại đã đặt ra những
yêu cầu rất lớn về nguồn nhân lực. Con người hiện đại xã hội cần khơng chỉ là
người có tri thức, có trình độ khoa học, tay nghề cao, mà cịn phải có sức khỏe,
thể lực tốt. Chính vì vậy, việc chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng nói chung và
giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên nói riêng là vấn đề cấp bách đang
được đặt ra trong giai đoạn hiện nay.
Đảng và nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến sức khoẻ của nhân dân,
đặc biệt là của học sinh, sinh viên trong các trường học. Sau khi Cách mạng
tháng 8 thành cơng, trong lời kêu gọi tồn dân tập thể dục, Bác Hồ đã viết:
“Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới việc gì cũng cần có
sức khoẻ mới thành cơng” [13]. Năm 1954 sau ngày hồ bình lập lại, đặc biệt
là sau khi đất nước thống nhất năm 1975, cả nước ta đã hình thành một phong
trào tập luyện TDTT rộng rãi, với sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân,
trong đó có học sinh, sinh viên. Phong trào này diễn ra liên tục trong nhiều
năm qua và nó đã góp phần to lớn vào sự nghiệp củng cố, nâng cao sức khoẻ
phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN. Ở các
trường học, từ bậc mẫu giáo, phổ thông đến bậc đại học, Bộ Giáo dục và đào
tạo đã quy định một chương trình GDTC bắt buộc, nhằm đào tạo con người

mới - con người XHCN, phát triển toàn diện về các mặt đức, trí, thể, mỹ. Tuy
nhiên, sau nhiều năm chiến tranh liên tục, do điều kiện kinh tế cịn gặp nhiều
khó khăn, nên cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, chưa được thoả mãn nhu
cầu tập luyện TDTT. GDTC và thể thao học đường có vị trí quan trọng trong
việc thực hiện mục tiêu nói trên nhằm góp phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển
tồn diện, hồn thiện về nhân cách, trí tuệ và thể chất để phục vụ sự nghiệp


3

cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ vững và tăng cường bảo vệ an
ninh, quốc phòng. Nhưng trong thực tế, để đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giáo
dục đào tạo trong nhà trường các cấp thì cơng tác GDTC và thể thao học
đường còn nhiều mặt yếu kém. Để từng bước nâng cao và đẩy mạnh công tác
GDTC theo tinh thần các Chỉ thị 36/CT-TW ngày 24/3/1994 [2] và Nghị
quyết TW2 khóa VIII [14], Chỉ thị 133/TTg ngày 14/3/1995 [3], số 274/TTg
ngày 27/4/1996 và hướng dẫn số 17/CV-VPTC của Tổng cục TDTT, Bộ
GD&ĐT đã tổng kết và đánh giá, rút kinh nghiệm những cố gắng, thành tích
đã đạt được và chỉ ra những tồn tại thiếu sót trong công tác GDTC và thể thao
học đường. Ngành Giáo dục cũng đã quan tâm, có nhiều chủ trương, chỉ thị
đến công tác GDTC trong trường học và các hoạt động TDTT. Quan tâm đến
việc nâng cao đời sống tinh thần như: thành lập Hội thể thao Đại học và
Chuyên nghiệp hàng năm tổ chức các giải TDTT cho cán bộ, giảng viên và
HSSV như: Giải bóng bàn, cầu lơng... người giáo viên nhân dân, giải thể thao
học HSSV, Hội khoẻ Phù Đổng...
Ở hầu hết các trường đại học còn nhiều khó khăn về kinh phí, cơ sở
vật chất, chưa thoả mãn nhu cầu tập luyện của sinh viên. Hơn nữa, ở các
trường đại học trong cả nước nói chung, trường Đại học Kinh tế Nghệ An nói
riêng, chương trình GDTC chỉ mới tập trung trong hai năm đầu, và được chia
làm 3 phần. Giáo dục thể chất 1, 2 và 3 bao gồm những nội dung chính của

mơn điền kinh, thể dục và một số môn thể thao tự chọn.
Thời gian cịn lại của hai năm cuối sinh viên khơng bị những điều kiện
ràng buộc nên hầu hết sinh viên ít hoặc khơng tham gia luyện tập TDTT. Điều
đó, buộc các nhà sư phạm trong lĩnh vực GDTC phải tìm ra những biện pháp
khắc phục, với mục đích duy trì trạng thái thể lực, sức khoẻ cho sinh viên
trong suốt quá trình học, để sau khi tốt nghiệp, sinh viên có sự chuẩn bị đầy
đủ về sức khoẻ và kiến thức, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo


4

vệ tổ quốc Việt Nam XHCN. Ngày nay, công cuộc đổi mới trên đất nước ta
đang diễn ra với tốc độ nhanh và mạnh mẽ, sự nghiệp cơng nghiệp hố hiện
đại hóa đất nước địi hỏi đội ngũ thanh niên khơng chỉ có tri thức khoa học
vững vàng, có đạo đức trong sáng, mà cịn cần có sức khỏe tốt.
Giá trị lớn nhất của mỗi con người là sức khỏe và trí tuệ, có sức khỏe
tốt sẽ tạo điều kiện cho trí tuệ phát triển được tốt hơn và ngược lại. TDTT
giúp học sinh sinh viên có được sức khỏe tốt, từ đó, có thể học tập tốt và tham
gia các hoạt động ở nhà trường đạt hiệu quả cao hơn. TDTT góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục giúp các em trở thành con người có ích cho xã hội.
Khi tham gia các hoạt động TDTT đòi hỏi học sinh phải có tính kỷ luật cao,
tinh thần và trách nhiệm trước tập thể, tác phong nhanh nhẹn, sự cố gắng, tính
thật thà, trung thực.... Chính vì vậy, TDTT góp phần giáo dục đạo đức và hình
thành nhân cách học sinh. Tập luyện TDTT thường xuyên có kế hoạch giúp
các em có một nếp sống lành mạnh vui tươi, học tập và làm việc khoa học.
Trong những năm gần đây, việc tham gia tập luyện TDTT của sinh viên
nhìn chung vẫn cịn nhiều hạn chế, khơng ít em sợ mơn học Giáo dục Thể
chất, coi đây là một việc mệt nhọc, nên các em sinh viên ít có hứng thú với
mơn học này. Ngun nhân chính do các em khơng có hứng thú đối với mơn
học, từ đó dẫn đến thiếu tính tự giác, tích cực trong việc học tập và tự rèn

luyện của bản thân.
Động cơ học tập giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng
cao hiệu quả của các quá trình học tập, nhờ vậy mà trong q trình học tập
sinh viên có thể giảm mệt mỏi, căng thẳng, tăng sự chú ý, thúc đẩy tính tích
cực tìm tịi, sáng tạo. Việc hình thành động cơ học tập cho sinh viên, đặc biệt
là trong học tập mơn GDTC sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, góp
phần tăng thêm lịng u thích, cũng như trách nhiệm của sinh viên đối với
việc rèn luyện sức khỏe của bản thân.


5

Qua quá trình tìm hiểu và thực tế lý luận cho thấy: Muốn nâng cao thành
tích thể thao (để phục vụ chính khóa) và nâng cao sức khỏe thì động cơ tập
luyện là điểm mấu chốt quyết định đến hứng thú và hiệu quả tập luyện TDTT
của sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An.
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu động cơ tham gia hoạt động TDTT của sinh viên
trường Đại học Kinh tế Nghệ An”
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng động cơ tham gia tập luyện TDTT của
sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An. Từ đó đề xuất giải pháp tăng
cường và kích thích động cơ tập luyện TDTT đúng đắn cho sinh viên. Góp
phần nâng cao hiệu quả GDTC nói riêng và giáo dục đào tạo nói chung.
3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu động cơ tham gia hoạt động TDTT của sinh viên trường
Đại học Kinh tế Nghệ An.
3.1.2. Khách thể nghiên cứu
150 sinh viên thuộc trường Đại học Kinh tế Nghệ An.

3.1.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu trên 150 sinh viên thuộc các lớp khác nhau
trường Đại học Kinh tế Nghệ An.
Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ tháng 11/2015 đến
tháng 18/2017.


6

Trang thiết bị phục vụ qua trình nghiên cứu: Đồng hồ, cịi, trang phục
thể thao, giấy bút, máy tính….
Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại học Vinh và trường Đại học Kinh tế
Nghệ An
4. Những đóng góp mới của đề tài
Đề tài đã đánh giá được thực trạng động cơ tham gia hoạt động TDTT
của sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An; đề xuất một số giải pháp kích
thích động cơ tập luyện TDTT của sinh viên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ 1: Thực trạng động cơ tham gia hoạt động TDTT của sinh viên
trường Đại học Kinh tế Nghệ An.
Nhiệm vụ 2: Giải pháp bồi dưỡng và kích thích động cơ tham gia hoạt động
TDTT của sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Đề tài sử dụng phương pháp này trong quá trình tham khảo các tài liệu
chung và chuyên môn liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Kết quả của phương
pháp này là hình thành những cơ sở lý luận quan trọng về giải pháp bồi dưỡng
và kích thích động cơ tham gia tập luyện TDTT của sinh viên trường Đại học
Kinh tế Nghệ An. Các tài liệu liên quan đến đề tài: Các văn bản, Nghị quyết
của Đảng và Nhà nước về công tác TDTT, về vấn đề GDTC trong trường học;

Những cơng trình nghiên cứu về động cơ học tập nói chung và động cơ tập
luyện TDTT nói riêng; Các sách chuyên ngành về TDTT, Tâm - Sinh lý thanh
thiếu niên; Những nghiên cứu khoa học về tập luyện TDTT của thanh thiếu
niên.


7

6.1.2. Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm
Đối tượng chúng tôi phỏng vấn là sinh viên các lớp khác nhau
Trường… Đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi và
phỏng vấn trực tiếp nhằm thu thập các thông tin cần thiết cho vấn đề nghiên
cứu. Nội dung phỏng vấn gồm các câu hỏi chính, có hướng dẫn trả lời một
cách cụ thể, đơn giản, dễ hiểu.
Về phương pháp phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi chúng tôi đã phát
ra tổng cộng 180 phiếu tới 3 khóa khác nhau và thu về đủ 180 phiếu. Trong
đó số phiếu đạt yêu cầu là 150 phiếu và đạt tỉ lệ là 83%.
6.1.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Tổ chức quan sát sư phạm ngay tại trường trong giờ học chính khố
thơng qua phương pháp quan sát sư phạm để đánh giá tính tự đánh giá tích
cực hăng hái, hay thờ ơ… của sinh viên các trường. Kết quả của phương pháp
này được coi là những cơ sở thực tiễn để đề xuất, lựa chọn, nghiên cứu các
biện pháp hợp lý và cần thiết.
6.1.4. Phương pháp tốn học thơng kê
Số liệu được phân tích, trình bày theo bảng tần số, tỷ lệ, trung bình
thơng qua phần mềm Excel và được biểu diễn bằng bảng biểu. Kết quả tính
tốn của các tham số đặc trưng trên được trình bày ở phần kết quả nghiên cứu
của đề tài.
Nhằm xử lý, kiểm tra số liệu từ việc điều tra thực trạng để xác định độ
tin cậy của các số liệu làm cơ sở nhận xét, đánh giá, kết luận về thực trạng.

7. Cấu trúc của luận văn
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan vấn để nghiên cứu


8

Chương 2: Thực trạng động cơ tham gia hoạt động TDTT của sinh viên
trường Đại học Kinh tế Nghệ An.
Chương 3: Giải pháp bồi dưỡng và kích thích động cơ tham gia hoạt động
TDTT của sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo


9

Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1. Khái quát vấn đề nghiên cứu
Trong tâm lý học vấn đề bản chất động cơ còn nhiều quan điểm khác
nhau, nhưng theo Tâm lý học Macxit, động cơ là sự phản ánh tâm lý về đối
tượng có khả năng thoả mãn nhu cầu của chủ thể. Nhu cầu bao giờ cũng
nhằm vào một đối tượng nhất định. Nó hối thúc con người hành động nhằm
đáp ứng thoả mãn và chỉ khi gặp được đối tượng có khả năng thoả mãn thì nó
mới có thể trở thành động cơ thúc đẩy, định hướng hoạt động của chủ thể,
thôi thúc con người hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu [7].
Như vậy, ở đây có mối quan hệ giữa động cơ và nhu cầu. Trong tâm lý
học, hai hiện tượng này luôn được nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, nhiều khi đan xen nhau khó tách rời. Có thể nói rằng, nếu nhìn nhận
nhu cầu như là một tất yếu khách quan thể hiện sự đòi hỏi của chủ thể về

những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển thì động cơ là biểu hiện
chủ quan của tất yếu khách quan đó [24]. Tuy nhiên, động cơ và nhu cầu
không đồng nhất với nhau, những nhu cầu giống nhau có thể được thoả mãn
bằng những động cơ khác nhau. Và ngược lại ở đằng sau những động cơ khác
nhau lại có những nhu cầu khác nhau. Mối quan hệ không đồng nhất giữa
động cơ và nhu cầu nhờ tính chất đa dạng, đa phương thức trong động cơ, và
cách thức thoả mãn nhu cầu trong hành động của con người. Có thể nói: động
cơ của hoạt động có thể thấy đó chính là đối tượng của hoạt động ấy. Xét về
phương diện phát sinh thì đối với hoạt động của con người, sự không trùng
khớp giữa các động cơ và mục tiêu là hiện tượng khởi điểm. Trái lại, sự trùng
khớp động cơ và mục tiêu lại là hiện tượng có sau: hoặc đó là kết quả của việc
mục tiêu có một động lực thúc đẩy độc lập, hoặc đó là kết qủa của sự ý thức
về các động cơ làm cho chúng trở thành những động cơ – mục tiêu. Khác với
mục tiêu, các động cơ thường khơng được chủ thể ý thức về nó ngay lúc đó,


10

khi chúng ta thực hiện những hành động này hay hành động khác thì thường
lúc đó chúng ta khơng ý thức về những động cơ đã thúc đẩy chúng ta. Khi
được hỏi về dun cớ của hành động đó thì chúng ta khơng khó khăn gì khi
nêu ra nó, nhưng việc nêu dun cớ này hồn tồn khơng phải bao giờ cũng
chỉ rõ cho người ta biết những động cơ thực sự đã thôi thúc các hành động ấy
[18].
Tuy nhiên, những động cơ này cũng không tách rời khỏi ý thức, ngay
cả khi con người không ý thức được động cơ hành động của mình thì ngay
những lúc như vậy, động cơ cũng được phản ánh vào tâm lý nhưng ở dưới
một hình thức đặc biệt: hình thức sắc thái cảm xúc của hành động. Sắc thái
cảm xúc này (cường độ, dấu hiệu của nó và đặc tính về chất của nó) thực hiện
một chức năng đặc biệt và điều đó địi hỏi phải phân biệt khái niệm cảm xúc

với khái niệm hàm ý nhân cách. Tuy thế không phải ngay từ đầu đã có sự
khơng trùng khớp của hai khái niệm này mà sự không trùng khớp chỉ xuất
hiện khi do kết qủa phân đôi chức năng của động cơ nảy sinh trong tiến trình
phát triển của hoạt động con người. Còn việc những động cơ mà lúc bấy giờ
khơng được ý thức, hồn tồn khơng chứng tỏ rằng động cơ là một bản
nguyên đặc biệt, lẩn khuất trong những tầng sâu của tâm lý. Những động cơ
không được ý thức cũng chịu sự quy định như bất cứ một sự phản ánh tâm lý
nào khác, chịu sự quy định của của tồn tại thực tế, của hoạt động con người
trong thế giới khách quan [27]. Và các động cơ chỉ lộ ra trước ý thức một
cách khách quan bằng cách phân tích hoạt động của con người, cịn trong chủ
quan thì những động cơ chỉ thể hiện dưới dạng gián tiếp của nó mà thơi tức là
dưới dạng hình thức những trải nghiệm như mong muốn, ý muốn, nguyện
vọng đạt tới mục tiêu…Sự ý thức được động cơ là một hiện tượng có sau, chỉ
nảy sinh ở mức độ nhân cách và thường xuyên được tái tạo lại trong tiến trình
phát triển nhân cách.


11

Các động cơ đặc trưng của con người mang tính lịch sử- xã hội. Động cơ
của con người nảy sinh ngay trong chính q trình phát triển của cá thể, chứ
khơng phải có sẵn từ lúc đứa trẻ mới sinh ra. Trong tuổi ấu nhi, các động cơ
mới được hình thành một cách có thứ bậc, nhưng hết sức mờ nhạt, khơng rõ
ràng. Dần dần, trong q trình phát triển, những động cơ này mới dần mang
tính chất xã hội nhiều hơn, do những động cơ đó gắn liền với việc trẻ lĩnh hội
được những chuẩn mực, quy tắc hành vi trong xã hội. Phần lớn các nhà tâm lý
học đều thừa nhận rằng, hệ thống động cơ của con người được hình thành trên
cơ sở hoạt động, giao tíêp của con người trong hệ thống các quan hệ xã hội,
nhóm xã hội nhất định. Nhưng trong hồn cảnh buộc con người phải lực chọn
động cơ nào cho phù hợp với việc tiến hành hành động, khi đó có quá trình

đấu tranh động cơ, hành động ý chí, khả năng nhận thức sẽ giúp con người
đối chiếu, so sánh động cơ để chọn ra đâu là động cơ phù hợp với điều kiện,
hoàn cảnh xung quanh, giúp chủ thể lường trước diễn biến và kết quả hành
động. Tuy nhiên, để làm rõ cơ chế hình thành động cơ lại chưa được nhiều
nhà nghiên cứu một cách sâu sắc. Mặt khác, đối tượng thoả mãn của con
người là những sản phẩm của quá trình sản xuất xã hội, với tư cách là những
phản ánh tâm lý về đối tượng đó nên động cơ đặc trưng của con người mang
nguồn gốc xã hội. Ngay cả một số động cơ mang tính chất sinh vật như động
cơ đáp ứng nhu cầu tồn tại của con người, các nhu cầu bản năng của con
người cũng mang tính xã hội, nó phụ thuộc vào điều kiện sống, lối sống, đặc
trưng cho mỗi dân tộc [25].
Động cơ là một hiện tượng tâm lý đặc biệt và hết sức phức tạp, tuy nhiên
từ trước tới nay có khá nhiều nhà tâm lý học trong và ngoài nước quan tâm
nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau.
Những vấn đề lý luận và phương pháp luận của tâm lý học đã khẳng định
vị trí đặc biệt quan trọng của động cơ trong nhân cách cũng như tính chất


12

phức tạp của quá trình hình thành động cơ. Theo tác giả, động cơ của con
người hình thành khơng chỉ phụ thuộc vào mối quan hệ trực tiếp giữa con
người với nhau mà cịn hình thành dưới tác động sâu sắc của đời sống tư
tưởng xã hội: hệ tư tưởng, đạo đức, pháp luật…[17].
Theo Lêônchiép cho rằng động cơ là thành phần tất yếu trong cấu trúc
của hoạt động, có tác dụng kích thích, thúc đẩy hoạt động. Tác giả cho rằng
khơng có hoạt động nào khơng có động cơ, hoạt động khơng có động cơ
khơng phải là hoạt động thiếu động cơ, mà là hoạt động với một động cơ ẩn
dấu về mặt chủ quan và về mặt khách quan [11]. Tác giả cũng đã cơng bố
cơng trình “Sự phát triển động cơ học của học sinh” và sau đó là nhiều bài

viết khác định hướng cho các nhà tâm lý học Xô Viết tiếp tục nghiên cứu về
ĐCHT. Tuy nhiên, ơng chưa thực nghiệm tác động hình thành ĐCHT cho học
sinh .
Fox và đồng nghiệp đã nghiên cứu trên đối tượng là học sinh lớp 6 và 7
đã phát hiện tri giác về năng lực gánh vác có thể ảnh hưởng đến toàn bộ
phương hướng mục tiêu và thúc đẩy hiệu quả học tập [33]. Để nâng cao động
cơ học tập của học sinh, giáo viên cần cho học sinh tham gia xác lập kế hoạch,
nội dung giảng dạy và học tập. Giúp học sinh có được lần đầu kinh nghiệm
của sự thành cơng và có thưởng cho lần thành cơng đó. Hơn nữa, có thẻ nâng
cao hiệu quả động cơ học tập của học sinh bằng cách cho học sinh tự lập lịch
trình học tập, giáo viên chỉ đóng vai trị hướng dẫn, chỉnh sửa và đánh giá kết
quả cuối cùng. Vallerand và Losier (1999) cho rằng hợp tác học tập khơng
những làm cho học sinh có thể giúp đỡ lẫn nhau mà cịn có thể nâng cao động
cơ học tập [38].
Với kết quả nghiên cứu về phân tích động cơ tập luyện TDTT của sinh
viên các trường đại học, chúng ta thấy rằng đa số sinh viên có động cơ tập
luyện tương đối đúng đắn, đều là nâng cao sức khỏe và thể lực, làm đẹp cơ


13

thể, thư giãn đầu óc, nâng cao hiệu quả học tập. Bên cạnh đó cũng có khơng ít
sinh viên có động cơ chưa đúng đắn như: vì ứng phó với thầy giáo, vì thành
tích mơn thể dục [4].
Bên cạnh đó, Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: Nhu cầu, hứng thú, lý tưởng,
thế giới quan, niềm tin là các thành phần trong hệ thống động cơ của nhân
cách, chúng là động lực của hành vi, của hoạt động [24].
Phạm Minh Hạc đã nhận định về động cơ của học sinh thiếu niên: Động
cơ tốt quy định phương hướng và giá trị nhân cách có ở học sinh đạo đức tốt
và ngược lại học sinh có biểu hiện suy thối nhân cách thường có động cơ xấu,

tiêu cực,... Tác giả cho rằng, muốn rèn luyện nhân cách tốt cho học sinh phải
hình thành và phát triển động cơ đúng đắn. Động cơ đó mang tính chất xã hội
như: khơng vụ lợi, biết vì người khác…[8].
Một số tác giả đã cho rằng ĐCHT của học sinh được hiện thân ở đối
tượng của hoạt động học, tức là tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, giá trị,
chuẩn mực…mà giáo dục sẽ đưa lại cho họ. Có 2 loại ĐCHT: Động cơ hồn
thiện tri thức và động cơ quan hệ xã hội [9]. Nghiên cứu về động cơ học tập
của sinh viên trường đại học KHXH&NV, Nguyễn Hồi Loan đã chia ĐCHT
thành 4 loại: động cơ nhận thức khoa học, động cơ xã hội, động cơ cá nhân,
động cơ nghề nghiệp. Tác giả nhấn mạnh đến nội dung các môn học chuyên
ngành hấp dẫn và kết quả học tập là yếu tố thúc đẩy sinh viên tích cực say mê,
tìm tịi, khám phá [12]. Cơng trình nghiên cứu của Phạm Thị Đức (1994) đã
phân chia 3 nhóm học sinh theo hứng thú: Hứng thú thường xun, hứng thú
khơng liên tục và khơng có hứng thú. Động cơ nhận thức bước đầu hình thành
với mức độ thấp và hứng thú đối với phương pháp khám phá tri thức đôi khi
mới xuất hiện ở học sinh [5].
Công trình nghiên cứu của Trịnh Quốc Thái chỉ ra rằng động cơ nhận
thức, động cơ xã hội và động cơ phức hợp được hình thành từ những yếu tố


14

tác động có tính nhận thức và tính xã hội được kết tinh, ẩn tàng ở giáo viên
ảnh hưởng khác nhau đến mỗi học sinh…Động cơ phụ thuộc vào phương
pháp nhà trường [20]. Hoạt động học tập của học sinh lớp được thúc đẩy bởi
một hệ thống động cơ có nội dung phong phú và đa dạng, các động cơ được
sắp xếp theo thứ bậc nhất định. Động cơ nổi trội nhất ở các em là học để cha
mẹ vui lòng, tiếp đến là học để lên lớp, học để ln đạt điểm tốt [23].
Động cơ mang tính nhận thức đã xuất hiện ở phần lớn học sinh với mức
độ tương đối cao, sự định hướng tới việc chiếm lĩnh các phương pháp khái

quát của hoạt động học tập chỉ mới bắt đầu xuất hiện ở một số ít học sinh.
Động cơ xã hội chỉ xuất hiện ở một số ít học sinh nhất là mức độ tập thể, hợp
tác trong hoạt động cùng nhau và động cơ của nhiều em lại hướng tới dành vị
trí, lợi ích cá nhân, nên động cơ hẹp và âm tính hình thành sớm, hạn chế sự
hoàn thiện nhân cách của các em [5].
Động cơ là cái thúc đẩy con người hoạt động đạt mục đích nhất định.
ĐCHT là những hiện tượng, sự vật trở thành cái kích thích sinh viên đạt kết
quả nhận thức và hình thành phát triển nhân cách [19]. Cơng trình nghiên cứu
của Dương Thị Kim Oanh về Nghiên cứu động cơ học tập của sinh viên khoa
sư phạm kỹ thuật trường ĐHBK Hà Nội kết luận rằng có sự khác biệt trong hệ
thống ĐCHT của sinh viên có kết quả học tập khác nhau. Sinh viên có kết quả
học tập khá thì động cơ nhận thức chiếm ưu thế hơn động cơ quan hệ xã hội
và ngược lại sinh viên có kết quả học tập trung bình, yếu thì động cơ quan hệ
xã hội chiếm ưu thế hơn. Do đó, trong giáo dục và dạy học cần có sự định
hướng đầy đủ về nghề nghiệp tương lai để giúp sinh viên hình thành động cơ
nhận thức. Đồng thời, phải giúp đỡ sinh viên có kết quả học tập trung bình và
yếu ý thức mục đích học tập, qua đó góp phần hình thành động cơ nhận thức
ở các em [15]. Động cơ học tập của sinh viên là cái kích thích sinh viên học
tập nhằm lĩnh hội tri thức, hình thành tay nghề chun mơn và thể hiện quan


15

hệ, thái độ của mình với xã hội, với mọi người và với bản thân. Có 2 nhóm
động cơ: Những động cơ về công việc và những động cơ về quan hệ. Trong
đó, sinh viên học tập phần lớn nghiêng về động cơ công việc, học để nắm
vững tri thức chun mơn là động cơ chiếm ưu thế, nó có vai trò thúc đẩy việc
học tập và phát triển nhận thức của sinh viên [10]. Cũng bàn về động cơ học
tập của sinh viên, có tác giả cho rằng khơng có sự khác nhau về ĐCHT và
biểu hiện của chúng giữa các nhóm khách thể sinh viên, trong q trình học

tập cả ý thức lẫn độ hiệu lực của ĐCHT ở sinh viên sư phạm biến đổi chưa
nhiều, động cơ lĩnh hội phương pháp học tập và động cơ nghề vẫn chưa phát
triển cao [21].
Như vậy, động cơ tham gia hoạt động của sinh viên rất đa dạng, đại bộ
phận xuất phát từ nhận thức rõ ràng, tích cực, động cơ là vì sức khỏe. Nhưng
cũng có một bộ phận không nhỏ đặc biệt là nữ sinh động cơ tham gia hoạt
động TDTT ngoại khóa là vì thành tích mơn thể dục, cho nên nhà trường và
khoa TDTT cần nghiên cứu, cải cách tiêu chuẩn kiểm tra và đánh giá phù hợp
với sinh viên để từ đó sinh viên xác định động cơ đúng đắn hơn trong việc
tham gia TDTT ngoại khóa.
1.2. Khái quát về động cơ học tập
1.2.1. Khái niệm về động cơ
Từ điển Tiếng Việt đưa ra định nghĩa: “Động cơ là những gì thơi thúc
con người có những ứng xử nhất định một cách vô thức hay hữu ý và thường
gắn liền với những nhu cầu” [16]. Từ điển trực tuyến Wikipedia định nghĩa:
“Động cơ là một chuỗi các lý do khiến chủ thể quyết định tham gia một hành
vi cụ thể”.
Ý tưởng nghiên cứu động cơ hoạt động của con người đã tồn tại rất lâu
trong lịch sử tâm lý học. Bằng các cách tiếp cận và nghiên cứu khác nhau, các


16

nhà tâm lý học đã tìm cách lý giải tại sao con người có thể thực hiện được
hành vi nào đó, tại sao hoạt động của anh ta có thể kéo dài trong một thời gian
nhất định hoặc ngưng lại đúng lúc … Tuy nhiên trong tâm lý học có nhiều
cách lý giải khác nhau về động cơ.
Theo thuyết phân tâm học: Động lực thúc đẩy hoạt động của con người
là vô thức. Nguồn gốc vô thức là những bản năng nguyên thủy mang tính sinh
vật và nhấn mạnh vai trị của các xung năng tính dục.

Theo thuyết hành vi: đưa ra mơ hình "kính thích - phản ứng", coi kích
thích là nguồn gốc tạo ra phản ứng - là động cơ.
Theo thuyết tâm lý hoạt động: những đối tượng nào được phản ánh vào
óc ta mà có tác dụng thúc đẩy hoạt động, xác định phương hướng hoạt động
để thỏa mãn nhu cầu nhất định thì được gọi là động cơ hoạt động.
Một hoạt động của con người có thể chịu sự chi phối của nhiều động cơ
khác nhau, trong đó có những động cơ chủ đạo và những động cơ thứ yếu.
Những động cơ này nằm trong những mối quan hệ chặt chẽ với nhau
trong một hoàn cảnh hoạt động cụ thể tạo thành một hệ thống gọi là hệ thống
động cơ. Động cơ có thể được phân thành nhiều nhóm theo các tiêu chí khác
nhau là phân theo nhu cầu, phân ra động cơ tự nhiên và động cơ cao cấp, phân
chia theo chức năng: động cơ tạo ý, động cơ kích thích [31].
Trong tâm lý học vấn đề bản chất động cơ còn nhiều quan điểm khác
nhau, nhưng theo Tâm lý học Macxit, động cơ là sự phản ánh tâm lý về đối
tượng có khả năng thoả mãn nhu cầu của chủ thể. Nhu cầu bao giờ cũng nhằm
vào một đối tượng nhất định. Nó hối thúc con người hành động nhằm đáp ứng
thoả mãn và chỉ khi gặp được đối tượng có khả năng thoả mãn thì nó mới có
thể trở thành động cơ thúc đẩy, định hướng hoạt động của chủ thể, thôi thúc
con người hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu. Như vậy, ở đây có mối quan hệ


17

giữa động cơ và nhu cầu. Trong tâm lý học, hai hiện tượng này luôn được
nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhiều khi đan xen nhau khó
tách rời. Có thể nói rằng, nếu nhìn nhận nhu cầu như là một tất yếu khách
quan thể hiện sự đòi hỏi của chủ thể về những điều kiện cần thiết cho sự tồn
tại và phát triển thì động cơ là biểu hiện chủ quan của tất yếu khách quan đó.
Tuy nhiên, động cơ và nhu cầu khơng đồng nhất với nhau, những nhu cầu
giống nhau có thể được thoả mãn bằng những động cơ khác nhau. Và ngược

lại ở đằng sau những động cơ khác nhau lại có những nhu cầu khác nhau. Mối
quan hệ không đồng nhất giữa động cơ và nhu cầu nhờ tính chất đa dạng, đa
phương thức trong động cơ, và cách thức thoả mãn nhu cầu trong hành động
của con người. Có thể nói: động cơ của hoạt động có thể thấy đó chính là đối
tượng của hoạt động ấy
Đề tài này chủ yếu đi theo hướng của tâm lý hoạt động nên việc đi tìm
động cơ sẽ liên quan đến nhu cầu, hứng thú, hoạt động … Vì vậy cần tìm hiểu
thêm các khái niệm này.
Nhu cầu: là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thầy cần phải thỏa mãn
trong những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển..
Có thể phân thành 2 loại nhu cầu:
Nhu cầu vật chất: giúp cho sự tồn tại và phát triển về mặt sinh học, đó
là nhu cầu ăn, uống, ngủ …
Nhu cầu tinh thần: Bao gồm những nhu cầu về các hoạt động trên lĩnh
vực nhận thức, học tập, giao lưu …
Hứng thú: là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa
có ý nghĩa trong cuộc sống, vừa đem lại cho cá nhân sự hấp dẫn về mặt tình
cảm.


18

Hoạt động: là quá trình xác lập, vận hành các mối quan hệ nhất định
của con người với thế giới xung quanh và với chính bản thân nhằm đáp ứng
nhu cầu của mình.
Con người thơng qua các hoạt động của mình lĩnh hội các tri thức, kinh
nghiệm… do thế hệ trước để lại từ đó hình thành và phát triển tâm lý của
mình.Vì thế hoạt động giữ vai trị quan trọng trong việc hình thành và phát
triển nhân cách của mỗi cá nhân.
Hoạt động của con người manh tính tích cực, chủ động và sáng tạo.

Như vậy con người có rất nhiều hoạt động trong cuộc sống như: hoạt động lao
động, hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, hoạt động nghiên cứu khoa
học…Ở mỗi lứa tuổi khác nhau sẽ có một hoạt động chủ đạo chi phối các hoạt
động khác.Ở lứa tuổi sinh viên, hoạt động học tập giữ vai trò chủ đạo.
Hoạt động học
Là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự
giác lá lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi
và những dạng hoạt động nhất định.
Để hình thành hoạt động học cần
Hình thành động cơ học tập, hình thành mục đích học tập, hình thành
các hành động học tập. Trong phạm vi đề tài này chỉ bàn đến sự hình thành và
củng cố động cơ học tập.
+ Phân loại động cơ
Có nhiều cách phân loại động cơ; động cơ ham thích và động cơ nghĩa
vụ; động cơ quá trình và động cơ kết quả; động cơ gần và động cơ xa; động
cơ cá nhân và động cơ xã hội; động cơ bên trong và động cơ bên ngoài; động
cơ tạo ý và động cơ kích thích… Ngồi ra cũng cịn có nhiều cách hiểu khác
về động cơ. Một số tác giả cho rằng động cơ của con người được tạo ra từ


19

những nhu cầu, hứng thú được hình thành ở con người trong quá trình sống
[27] .
Người đại diện của chủ nghĩa Freud hiểu động cơ là những năng lượng
sinh học đặc biệt, năng lượng này được tạo ra bởi bản năng của con người.
Bên cạnh đó, nhà tâm lý học Macxits cho rằng; những hoạt động của con
ngườu cực kỳ đa dạng, nảy sinh từ những nhu cầu, hứng thú khác nhau: động
cơ không phải là sự trải nghiệm của nhu cầu mà là đối tượng thỏa mãn nhu
cầu của chủ thể. Một hoạt động cí thế có nhiều động cơ thúc đẩy và trong cấu

trúc của hoạt động, những động cơ này được sắp xếp theo một hệ thống có
thứ bậc.
Khi muốn tìm hiểu động cơ hoạt động của con người thì khơng thể
khơng xét đến động cơ của hành động đó. Đã là hành động tâm lý thì phải có
động cơ phù hợp. khơng thể có một hành động nào mà khơng có động cơ,
hành động khơng có động cơ không phải là hành động thiếu động cơ mà là
hành động với một động cơ ẩn giấu về mặt chủ quan và mặt khách quan. Có
thể nói; động cơ chính là bản chất của hành động. đối tượng này có thể ở bên
trong hoặc bên ngồi tâm lý.
Ngồi ra các nhà tâm lý học cũng đã phân biệt: Động cơ bên trong là
động cơ có thể xuất phát từ chính nhu cầu hiểu biết của người học, sở thích,
hứng thú và động cơ thực hiện hoạt động.
Động cơ bên ngoài là động cơ dành điểm tốt hoặc phần thưởng nào đó.
Động cơ là điều kiện tiên quyết để học có hiệu quả cho dù đó có thể là
những động cơ bên ngoài. Nguồn gốc của động cơ là nhu cầu. Nhu cầu của
con người thì khá đa dạng và có nhiều loại nhu cầu ảnh hưởng mạnh mẽ tới
động cơ học tập của chúng ta.


×