p — ----------------- -----------
— ---------------- % ,
B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
•
•
BỘ TƯ PHÁP
•
•
TRƯỜNG ĐẠI
• HỌC LUẬT HÀ NỘI
•
•
•
BOUNTHAVYINSOM EDY
PHÁP LUẬT VÈ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐẦU T ư TRỤC TIÉP NƯỚC NGOÀI
TẠI CHDCND LÀO - THựC TRẠNG
VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC
•
•
•
•
Người hướng dẫn: PGS.TS.Trần Ngọc Dũng
THƯ VIỆN
TRƯỞNG ĐẠ! HỌC LÚÂT HÀ NỘI
PHÒNG Đ O C
HÀ NỘI 2007
-
rtH
LỜI CẢM ƠN
Cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS. Trần
Ngọc Dũng - người thầy đã giúp đỡ tơi rất tận tình trong suốt q trình làm
luận văn của mình.
Xin gửi lời cảm ơn đến cơ giáo chủ nhiệm cùng tồn thể các thầy cơ giáo
đã trang bị cho tôi những kiến thức thiết thực trong suốt quá trình học tập tại
Trường Đại học Luật Hà Nội.
Tôi cũng xỉn chân thành cảm ơn các cản bộ ,cô chú làm việc tại thư viện
trường Đại học luật đã tạo điều kiện cho tơi trong q trình tìm tài liệu.
Xin gửi lời cảm ơn đến cha mẹ của tôi đã nuôi dạy tôi khôn lớn. Và tôi
cũng xin gửi lời cảm ơn đến các bạn người Việt Nam đã giúp đỡ tơi trong suốt
q trình học tập và sinh sống tại đất nước Bông sen của các bạn!
DANH M ư c CÁC CHỮ VIÉT TẮT
•
CHDCND Lào
Cộng hịa Dân chủ Nhân dân Lào
CNH, HĐH
Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
CTN
Chủ tịch nước
Đảng NDCM Lào
Đảng Nhân dân Cách mạng Lào
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
ĐTTN
Đầu tư trong nước
FDI
Foreign Direct Investment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài)
GPĐT
Giấy phép đầu tư
HĐBT
Hội đồng Bộ trưởng
Luật ĐTNN (1988) Luật Đầu tư nước ngoài năm 1988
Luật ĐTNN (1994) Luật Khuyến khích và Quản lý Đầu tư nước ngồi năm 1994
Luật ĐTNN (2004) Luật Khuyến khích Đầu tư nước ngồi năm 2004
Luật ĐTTN (2004) Luật Khuyến khích Đầu tư trong nước năm 2004
QLNN
Quản lý nhà nước
UBND
ủ y ban nhân dân
USD
United States Dollar (Đồng đô la Mỹ)
WTO
World Trade Oganisation (Tổ chức Thương mại Thế giới)
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
LỜI NÓI Đ Ầ U ....................................................................................................... ..1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VÁN ĐỀ LÝ LUẬN VẺ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU T ư T R ựC TIẾP NƯỚC
NGOÀI TẠI CHDCND LÀO............................................................................... ..6
1.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối vói đầu tư trực tiếp nước ngồi................ ..6
1.2. Khái quát về hệ thống pháp luật quản lý nhà nước đối với hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngồi.................................................................................. 14
1.3. Q trình hình thành và phát triển của chế định quản lý nhà nước đối
với hoạt động FDI tại CHDCND L à o ................................................................ 19
1.4. Khái quát về pháp luật của một số nước về quảnlýnhà nước đối với
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài................................................................. 35
CHƯƠNG 2: THỤC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ T R ựC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI
HDCND LÀO........................................................................................................ 44
2.1. Những quy định về xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và
chính sách đối với đầu tư trực tiếp nước n g o ài................................................. 45
2.2. Các quy định về ban hành hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài................................................................ 48
2.3. Các quy định về hướng dẫn các ngành, địa phương trong việc thực
hiện các hoạt động liên quan tới F D I.................................................................. ,53
2.4. Các quy định về cấp, thu hồi giấy phép đầu tư F D I................................. .58
2.5. Các quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc
quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.................................................. .60
2.6. Các quy định về cơ chế kiểm tra, thanh tra và giám sát các hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài.................................................................................. .63
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TU'
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI CHDCND L À O .......................................... 66
3.1. Những phương hưóng của việc hồn thiện pháp luật về quản lý nhà
nước đối với hoạt động FDI tại CHDCND L à o .................................................. 66
3.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào..................................70
3.3. Một sổ giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về quản lý nhà
nước đối với hoạt động FDI tại CHDCND L à o .................................................. 72
KẾT L U Ậ N ................................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
81
1
LỊÌ NĨI ĐẦU
1. TÍNH CÁP THIÉT CỦA VIỆC NGHIÊN
cứu ĐỀ TÀI
Trong thời đại ngày nay, sự ổn định và phát triển của nền kinh tế ở mỗi
quốc gia gắn liền với vai trị và tác động tích cực của Nhà nước. Để tạo lập hệ
thống quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTNN, phát huy vai trị tích cực
đối với nền kinh tế và đời sống - xã hội, Nhà nước phải sử dụng nhiều biện
pháp, trong đó có biện pháp sử dụng pháp luật. CHDCND Lào là một đất
nước có nền kinh tế đang phát triển, vừa chuyển đổi từ cơ chế tự cấp, tự túc
sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với sự tồn tại của nhiều
thành phần kinh tế khác nhau. Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế theo cơ
chế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải thực sự dùng pháp luật làm cơng cụ
chính để quản lý xã hội. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay là hệ thống pháp luật
của Lào nói chung, pháp luật kinh tế nói riêng, cịn rất sơ sài, thiếu đồng bộ,
khơng điều chỉnh kịp thời các quan hệ kinh tế phát sinh. Pháp luật về quản lý
nhà nước đối với hoạt động ĐTNN cũng khơng nằm ngồi thực trạng trên.
Ngày 19 tháng 4 năm 1988, CHDCND Lào ban hành Luật Đầu tư nước
ngoài. Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, đạo luật này đã phát huy
tác dụng khuyến khích hoạt động ĐTNN và đã đạt được nhiều thành tựu to
lớn, góp phần tích cực vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, làm
tăng vị thế của Lào trên trường quốc tế. Cùng với sự phát triển đi lên của nền
kinh tế, Luật Đầu tư nước ngoài đã bộc lộ những hạn chế nhất định, cần phải
được sửa đổi bổ sung. Nghị quyết của Đại hội Đảng NDCM Lào lần thứ IV
năm 1986 đã khẳng định khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là một bộ phận cấu
thành quan trọng của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Lào,
được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế
khác. Nhà nước khuyến khích các nhà ĐTNN đầu tư vào Lào trên cơ sở tôn
2
trọng độc lập, chủ quyền của Lào, tuân thủ pháp luật Lào, bình đẳng và cùng
có lợi. Mặt khác, Nhà nước Lào tạo mọi điều kiện thuận lợi để bảo đảm quyền
lợi họp pháp của nhà ĐTNN, khi họ đầu tư vào Lào. Thể chế hóa đường lối
chính sách của Đảng, ngày 14/3/1994 Luật ĐTNN (1994) tại Lào đã được
thông qua, có hiệu lực từ ngày 20/6/1994. Luật này đã được sửa đối, bổ sung
ngày 22/10/2004.
Mặc dù đã có những quy định khuyến khích ĐTNN nhưng trong những
năm gần đây, hoạt động ĐTNN vào Lào đang chững lại. Hạn chế lớn nhất
trong việc thu hút ĐTNN không phải ở tiềm lực kinh tế mạnh hay yếu mà
chính là những hạn chế trong khâu quản lý nhà nước đối với ĐTNN, như:
chính sách thu hút, khuyến khích đầu tư; chính sách, pháp luật thuế, đất đai,
môi trường và nhiều vấn đề khác. Vì vậy, để góp phần thực hiện chủ trương
đổi mới kinh tế do Đảng NDCM Lào khởi xướng thì các quy định của pháp
luật về ĐTNN ở Lào phải được hoàn thiện, phải thể hiện được tư duy kinh tế
mới, đặc biệt là sự thay đổi chính sách quản lý của Nhà nước đối với hoạt
động ĐTNN nhằm thu hút nhiều hơn nữa vốn ĐTNN.
Một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu, mang tính cấp thiết là
vấn đề phải hoàn thiện pháp luật về QLNN đối với hoạt động ĐTNN. Đây là
lý do mà tác giả lựa chọn vấn đề ”Phảp luật về quản ỉỷ nhà nước đối với
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào-Thực trạng và
phương hướng hoàn thiện” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học Luật
của mình.
2.
TÌNH HÌNH NGHIÊN
cứu ĐỀ TÀI
Quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTNN không phải là một vấn đề
mới mà đã được thể chế hóa trong Luật ĐTNN qua nhiều thời kỳ khác nhau.
Trước đây, ở mức độ và phạm vi khác nhau, đã có một sổ cơng trình nghiên
cứu đề cập đến quản lý hoạt động FDI. Có thể kể đến luận án tiến sĩ Luật học
3
của tác giả Xơm Xay Xỉ Hà Chăc: “Hồn thiện pháp luật kinh tê trong quá
trình đổi mới quản lý kinh tế của Lào” (năm 2001), đề tài “Mở rộng quan hệ
kinh tế giữa CHDCND Lào với các nước láng giềng trong giai đoạn hiện nay”
(năm 2003) Luận án tiến sĩ Kinh tế chính trị học của tác giả Khay Khăm Văn
Nạ Vồng Xỉ và đề tài “Sử dụng mẫu kinh tế vĩ mơ trong việc bình luận kinh tế
của Lào” (The Analysis o f Lao Economy-Macroeconomic Model Approach)
dự án nghiên cứu Kinh tế học giữa Đại học Quổc gia Lào - Ban kinh tế và
quản lý và Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) phối họp thực hiện (năm
2004) do TS. Phu Phêt Kẹo Phi Là v ồ n g chủ biên. Tuy vậy, vì các mục tiêu
khác nhau, các cơng trình này chưa nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước đối
với hoạt động FDI một cách đầy đủ, chưa tồn diện và chưa sâu. Có một sổ
bài viết mang tính chất riêng lẻ nghiên cứu một số khía cạnh của vấn đề này
được đăng tải trên Tạp chí Mục tiêu (www.tarsetlao.com ) như: Quản lý
ĐTNN số 7 tháng 2, năm 2007; Thủ tục xin cấp phép ĐTNN, số 6 tháng 1
năm 2007; Chính sách ĐTNN số 2 tháng 9 năm 2006, Tạp chí Bình minh,
Tạp chí Xây dựng Đảng, v.v... Cho đến nay chưa có một đề tài nào nghiên
cứu chuyên biệt vấn đề pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài ở CHDCND Lào.
3.
PHẠM VI NGHIÊN
cứu ĐÊ TÀI
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề của pháp luật về quản lý nhà nước
đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, bao gồm việc xây dựng các chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách ĐTNN; kiểm tra, thanh tra và giám sát
các hoạt động ĐTNN. Luận văn cũng đề xuất một số phương hướng và giải pháp
cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về QLNN đối với hoạt động ĐTNN.
4
4.
MỤC ĐÍCH, NHIỆM v ụ CỦA VIỆC NGHIÊN c ứ u ĐỀ TÀI
4.1.
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Luận văn đưa ra một số phương hướng, giải pháp, kiến nghị nhằm hồn
thiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với hoạt động
ĐTNN nhằm cải thiện môi trường đầu tư ở CHDCND Lào.
4.2.
Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định pháp luật về quản
lý nhà nước đối với hoạt động ĐTNN; đồng thời phân tích, đánh giá thực
trạng, xu hướng phát triển của chế định quản lý nhà nước đối với hoạt động
đầu tư nước ngồi thơng qua Luật ĐTNN (2004).
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
cứu ĐỀ TÀI
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm của Đảng
và Nhà nước Lào trong sự nghiệp đổi mới nhàm xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát huy mọi tiểm năng phục vụ sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước. Đe tài vận dụng các nguyên tắc, phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, của lý
luận về Nhà nước và pháp luật trong điều kiện mới. Tác giả luận văn đặc biệt
chú ý sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể, như: tổng hợp, hệ
thống hóa, phương pháp lịch sử, phân tích, đối chiếu, so sánh nhằm xem xét
vấn đề pháp luật về QLNN đối với hoạt động ĐTNN ở các góc độ khác nhau.
6.
NHŨNG ĐIỂM MÓI CỦA LUẬN VẢN
Điểm mới của việc nghiên cứu đề tài là nêu ra được một cái nhìn khái
qt, tồn diện thực trạng của pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt
động ĐTNN ở Lào hiện nay. Thơng qua việc phân tích những ưu điếm và
nhược điểm của pháp luật hiện hành, luận văn đưa ra phương hướng và các
giải pháp nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm của pháp luật về
quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTNN ở Lào trong thời gian tới.
5
7. C ơ CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn có Lời nói đầu, ba chương, phần Kết luận và Danh mục tài
liệu tham khảo. Ba chương của luận văn như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý nhà nước đối với
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào.
Chương 2. Thực trạng pháp luật quản lý nhà nước đối với hoạt động
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào.
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý
nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào.
6
CHƯƠNG 1
NHŨNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÊ PHÁP LUẬT
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
TRỤC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI CHDCND LÀO
1.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối vói đầu tư trực tiếp nưóc ngồi
1.1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào
1.1.1.1
Khái niệm quản lý nhà nưóc
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có
cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về
quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra định nghĩa riêng về quản lý. Định
nghĩa chung nhất về quản lý là định nghĩa của điều khiển học. Theo điều
khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình,
căn cứ vào những quy luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá
trình đó vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục
đích đã định trước.
Quản lý là một tất yếu khách quan trong đời sổng và sự phát triển của
xã hội loài người. Các Mác đã coi “quản lý là một chức năng đặc biệt nảy
sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao đ ộ n g ” [3, tr 29-30].
Quản lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các
đối tượng quản lý. Quản lý xuất hiện và tồn tại ở bất kỳ nơi nào, nếu ở đó có
hoạt động chung của con người. C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực
tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều
cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và
thực hiện những chức năng chung...” [5,tr. 480].
Khi Nhà nước xuất hiện thì phần lớn các cơng việc của xã hội do Nhà
nước quản lý. Như vậy, nói đến QLNN là nói tới hoạt động của Nhà nước, nói
7
tới các quá trình tác động của các chủ thê mang tính quyên lực nhà nước băng
pháp luật đến các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng quản lý của Nhà
nước. QLNN ở đây không phải là quản lý tổ chức chính trị mà là hoạt động
chấp hành và điều hành của Nhà nước, được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi
các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là đảm bảo sự chấp hành luật,
pháp lệnh và các nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và
chỉ đạo thực hiện một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh
tế, văn hóa, xã hội và chính trị của Nhà nước. Quản lý nhà nước là hoạt động
của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện
các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước [9,tr. 11]. Có thể định nghĩa
quản lý nhà nước như sau: “Quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền
lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các
chức năng đoi nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển
xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước ” [2, tr. 152 - 155].
1.1.1.2. Khái niệm đầu tir trực tiếp niróc ngồi
Ở một số nước trên thế giới khái niệm “Đầu tư trực tiếp nước ngồi (FDI)”
được trình bày rất khác nhau, song được xem xét dưới góc độ kinh tế và phụ thuộc
vào các điều kiện kinh tế-xã hội nhất định. Thí dụ trước đây, Hội đồng Tương trợ
kinh kế đã đưa ra khái niệm về FDI là: “Đầu tư nước ngoài được hiểu là tất cả
những loại giá trị vật chất mà nhà đầu tư đưa từ nước ký kết này sang nước ký kết
hữu quan theo pháp luật của nước sử dụng đầu
Năm 1977, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đưa ra một khái niệm khác về FDI như
sau: “FD Ỉ ỉà sổ vốn đầu tư được thực hiện đê thu được lợi ích lâu dài trong
một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu
tư. Mục đích của nhà đầu tư là dành được tiếng nói có hiệu quả trong quản lý
doanh nghiệp í?ó"[16,tr. 14].
8
v ề mặt bản chất thì FDI được định nghĩa: là hình thức đầu tư quốc tế,
mà tại đó, nhà ĐTNN đầu tư toàn bộ hay một phần vốn đầu tư vào các dự án
nhằm dành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản
xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại[16, tr. 15].
Như vậy, chúng ta thấy có nhiều khái niệm khác nhau về FDI. Mỗi khái
niệm đều cố gắng khái quát hóa bản chất và nhấn mạnh đến một khía cạnh
nào đó của FDI. Có thể nêu khái niệm về FDI như sau: FDI là sự di chuyển
vốn quốc tế dưới hình thức nhà đầu tư ở một nuớc đua vốn vào một nước
khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, to chức
sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ cơng nghệ, kinh nghiệm quản
ỉỷ... nhằm mục đích thu lợi nhuận.
•s
•
•
•
Ở Lào, sau khi đất nước hồn toàn thống nhất, Đảng NDCM Lào và Nhà
nước Lào chủ trương: Trong quan hệ hợp tác kinh tế với các nước, cần tranh thủ
vốn và kỹ thuật để tận dụng mọi tiềm năng về tài nguyên và sức lao động nhằm
nhanh chóng đưa đất nước tiến lên trình độ tiên tiến của thế giới [28, tr. 110-112].
Cơ sở pháp lý đầu tiên cụ thể hóa chủ trương này là Luật ĐTNN được
thông qua ngày 19/4/1988, kêu gọi ĐTNN vào Lào dưới các hình thức khác
nhau, khơng phân biệt chế độ chính trị, kinh tế - xã hội. Trong Luật ĐTNN
(1988), khái niệm FDI khơng được định nghĩa rõ ràng. Có thể thấy rõ tư duy
kinh tế mới trong việc thu hút đầu tư nước ngoài của Lào trong Khoản 1 Điều
1 của Luật này như sau:
“CHDCND Lào cho phép và khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước
ngồi và cơng dân Lào ở nước ngoài đầu tư và sử dụng kỹ thuật, công nghệ
tiên tiến vào Lào trên cơ sở các bên cùng có lợi và tuân thủ pháp luật của
nước CHDCND Lào”.
Để phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu đổi mới của đất nước,
tạo môi trường pháp lý an toàn và hấp dẫn hơn để thu hút ĐTNN, góp phần
9
thực hiện thành công chiên lược phát triên kinh tê-xã hội của đât nước, tạo cơ
sớ pháp lý vừng chắc để tăng cường quản lý nhà nước đối với ĐTNN, ngày
14/3/1994 Quốc hội đã thông qua Luật ĐTNN (1994). Đạo Luật này, cũng
chưa nêu định nghĩa “đầu tư trực tiếp nước ngồi”. Điều 2 Luật Luật Khuyến
khích ĐTNN (2004) quy định: “Đ â« tư nước ngồi là sự chuyển vổn gồm có:
Tài sản, kỹ thuật và kỉnh nghiệm vào CHDCND Lào bởi nhà đầu tư nước
ngồi nhằm mục đích kinh doanh
Căn cứ vào những đặc trung của FDI, chúng ta có thể phân biệt loại
hình đầu tư này với các loại hình đầu tư khác ở những điểm sau:
Thứ nhất: về vốn góp, các nhà ĐTNN phải đóng một lượng vốn tối thiểu
theo quy định của mỗi nước nhận đầu tư để họ có quyền trực tiếp tham gia điều
phối, quản lý q trình sản xuất kinh doanh. Thí dụ khoản 2 Điều 7 Luật KK
ĐTNN (2004) quy định: Nhà ĐTNN đầu tư theo hình thức doanh nghiệp liên
doanh phải góp vốn ít nhất khơng được thấp hơn 30% vốn pháp định.
Thứ hơi: quyền điều hành, quản lý doanh nghiệp có vốn ĐTNN phụ
thuộc vào mức vốn góp. Nếu nhà ĐTNN đầu tư 100% thì quyền điều hành
hồn tồn thuộc về nhà ĐTNN, có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý.
Thư ba: v ề phân chia lợi nhuận; dựa trên kết quả sản xuất, kinh doanh,
lãi hoặc lỗ đều được phân chia theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định sau khi
đã trừ các khoản thuế.
1.1.1.3. Đặc điểm và vai trị của đầu tư trực tiếp nưóc ngồi
Xuất phát từ một số khía cạnh mang tính đặc trưng của FDI cho thấy
tính hai mặt của loại hình đầu tư này đối với nước tiếp nhận đầu tư, đó là bên
cạnh những mặt tích cực thì đồng thời cũng có những hạn chế, bất lợi riêng.
FDI khơng để lại gánh nặng về nợ cho Chính phủ nước tiếp nhận đầu
tư. Hình thức FDI là các nhà ĐTNN tự bỏ vốn ra kinh doanh, làm ăn lâu dài ở
nước nhận đầu tư, hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư. Nước tiếp
10
nhận FD1 ít phải chịu những điều kiện ràng buộc kèm theo. Khi thực hiện liên
doanh với nước ngoài, việc bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước có
thế giảm được rủi ro về tài chính, nếu ở trong tình huống xấu nhất. Khi gặp
rủi ro thì các đối tác nước ngoài cũng sẽ là người cùng chia sẻ rủi ro với các
doanh nghiệp của nước sở tại.
FDI khơng đơn thuần chỉ là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ
thuật, phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm
mới, mở ra thị trường mới... cho nước tiếp nhận đầu tư. FDI là một kênh
quan trọng đối với việc chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát
triển, những nước vừa thiếu vốn, vừa có trình độ phát triển thấp, cơng
nghệ lạc hậu, trình độ quản lý kém, đội ngũ cán bộ chưa được đào tạo đầy
đủ. FDI cịn có tác động rõ nét trong việc chấn hưng, làm thay đổi nhanh
bộ mặt và sự sôi động của nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư, nhờ gia
tăng sự hiện diện của các nhà ĐTNN kèm theo các dịch vụ khác. Do vậy,
khơng chỉ có các nước đang phát triển quan tâm đến yếu tố chuyển giao
công nghệ của FDI, mà cả các nước cơng nghiệp phát triến cũng tìm cách
khai thác triệt để lợi thế này của FDI. Ở những nước này, đối với những
ngành có khả năng cạnh tranh cao thì nhà đầu tư mở rộng đầu tư ra nước
ngồi. Những ngành trong nước cạnh tranh kém thì có thể đế doanh
nghiệp nước ngồi vào đầu tư, thậm chí thơn tính hoặc xóa bỏ những
doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả trong nước. Đây chính là phân cơng
lao động quốc tế, chun mơn hóa và hợp tác hóa thơng qua FDI.
Bên cạnh những mặt tích cực, loại hình FDI cũng có thể gây ra những
bất lợi cho nước tiếp nhận. Việc quá lạm dụng vốn FDI có thể dẫn đến việc
thiếu chú trọng huy động và sử dụng tối đa nguồn vốn trong nước, gây ra sự
mất cân đối trong cơ cấu đầu tư (giữa vốn trong nước và vốn nước ngồi), có
thể gây nên sự phụ thuộc của nền kinh tế vào vốn nước ngoài, vào nhà
ĐTNN. Nêu tỷ trọng FDI chiêm quá lớn trong tông sơ vơn đâu tư phát triên
thì tính độc lập tự chủ có thể bị ảnh hưởng, nền kinh tế phụ thuộc vào bên
ngồi, thiếu tính vững chắc. Các nước tiếp nhận FDI cũng nên lưu ý việc một
số nhà ĐTNN lợi dụng trình độ cơng nghệ thấp và quản lý yếu kém của nước
nhận đầu tư để tiêu thụ những máy móc, thiết bị lạc hậu. Thực tế này đã diễn
ra ở nhiều nước khi thực hiện các dự án liên doanh, các đối tác nước ngồi đã
tranh thủ góp vốn bằng các thiết bị, vật tư lạc hậu, đã qua sử dụng, thậm chí
đã đến thời hạn thanh lý. Điều này địi hỏi nước nhận đầu tư phải có những
quy định và kiểm soát chặt chẽ đối với khu vực kinh tế có vốn ĐTNN, tránh
gây thiệt hại cho nền kinh tế.
Trong những năm qua, FDI ở Lào về cơ bản đã đáp ứng những mục
tiêu mà Đảng NDCM Lào và Nhà nước Lào đề ra, góp phần quan trọng trong
sự nghiệp xây dựng đối mới đất nước. Nhà nước Lào cũng chỉ rõ vai trị, vị trí
của FDI đối với nền kinh tế, kết hợp song song các mục tiêu cần đạt tới như:
thu hút vốn nước ngoài, kết hợp với khai thác các tiểm năng trong nước; thu
hút công nghệ mới và học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến; tạo việc làm và
thu nhập cho người lao động trong nước V V...
Xét về cơ cấu vốn, FDI đã trở thành một trong những kênh thu hút vốn
quan trọng cho đầu tư phát triển, tạo nguồn lực mới thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế. Từ năm 1996 đến nay, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN ln có những đóng
góp rất lớn trong tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm
Năm 2005 tỷ lệ tăng
trưởng GDP đạt 7,1%; năm 2006 tỷ lệ đó đạt 7,6%. Trong sự tăng trưởng này,
đóng góp của FDI chiếm phần lớn, chủ yếu là đầu tư vào lĩnh vực khai thác
khoáng sản, thủy điện" [20,tr.l]. Kinh tế có vốn ĐTNN đã trở thành một trong
ba thành phần kinh tế quan trọng có tỷ lệ đóng góp cao nhất cho GDP ở Lào.
Hoạt động của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cịn có những tác động tích cực
đến sự cân đổi của nền kinh tế. Do sự phát triển tương đối nhanh mức đóng góp
12
của khu vực này vào nguồn thu ngân sách ngày càng tăng nên khả năng chủ
động trong việc cân đối ngoại tệ, cân đối ngân sách của Lào ngày càng tốt hơn.
FDI góp phần thúc đẩy chuyển dịch
CO' c ấ u
kinh tế theo hướng phù hợp
với nhu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Những năm đầu của thập kỷ 90,
FDI tập trung nhiều trong lĩnh vực kinh doanh nhà hàng, khách sạn. Trong
khoảng mười năm trở lại đây, FDI đã chuyến sang tập trung vào lĩnh vực sản
xuất, chế biến hàng xuất khẩu, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ có chất lượng
cao. FDI đã tạo ra bước ngoặt trong sự phát triển của một số ngành, sản phẩm
quan trọng của đất nước như cơng nghệ khai thác khống sản vàng (Sepone, tỉnh
Savănnakhệt; PhùBía tỉnh XiêngKhoảng), thủy điện Nặm Thần II, .v.v.
FDỈ góp phần nâng cao năng lực quản lý, trình độ cơng nghệ, tay nghề
của người lao động, tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động.
Nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đã tạo cho người lao động Lào có điều kiện
nâng cao tay nghề, tiếp cận với kỹ năng, công nghệ và kinh nghiệm quản lý
tiên tiến. Người lao động cũng được rèn luyện về kỷ luật, tác phong lao động
cơng nghiệp và thích ứng dần với cơ chế quản lý mới.
1.1.2. Pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI ở Lào.
Quản lý nhà nước đối với FDI là sự tác động có tổ chức và điếu chỉnh
q trình ĐTNN tại Lào bằng quyền lực nhà nước để đảm bảo trật tự pháp
luật, quyền và lợi ích hợp pháp của nhà ĐTNN cũng như lợi ích của đất nước.
Nhà nước quản lý ĐTNN bằng pháp luật. Hiện nay, quản lý nhà nước
đổi với kinh tế, nhất là khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã thay đổi căn bản so
với trước đây. Nhà nước chuyến dần từ quản lý trực tiếp ĐTNN sang quản lý
gián tiếp bằng công cụ pháp luật, kế hoạch và các chính sách với các chức
năng như: Xây dựng hành lang pháp lý, tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho
các chủ thể hoạt động tự do trong khuôn khổ pháp luật; định hướng phát triển
13
kinh tế thơng qua các chính sách kinh tế vĩ mơ; xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu
tư có trọng điểm, xây dựng một số ngành nghề mũi nhọn.v.v.
Xét dưới góc độ pháp lý, pháp luật ĐTNN được tạo thành bởi ba bộ phận,
là luật ĐTNN và các văn bản hướng dẫn thi hành; các quy phạm có liên quan đến
ĐTNN được quy định trong các đạo luật khác; các quy phạm có liên quan đến
ĐTNN được quy định trong các điều ước quốc tế mà Lào ký kết hoặc tham gia.
Pháp luật ĐTNN theo nghĩa hẹp bao gồm Luật ĐTNN và các nghị định,
thông tư hướng dẫn thi hành. Đó là hệ thống những quy phạm pháp luật do Nhà
nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực ĐTNN
như: quan hệ giữa nhà ĐTNN với Nhà nước Lào mà đại diện là các cơ quan có
thẩm quyền; quan hệ họp tác kinh doanh, liên doanh giữa nhà ĐTNN, nhà ĐTTN
với người lao động, với các cơ quan tài phán trong nước và quốc tế...
Trong bối cảnh của một nền kinh tế đang từng bước hội nhập kinh tế
quốc tế theo xu hướng toàn cầu hóa như ở Lào hiện nay thì hoạt động ĐTNN
diễn ra ngày một sôi động và phức tạp, trở thành một hiện tượng tất yếu. Nó
địi hỏi Nhà nước Lào phải có một chuẩn mực pháp lý để hướng các quan hệ
ĐTNN phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc. Hoạt động ĐTNN có tác động mạnh
mẽ tới cơng cuộc đổi mới và phát triển đất nước, vì thế quản lý nhà nước bằng
pháp luật đổi với hoạt động ĐTNN là vấn đề mang tính tất yếu khách quan.
Cơ chế quản lý nhà nước càng chặt chẽ và phù hợp thì khu vực kinh tế có vốn
ĐTNN trong nền kinh tế quốc dân càng được phát huy hết tiềm năng và tác
dụng. Các hoạt động ĐTNN cần phải được quy định rõ ràng trong các văn
bản pháp luật. Để đảm bảo việc tác động bằng pháp luật của Nhà nước đến
hoạt động ĐTNN có hiệu quả, vận động theo định hướng XHCN thì cần phải
có phương tiện, biện pháp quản lý cụ thể nhằm thực hiện và áp dụng đúng
pháp luật. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để hoạt động ĐTNN được thực
14
hiện phù hợp với lợi ích của xã hội, cúa Nhà nước CHDCND Lào và của nhà
đầu tư trong điều kiện đổi mới quan hệ quổc tế.
1.2. Khái quát về hệ thống pháp luật quản lý nhà nước đối vói hoạt
động trực tiếp nước ngoài
1.2.1. Sự cần thiết của pháp luật quản lý nhà nước đối vói hoạt động FDI
Trong tổ chức và quản lý hoạt động FDI, pháp luật ĐTNN có vai trị
đặc biệt quan trọng. Chức năng tổ chúc và quản lý nhà nước trong lĩnh vực
ĐTNN có phạm vi rộng, gồm nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cần được xác
lập như: xác định các lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, hoạch định chính
sách thu hút ĐTNN, các chế độ thuế, tài chính ngân hàng v.v... Tồn bộ q
trình quản lý hoạt động ĐTNN địi hỏi sự hoạt động tích cực của Nhà nước
nhằm tạo ra một cơ chế đồng bộ, thúc đẩy quá trình ĐTNN phát triển đúng
hướng của nền kinh tế, mang lại hiệu qủa thiết thực cho đất nước. Do tính
chất phức tạp và phạm vi rộng của quan hệ pháp luật ĐTNN, Nhà nước không
thê trực tiếp tham gia vào các hoạt động đầu tư cụ thể mà chỉ thực hiện quản
lý ở tầm vĩ mơ, mang tính chất hành chính-kinh tế. Q trình quản lý hoạt
động ĐTNN khơng thể thực hiện được nếu như khơng có pháp luật về ĐTNN.
Ở CHDCND Lào, để góp phần vào cơng cuộc xây dựng và đổi mới đất
nước, vấn đề thu hút FDI là một công việc cấp bách nhằm thực hiện mục tiêu,
chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020 mà Đại hội Đảng NDCM
Lào lần thứ VII đã đề ra là đưa nước Lào cơ bản trở thành một nước công
nghiệp. Việc giảm sút một lượng vốn FDI vào Lào trong những năm gần đây
đã và đang đặt ra những thử thách đối với Chính phủ Lào, đặc biệt là khi đất
nước bước vào thời kỳ đổi mới với trình độ kinh tế còn thấp, kỹ năng quản lý
còn nhiều hạn chế. Trong bối cảnh đó, một mặt, để thốt khỏi tình trạng
khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế-xã hội, mặt khác nhằm tạo ra cơ hội
đưa đất nước theo kịp đà phát triển kinh tế của khu vực và thế giới, ngay từ
15
khi thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, Nhà nước Lào đã có chủ
trương: cùng với việc mở rộng xuất khẩu, nhập khẩu, tranh thủ vốn viện trợ
và vay dài hạn, cần vận dụng nhiều hình thức đa dạng để phát triển kinh tế đối
ngoại. Tại thời điếm này, nguồn vốn nước ngồi mà nước Lào có thể sử dụng
được là vốn FDI. Thực tế sự tăng trưởng của nền kinh tế đã chứng tỏ đường
lối của Đảng NDCM Lào và chính sách của Nhà nước Lào là đúng đắn, sáng
suốt, đồng thời cịn nói lên tính lịch sử và khách quan của FDI đối với công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Hiện nay, CHDCND Lào đang phải cạnh tranh gay gắt với các nước
trong khu vực và trên thế giới trong vấn đề thu hút FD1. Do nhu cầu phát triển
kinh tế nên các nước này cũng đang rất cần nguồn vốn đầu tư từ nước ngồi.
Với một bối cảnh như trên thì việc nâng cao trình độ quản lý nhà nước đối với
FDI, đặc biệt là việc quản lý bằng chính sách, bằng pháp luật là rất cần thiết.
Bên cạnh những ưu điếm đã nêu, FDI khơng phải là khơng có những
nhược điểm. ĐTNN có thể ảnh hưởng xấu đến cán cân thanh tốn, tới nguồn
tài ngun, mơi trường của đất nước, nó cịn có thể gây tác động đến nền văn
hóa, thuần phong mỹ tục, truyền thống của dân tộc. Trước những vấn đề trên,
Nhà nước Lào không thể buông lỏng sự quản lý của mình. Vai trị quản lý của
Nhà nước ở đây được thể hiện bằng hệ thống chính sách, các văn bản pháp
luật quy định thơng thống, cởi mở, phù hợp với việc thu hút FDI trong hoàn
cảnh kinh tế-xã hội mỗi một thời kỳ lịch sử cụ thể của đất nước. Xét cho
cùng, hoạt động FDI là một bộ phận thuộc lĩnh vực kinh tế của Lào. Quản lý
FDI cũng tuân thủ những nguyên lý chung của quản lý nhà nước về kinh tế.
Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm, bản chất của FDI mà hoạt động quản lý của
Nhà nước đối với lĩnh vực này có những đặc thù riêng biệt.
FDI là hoạt động của thị trường quốc tế. Theo quy luật thị trường và
cạnh tranh quốc tế, các nhà ĐTNN lấy lợi nhuận làm mục tiêu đầu tiên. Họ
16
không đầu tư vào những dự án mà hiệu quả kinh tế không rõ ràng, điều kiện
đầu tư kém hấp dần. Do vậy, một trong những yêu cầu quản lý FD1 là phải tạo
điều kiện và cung cấp những thông tin rõ ràng về đưịng lối, chính sách kinh
tế của Nhà nước, về pháp luật, thị trường cho các nhà ĐTNN hiểu rõ và có sự
lựa chọn thích hợp.
FDI là hoạt động chủ yếu của tư nhân nước ngoài. Tư nhân nước ngồi
có quyền sở hữu, quản lý vốn và tài sản của họ. Động cơ của các nhà ĐTNN
thường khác với mục tiêu của nước chủ nhà. Nhà đầu tư quan tâm đến những
vấn đề thiết thực như lợi nhuận, tiền thuế, tiền thuê đất, giá dịch vụ...m ang
tầm vi mơ. Trong khi đó, nước nhận đầu tư lại quan tâm nhiều đến hiệu quả
kinh tế-xã hội, đển sự phát triển tổng thể của nền kinh tế. Vì vậy, quản lý nhà
nước đối với FDI phải tạo điều kiện cho hai loại lợi ích này dung hịa với
nhau, khơng ép buộc duy ý chí. Có như vậy mới đem lại thành công cho hoạt
động thu hút FDI. Đối với nước Lào, trong giai đoạn đầu, việc tạo ra công ăn
việc làm và tiếp thu công nghệ mới, kỹ năng quản lý tiên tiến phải được đặt
lên hàng đầu. Các vấn đề về thuế, tiền thuê đất v .v ... cần đặt ở vị trí vừa phải
và sẽ được cải thiện dần trong quá trình phát triển của hoạt động này.
FDI được thực hiện thông qua các dự án đầu tư. Quy trình hoạt động dự
án FDI bắt đầu từ việc chuẩn bị lập dự án, lập hồ sơ, lựa chọn đối tác, đàm
phán, ký kết, xin giấy phép cho đến việc triển khai xây dựng và đưa dự án vào
hoạt động. Sự phức tạp này địi hỏi cần có một cơ quan quản lý nhà nước về
FDI đủ mạnh để đứng ra thay mặt Nhà nước Lào theo dõi, hồ trợ đảm bảo cho
các dự án hoạt động thành cơng.
Từ sự cần thiết phải có quản lý nhà nước trong lĩnh vực ĐTNN có thể
nhận thấy vai trị, chức năng, nhiệm vụ căn bản của Nhà nước Lào trong lĩnh vực
này có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt. Đó là việc Nhà nước Lào phát huy
nội lực nhằm khai thác tối đa các lợi ích từ hoạt động ĐTNN như công nghệ,
17
khoa học tiên tiên, cách thức quản lý nên kinh tê thị trường hiện đại; hướng
ĐTNN vào những ngành, lĩnh vực mà ở Lào có nhiều lợi thế, tạo ra nhiều việc
làm, khai thác tài nguyên trên cơ sở bảo vệ tài nguyên, môi trường, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, đối mới công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,
HĐH đất nước. Nhà nước Lào có chính sách hỗ trợ các nhà ĐTNN thâm nhập
địa bàn đầu tư một cách nhanh chóng, thuận lợi. Bên cạnh đó, Nhà nước hạn Lào
chế những ảnh hưởng tiêu cực do hoạt động ĐTNN đem lại.
1.2.2. Khái quát hệ thống pháp luật về quản lý nhà nuóe đối vói hoạt
động đầu tư trực tiếp nưóc ngồi
Từ sau Đại hội Đảng NDCM Lào lần thứ IV (1986), Nhà nước Lào
thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa, nhất là đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế, hệ thống pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI đã có một
bước tiến dài về sổ lượng các văn bản cũng như về chất lượng của các văn
bản. Có thể kể đến các văn bản sau:
■Hiến pháp (2003) của nước CHDCND Lào, được Quốc hội khóa V
thơng qua tại kỳ họp lần thứ 3, ngày 6/5/2003: Đây là văn bản pháp lý có hiệu
lực cao nhất, trong đó quy định rõ ràng vấn đề QLNN về ĐTNN tại Điều 13,
15, 16, 17 và Điều 18 với nội dung như:
- Mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật và hoạt động
theo cơ chế thị trường, vừa cạnh tranh và hợp tác phát triển sản xuất, kinh
doanh dưới sự điều hành của Nhà nước theo định hướng XHCN.
- Nhà nước khuyến khích ĐTNN tại CHDCND Lào, xây dựng mơi trường
thuận lợi cho việc mang vốn, công nghệ, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến
vào quá trình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Tài sản và vốn họp pháp của nhà
ĐTNN tại CHDCND Lào sẽ không bị tịch thu hoặc quốc hữu hóa.
- Nhà nước bảo hộ và phát huy các hình thức sở hữu của Nhà nước, tập
thể, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư tại CHDCND Lào.
I n u
V
18
- Nhà nước bảo hộ quyên sở hữu và quyên kê thừa tài sản của tô chức và
cá nhân. Riêng đất đai là sở hữu toàn quốc. Nhà nước bảo đảm quyền sử
dụng, nhượng quyền và quyền kế thừa theo pháp luật.
- Quản lý nhà nước về kinh tế theo cơ chế thị trường có sự điều chỉnh
của Nhà nước, thực hiện nguyên tắc sự phối hợp quản lý tập trung, thống nhất
của các ngành trung ương với sự phân cấp trách nhiệm quản lý đến địa
phương theo pháp luật.
■ Luật Khuyến khích ĐTNN, được Quốc hội nước CHDCND Lào thông
qua ngày 22/10/2004. Luật bao gồm 9 mục 32 điều, trong đó mục VI với 4
điều quy định quản lý nhà nước đối với ĐTNN.
■Luật Doanh nghiệp, được Quốc hội nước CHDCND Lào khóa V thơng
qua tại kỳ họp thú 8, ngày 9/12/2005. Chương 2 mục II (từ điều 12 đến điều
20) quy định về Đăng ký kinh doanh; Chương VIII (từ điều 226 đến 231) quy
định về quản lý nhà nước và kiểm tra giám sát doanh nghiệp.
■ Luật Thuế, được Quốc hội nước CHDCND Lào khóa V thơng qua tại
kỳ họp thứ 7 ngày 20/5/2005. Chương VI và chương VII (từ điều 43 đến điều
47) quy định về miễn giảm thuế, thuế dành riêng cho đặc khu kinh tế, khu vực
miễn thuế...
■ Luật Bảo vệ môi trường, được Quốc hội nước CHDCND Lào khóa IV
thơng qua tại kỳ họp thứ 3, ngày 3/4/1999. Luật bao gồm 9 chương 51 điều.
■Luật Đất đai, được Quốc hội nước CHDCND Lào khóa V thơng qua tại
kỳ họp thứ 4, ngày 21/10/2003. Luật gồm có 6 chương 87 điều, trong đó mục
II và mục III chương 3 (từ điều 64 đến điều 72) quy định quyền, nghĩa vụ và
bồi thường thiệt hại của người khơng có quốc tịch, người nước ngồi th đất
hoặc khoán đất...
19
■ Luật Phá sản doanh nghiệp, được Quốc hội nước CHDCND Lào khóa III
thơng qua tại kỳ họp thứ 5 ngày 14/10/1994. Luật gồm 9 mục, 56 điều quy định về
trình tự thủ tục khơi phục lại doanh nghiệp, giải thế và phá sản doanh nghiệp.
■ Luật Điện lực, được Quốc hội nước CHDCND Lào khóa III thơng qua
tại kỳ họp thứ 10 ngày 12/4/1997. Luật gồm có XII mục 56 điều.
■ Luật Khoáng sản, được Quốc hội nước CHDCND Lào khóa III thơng
qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 12/4/1997. Luật gồm có VIII mục 63 điều.
■ Nghị định số 301/TTg ngày 12/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ
nước CHDCND Lào quy định về thi hành Luật Khuyến khích đầu tư nước
ngoài năm 2004.
■ Nghị định số 20/TTg ngày 21/01/2002 của Thủ tướng Chính phủ quy
định về Đặc khu kinh tế Savan-Seno.
■ Nghị định số 162/TTg ngày 11/2/2002 của Thủ tướng Chính phủ quy
định về khu vực thương mại biên giới Boten tỉnh Luongnamtha.
■ Quyết định số 01/CP ngày 9/8/2002 của Chính phủ quy định về quản
lý ngoại tệ và vật có giá.
1.3. Q trình hình thành và phát triển của chế định quản lý nhà
nước đối vói hoat đơng FDI tai CHDCND Lào
1.3.1.Các giai đoạn hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật
QLNN đối vói hoạt động FDI tại CHDCND Lào
Sự phát triển của pháp luật QLNN về ĐTNN tại Lào thể hiện rõ qua
các giai đoạn phát triển của hệ thống pháp luật Lào. Chúng ta sẽ xem xét sự
phát triển này qua bốn giai đoạn như sau: từ tháng 12/1975 đến năm 1987, từ
năm 1988 đến 1993, từ năm 1994 đến 2003 và từ năm 2004 đến nay (2008).