Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ từ bột thân đay biến tính để loại bỏ kim loại nặng trong nước. Phần 1. Đặc tính của vật liệu bột thân đay biến tính

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (503.74 KB, 8 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

291


Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ



từ bột thân đay biến tính để loại bỏ kim loại nặng trong nước


Phần I. Đặc tính của vật liệu bột thân đay biến tính



Lê Văn Trọng

1,*

, Đỗ Thị Việt Hương

2

, Phạm Thị Dinh

2

, Phạm Văn Quang

2
<i>1</i>


<i>Viện Công nghiệp thực phẩm, Bộ Công thương </i>
<i>2</i>


<i>Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội </i>
Nhận ngày 24 tháng 7 năm 2016


Chỉnh sửa ngày 23 tháng 8 năm 2016; chấp nhận đăng ngày 1 tháng 9 năm 2016


<b>Tóm tắt: Đã tiến hành biến tính bột thân đay bằng phương pháp đồng trùng hợp ghép acrylonitril </b>


với hệ khơi mào oxi hóa khử natribisunphit/amonipesunphat và thực hiện amidoxim hóa sản phảm
thu được bằng hydroxylamin hydroclorua trong môi trường kiềm. Ảnh hưởng của nồng độ các
chất phản ứng, thời gian và nhiệt độ đã được nghiên cứu để xác định điều kiện tối ưu biến tính vật
liệu. Đặc tính của vật liệu đã được xác định thơng qua các phương pháp kính hiển vi điện tử quét,
quang phổ hồng ngoại, thế điện động zeta và khả năng hấp phụ ion Zn2+, Ni2+ và Cu2+. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, bột thân đay sau biến tính có bề mặt dày và xốp hơn so với bột thân đay
trước khi biến tính; trong phổ hồng ngoại xuất hiện các đỉnh ở vị trí 2.260, 1.660 và 910 cm-1
tương ứng với các liên kết -CN, -C=N và -N-OH trong nhóm chức amidoxim; bề mặt vật liệu có
độ âm điện khá lớn.


<i>Từ khoá: </i>Bột thân đay, acrylonitril, amidoxim.



<b>1. Tổng quan</b>∗∗∗∗


Việt Nam là nước nông nghiệp, có diện tích
trồng đay lớn. Các vật liệu tự nhiên thu được từ
nền nông nghiệp trồng đay là sợi tự nhiên
(polime tự nhiên) và các phụ phẩm khác.
Những vật liệu phụ phẩm từ chế biến đay
thường được sử dụng làm chất đốt. Trên thế
giới, để tận dụng nguồn vật liệu phụ phẩm này,
các nhà khoa học đã nghiên cứu sử dụng nó để
xử lý nước ơ nhiễm màu, kim loại nặng (KLN)
và phenol [1]; tuy vậy, thường làm tăng chỉ số
COD, BOD và TOC trong nước [2]. Để khắc
phục điều này và làm tăng hiệu quả xử lý nước


_______


Tác giả liên hệ. ĐT.: 84-4-38582752
Email:


thì cần phải biến tính các phế thải trước khi sử
dụng. Các phương pháp thường được sử dụng
để biến tính phế thải là axit hóa, bazơ hóa, oxi
hóa, đồng trùng hợp ghép. Trong đó, phương
pháp đồng trùng hợp ghép các nhóm hoạt động
là phương pháp khắc phục được các nhược
điểm của vật liệu tự nhiên và cho hiệu quả hấp
thu chất lớn [3].



</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

Các phụ phẩm thân đay sau khi tách sợi thu
nhận tại xã Nam Thắng, huyện Tiền Hải, tỉnh
Thái Bình được chọn làm vật liệu nghiên cứu.
Thân đay được rửa sạch với nước, sấy khô đến
khối lượng không đổi và được nghiền thành
dạng bột đến kích thước 0,5 mm. Các hóa chất
sử dụng trong nghiên cứu là của Merck có độ
tinh khiết phân tich gồm natribisunphit
(NaHSO3), amonipesunphat (NH4)2S2O8),
hydroxylamin hydroclorit (NH2OH.HCI),
<i>acrylonitril (AN), NN-dimetylfocmamit, etanol, </i>
NaOH.


<i>2.2. Phương pháp nghiên cứu </i>


Các phương pháp sử dụng để xác định một
số tính chất vật lý, hóa học của vật liệu và sản
phẩm gồm phương pháp kính hiển vi điện tử
quét, nhiễu xạ tia X, phân tích thế điện động
zeta và quang phổ hấp thụ hồng ngoại.


<i>2.3. Các bước thực nghiệm </i>


Bột thân đay được xử lý bằng dung dịch
NaOH (5-25%) theo tỷ lệ bột đay và dung dịch
NaOH là 1/50 (g/ml), trong 60 phút ở nhiệt độ
phòng. Lọc và rửa phần bột rắn với nước cất
đến pH trung tính và sấy ở 60°C đến khối lượng
không đổi. Chỉ số tinh thể được tính tốn theo


phương pháp Segal [5].


bột rắn 3 lần bằng etanol và nước cất, sau đó
rửa vài lần với N,N-dimetylfocmamit. Sản
phẩm thu được sau khi lọc được làm khô đến
khối lượng không đổi và ghi lại khối lượng sản
phẩm.


Lấy 1g sản phẩm đã ghép AN cho phản ứng
với NH2OH.HCl ở nồng độ khác nhau trong
hỗn hợp metanol : nước (v/v, 1/1), tổng thể tích
cuối là 50 mL; dùng Na2CO3 điều chỉnh pH đến
khoảng từ 9 đến 10. Phản ứng thực hiện ở nhiệt
độ 40-80°C trong thời gian 30-360 phút, khuấy
đều. Kết thúc phản ứng, lọc lấy phần bột rắn,
rửa 3 lần bằng nước cất đến pH trung tính, sấy
khơ sản phẩm đến khối lượng không đổi. Đây
được gọi là vật liệu amidoxim hóa.


<b>3. Kết quả và thảo luận </b>


<i>3.1. Ảnh hưởng của nồng độ dung dịch NaOH </i>
<i>đến hàm lượng xenlulozơ trong bột thân đay </i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

Hình 1. Sự thay đổi hàm lượng xenlulozơ trong bột
thân đay theo nồng độ NaOH.


Hình 2. Sự thay đổi chỉ số CrI của bột thân đay theo
nồng độ NaOH.



Khi xử lý bằng dung dịch NaOH 5%, chỉ số
CrI của xenlulozơ trong bột thân đay tăng thêm
16,72% (hình 2). Tuy nhiên, khi nồng độ NaOH
tăng thì chỉ số CrI lại giảm dần và đạt giá trị tối
thiểu là 45,45% tại nồng độ NaOH là 15%. Sau
đó, chỉ số CrI tăng nhẹ khi nồng độ NaOH tăng
đến 20% và đạt giá trị ổn định. Điều này có thể
do, khi nồng độ dung dịch NaOH thấp thì chỉ
vùng vơ định hình và vùng tinh thể bề mặt
trong cấu trúc xenlulozơ phản ứng với kiềm và
sắp xếp lại cấu trúc dẫn đến làm tăng chỉ số tinh
thể [6]; còn khi tăng nồng độ NaOH đến 15%,
dung dịch NaOH dễ dàng tiếp xúc với các vùng
tinh thể của xenlulozơ và phá vỡ cấu trúc tinh
thể dẫn đến chỉ số tinh thể giảm đáng kể. Tuy
nhiên, khi dung dịch NaOH nồng độ cao thì độ
nhớt dung dịch lớn đã làm giảm khả năng tiếp
xúc giữa xenlulozơ với dung dịch, nên chỉ số
CrI vẫn lớn [6]. Như vậy, có thể thấy nồng độ
NaOH 15% là nồng độ thích hợp nhất để giảm
các vùng kết tinh trên xenlulozơ.


<i>3.2. Ảnh hưởng điều kiện phản ứng đến hiệu </i>
<i>suất đồng trùng hợp ghép AN lên bột thân đay </i>


Các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng ghép
AN lên bột thân đay được đánh giá bằng tỷ lệ
ghép (G - phần trăm khối lượng AN được ghép
so với khối lượng bột thân đay) và hiệu suất
ghép (E - phần trăm khối lượng AN được ghép


so với khối lượng AN phản ứng).


Phản ứng đồng trùng hợp ghép AN lên bề
mặt bột than đay sử dụng hệ khơi mào SB/APS
xẩy ra theo cơ chế gốc tự do. Các gốc tự do
được hình thành từ phản ứng của các chất trong
hệ khơi mào (phản ứng 1) khởi xướng cho phản
ứng đồng trùng hợp ghép AN lên mạch
xenlulozơ và phản ứng trùng hợp AN.


H2O + HSO3- + 2S2O82- <sub> 3HSO</sub>4
-


+ 2SO4-* (1)
Các điều kiện phản ứng bao gồm tỉ lệ nồng
độ các chất của hệ khơi mào SB/APS, tỷ lệ khối
lượng AN/bột thân đay, nhiệt độ và thời gian
phản ứng ảnh hưởng đến hiệu suất phản ứng
đồng trùng hợp ghép AN lên bột thân đay.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

Hình 3. Ảnh hưởng của tỷ lệ SB/APS đến hiệu suất
đồng trùng hợp ghép AN lên bột thân đay.


Hình 4. Ảnh hưởng nồng độ hệ khơi mào SB/APS đến
hiệu suất đồng trùng hợp ghép AN lên bột thân đay.
Từ kết quả nêu ở hình 3, tỷ lệ SB/APS =


0,75 được lựa chọn để nghiên cứu ảnh hưởng
của tổng nồng độ hệ khơi mào [I] đến khả năng
ghép. Ban đầu, khi tăng nồng độ hệ khơi mào,


tỷ lệ ghép và hiệu suất ghép tăng, sau đó giảm
dần (hình 4). Khả năng ghép tốt nhất đạt được
khi nồng độ chất khơi mào [I] là 0,35 mol/L,
khi đó G là 13,13% và E là 3,24%. Nồng độ
chất khơi mào tăng dẫn đến các vị trí gốc tự do
trên mạch xenlulozơ trong bột thân đay tăng
lên, làm cho tỷ lệ ghép và hiệu suất ghép tăng
lên. Nhưng khi nồng độ vượt quá 0,35 mol/L,
các gốc tự do của AN tạo ra nhiều sẽ gây ra
phản ứng trùng hợp AN chiếm ưu thế. Xu
hướng này cũng được quan sát thấy trong các
nghiên cứu đã công bố đối với các hệ khơi mào
oxi hóa khử khác [7].


Tỷ lệ khối lượng AN và bột thân đay là yếu
tố ảnh hưởng quyết định đến hiệu suất của quá
trình ghép AN, hình 5. Khi tăng tỷ lệ AN và bột
than đay từ 1,62 lên 4,05 thì G tăng tương đối ít
từ 3,59 đến 13,13%. Khi tỷ lệ AN và bột thân
đay tăng lên đến 4,86 thì khả năng ghép tăng
lên rất nhanh, G đạt cao nhất là 88,63% và E là
18,24%. Điều này xẩy ra có thể do nồng độ AN
cao đã làm tăng khả năng tiếp xúc của AN với
mạch xenlulozơ, đồng thời sự khuếch tán các
monome AN thấm sâu vào bề mặt trương nở
của bột thân đay dẫn đến hiệu suất ghép tăng.
Tuy nhiên, tỷ lệ và hiệu suất ghép lại có xu
hướng giảm nhanh khi tiếp tục tăng tỷ lệ AN và
bột thân đay vượt quá 4,86 do xẩy ra sự cạnh
tranh giữa phản ứng trùng hợp AN và phản ứng


đồng trùng hợp ghép.


Hình 5. Ảnh hưởng của tỷ lệ AN và


bột thân đay đến hiệu suất ghép AN.
Hình 6. Ảnh hưởng của thời gian
phản ứng đến hiệu suất ghép AN.


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời
gian và nhiệt độ phản ứng tới hiệu suất ghép
AN trên bột thân đay cho thấy, hiệu suất ghép
AN tăng nhanh khi thời gian phản ứng tăng từ 2
giờ đến 2,5 giờ và đạt giá trị tỷ lệ ghép và hiệu
suất ghép tối đa tương ứng là 131,36% và
27,03% ở 2,5 giờ (hình 6). Tuy nhiên, sau 2,5
giờ thì khả năng ghép có xu hướng giảm có thể
là do sự hịa tan một phần sản phẩm ghép khi
tiếp xúc trong thời gian dài nhiệt độ 60°C.
Trong khi đó, nhiệt độ phản ứng quyết định
động học của quá trình ghép. Tỷ lệ ghép và hiệu
suất ghép cao nhất đạt được khi nhiệt độ phản
ứng ở 60°C lần lượt bằng 131,36% và 27,03%
(hình 7). Nhưng khi nhiệt độ vượt quá 60°C thì
phản ứng khơi mào sinh ra một lượng lớn các
gốc tự do trong một đơn vị thời gian. Mặt khác,
khi nhiệt độ tăng, độ linh động của các gốc tự
do sẽ tăng và các phản ứng triệt tiêu gốc tự do
lẫn nhau tăng dẫn đến làm giảm hiệu suất phản
ứng ghép.



<i>3.3. Ảnh hưởng điều kiện phản ứng đến phản </i>
<i>ứng amidoxim hóa </i>


Sự hình thành nhóm amidoxim chịu ảnh
hưởng của nồng độ NH2OH.HCl. Sản phẩm
ghép AN có hàm lượng nitơ cao 3,18% được sử
dụng để thực hiện phản ứng với NH2OH.HCl.


Khi nồng độ NH2OH.HCl tăng từ 2,5 lên
10%, hàm lượng nitơ trong vật liệu tăng lên
đáng kể, điều này minh chứng cho sự hình
thành nhóm amidoxim (- C(NH2)=N-OH) trên


bột thân đay khi xẩy ra phản ứng giữa nhóm
nitril (-CN) với NH2OH. Khi nồng độ
NH2OH.HCl tăng lên từ 10 đến 15% thì hàm
lượng nitơ tăng không đáng kể do sự bão hồ
của các vị trí có chứa nhóm nitril, theo đó hàm
lượng nitơ đạt 8,35% ở 10%, 8,43% ở 12,5% và
8,54% ở 15%.


Nhiệt độ và thời gian phản ứng có ảnh
hưởng mạnh đến sự hình thành nhóm amidoxim
trên bề mặt bột thân đay. Kết quả nghiên cứu
nhận được cho thấy, hàm lượng nhóm
amidoxim, thể hiện qua hàm lượng nitơ trong
vật liệu tăng nhanh khi nhiệt độ phản ứng tăng
từ 25°C đến 60°C và đạt tối đa là 10,47% ở
60°C. Khi tăng nhiệt độ lên trên 60°C thì hàm
lượng nitơ trong vật liệu giảm mạnh, hình 8; có


thể ở nhiệt độ này đã xúc tiến q trình tách
nhóm nitril ra khỏi bề mặt bột thân đay, dẫn đến
làm giảm các vị trí hoạt động trên bề mặt vật
liệu. Trong khi đó, nếu duy trì nhiệt độ phản
ứng ở 60°C, nồng độ NH2OH 10% và thay đôi
thời gian phản ứng amidoxim hóa từ 60 đến 360
phút thì thấy lượng nhóm amidoxim trong vật
liệu tăng ở giai đoạn đầu và đạt ổn định sau thời
gian phản ứng là 240 phút, hình 9. Ở giai đoạn
đầu của phản ứng, số lượng nhóm nitril có sẵn
trên bề mặt bột thân đay tham gia vào việc hình
thành nhóm amidoxim; khi tăng thời gian phản
ứng, số lượng các nhóm nitril đã giảm mạnh tới
một lượng nhất định, dẫn đến hiệu suất phản
ứng thay đổi khơng nhiều.


Hình 8. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến phản ứng
amidoxim hóa.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

ở dạng tinh thể.


Trong khi đó, bột thân đay đã được
amidoxim hóa có những đặc tính khá khác biệt


nhóm cacboxyl C=O (1.739 cm-1); liên kết
C=C (1.598 cm-1) của axit béo; liên kết C-O
(1.250 cm-1) ở vòng thơm của lignin và liên kết
C-H, hinh 11a.


a) a)



b) b)


Hình 10. Bề mặt vật liệu trước (a) và sau (b) xử lý. Hình 11. Phổ IR của vật liệu trước (a) và sau (b) xử lý.
Phổ hấp thụ hồng ngoại của vật liệu


amidoxim hóa xuất hiện ba đỉnh píc ở các vị trí
có bước sóng 2.260, 1.660 và 910 cm-1 tương
ứng với các liên kết -CN, -C=N và -N-OH, hình
11b. Các nhóm này xuất hiên trên bề mặt vật
liệu do phản ứng của hydroxylamin trong phân


tử NH2OH.HCl với nhóm nitril nhóm amidoxim
(- C(NH2)=N-OH) trên bột thân đay, phản ứng
2. So với bột thân đay trước khi biến tính, cho
thấy đã gắn được các nhóm hoạt động
amidoxim lên trên bột thân đay.


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

Vật liệu amidoxim hóa đã được khảo sát
đánh giá thế điện động bề mặt. Kết quả nhận
cho thấy, thế điện động bề mặt giảm theo chiều
pH tăng và vật liệu amidoxim hóa có bề mặt âm
điện hơn so với ban đầu. Điều đó có nghĩa là
trên bề mặt vật liệu amidoxim hóa có khả năng
phân ly proton mạnh. Đây là ưu điểm của vật
liệu bột thân đay biến tính bằng phương pháp
amidoxim hóa. Ứng dụng của loại vật liệu này
sẽ được nêu trong các nghiên cứu tiếp theo.


<b>4. Kết luận </b>



Đã xác định được một số đặc tính của bột
thân đay. Xenlulozơ tồn tại trong bột thân đay ở
dạng cellulose I với chỉ số tinh thể CrI là
55,76%. Quá trình xử lý bột thân đay bằng
dung dịch NaOH làm phá vỡ cấu trúc xenlulozơ
tạo thành xenlulozơ. Nồng độ NaOH 15% là
phù hợp để làm giảm chỉ số tinh thể của bột
thân đay. Đã chọn được điều kiện tối ưu cho
phản ứng đồng trùng hợp ghép AN lên bột thân
đay sau xử lý NaOH, theo đó nồng độ SB và
APS trong hệ khơi mào phản ứng tương ứng là
0,15 và 0,2 mol/L, tỷ lệ AN/bột thân đay là
4,86/1 (g/g), nhiệt độ phản ứng 60°C, thời gian
phản ứng 2,5 giờ. Sản phẩm ghép AN được
amidoxim hóa bằng NH2OH.HCl. Đã chọn
được điều kiện tối ưu của phản ứng amodoxim
hóa đối với 1g vật liệu ghép AN, theo đó nồng
độ NH2OH.HCl là 10%, nhiệt độ phản ứng
60°C, thời gian phản ứng 4 giờ. Vật liệu
amodoxim hóa đã được đánh giá thông quá phổ
hấp thụ hồng ngoại và thế điện động bề mặt.


<b>Lời cảm ơn </b>


Các tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS
Đỗ Quang Huy, cán bộ giảng dạy Trường Đại
học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà
Nội đã có những ý kiến đóng góp quý báu định
hướng cho nghiên cứu này.



<b>Tài liệu tham khảo </b>


[1] Souvik Banerjee, Dastidar M.G. (2005), “Use of
jute processing wastes for treatment of wastewater
contaminated with dye and other organics”,
Bioresource Technology, 96, pp. 1919-1928.
[2] Wan Ngah W.S., Hanafiah M.A.K.M. (2008),


“Removal of heavy metal ions from wastewater
by chemically modified plant wastes as
adsorbents: A review”, Bioresource Technology,
99, pp. 3935-3948.


[3] Kamarul Izhan Bin Soh (2010), “Graft
copolymerization of methyl methacrylate onto
rice husk”, Bachelor of Chemical Engineering
thesis, Universiti Malaysia Pahang.


[4] Sanna Hokkanen (2014), “Modified nano and
microcellulose based adsorption materials in
water treatment”, Thesis of Doctor of Science,
Lappeenranta University of Technology.


[5] Segal L., Creely J. J., Martin A. E., Jr., Conrad C.
M. (1959), “An Empirical Method for Estimating
the Degree of Crystallinity of Native Cellulose
Using the X-Ray Diffractometer”, Textile
Research Journal, pp. 786-793.



[6] Yanping Liu, Hong Hu (2008), “X-ray Diffraction
Study of Bamboo Fibers Treated with NaOH”,
Fibers and Polymes, 9 (6), pp. 735-739.


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

<i>Food Industries Research Institute, Ministry of Industry and Trade </i>
<i>2</i>


<i>VNU University of Science </i>


<b>Abstract: The jute tree powder was modified by graft polymerization method acrylonitrile with </b>


redox initiator system of sodium bisulphite / amonium persulphate and performed the amidoximization
of obtained products by hydroxylamine hydrochloride in alkaline environment. The influence of the
concentration of the reactants, time and temperature were studied to determine the optimal conditions
for modifying materials. Properties of the materials were characterised by scanning electron
microscope, infrared absorption spectroscopy, zeta potential and adsorption capacity Zn2+, Ni2+ and
Cu2+. The study results showed that modified jute tree powder has thicker and more porous surface
compared to the same materials before modification. In infrared absorption spectrum showed peaks at
2260, 1660 and 910 cm-1, characterized for respectively -CN, -C=N and -N-OH bonds of the
amidoxime surface group.


<i>Keywords:</i> Modified jute tree powder, remove heavy metal ions from water.


</div>

<!--links-->

×