Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

Mâu thuẫn biện chứng và những biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (77.83 KB, 17 trang )

MỤC LỤC
I,MỞ ĐẦU
II,NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận :
1.1 . Khái niệm con người
1.2 . Bản chất con người
2. Ý nghĩa lịch sử khi nghiên cứu bản chất con người
3. Vận dụng nhân tố con người vào trong sự phát triển nền kinh tế tri thức 4.0
3.1 . Khái niệm nền kinh tế tri thức
3.2 . Đặc điểm phát triển nền kinh tế tri thức ở nước ta
3.3 . Vai trò của con người trong sự phát triển nền kinh tế tri thức 4.0
3.4 . Chính sách để nâng cao vai trị của con người trong nền kinh tế trì thức 4.0 ở
nước ta hiện nay .
III,KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo:

I,MỞ ĐẦU
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã từng tồn tại rất nhiều quan điểm khác
nhau xung quanh vấn đề nguồn gốc và bản chất của con người . Trước
Các Mác , vấn đề bản chất con người chưa được giải đáp một cách khoa
học . Khi hình thành quan niệm duy vật về lịch sử , các nhà sáng lập chủ
nghĩa Mác đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới , làm nên lịch sử của con


người . Bằng sự phát triển sự phát triển toàn diện thì con người vừa là
mục tiêu vừa là động lực phát triển lực lượng sản xuất . Khi lực lượng
sản xuất càng phát triển thì khả năng chiếm lĩnh và sử dụng các lực lượng
tự nhiên ngày càng cao hơn , con người tạo ra ngày càng nhiều hơn cơ sở
vật chất cho bản thân mình , đồng thời từ đó thúc đẩy con người tự hồn
thiện chính bản thân họ .
Với quan điểm như vậy thì chủ nghĩa Mác đã kết luận : con người


không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất , đóng vai trò quyết
định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất , mà nó cịn là chủ thể của
q trình lịch sử , của tiến bộ xã hội . Đặc biệt khi xã hội lồi người phát
triển đến trình độ nền kinh tế tri thức thì vai trị của con người đặt biệt
quan trọng , Vì con người tạo ra tri thức mới , chứa đựng những tri thức
mới .
Ở nước ta , từ đại hội Đảng lần thứ III đến nay Đảng ta ln xác
định cơng nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ.Muốn
thoát khỏi tình trạng nghèo nàn , lạc hậu , nâng cao đời sống nhân dân ...
thì khơng cịn con đường nào khác là chúng ta phải đẩy mạnh q trình
cơng nghiệp hóa hiện đại hóa . Để làm được như vậy thì một vấn đề cần
được đặt lên hàng đầu đó là vấn đề phát triển lực lượng sản xuất , nâng
cao kỹ thuật , công nghệ , và trong đó đặc biệt là phát triển nguồn nhân
lực .

II,NỘI DUNG
1.

Cơ sở lý luận

1.1. Khái niệm con người
Con người là thực thể sinh học - xã hội
Theo C.Mác, con người là một sinh vật có tính xã hội ở trình độ phát triển cao nhất
của giới tự nhiên và của lịch sử xã hội, là chủ thể của lịch sử, sáng tạo nên tất cả
các thành tựu của văn minh và văn hóa. Về phương diện sinh học, con người là
một thực thể sinh vật, là sản phẩm của giới tự nhiên, là một động vật xã hội. “Bản
thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con
người khơng bao giờ hồn tồn thốt ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật .



Điều đó có nghĩa rằng con người cũng như mọi động vật khác phải tìm kiếm thức
ăn, nước uống, phải “đấu tranh sinh tồn” để ăn uống, sinh đẻ con cái, tồn tại và
phát triển. Nhưng không được tuyệt đối hóa điều đó. Khơng phduy nhất tạo nên
bản chất của con người, mà con người còn là một thực thể xã hội. Khi xem xét con
người, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, không thể tách rời hai phương
diện sinh học và xã hội của con người thành những phương diện biệt lập, duy nhất,
quyết định phương diện kia.
Không chỉ là một thực thể sinh học, mà con người cũng còn là một bộ phận của
giới tự nhiên. “Giới tự nhiên...là thân thể vô cơ của con người,... đời sống thể xác
và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên?54. Về phương diện thực thể
sinh học, con người còn phải phục tùng các quy luật của giới tự nhiên, các quy luật
sinh học như di truyền, tiến hóa sinh học và các q trình sinh học của giới tự
nhiên. Con người là một bộ phận đặc biệt, quan trọng của giới tự nhiên, nhưng lại
có thể biến đổi giới tự nhiên và chính bản thân mình, dựa trên các quy luật khách
quan. Đây chính là điểm khác biệt đặc biệt, rất quan trọng giữa con người và các
thực thể sinh học khác. Về mặt thể xác, con người sống bằng những sản phẩm tự
nhiên, dù là dưới hình thức thực phẩm, nhiên liệu, áo quần, nhà ở, vv...23°. Bằng
hoạt động thực tiễn con người trở thành một bộ phận của giới tự nhiên có quan hệ
với giới tự nhiên, thống nhất với giới tự nhiên, bởi giới tự nhiên là “thân thể vô cơ
của con người”. Vì thế con người phải dựa vào giới tự nhiên, gắn bó với giới tự
nhiên, hịa hợp với giới tự nhiên mới có thể tồn tại và phát triển. Quan điểm này là
nền tảng lý luận và phương pháp luận rất quan trọng, có tính thời sự trong bối cảnh
khủng hoảng sinh thái và yêu cầu phát triển bền vững hiện nay.
Con người còn là một thực thể xã hội có các hoạt động xã hội. Hoạt động xã hội
quan trọng nhất của con người là lao động sản xuất. “Người là giống vật duy nhất
có thể bằng lao động mà thốt khỏi trạng thái thuần túy là lồi vật”?56. Nếu con
vật phải sống dựa hoàn toàn vào các sản phẩm của tự nhiên, dựa vào bản năng thì
con người lại sống bằng lao động sản xuất, bằng việc cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra
các vật phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình. Nhờ có lao động sản xuất mà con
người về mặt sinh học có thể trở thành thực thể xã hội, thành chủ thể của “lịch sử

có tính tự nhiên”, có lý tính, có “bản năng xã hội”. Lao động đã góp phần cải tạo
bản năng sinh học của con người, làm cho con người trở thành con người đúng
nghĩa của nó. Lao động là điều kiện kiên quyết, cần thiết và chủ yếu quyết định sự
hình thành và phát triển của con người cả về phương diện sinh học lẫn phương diện
xã hội.


| Trong hoạt động con người khơng chỉ có các quan hệ lẫn nhau trong sản xuất, mà
cịn có hàng loạt các quan hệ xã hội khác. Những quan hệ đó ngày càng phát triển
phong phú, đa dạng, thể hiện những tác động qua lại giữa họ với nhau. Xã hội, xét
đến cùng, là sản phẩm của sự tác động qua lại lẫn nhau giữa những con người.
Tính xã hội của con người chỉ có trong “xã hội lồi người”, con người khơng thể
tách khỏi xã hội và đó là điểm cơ bản làm cho con người khác với con vật. Hoạt
động của con người gắn liền với các quan hệ xã hội không chỉ phục vụ cho con
người mà còn cho xã hội, khác với hoạt động của con vật chỉ phục vụ cho nhu cầu
bản năng sinh học trực tiếp của nó. Hoạt động và giao tiếp của con người đã sinh ra
ý thức người. Tư duy, ý thức của con người chỉ có thể phát triển trong lao động và
giao tiếp xã hội với nhau. Cũng nhờ có lao động và giao tiếp xã hội mà ngơn ngữ
xuất hiện và phát triển. Ngôn ngữ và tư duy của con người thể hiện tập trung và nổi
trội tỉnh xã hội của con người, là một trong những biểu hiện rõ nhất phương diện
con người là một thực thể xã hội. Chính vì vậy, khác với con vật, con người chỉ có
thể tồn tại và phát triển trong xã hội loài người.
| Con người khác biệt với con vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những
tư liệu sinh hoạt của mình.
“Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung
bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt với
súc vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình
- đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định. Sản xuất ra những
tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời
sống vật chất của mình.

“Điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ở chỗ: loài
vượn may mắn lắm mới chỉ hái lượm trong khi con người lại sản xuất. Chỉ riêng sự
khác biệt duy nhất nhưng cơ bản ấy cũng khiến ta không thể chuyển - nếu không
kèm theo những điều kiện tương ứng - các quy luật của các xã hội loài vật sáng xã
hội loài người.
Các nhà tư tưởng trước Mác cũng đã có những ý kiến khác nhau về sự khác biệt
giữa con người và con vật với tính cách là những dấu hiệu về nội hàm của khái
niệm con người. Chẳng hạn, Aristốt đã cho rằng con người là một động vật chính
trị. Nhưng quan niệm của triết học Mác - Lênin về sự khác biệt giữa con người và
con vật thể hiện tính chất duy vật nhất quán: xác định sự khác biệt đó dựa trên nền
tảng của sản xuất vật chất. Lao động, tức là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt của mình,
tạo ra con người và xã hội, thúc đẩy con người và xã hội phát triển. Đây là điểm


khác biệt rất căn bản, chi phối các đặc điểm khác biệt khác giữa con người với con
vật. Quan niệm này được Ph. Ăngghen tiếp tục làm sáng rõ trong tác phẩm “Tác
dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người”25.
Con người là sản phẩm của lịch sử và của chính bản thân con người
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin phê phán quan niệm của Phoiơbắc đã
xem xét con người tách khỏi điều kiện lịch sử cụ thể và hoạt động thực tiễn của họ,
xem xét con người chỉ như là đối tượng cảm tính, trừu tượng, khơng có hoạt động
thực tiễn. Phoiơbắc đã khơng nhìn thấy những quan hệ hiện thực, sống động giữa
người với người trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong sản xuất. Do vậy, ông đã
tuyệt đối hóa tình u giữa người với người. Hơn thế nữa, đó cũng khơng phải là
tình u hiện thực mà là tình u đã được ơng lý tưởng hóa. Phê phán quan niệm
sai lầm của Phoiơbắc và của các nhà tư tưởng khác về con người, kế thừa các quan
niệm tiến bộ trong lịch sử tư tưởng nhân loại và dựa vào những thành tựu của khoa
học, chủ nghĩa Mác khẳng định con người vừa là sản phẩm của sự phát triển lâu
dài của giới tự nhiên, vừa là sản phẩm của lịch sử xã hội loài người và của chính
bản thân con người. Mác đã khẳng định trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức rằng, tiền

đề của lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của các ông là những con
người hiện thực đang hoạt động, lao động sản xuất và làm ra lịch sử của chính
mình, làm cho họ trở thành những con người như đang tồn tại. Cần lưu ý rằng con
người là sản phẩm của lịch sử và của bản thân con người, nhưng con người, khác
với con vật, không thụ động để lịch sử làm mình thay đổi, mà con người cịn là chủ
thể của lịch sử.
Con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử
Con người vừa là sản phẩm của lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội, nhưng đồng thời,
lại là chủ thể của lịch sử bởi lao động và sáng tạo là thuộc tính xã hội tối cao của
con người. Con người và động vật đều có lịch sử của mình, nhưng lịch sử con
người khác với lịch sử động vật. Lịch sử của động vật “là lịch sử nguồn gốc của
chúng và sự phát triển dần dần của chúng cho đến trạng thái hiện nay của chúng.
Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra, và trong chừng mực mà chúng có
tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy, thì điều đó diễn ra mà chúng khơng hề biết và
không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật hiểu
theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu, thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử
của mình một cách có ý thức bấy nhiêu?. Hoạt động lịch sử đầu tiên khiến con
người tách khỏi con vật, có ý nghĩa sáng tạo chân chính là hoạt động chế tạo cơng
cụ lao động, hoạt động lao động sản xuất. Nhờ chế tạo công cụ lao động mà con


người tách khỏi loài vật, tách khỏi tự nhiên trở thành chủ thể hoạt động thực tiễn
xã hội. Chính ở thời điểm đó con người bắt đầu làm ra lịch sử của mình. “Sáng tạo
ra lịch sử” là bản chất của con người, nhưng con người không thể sáng tạo ra lịch
sử theo ý muốn tùy tiện của mình, mà là phải dựa vào những điều kiện do quá khứ,
do thế hệ trước để lại trong những hoàn cảnh mới. Con người, một mặt, phải tiếp
tục các hoạt động trên các tiền đề, điều kiện cũ của thế hệ trước để lại, mặt khác,
lại phải tiến hành các hoạt động mới của mình để cải biến những điều kiện cũ. Lịch
sử sản xuất ra con người như thế nào thì tương ứng, con người cũng sáng tạo ra
lịch sử như thế ấy. Từ khi con người tạo ra lịch sử cho đến nay con người luôn là

chủ thể của lịch sử, nhưng cũng luôn là sản phẩm của lịch sử.
Con người tồn tại và phát triển luôn luôn ở trong một hệ thống mơi trường xác
định. Đó là tồn bộ điều kiện tự nhiên và xã hội, cả điều kiện vật chất lẫn tinh thần,
có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của con người và xã hội. Đó là
những điều kiện cần thiết, tất yếu, khơng thể thiếu đối với sự tồn tại và phát triển
của con người. Một mặt, con người là một bộ phận của giới tự nhiên, để tồn tại và
phát triển phải quan hệ với giới tự nhiên, phải phụ thuộc vào giới tự nhiên, thu
nhận và sử dụng các nguồn lực của tự nhiên để cải biến chúng cho phù hợp với nhu
cầu của chính mình. Mặt khác, là một bộ phận của tự nhiên, con người cũng phải
tuân theo các quy luật của tự nhiên, tuân theo các quá trình tự nhiên như cơ học,
vật lý, hóa học, đặc biệt là các quá trình y, sinh học, tâm sinh lý khác nhau. Về
phương diện sinh thể hay sinh học, con người là một tiểu vũ trụ có cấu trúc phức
tạp, là một hệ thống mở, biến đổi và phát triển khơng ngừng, thay đổi và thích nghi
khá nhanh chóng so với các động vật khác trước những biến đổi của mơi trường.
Nó vừa tiếp nhận, thích nghi, hịa nhịp với giới tự nhiên, nhưng cũng bằng cách đó
cải biến giới tự nhiên để thích ứng và biến đổi chính mình.
| Con người cũng tồn tại trong môi trường xã hội. Chính nhờ mơi trường xã hội mà
con người trở thành một thực thể xã hội và mang bản chất xã hội. Con người là sản
phẩm của hồn cảnh, của mơi trường trong đó có mơi trường xã hội. Mơi trường xã
hội cũng là điều kiện và tiền đề để con người có thể thực hiện quan hệ với giới tự
nhiên ở quy mô rộng lớn và hữu hiệu hơn. Trong thực chất thì mơi trường xã hội
cũng là một bộ phận của tự nhiên với những đặc thù của nó. So với mơi trường tự
nhiên mơi trường xã hội có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến con người, sự
tác động của môi trường tự nhiên đến từng cá nhân con người thường phải thông
qua môi trường xã hội và chịu ảnh hưởng sâu sắc của các nhân tố xã hội. Môi
trường xã hội cũng như mỗi cá nhân con người thường xuyên phải có quan hệ với


môi trường tự nhiên và tồn tại trong mối quan hệ tác động qua lại, chi phối và quy
định lẫn nhau.

Do sự phát triển của công nghiệp, của cách mạng khoa học - công nghệ, nhiều loại
môi trường khác đã và đang được phát hiện. Đó là những mơi trường, như mơi
trường thơng tin, kiến thức, mơi trường từ tính, môi trường điện, môi trường hấp
dẫn, môi trường sinh học, vv.. Nhưng cần lưu ý rằng, có những mơi trường trong
số đó mới được phát hiện và đang được nghiên cứu, nên cịn có nhiều ý kiến, quan
niệm khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Mơi trường sinh học, mơi trường cận tâm
lý, môi trường tương tác yếu, đang được nghiên cứu trong khoa học tự nhiên là
những môi trường như vậy. Tuy nhiên, dù chưa được nhận thức đầy đủ, mới được
phát hiện hay cịn có những ý kiến, quan niệm khác nhau, thì chúng đều hoặc là
thuộc về môi trường tự nhiên, hoặc là thuộc về môi trường xã hội. Tính chất, phạm
vi, vai trị và tác động của chúng đến con người là khác nhau, không giống hồn
tồn như mơi trường tự nhiên và mơi trường xã hội. Chúng là những hiện tượng,
quá trình cụ thể của tự nhiên hoặc xã hội, có tác động, ảnh hưởng ở một khía cạnh
hẹp, cụ thể và xác định ở phương diện tự nhiên hoặc xã hội.
1.2.

Bản chất của con người

Trong sinh hoạt xã hội, khi hoạt động ở những điều kiện lịch sử nhất định con
người có quan hệ với nhau để tồn tại và phát triển. “Trong tính hiện thực của nó,
bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. Bản chất của con người
ln được hình thành và thể hiện ở những con người hiện thực, cụ thể trong những
điều kiện lịch sử cụ thể. Các quan hệ xã hội tạo nên bản chất của con người, nhưng
không phải là sự kết hợp giản đơn hoặc là tổng cộng chúng lại với nhau mà là sự
tổng hòa chúng; mỗi quan hệ xã hội có vị trí, vai trị khác nhau, có tác động qua lại,
không tách rời nhau. Các quan hệ xã hội có nhiều loại: Quan hệ quá khứ, quan hệ
hiện tại, quan hệ vật chất, quan hệ tinh thần, quan hệ trực tiếp, gián tiếp, tất nhiên
hoặc ngẫu nhiên, bản chất hoặc hiện tượng, quan hệ kinh tế, quan hệ phi kinh tế,
v... Tất cả các quan hệ đó đều góp phần hình thành lên bản chất của con người. Các
quan hệ xã hội thay đổi thì ít hoặc nhiều, sớm hoặc muộn, bản chất con người cũng

sẽ thay đổi theo. Trong các quan hệ xã hội cụ thể, xác định, con người mới có thể
bộc lộ được bản chất thực sự của mình, và cũng trong những quan hệ xã hội đó thì
bản chất người của con người mới được phát triển. Các quan hệ xã hội khi đã hình
thành thì có vai trị chi phối và quyết định các phương diện khác của đời sống con
người khiến cho con người khơng cịn thuần túy là một động vật mà là một động
vật xã hội. Con người “bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã hội. Khía cạnh thực thể
sinh vật là tiền đề trên đó thực thể xã hội tồn tại, phát triển và chi phối.


2.

Ý nghĩa lịch sử khi nghiên cứu bản chất con người

Ý nghĩa phương pháp luận nhận thức và thực tiễn rút ra từ quan niệm duy
vật lịch sử về con người và bản chất của con người
Một là, để lý giải một cách khoa học những vấn đề về con người thì khơng thể chỉ
đơn thuần từ phương diện bản tính tự nhiên của nó mà điều căn bản hơn, có tính
quyết định phải là từ phương diện bản tính xã hội của nó, từ những quan hệ kinh tế
- xã hội của nó.
Hai là, động lực cơ bản của sự tiến bộ và phát triển của xã hội chính là năng lực
sáng tạo lịch sử của con người. Vì vậy, phát huy năng lực sáng tạo của mỗi con
người, vì con người chính là phát huy nguồn động lực quan trọng thác đẩy sự tiến
bộ và phát triển của xã hội.
Ba là, sự nghiệp giải phóng con người, nhằm phát huy khả năng sáng tạo lịch sử
của nó phải là hướng vào sự nghiệp giải phóng những quan hệ kinh tế - xã hội.
Trên ý nghĩa phương pháp luận đó có thể thấy một trong những giá trị căn bản nhất
của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chính là ở mục tiêu xóa bỏ triệt để các quan
hệ kinh tế - xã hội áp bức và bóc lột, ràng buộc khả năng sáng tạo lịch sử của con
người. Thơng qua cuộc cách mạng đó nó cũng thực hiện sự nghiệp giải phóng tồn
nhân loại bằng phương thức xây dựng mối quan hệ kinh tế - xã hội xã hội chu

nghĩa và cộng sản chủ nghĩa nhầm xác lập và phát triển một xã hội mà tự do, sáng
tạo của người này trở thành điều kiện cho tự do và sáng tạo của người khác. Đó
cũng chính là thực hiện triết lý đạo đức nhân sinh cao đẹp nhất của chủ nghĩa cộng
sản: “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”.
3.

Vận dụng nhân tố con người vào trong sự phát triển kinh tế tri thức 4.0

3.1. Khái niệm nền kinh tế tri thức
Kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng
tri thức, thông tin. Trong nền kinh tế tri thức, việc sản xuất, phân phối và sử dụng
tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, xã hội; tạo ra của cải,
nâng cao chất lượng cuộc sống. Kinh tế tri thức là nền kinh tế được phát triển chủ
yếu dựa vào tri thức và công nghệ hiện đại. Cơ sở của nền kinh tế tri thức là tri
thức (thể hiện trong con người và trong công nghệ)...
Sự ra đời và phát triển của nền kinh tri thức là kết quả tất yếu của quá trình phát
triển lực lượng sản xuất xã hội. Nó được thúc đẩy bởi sự phát triển mạnh mẽ của
cách mạng khoa học - công nghệ tiên tiến hiện đại, nhất là cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư với sự phát triển nhanh, mang tính đột phá của công nghệ thông


tin. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các sáng kiến, phát minh khoa học,... đã tạo ra
tính linh hoạt, hiệu quả cao cho hoạt động sản xuất.
Kinh tế tri thức là giai đoạn phát triển cao của lực lượng sản xuất, cao hơn so với
kinh tế công nghiệp và kinh tế nông nghiệp. Trong nền kinh tế tri thức, tri thức
đóng vai trị quyết định hàng đầu đối với phát triển kinh tế - xã hội.
3.2.

Đặc điểm phát triển nền kinh tế tri thức ở nước ta


Ở Việt Nam, ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã
xác định: “Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ,
cuốn hút tất cả các nước khác nhau”. Gần đây nhất, Đảng ta đã xác định gắn cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức: “Đẩy mạnh cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ môi trường”. (Văn kiện
Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam), trong đó Đảng ta khẳng định, phát triển
khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh
và bền vững. Như vậy có thể thấy ngay từ thời kỳ đầu, Đảng ta đã rất coi trọng
việc tạo ra động lực cho việc hình thành và phát triển kinh tế tri thức. Tuy nhiên,
hiện nay về cơ bản nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế mang những dấu ấn
của kinh tế nông nghiệp, đang chuyển dần sang kinh tế cơng nghiệp. Vị trí của Việt
Nam trong nền kinh tế tri thức toàn cầu là rất thấp. Những chỉ số về kinh tế tri thức
của Việt Nam đều ở nửa dưới của bảng xếp hạng. Chỉ số KEI của Việt Nam hiện
đang là 3,51, trong đó chỉ số sáng tạo chỉ là 2,72, trong khi đó chỉ số KEI của một
số nước trong khu vực là rất cao: Singapore là 8,44; Malaysia là 6,07; Thái Lan là
5,52.
Xét phương diện những đặc trưng của nền kinh tế tri thức thì chúng ta thấy cơ cấu
kinh tế - lao động của Việt Nam hiện nay vẫn là lạc hậu: tỷ trọng các ngành dịch
vụ, công nghiệp trong GDP cịn hạn chế, ngành nơng nghiệp cịn cao. Cơ cấu lao
động cũng chưa chuyển biến mạnh mẽ: lao động trong lĩnh vực nơng nghiệp cịn
chiếm tỷ trọng rất cao, chất lượng lao động cịn nhiều hạn chế. Trong khi đó hiện
nay ở Mỹ khoảng 80% lực lượng lao động làm việc trong các ngành dịch vụ,
nghiên cứu, ứng dụng và triển khai.
Hiện nay, hàm lượng chất xám trong sản phẩm của Việt Nam là rất thấp, “đến 2020
giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng
45% trong tổng GDP. Giá trị sản phẩm công nghệ chế tạo chiếm khoảng 40% trong
tổng giá trị sản phẩm công nghiệp”. (Văn kiện Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt
Nam). Sự đầu tư cho khoa học, công nghệ ở Việt Nam so sánh tương quan với các
quốc gia trong khu vực là rất thấp. Hiện nay, Việt Nam chỉ dành khoảng 0,3% GDP



cho hoạt động khoa học, cơng nghệ, trong khi đó con số này ở Malaysia là 1%,
Singapore là 3%.Theo Robert Walter Global – một công ty chuyên về tuyển dụng:
năm 2012 mặc dù kinh tế khó khăn, nhiều cơng ty phá sản hoặc giảm quy mô hoạt
động, Việt Nam vẫn “khát” nhân sự có trình độ. Hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào
tạo ở Việt Nam đạt khoảng 35%, đây là con số rất thấp so với các nước trong khu
vực và trên thế giới
Một trong những tiêu chí quan trọng của kinh tế tri thức là sự ứng dụng công nghệ
vào sản xuất kinh doanh và quản lý. Phần lớn các doanh nghiệp ở nước ta đều thiếu
thông tin về công nghệ. Theo một khảo sát của Viện Nghiên cứu và Quản lý TW
trên 82 doanh nghiệp, chỉ có 16 doanh nghiệp có ý tưởng đổi mới cơng nghệ. Xét
một cách tổng quát, những yếu tố cho sự ra đời và phát triển kinh tế ở Việt Nam
hiện nay đang ở thời kỳ hình thành.
3.3.Vai trị của con người trong sự phát triển nền kinh tế phát triển nền kinh tế tri
thức 4.0.
Sự thành cơng của q trình phát triển kinh tế nước ta địi hỏi ngồi mơi trường
chính trị ổn định, của những nguồn lực cần thiết như: nguồn lực con người ,vốn,
thiên nhiên, cơ sở vật chất kĩ thuật ,vị trí địa lý …Các nguồn lực này có quan hệ
chặt chẽ với nhau cùng tham gia vào q trình cơng nghiệp hóa hiện đại hóa nhưng
với mức độ khác nhau trong đó nguồn lực con người là yeu tố quyết định.
Vai trò nguồn lực con người quan trọng như thế nào đã được chứng minh trong lịch
sử kinh tế của những nước tư bản phát triển như Nhật Bản , Mỹ .
Ngày nay , đối với những nước lạc hậu đi sau , không thể phát triển nhanh
chóng nếu khơng tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật- Công nghệ hiện đại của
các nước phát triển . Nhưng không phải cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng mọi giá
mà khơng cần tính đến yếu tố con người , cịn nhớ rằng cơng nghệ tiên tiến của
nước ngoài khi được tiếp thu sẽ phát huy tác dụng tốt hay bị lãng phí thậm chí bị
phá hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào hành vi của con người khi sử dụng chúng . Đó
là một điều rất đáng lưu ý .
Như mọi quốc gia khác trên thế giới , sự nghiệp phát triển kinh tế Việt Nam

cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con người và do nguồn lực này quyết định .
Bởi những lí do sau :
Thứ nhất , các nguồn lực khác như vốn tài nguyên thiên nhiên , vị trí địa lý ...
chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng chúng , chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích
cực khi được kết hợp Với nguồn lực con người thông qua hoạt động có ý thức của


con người . Bởi lẽ con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy có trí tuệ và có ý
chí , biết lợi dụng các nguồn lực khác và gắn kết chúng lại với nhau , tạo thành một
sức mạnh tổng hợp cùng tác động vào quá trình CNH HĐH phát triển kinh tế . Các
nguồn lực khác đều là khách thể chịu sự cải tạo và khai thác của con người , vì thế
cho nên hết thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu , lợi ích con người nếu họ biết
cách tác động và chi phối . Do đó trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất ,
người lao động là yếu tố quan trọng nhất , là lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân
loại .
- Thứ hai , các nguồn khác là hữu hạn , có thể bị khai thác cạn kiệt , trong khi
đó nguồn lực con người là vơ tận . Nó khơng chỉ tái sinh và tự sinh sản về mặt sinh
học mà cịn tự đổi mới khơng ngừng nếu biết chăm lo , bồi dưỡng và khai thác hợp
lí . Đó là cơ sở làm làm cho năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con
người phát triển không ngừng , nhờ vậy con người đã biết làm chủ tự nhiên , khám
phá ra nhiều nguồn tài nguyên mới , phát minh ra nhiều công cụ sản xuất hiện đại
hơn , đưa xã hội chuyển từ thấp đến cao .
Thứ ba , trí tuệ con người có sức mạnh vơ cùng to lớn một khi nó được vật
thể hóa , trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp . Sự phát triển như vũ bão của cuộc
cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghiệp hiện đại đang dẫn nên kinh tế của các
nước công nghiệp phát triển và vận động đến nền kinh tế của trí tuệ . Giờ đây sức
mạnh của trí tuệ đã đạt đến mức mà nhờ nó con người có thể sáng tạo ra những
người máy “ bắt chước ” hay “ phỏng theo ” những đặc tính trí tuệ của chính con
người . Rõ ràng là bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối
óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại được chứng kiến nhiều biến đổi thần

kỳ trước cả quá trình phát triển của mình .
Thứ tư , kinh nghiệm nhiều nước và thực tiễn của chính nước ta cho thấy sự
thành cơng của phát triển kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối
chính sách cũng như cách tổ chức thực hiện của con người . Cơ cấu lao động cần
cho quá trình phát triển kinh tế phải bao gồm : các chính khách , các nhà hoạch
định chính sách , các học giả , các nhà kinh doanh , nhà kỹ thuật và công nghệ , các
công nhân lành nghề ... Nếu khơng có các nhà chính khách , các học giả thì khó có
thể có được những chiến lược những chính sách phát triển đúng đắn . Nếu khơng
có các nhà kinh doanh thì cũng sẽ khơng có những người sử dụng một cách có hiệu
quả các nguồn vốn nhân lực công nghệ . Sự thiếu vắng , kém cỏi của một trong các
bộ phận cấu thành nhân lực trên sẽ có hại cho q trình phát triển kinh tế đất nước .


Qua tồn bộ phân tích trên đây , ta có thể đi đến kết luận rằng nguồn lực con
người có vai trị quyết định cho sự thành cơng của q trình phát triển kinh tế đất
nước . Do vậy , muốn phát triển kinh tế thành cơng thì phải đổi mới cơ bản các
chính sách đầu tư cho các ngành khoa học , văn hóa , y tế , giáo dục ở Việt Nam
nhằm phát triển nguồn lực con người . Đây là nhiệm vụ lớn nhất và cũng được coi
là khó khăn nhất trong cơng cuộc đổi mới hiện nay .
3.4.Chính sách để nâng cao nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức 4.0 ở nước
ta hiện nay.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII nhấn mạnh: “Phát triển NNL, nhất là
nhân lực chất lượng cao, tranh thủ những cơ hội và thành tựu của Cuộc CMCN
4.0”. Đây là một chủ trương đúng đắn, thể hiện sự nhạy bén, sáng tạo và tư duy đột
phá của Đảng ta. Tuy nhiên, để thực hiện tốt nội dung này địi hỏi phải có một
chiến lược tổng thể và lâu dài, với hệ thống các giải pháp mang tính đồng bộ, thiết
thực và khả thi, trong đó có thể tập trung nghiên cứu và thực hiện tốt một số nội
dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, tập trung xây dựng và hồn thiện chiến lược tổng thể, hệ thống cơ chế,
chính sách về phát triển NNL chất lượng cao: Xây dựng chiến lược tổng thể phát

triển NNL chất lượng cao là một chủ trương lớn, và là nhiệm vụ quan trọng, đòi
hỏi cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, thận trọng với một tư duy đột phá và tầm nhìn
lâu dài, phù hợp với thực tiễn. Chiến lược phải xác định rõ mục tiêu, quy mơ, lộ
trình và những cơ chế, chính sách tổng thể. Trong đó, mục tiêu chiến lược phải ưu
tiên khắc phục mâu thuẫn giữa phát triển về số lượng, chất lượng và cơ cấu; xác
định quy mô, số lượng và cơ cấu của từng loại nhân lực cho phù hợp. Chiến lược
cũng xây dựng lộ trình thực hiện một cách hợp lý, có tính dự báo cao, xây dựng và
hồn thiện cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển NNL chất lượng cao một cách
toàn diện và đồng bộ. Cần xác định rõ đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của cả
hệ thống chính trị, trong đó cần sớm thống nhất nhận thức trong các đồn thể chính
trị - xã hội, trước hết là lực lượng nòng cốt đang trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực
nghiên cứu và hoạch định chiến lược, chính sách, tác động của thời cơ và thách
thức đối với nước ta từ CMCN 4.0.
Hệ thống cơ chế, chính sách có vai trị rất quan trọng, tác động trực tiếp hoặc gián
tiếp, tạo động lực thúc đẩy hoặc lực cản kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế - xã
hội nói chung và phát triển NNL chất lượng cao nói riêng. Trên thực tế, những năm
qua, nước ta đã có nhiều cơ chế, chính sách mới có tác động tích cực đến việc phát
triển NNL chất lượng cao. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các chính sách đó


đã bộc lộ khơng ít hạn chế, bất cập, hiệu quả mang lại chưa tương xứng. Để tiếp
tục phát triển NNL chất lượng cao, có hiệu quả, địi hỏi cần phải thường xuyên
điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách nhằm tạo hành lang
pháp lý, tạo thuận lợi cho việc phát triển NNL chất lượng cao ở nước ta trước tác
động của cuộc CMCN 4.0.
Việc đổi mới, hồn thiện cơ chế, chính sách để tạo động lực cho sự phát triển NNL
chất lượng cao phải được thực hiện đồng bộ trên nhiều phương diện như giáo dục đào tạo, khoa học - công nghệ, môi trường làm việc, chính sách việc làm, thu nhập,
an sinh xã hội, bảo hiểm, bảo trợ xã hội, chăm sóc sức khỏe, chính sách phát triển
thị trường lao động, các điều kiện nhà ở, sinh sống, định cư... Nhà nước cần tiếp
tục đổi mới thể chế, hoàn thiện hành lang pháp lý từ Trung ương đến địa phương

nhằm tạo môi trường thuận lợi phát triển NNL, khuyến khích phát triển thị trường
NNL chất lượng cao; thị trường và sản phẩm khoa học - công nghệ theo hướng hội
nhập, xây dựng môi trường pháp lý cho phát triển các ngành, nghề kinh doanh mới
ở Việt Nam đang bắt đầu nảy sinh từ cuộc CMCN 4.0.
Cần có chính sách thỏa đáng để tạo nguồn lực và khai thác có hiệu quả nguồn lực
mới, nhất là trong những ngành mũi nhọn về công nghệ của quốc gia; nâng cao
chất lượng hoạt động của các vườn ươm công nghệ và DN công nghệ cao; có chính
sách hỗ trợ hình thành và phát triển các vườn ươm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
trong các cơ sở đào tạo về công nghệ, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu
phát triển và chuyển giao công nghệ. Đồng thời, tăng cường sự hợp tác hiệu quả
giữa Nhà nước, DN và các trường đại học thúc đẩy sự phát triển một số ngành
chọn lọc, đặc biệt là công nghệ thông tin.
Thứ hai, gắn kết chặt chẽ giữa quá trình đào tạo với bồi dưỡng và sử dụng NNL
chất lượng cao: Đảng ta khẳng định: “Xây dựng chiến lược phát triển NNL cho đất
nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những giải pháp đồng bộ, trong đó tập
trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại NNL trong các nhà trường”. Điều này đặt
ra yêu cầu rất cao đối với NNL chất lượng cao. Vì vậy, các cơ sở đào tạo phải luôn
coi trọng quản lý tốt chất lượng “sản phẩm đầu ra” thơng qua các hình thức đánh
giá năng lực thực hành của học viên trong quá trình đào tạo, phúc tra kết quả đào
tạo, kết quả tốt nghiệp… thay cho cách quản lý “sản phẩm đầu vào” như hiện nay.
Các cơ sở đào tạo cũng cần trang bị cho học viên, nghiên cứu sinh các kỹ năng cần
thiết như: giao tiếp, nghiên cứu tài liệu nước ngồi, sử dụng cơng nghệ thơng tin,
sự sáng tạo, thích nghi, nắm bắt được xu thế phát triển của xã hội… nhằm đảm bảo
sự gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với sử dụng, đáp ứng yêu cầu đang đặt ra. Việc lựa


chọn nguồn đi đào tạo, bồi dưỡng không chỉ đặt lên hàng đầu tiêu chí về nhận thức
mà cịn phải rất coi trọng đến các vấn đề ngoại ngữ, tin học, bản lĩnh chính trị, đạo
đức nghề nghiệp, năng lực lãnh đạo, quản lý.
Đặc biệt, các cơ sở đào tạo cần phải dân chủ, cơng khai các tiêu chí, hướng đi học

và sử dụng cán bộ để làm tăng tính tích cực, chủ động cho cả người học và đơn vị
sử dụng. Trong sử dụng nhân lực, không quá phụ thuộc vào vấn đề bằng cấp mà
coi trọng đến hiệu quả công việc. Để đạt được, cần thường xuyên bồi dưỡng, rèn
luyện đội ngũ này trong các hoạt động thực tiễn, sau đó mới bố trí, sử dụng theo
đúng năng lực, trình độ nhằm phát huy vai trị, thế mạnh của họ theo chuyên ngành
đào tạo, khắc phục được tình trạng lãng phí hoặc chảy máu “chất xám” ở một số
nơi hiện nay.
Thứ ba, tận dụng hiệu quả các cơ hội, nỗ lực đổi mới hệ thống giáo dục Việt Nam:
Cụ thể là cần tiếp tục gia cố những yếu tố nền móng, đổi mới tư duy về phát triển
giáo dục trong tổng thể chiến lược phát triển của quốc gia. Mục tiêu là đào tạo đội
ngũ lao động chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, cụ thể là
chuyển từ biệt lập, tự phát về số lượng sang chất lượng, có kết nối giữa đào tạo và
sử dụng lao động, từ cách đào tạo làm cho người học thụ động sang chủ động sáng
tạo, không ngại đương đầu với khó khăn, thách thức.
Nhà nước cũng cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý tạo mơi trường thuận lợi
phát triển NNL, khuyến khích phát triển thị trường NNL chất lượng cao; thị trường
sản phẩm khoa học công nghệ phải phản ánh đầy đủ quan hệ cung - cầu, qua đó,
làm căn cứ hoạch định chiến lược và chính sách. Bên cạnh đó, cần có chính sách
hỗ trợ hình thành và phát triển các vườn ươm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong
các trường đại học đào tạo về công nghệ; gắn kết chặt chẽ giữa các vườn ươm khởi
nghiệp với trường đại học và DN...
Các cơ sở giáo dục đại học cần tăng cường liên kết với các DN, các trường đại học
quốc tế để xây dựng các phịng thí nghiệm theo hình thức hợp tác cơng – tư; Xây
dựng mơ hình giáo dục 4.0 theo kịp xu hướng công nghệ hiện đại trong nền kinh tế
4.0.
III,KẾT LUẬN
Trong các kỳ đại hội VI VII , VIII của Đảng ta đã chủ trương xã hội nước ta
trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 là hồn tồn đúng đắn và sáng
suốt bởi chủ trương đó xuất phát từ trình độ và hồn cảnh cụ thể của đất nước ta



về các mặt . Chúng ta , thực hiện qua trình CNH , HĐH phát triển kinh tế đất
nước đã khơi dậy năng lực sáng tạo , tính chủ động của con người phát triển .
Do đó , mà nền kinh tế của chúng ta đã thực sự được đổi mới và đạt được
những thành tựu to lớn . Từ một nước nghèo nàn về cơ sở vật chất , lạc hậu về
khoa học kỹ thuật đói kém , thì nay ta đã đảm bảo cho dân được ăn no , và cịn
có sp dư thừa để xuất khẩu .
Mặc dù vậy , chúng ta vẫn cịn rất nhiều khó khăn ở phía trước địi hỏi nhà
nước phải có chính sách , biện pháp khắc phục để cho sự nghiệp CNH , HĐH
phát triển kinh tế đất nước đạt được kết quả .
Hơn nữa , chúng ta phải đặt vấn đề nhân lực con người lên hàng đầu phát
triển đồng bộ giữa các ngành , giữa các vùng , đảm bảo nền kinh tế phát triển
theo định hướng xã hội chủ nghĩa .
Nhà nước không ngừng nâng cao hiệu quả quản lý đảm bảo công cuộc NH
HĐH phát triển nhanh . Phải đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý về kinh tế có trình
độ , năng lực quản lý , có tư cách đạo đức tốt điều đó địi hỏi ta phải có sự giáo
dục đào tạo thế hệ trẻ ngay từ khi còn là học sinh , sinh viên đó là nguồn lực
quý giá cho sự nghiệp CNH , HĐH đất nước .


Tài liệu tham khảo:
1.

Giáo trình triết học Mác-Leenin, Bộ giáo dục và đào tạo

2.
Ban Tuyên giáo Trung ương: Tài liệu nghiên cứu các Văn kiện Hội nghị lần
thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, NXB Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, 2017;
3.

Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn
phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2017, tr. 54;
4.
Đường Vinh Sường: “Giáo dục đào tạo với phát triển NNL chất lượng cao ở
nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 4/12/2014;
5.
Đối thoại chính sách cao cấp về phát triển NNL trong kỷ nguyên số... tại Hội
nghị các quan chức cao cấp APEC lần thứ hai (SOM-2) tổ chức tại Hà Nội, ngày
15/5/2017
-



×