Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.48 MB, 8 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<i>Khoa L u ậ t</i>
<i>Đai hoc KH Xã hội & N h â n văn - ĐHQG H à N ộí</i>
<b>Đ ặt v ấ n đề</b>
Quan hệ ph áp lu ậ t là một trong n h ữ n g h iện tượng p h á p lý phức tạp n h ấ t, cho
đến nay vẫn còn k h á nhiều vấn đề lý lu ậ n bị bỏ ngỏ hoặc không thông n h â t quan
điểm giữa lý lu ận chung vê n h à nước và p h á p l u ậ t với một sô khoa học ph áp lý
chuyên ngành. Trong phạm vi bài viết, c h ú n g tôi chỉ n êu lên m ột trong sơ nhưng
vấn đề cịn có nhiều tr a n h lu ậ n xung q u a n h h iệ n tượng p h á p lý phức tạ p này;
<b>- Về khái niệm qu an hệ pháp luật.</b>
- Vê sự tồn tại của qu an hệ ph áp lu ậ t chung.
<b>1. v ề k h á i n iệ m q u a n h ệ p h á p lu ậ t</b>
Quan hệ p h áp lu ậ t giữ một vị tr í đặc b iệ t tro n g th ư ợ ng tầ n g kiến trú c p háp lý
và là hìn h thức đặc th ù của sự thực hiện p h á p lu ậ t. Mỗi ngưòi c h ú n g ta h àn g ngày
đêu ít nhiều th am gia vào các qu an hệ p h á p lu ậ t n h ấ t định. Chỉ có điều là khơng
phải bao giò mỗi người cũng để ý tới, cũng "nhổ” và "biêt đ ê n ” là m ình "đang th am
gia vào những qu an hệ pháp luật". Thời gian tồn tạ i của các q u an hệ ph áp luật
cũng có nhiều điều th ú vỊ. Có những loại q u a n hệ p h á p l u ậ t tôn tại thưồng xuyên,
lâu dài theo suốt sự tồn tại của các chủ thể. Lại cũng có n h ữ n g q u a n hệ p h áp luật
<b>t.hì sống rất. ngắn ngủi, "ohơt đến, chơt đi” trong khoảnh khắc. Cũng có loại quan </b>
hệ pháp lu ậ t mà chủ th ể th a m gia chỉ m uốn xác lập mà k h ơng mong muốn có một
ngày nào đó qu an hệ pháp lu ậ t sẽ được thực h iện - c h ă n g h ạ n q u a n hệ ph áp lu ậ t vê
bảo hiểm xã hội. Tóm lại. quan hệ pháp lu ậ t là một v ấn đề k h ông chỉ có ý nghĩa về
Trong khoa học ph áp lý chưa có ý k iến th ố n g n h ấ t về k h á i niệm qu an hệ pháp
luật. Về cơ bần, có hai qu an điểm, hai cách h iểu khác n h a u . Q u an điêm th ứ nhất
<i><b>cho rằng: quan hệ p h á p luật là quan hệ xã hội được q u y p h ạ m p h á p l u ậ t điêu </b></i>
<i>chỉnh [l,tr.305], [2, tr.41], [3, tr.107], q u a n hệ p h á p lu ậ t là một bộ p h ậ n của quan </i>
<i>hệ xã hội, và q uan hệ xã hội sẽ trở th à n h q u a n hệ p h á p lu ậ t khi được quy phạm </i>
<i>pháp lu ậ t điều chỉnh. Theo quan điểm th ứ hai, q u a n hệ p h á p lu ậ t là h in h thức </i>
<i>p h á p lý của các quan hệ xã hội, x uất h iện tr ê n cơ sở sự đ iểu ch ỉn h của p h áp luật </i>
đối vối các qu an hệ xã hội tương ứng và các bên th a m gia q u a n hệ ph áp lu ậ t đó có
những quyền và nghĩa vụ ph áp lý n h â t đ ịn h và được bảo đ ả m thực hiện b ă n g nhà
nước[5, tr.l0 2 ], [6, tr .3 8 9 ] .
Đ ầu là sự khác n h a u tro n g h ai k h á i niệm nêu trên? Có ý kiến cho rằng: đó chỉ
là hai cách nói khác n h a u , chứ b ả n c h ấ t vẫn là một. Theo chúng tôi, không hoàn
toàn n h ư vậy, nếu xem xét kỹ hai k h á i niệm này.
Một trong n h ữ n g t r a n h lu ậ t gay g ắt trong lý lu ậ n chung về pháp lu ậ t đó là:
<b>quan hệ pháp luật trù ng hỢp hay không trùng hỢp với quan hệ xã hội thực tê ? </b>
[7, tr.412] . Theo c h ú n g tôi, k h ông n ên đồng n h ấ t qu an hệ pháp lu ậ t vối qu an hệ xã
hội thực tê, mà cần có sự p h â n b iệ t chúng. Không phải dưới tác động của quy phạm
ph áp lu ật, thì q u a n hệ xã hội sẽ "trở th à n h quan hệ ph áp luật". Quan hệ ph áp lu ậ t
cũng không phải là một bộ p h ậ n của q u a n hệ xã hội. Q uan hệ xã hội tồn tại một
<b>cách khách quan, những quan hệ kinh tế - xã hội đã đưỢc chấp nhận như là những </b>
nội hàm của nó đã có trưóc các h ìn h thứ c ph áp lý của chúng. Người ta yêu thưđng
n h a u và quyêt địn h k ế t hôn đó là x u ấ t p h á t từ n h u cầu và lợi ích của họ, là qu an
hệ xã hội khách q u a n , chứ không p h ả i vì có lu ậ t hôn n h â n và gia đình. Mục đích
<b>điều chỉnh của pháp lu ậ t là để đạt được hình thức pháp lý cho các quan hệ xã hội </b>
thực tế.
<i>Như vậy, điều đ ặ t ra là p h ả i làm rõ quan hệ p h á p lu ậ t và quan hệ xã hội </i>
<i><b>đưỢc </b><b>p h á p lu ậ t đ iều chỉnh. Q u a n điểm cho rằ n g q u an hệ ph áp lu ậ t đó là những </b></i>
<b>quan hệ xã hội được quy ph ạm pháp lu ậ t điều chỉnh là không hỢp lý. Mối quan hệ </b>
<b>giữa quan hệ pháp lu ậ t vối quan hệ xã hội thực tê chỉ như là môl quan hệ của </b>
phạm tr ù nội d u n g và p h ạ m t r ù h ìn h thức. Trước hết, q u a n hệ p háp lu ậ t và qu an
hệ xã hội được p h á p lu ậ t điều ch ỉn h là n h ữ n g hiện tưỢng xã hội khác nhau. Quan
<b>hệ pháp luật- phưdng tiện thực hiện quy phạm pháp luật (trong đa sô các trường </b>
hợp), h ìn h thức p h á p lý của các q u a n hệ xã hội. Q uan hệ xã hội được pháp lu ậ t
<b>điểu chỉnh (còn đưỢc gọi là quan hệ xã hội thực tê)- lại là đối tưỢng điều chỉnh của </b>
pháp luật, tức là lĩn h vực các hiện tưỢng xã hội mà pháp lu ậ t tác động tới. Hai
qu an hệ này có liên q u a n m ậ t th iế t với nhau, Khi một q uan hệ xã hội đưỢc mang
<b>hình thức pháp lý thì vẫn đồng thời song song tồn tại cả hai loại quan hệ: quan hệ </b>
<b>xã hội và qu an liệ p h á p luẠL, Liuiig dỏ, quaii hệ xa hội la IIỌI dung v ạ i c h á i cùa </b>
<b>quan hộ pháp luật, còn quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội.</b>
Q uan hệ ph áp lu ậ t là h ìn h thức ph áp lý của các qu an hệ xã hội. Dưới tác
động của các quy p h ạ m p h á p luật, các q u a n hệ xã hội sẽ được m ang hình thức pháp
lý "chiếc áo khoác p h á p lý". N h ư n g quy phạm ph áp lu ậ t chỉ đóng vai trò là cơ sở
làm p h á t sinh q u a n hệ p h á p lu ậ t chứ không mặc nhiên trực tiếp tạo ra nó. Các
qu an hệ xã hội khi đã m an g tr ê n m ìn h h ìn h thức pháp lý, vẫn giữ lại đặc tính c h ất
lượng. "tính tự tr ị”củ a mình. Q u an hệ xã hội thực tế, khi đã đưỢc khoác trê n m ình
hình thức pháp lý (tức q u a n hệ p h á p lu ật) vẫn còn tồn tại chứ không phải là đã "bị
đ án h m ất minh". S au ngày đ ă n g ký k ế t hôn, hai chủ th ể quan hệ ph áp lu ậ t hơn
<b>nhân- gia đình khơng chỉ phải xử sự với nhau theo quyền và nghĩa vụ pháp lý mà </b>
<b>pháp luật hơn nhân gia đình đã quy định mà còn bị ràng buộc họ, hỗ trỢ họ cịn có </b>
cả một dãy những quy tắc xử sự xã hội khác. N hư vậỵ khi họ đã bước vào qu an hệ
ph áp luật về hôn n h â n - gia đ ìn h thì lẽ đương nhiên là vẫn còn lại ở họ q u an hệ xã
hội với sự chi phôi c ủ a n h iề u quy tắc điều chỉnh xã hổi: đạo đức, tập quán, phong
tục, tôn giáo... Khi nói q u a n hệ xã hội thực tê được m ang trê n mình hìn h thức pháp
ph áp lu ậ t bảo vệ và đảm bảo. Tự bản th â n , qu an hệ xã hội không th ể trở t h à n h
quan hệ pháp luật. Trong lý luận pháp lu ậ t có ý kiên phủ n h ậ n sự tồn tại song
song của “cả hai q u an hệ”- qu an hệ p háp lu ậ t và quan hệ xã hội thực tê. Ngưòi ta
cho rằ n g không th ể có h ai qu an hệ, và dưới tác động của qui phạm pháp luật, q u a n
hệ xã hội thực tê đã biến th à n h qu an hệ pháp luật. Như vậy chỉ cịn và chỉ có một
q u an hệ. Theo chúng tôi, sự tồn tại song song cả hai quan hệ - qu an hệ p h á p lu ậ t
<b>và quan hệ xã hội thực tê - nội dung vật chất của quan hệ pháp luật, đó là một </b>
thực tê khách quan. Sự điều chỉnh của p háp lu ậ t dù có m ạnh mẽ đên đâu đi c h ă n g
nữa cũng không th ể và cũng không nên, không cần phải “tước đi” cái đặc tín h xã
hội thực tê khách qu an của các qu an hệ xã hội. Khơng có sự đồng n h ấ t giữa q u a n
hệ ph áp lu ậ t và q u an hệ xã hội. Sự đồng n h ấ t này cũng không xảy ra th ậ m chí cả
trong quá tr ìn h thực hiện của qu an hệ ph áp luật, khi quyển và nghĩa vụ củ a các
<b>bên được thể hiện trong các hành vi. Các quan hệ pháp luật hiên pháp vê tổ chức </b>
thực hiện quyển lực n h à nưóc, bên cạnh tín h c h ấ t pháp lý, còn chịu sự tác động của
nhiều quy p h ạm xã hội “phi qu an phương khác". Q uan hệ pháp lu ậ t hiên p h á p giữa
Tổng thông và Nghị viện không loại tr ừ qu an hệ xã hội - đạo đức - chính tr ị giữa
họ. Ngay đến cả th ứ vũ khí thép của vị Tổng thống - nguyên th ủ quốc gia, đứng
đầu h à n h p h áp là quyền phủ quyết nhiều khi cũng phải tự chùn chân nếu n h ữ n g
qu an hệ đạo đức - chính trị giữa họ có chỗ đứng của mình. N hững qu an hệ xã hội
như kinh tế, chính trị, hơn n h â n gia đình, ván hoá vẫn giữ nguyên nội dung xã hội
đặc th ù của m ình khi đưỢc mang th êm h ìn h thức pháp lý là các qu an hệ p h á p luật,
đưỢc th ể hiện ở các quyền và nghĩa vụ p háp lý của các chủ thể.
Như vậy, nếu đồng n h ấ t hoặc loại tr ừ qu an hệ xã hội khỏi quan hệ p h á p lu ậ t
sẽ làm giảm đi vai trò tích cực của qu an hệ ph áp luật. Đúng như n h ậ n xét: “Các
quan hệ pháp lu ậ t có vai trị qu an trọng làm t r ậ t tự các quan hệ xã hội, hưống nó
<b>p h á t triể n phù hỢp với ý định của n h à làm luật" [6, t r . 388-389]. Q uan hệ p h á p lu ậ t </b>
là hìn h thức p h á p lý cần th iế t cho t ấ t cả n h ững q u a n hệ xã hội được ph áp lu ậ t điều
Một vài ấn p h ẩm gần đây về lý luận chung về nhà nước và pháp luật, khi đưa
ra khái niệm q u a n hệ ph áp luật, h ầu như khơng cịn đê cập đến quan điểm; "quan
<b>hệ pháp luật là quan hệ xã hội đưỢc quy phạm pháp luật điều chỉnh" [10, tr.259],</b>
111, tr327]. Theo chúng tơi, điểu đó khơng p h ải là ngẫu nhiên. Gần đây n h ất, đã có
một khái niệm mới vê qu an hệ pháp luật, gợi lên nhiều điểu để các nhà nghiên cứu
suy nghĩ: “Q u an hệ ph áp lu ậ t là qu an hệ xã hội đặc biệt nảy sinh do sự tác động
hữu cơ giữa quy phạm ph áp lu ậ t và sự kiện pháp lý tương ứng làm x u ấ t hiện
quyền và n g h ĩa vụ p háp lý giữa các chủ thể" [11, tr.327J. Trước hết, trong khái
niệm này đã khắc phục được qu an điểm về việc xem q u an hệ ph áp lu ậ t là qu an hệ
xã hội được quy phạm ph áp lu ậ t điều chỉnh. Điểu này có tín h th u y ết phục và phù
hỢp với thực tiễn. Song, đồng thòi khái niệm nêu tr ê n cũng gỢi lên một sô" điểm
■‘gay cấn". Đã đ à n h là qu an hệ pháp lu ậ t x u ấ t hiện khi có n h ững sự kiện pháp lý
n h ấ t định, thường được n h à làm luật dự liệu trước trong p h ầ n giả định của quy
p h ạm ph áp lu ật. Thê nhưng, khó có th ể h ìn h dung rằng, quy p h ạm pháp lu ậ t (vôn
chỉ là n h ững điều còn nằm trong văn bản, giấy tị) lại có th ể tác động đến các quan
hệ xã hội, các sự kiện pháp lệnh pháp lý( vôn đã phức tạp, và có cả sự "ngang
<i>bưống nữa), rồi kết quả của sự tác động hữu cơ đã cho ra đòi một sản phẩm đó là </i>
q u a n hệ p h á p luật. Bản c h ất của vấn đề, suy cho cùng là đúng, song, cách nêu k h ái
niệm quan hệ pháp lu ậ t như trên, có lẽ là chưa đầy đủ, chưa lột tả được vai trò của
q u an hệ p h á p lu ậ t là hìn h thức pháp lý của các q u an hệ xã hội. Hdn nữa, ở khái
niệm trên lại phải "mượn” khái niệm "sự kiện ph áp lý”và chí ít thì cũng là đưa ra
hdi quá sớm vê một k hái niệm mà thưòng là chỉ đưỢc nêu lên ở p h ầ n điều kiện làm
p h á t sinh, th a y đổi, chấm dứt quan hệ pháp lu ậ t - khái niệm "sự kiện pháp lý".
Như vậy, qu an hệ ph áp lu ậ t là hìn h thức pháp lý của các quan hệ xã hội,
2. Q u a n h ệ p h á p l u ậ t c h u n g - s ự t ồ n t ạ i h i ệ n t h ự c v à ý n g h ĩ a
Có nhiều tiơu chí khác nh au đổ ph án loại q uan hệ pháp luật. Căn cứ vào cách
<b>ihức xác dịnh mức độ cá biột hoá chủ Ihể, quan hệ pháp luật </b> <b>đưỢc phân thành </b>
qu an hệ ph áp lu ậ t chung và quan hệ pháp lu ậ t cụ thể.
của các văn b ản quy phạm pháp lu ậ t khác, là cd sỏ đê hìn h th à n h các q u a n hệ pháp
lu ậ t cụ thể. Chẳng hạn, qu an hệ pháp lu ậ t giữa n h à nước và công d â n trong linh
vực th u ế là qu an hệ pháp lu ậ t chung, x u ấ t p h á t từ các quy phạm p h áp lu ậ t hiện
h à n h về thuế, là cơ sở p h á t sinh qu an hệ pháp lu ậ t cụ th ể giữa công d ân A nào đó
với cơ quan n h à nước về thuế. Hoặc quan hệ ph áp lu ậ t chung điên h ìn h nữa là
<i><b>quan hệ pháp luật về quốc tịch, thể hiện mối quan hệ chính trị - pháp lý giữa công </b></i>
<b>dân - nhà nước, cụ thể vào trưịng hỢp cơng dân A - nhà nưốc.</b>
<b>Quan hệ pháp luật chung - đó là mơi liên hệ đưỢc hình thành trên những </b>
quyển và nghĩa vụ chung, không xác định đích d a n h chủ thể. Trong q u a n hệ pháp
lu ậ t chung không có sự kiện pháp lý theo cách hiểu tru y ền thông. N hững quan hệ
pháp lu ậ t này x uất hiện trực tiếp từ luật, có nghĩa là trong trường hợp trên, sự
kiện pháp lý chính là b ản th â n luật, bản th â n sự ban h à n h luật. T h u ậ t ngữ
<b>"chung” ở quan hệ pháp luật chung đưỢc hiểu nghĩa là không xác định, không chi </b>
một hiện tượng cụ th ể nào, mà ngược lại, “chung” ở đây cũng có tín h xác định
nghiêm ngặt, n h ưng chỉ có điều, trong sự xác định này chủ th ể của q u an hệ pháp
lu ậ t là t ấ t cả các chủ th ể nhưng phải trong p h ạm vị của ch ế định ph áp lý tương
ứng. Chẳng h ạn , t ấ t cả các công dân đều là chủ th ê của p h ần lớn các q u a n hệ pháp
lu ậ t n h à nước (hiến pháp), những qu an hệ pháp lu ậ t này bao q u á t các quyền và
nghĩa vụ cơ b ả n của công dân (quyền lao động, quyền học tập, nghĩa vụ đóng
thuế...). Chỉ có điều p h ả i là công dân Việt Nam, và trong giỏi h ạn một chế định
pháp lý tương ứng - ví dụ về nghĩa vụ đóng thuế. M ặt khác, trong sự p h â n loại
q u an hệ pháp luật, t h u ậ t ngữ “chung” và “cụ th ể ” là tương đối, ước lệ. Nói chung,
b ấ t kỳ một qu an hệ ph áp lu ậ t nào, theo bản c h ấ t của m ình đều cụ thê, và có tính
xác định tương đôi. N hư vậy, qu an hệ pháp lu ậ t chung là hiện thực, tôn tạ i trong
thực tế, chứ không phải trừ u tượng như ai đó vẫn qu an niệm (mà nếu nói là trừ u
tượng thì có lẽ “q u a n hệ pháp lu ậ t tu y ệt đơl” cũng có tín h trừ u tượng, xin được
tr ìn h bày vấn đề này ở một bài viêt khác). Trong q u a n hệ pháp lu ậ t chung, vị trí
<b>c ủ a m ỗ i m ộ t b è n t h a m g i a q u a n h ệ đ ư Ợ c xác đ ị n K b ằ n g m ộ t q u y o h ố p h á p l ý - t r ạ n e </b>
mác mớ vào n h a u một cách thường xuyên hoặc n h ấ t thòi xảy ra trong khoảnh khắc
<b>giữa các bên hữ u quan...” (17, tr.771L [18, tr.59|.</b>
Liên hệ vào lĩnh vực lu ậ t hiến pháp, chúng ta th ấ y sự tồn tại về một loại
<b>quan hệ pháp lu ật chung càng đưỢc thể hiện rõ nét trên cơ sở các quy phạm pháp </b>
<b>luật </b> hiên pháp, x u ât hiện những quan hộ pháp lu ậ t chung, ví dụ quan hệ pháp
Lý luận vể q u an hệ pháp luật lâu nay thường tập tr u n g nghiên cứu các quan
liệ p h áp luật tru y ề n thòng như các quan hệ pháp lu ậ t dân sự. Tư duy của lý luận
<b>(]uan hộ pháp luật chủ yôu dược xây dựng Irên môtuýp của các quan hệ pháp </b>lu ật
<i><b>M ột sô v ã n đ ê vê q u a n hệ p h á p lu ậ t </b></i> <b>35</b>
irong các ngành luật. Đòi sông xã hội hiện đại ngày nay dòi hỏi phải tiếp tục đi sâu
xem xét các q u a n hộ pháp luật trong các lình vực quan hệ xà hội đa dạng, chứ
không chỉ dừng lại ở nhừng lý luận truyền thông vổ quan hệ pháp luật, không chỉ
tlừng lại ỏ niôtuýt quan hệ pháp luật dãn sự.
ứng những đòi hỏi khách quan của địi sơng xã hội. Q uan hệ pháp lu ậ t chung nà
<b>càng đưỢc thể hiện rõ nét trong điều kiện nhà nước pháp quyển. Quan điêm và s </b>
tồn tại thực tê của q u an hệ pháp lu ậ t chung n h ấ n m ạnh một vân đê ráng: ban th â
n hà nước cũng ở trong khuôn khổ quan hệ ph áp lu ậ t và vói tư cách là bên than
gia có nghĩa vụ và trách nhiệm đôi với xã hội và công d â n - (quan hệ đông trac
nhiệm). Q uan hệ pháp lu ậ t chung là bộ p h ậ n cấu th à n h cua môi trương ph ap lj|
th iếu cái mà nhà nước pháp quyền không th ể tồn tại được.
T rên đây là suy nghĩ của chúng tôi xung q u an h một số vấn đề còn nhiềỊ
tr a n h luận trong khoa học p háp lý vê quan hệ ph áp luật. Việc tiêp tục đi sâ
<b>nghiên cứu quan hệ pháp luật có ý nghĩa to lớn, cần thiêt cho sự hoàn thiện lý luận V </b>
quan hệ pháp luật, phục vụ thực tiễn thực hiện pháp luật trong đòi sống xã hội.
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b> <b></b>
<i>-[1] Đại học L u ật Hà Nội. L ý luận chung về n h à nước và p h á p lu ậ t (giáo trình) </i>
NXB Giáo dục, Hà Nội 1996.
<i>[2] L u ậ t hôn nhân và gia đ in h Việt N a m , NXB Công an N hân dân, H à Nội 1998.</i>
<b>dân sự (tiếng Nga). NXB P h áp lý 1957. </b> Ị
<i>[4] V.O.Lutrin. Quy p h ạ m và quan hệ p h á p lu ậ t hiến pháp. NXB Uniti, Matxkơvị</i>
1997 (bản tiếng Nga). !
<i>[5] Nguyễn c ử u Việt (chủ biên). N h à nước và p h á p lu ậ t đại cương (Giáo trinhj</i>
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 1997. I
<i>[ 6] L ý l u ậ n c h u n g v ề n h à n i / à r v à p h á p l u ậ t ( g i á o t r ì n h ) , k h o a ĩ a i ậ t , Đ a i h o c Tonj</i>
hợp Hà Nội, Hà Nội 1993.
<i>[7] L ý lu ậ n chung về nhà nước và pháp luật. NXB Đại học Tổng hỢp Lêningr^</i>
1987 (bản tiếng Nga). •
<i>[8] x . x Alexev. L ý lu ậ n chung về p h á p lu ậ t - tậ p 2,. NXB P h áp lý, Matxkđva 198 </i>
(bản tiếng Nga).
<i>[9] Viện n h à nưốc và pháp luật. N h ữ n g vân đ ề lý lu ậ n cơ bản về nhà nước và ph(ị </i>
<i>lu ậ t. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995.</i>
<i>[10] Học viện hà-nh chính qc gia L ý lu ậ n chung về nhà nước và p h á p lu ậ t (giá </i>
trìn h ) (dùng cho đào tạo Đại học H àn h chính). NXB Chính trị Qc gia, H
Nội 1977.
<i>[11] T rầ n Ngọc Đưòng (chủ biên). L ý lu ậ n chung về nhà nước và p h á p luật. NX </i>
C hính trị Quốc gia, Hà Nội 1998.
<i>[131 Đào Trí úc. N hững vấn đề cơ bản về pháp luật. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội </i>
1993.
<i>[14] A.E.Kazlov (chủ biên). L u ậ t hiến p h á p . NXB BEK, Matxkơva 1996. </i>
<i>[151 Quj/ p h ạ m hiến p h á p và quan hệ p h á p luật. Hiệp hội Xuất bản “U N IT Y ’, </i>
Matxkớva 1997.
<i>116] Y.A.Ylin, Về bản chất ý thức p h á p lu ậ t, NXB P h á p lý Matxkơva 1993.</i>
<i><b>117] Từ điển tiếng Việt, T ru n g tâm Từ điển học Hà Nội Việt Nam. NXB Khoa học </b></i>
Xã hội, Hà Nội 1994.
<i>[18] Đoàn Văn Chúc. X ã hội học văn hóa. Viện Văn hóa và NXB Vàn hóa Thông </i>
tin, Hà Nội 1997.
<i>[19] Nguyễn Đ ăng Dung. L u ậ t H iến p h á p Việt N a m . NXB TP Hồ Chí M inh 1996.</i>
[20] Đ.A.Kovatrev. Chức năng, nhiệm vụ, th ẩ m quyên và nàng lực p h áp lu ậ t của cơ
<i>quan n h à nưốc. Tạp c h í L u ậ t học, sô"4 (1985) (bản tiếng Nga).</i>
VNU. JOURNAL OF SCIENCE, SOC„ SCI., t.x v , N“2, 1999
<i><b>M ột s ố v ấ n đ ề v ề q u a n hệ p h á p lu ậ t </b></i> <b>37</b>
<b>SOME VIEWS ABOUT THE LEGAL RELATION</b>
<b>H oan g Thi Kim Que</b>
<i>Faculty o f Law </i>
<i>College o f Social Sciences & H um anities - VNU</i>