Tải bản đầy đủ (.pdf) (85 trang)

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.17 MB, 85 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Phạm Thị Vũ Hải

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGỒI HỢP
ĐỜNG DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA

Chuyên ngành: Luật dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện

TP. HỜ CHÍ MINH – năm 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan rằng tồn bộ nội dung luận văn “Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra” là kết quả của quá trình
tổng hợp và nghiên cứu của bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS
Nguyễn Ngọc Điện. Tất cả các ý kiến của các tác giả khác, những phần sử dụng tài
liệu tham khảo trong luận văn đã được người viết giữ nguyên ý tưởng và trích dẫn cẩn
thận tài liệu tham khảo. Các bản án, thông tin được nêu trong luận văn là trung thực và
hồn tồn chính xác, đúng sự thật.
TÁC GIẢ

Phạm Thị Vũ Hải



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1

Bộ luật Dân sự

BLDS

2

Bộ luật Dân sự (Số 44-L/CTN) ngày 28/10/1995

BLDS 1995

3

Bộ luật Dân sự (Luật số 33/2005/QH11) ngày 27/6/2005

BLDS 2005

4

Bộ luật Dân sự (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015

BLDS 2015

5

Hội đồng Thẩm phán

HĐTP


6

Tòa án nhân dân

TAND


MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA ..... 9
1.1. Khái niệm và đặc điểm của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người
chưa thành niên gây ra ................................................................................................... 9
1.1.1. Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra ........ 9
1.1.2. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra ... 13
1.2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của người chưa
thành niên ..................................................................................................................... 15
1.3. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên theo
quy định của pháp luật hiện hành ................................................................................. 21
1.3.1. Khái niệm về người chưa thành niên ................................................................. 21
1.3.2. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của người chưa
thành niên ..................................................................................................................... 25
Kết luận chương 1 ........................................................................................................ 30
CHƯƠNG 2: TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP
CỤ THỂ ....................................................................................................................... 31



2.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của người chưa thành niên trong
trường hợp cùng người khác gây thiệt hại ................................................................... 31
2.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra trong thời gian
trường học trực tiếp quản lý ......................................................................................... 37
2.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên khi gây thiệt hại
lúc đang làm công, học nghề ...................................................................................... 43
Kết luận chương 2 ........................................................................................................ 47
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI TÒA ÁN VÀ MỘT
SỐ KIẾN NGHỊ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP
ĐỒNG DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA ............................................... 49
3.1. Thời điểm xác định tuổi của người chưa thành niên gây thiệt hại để làm căn cứ quy
trách nhiệm bồi thường thiệt hại .................................................................................. 50
3.2. Thời điểm xác định tài sản của người chưa thành niên, của cha, mẹ người chưa
thành niên ..................................................................................................................... 58
3.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người giám hộ với thiệt hại do người chưa
thành niên mà mình có nghĩa vụ giám hộ gây ra ......................................................... 63
3.4. Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại của cha, mẹ người chưa thành niên
gây thiệt hại .................................................................................................................. 66
Kết luận chương 3 ........................................................................................................ 70
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................... 75


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Pháp luật là công cụ phục vụ, bảo vệ lợi ích của mọi thành viên trong xã hội.
Mục đích của pháp luật khởi nguồn từ chính những nhu cầu của con người, nảy sinh

từ các nhu cầu sinh hoạt, nhu cầu sản xuất và cũng như các nhu cầu khác trong cuộc
sống hằng ngày. Nhu cầu của con người ngày một tăng cao, địi hỏi phải có những
phương tiện pháp lý mới có thể điều chỉnh và ổn định xã hội. Do vậy, sự ra đời của
chế định bồi thường thiệt hại với tư cách là một chế định dân sự độc lập, đảm bảo
quyền và lợi ích của người bị thiệt hại là một xu thế tất yếu.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển
pháp luật của thế giới cũng như pháp luật Việt Nam. Nếu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng được phát sinh trên cơ sở hợp đồng có trước
thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trách nhiệm pháp lý do
pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và
lợi ích hợp pháp của người khác. Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, mỗi quốc gia
đều có những quy định chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
bên cạnh những quy định riêng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
trong từng trường hợp cụ thể bởi sự đa dạng về chủ thể gây thiệt hại, đối tượng bị
thiệt hại, hoàn cảnh bị thiệt hại…
Xét về chủ thể gây thiệt hại có nhiều chủ thể gây thiệt hại nhưng trong đó
chủ thể người chưa thành niên là một chủ thể được dành nhiều sự quan tâm đặc biệt.
Có thể nói, người chưa thành niên là nguồn nhân lực đầy sức mạnh và là người chủ
tương lai của một đất nước, nhưng ở một khía cạnh khác người chưa thành niên là
những người chưa phát triển một cách đầy đủ về thể chất và tinh thần, chưa có khả
năng tự lập hồn tồn trong các quan hệ xã hội nên khả năng nhận thức và kiểm sốt
hành vi của họ cịn có phần bị hạn chế, dễ bị tác động từ các điều kiện bên ngoài và
cũng dễ bị kích động nên từ rất lâu người chưa thành niên đã trở thành đối tượng


2

được đặc biệt quan tâm và bảo vệ không chỉ ở tầm quốc gia mà cả tầm quốc tế. Việc
quan tâm này khơng chỉ xét ở góc độ bảo vệ khi quyền và lợi ích của người chưa
thành niên bị xâm hại mà ngay cả ở góc độ đối tượng này chính là chủ thể vi phạm

pháp luật.
Pháp luật các nước đều ghi nhận việc người gây thiệt hại phải có trách nhiệm
bồi thường cho người bị thiệt hại và người chưa thành niên cũng không phải là
ngoại lệ. Khi người chưa thành niên có những hành vi xâm phạm đến lợi ích hợp
pháp của người khác thì pháp luật vẫn có những quy định về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng do họ gây ra. Việc xác định trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng do người thành niên gây ra đã là khó khăn, phức tạp và
việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành
niên gây ra cũng khơng nằm ngồi sự khó khăn, phức tạp đó bởi họ được coi là
những chủ thể khơng có hoặc chưa có đủ năng lực hành vi dân sự và do vậy bắt họ
phải chịu một mức bồi thường thiệt hại là điều vơ cùng khó khăn khi mà những
người chưa thành niên hầu hết là những người khơng có tài sản riêng để tự chịu
trách nhiệm do hành vi trái pháp luật của mình gây ra.
Cùng với sự phát triển của đất nước, cơng tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em ngày càng được quan tâm, đặc biệt là sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước của
Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1990. Việt Nam cũng đã xây dựng được một hệ
thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác bảo vệ trẻ em nói chung
và người chưa thành niên nói riêng. Tuy nhiên, trên thực tế ở nước ta trong quá
trình tổ chức thực hiện pháp luật đối với người chưa thành niên, các cơ quan chức
năng còn vấp phải nhiều khó khăn, vướng mắc bởi quy định của pháp luật cịn chưa
rõ ràng, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau, thậm chí những lợi ích và nhu cầu
chính đáng của người chưa thành niên chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến việc
áp dụng pháp luật chưa được thống nhất. Trong bối cảnh hiện nay, thực hiện chủ
trương cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49-NQ/TW, việc xúc tiến thành lập Tòa án
chuyên trách về người chưa thành niên đã được xác định là rất cần thiết và thích


3

hợp. Trước yêu cầu của thực tiễn, việc nghiên cứu, tìm hiểu một cách khoa học, có

hệ thống và hồn thiện quy định của pháp luật về người chưa thành niên nói chung
và pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa
thành niên gây ra nói riêng là việc làm cần thiết, góp phần tích cực vào cơng tác xây
dựng và hồn thiện pháp luật của nước Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài có liên quan.
Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và vấn đề trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra nói riêng ln
được dành nhiều sự quan tâm của khơng ít nhà nghiên cứu ở Việt Nam. Xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra tuy không phải là
vấn đề khá mới mẻ nhưng là vấn đề khó khăn và phức tạp, do vậy những bài viết
liên quan vẫn còn khá khiêm tốn, trong đó nổi bật là những sách bình luận khoa
học, những luận văn:
- Sách chuyên khảo: Đỗ Văn Đại (2015), Luật bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng – Bản án và bình luận bản án (tập 1, tập 2), Nxb Hồng Đức – Hội Luật
gia Việt Nam. Trong cuốn sách này, tác giả đã bình luận các bản án có liên quan
đến các quan hệ tranh chấp “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, tác giả đã nêu ý
kiến của mình về các bản án các cấp của Tịa án nhân dân (TAND) tại Việt Nam
qua các năm. Đây là một tài liệu có ý nghĩa quan trọng, giúp cho tác giả luận văn
tiếp cận được các bản án và có cách bình luận đúng đắn hơn. Thơng qua việc bình
luận các bản án của TAND các cấp ở Việt Nam, tác giả đã đưa ra ý kiến của mình
trong thực tiễn xét xử, trong đó có những bản án có liên quan đến trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngồi hợp đồng do người chưa thành niên gây thiệt hại. Từ những
nội dung này, tác giả luận văn đã tham khảo để có cái nhìn rộng và phân tích sâu hơn
cho đề tài của mình.
- Các Luận văn như: Luận án tiến sĩ luật học của Lê Mai Anh về đề tài
“Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ


4


luật Dân sự”; Luận văn thạc sĩ Luật học của Phạm Kim Anh về đề tài “Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”; Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Quỳnh
Anh về đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái
pháp luật gây ra theo BLDS 2005”, … Các cơng trình nghiên cứu đã đề cập đến
những nội dung cơ bản của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và đi sâu vào phân
tích từng nội dung cụ thể. Tuy những cơng trình nghiên cứu này khơng đi sâu vào
phân tích trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của người chưa thành
niên nhưng cũng là kênh hữu ích để tác giả luận văn tham khảo cho đề tài của mình.
- Các bài viết khoa học: Nguyễn Đức Mai, “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do người chưa thành niên gây ra”, Tạp chí TAND số 12/1998; Phùng Trung Tập,
“Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng”, tạp chí Luật học số
10/2004, .... Trong các bài viết này tác giả đề cập năng lực chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của người chưa thành niên và đưa ra ý kiến đánh giá của mình về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra hay tác giả đề cập
đến lỗi và phân tích một số vấn đề liên quan đến lỗi ... Tuy các bài viết này được
viết theo Bộ luật Dân sự 1995 (BLDS 1995) nhưng đây là tài liệu có ý nghĩa quan
trọng đối với đề tài của tác giả luận văn.
Ngoài ra trên một số trang thơng tin điện tử có nhiều bài viết đề cập đến nội
dung trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của người chưa thành niên.
Tuy nhiên, các cơng trình khoa học nghiên cứu này chỉ mới nghiên cứu chuyên sâu
về phần chung trong bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng hoặc chỉ chọn một khía
cạnh nhất định của vấn đề để nghiên cứu mà trên thực tế vẫn cịn các khía cạnh
nghiên cứu khác vẫn cịn chưa được nghiên cứu, khai thác. Nhận thức được vấn đề
này, đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành
niên gây ra” được chọn nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sỹ một cách chuyên sâu,
đầy đủ và hệ thống. Đặc biệt có nghiên cứu một số trường hợp cụ thể bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra. Bên cạnh đó, tác giả ln
có ý thức kế thừa, học hỏi những kết quả mà các cơng trình khoa học, luận án, luận



5

văn và các bài viết đã đạt được cũng như các kinh nghiệm thực tiễn có liên quan
đến đề tài đang nghiên cứu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu vấn đề
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra
theo pháp luật Việt Nam hiện hành cùng với sự so sánh, đánh giá với pháp luật Việt
Nam trong các thời kỳ trước. Luận văn đi sâu tìm hiểu thực trạng của các hành vi vi
phạm và việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra
trong một số trường hợp cụ thể theo pháp luật hiện hành. Đồng thời trên cơ sở kết
quả nghiên cứu có đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật của một số vụ việc đã được
giải quyết bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải
pháp góp phần hồn thiện những quy định của pháp luật về chế định bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra, góp phần nâng cao tính
hiệu quả của việc giải quyết trách nhiệm bồi thường nói chung và trách nhiệm bồi
thường do người chưa thành niên gây ra nói riêng trong thực tiễn.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận cũng như nội
dung các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng
do người chưa thành niên gây ra trong một số trường hợp cụ thể, từ đó chỉ ra những
điểm cần khắc phục cho phù hợp với thực tiễn áp dụng và đưa ra hướng hoàn thiện
các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do
người chưa thành niên gây ra, góp phần vào việc giúp các cơ quan áp dụng pháp luật,
các nhà nghiên cứu nhận thức đúng đắn và toàn diện khi giải quyết các tranh chấp về
bồi thường thiệt hại hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra.
Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn phải hoàn thành các
nhiệm vụ và tập trung vào các nội dung sau:



6

- Nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm chung về người chưa thành
niên và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của người chưa thành niên;
đồng thời phân tích bản chất pháp lý và những căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngồi hợp đồng của người chưa thành niên nói riêng.
- Nghiên cứu, xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành
niên gây ra trong một số trường hợp cụ thể.
- Đánh giá thực trạng xét xử của cơ quan có thẩm quyền trong việc áp
dụng pháp luật khi giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa
thành niên gây ra. Thơng qua đó tìm ra những điểm vướng mắc và đề xuất các
giải pháp khắc phục.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, để tìm hiểu sâu hơn về nội dung của đề tài
và tháo gỡ những vướng mắc cần thiết trong hệ thống pháp luật nước ta, các
phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh kết hợp với các phương pháp
liệt kê, bình luận, thu thập và sưu tầm, … được sử dụng phù hợp với từng mặt, từng
lĩnh vực nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp so sánh: Tác giả sử dụng phương pháp này để so sánh quy
định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của người chưa thành niên trong một số
trường cụ thể tại BLDS 1995, Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) và Bộ luật Dân
sự 2015 (BLDS 2015). Phương pháp so sánh này giúp người đọc có cách nhìn tổng
qt, rõ ràng về nội dung của đề tài và các nội dung liên quan. Do pháp luật dân sự
hiện hành có những quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
của người chưa thành niên có những điểm giống, gần giống và một số điểm khác
so với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của người chưa thành niên
được quy định trong BLDS 1995 và BLDS 2005, do vậy tác giả sử dụng phương



7

pháp so sánh nhằm mục đích chỉ ra sự giống và khác nhau của vấn đề này để làm
sáng tỏ nội dung của đề tài. Bên cạnh đó, phương pháp so sánh còn được sử dụng
trong việc so sánh thực tiễn xét xử của các TAND các cấp tại Việt nam, qua đó để
đề xuất hướng hồn thiện.
-

Phương pháp phân tích: Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong các

lĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý để lý giải, phân tích, đánh giá nội dung của các
quy phạm pháp luật đang được sử dụng. Nhằm giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về
những quy định có liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa
thành niên, tác giả áp dụng phương pháp phân tích xuyên suốt luận văn. Từ sự phân
tích quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của
người chưa thành niên, tác giả sẽ trình bày quan điểm của cá nhân bằng cách đánh
giá, nhận xét sự cần thiết và những vướng mắc có thể xảy ra trong việc áp dụng chế
định này.
-

Phương pháp bình luận án giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật và xã

hội, tập trung ở vấn đề các quy phạm pháp luật sau khi được ban hành sẽ tác động
như thế nào đến đời sống và xã hội.
-

Các quy định của BLDS 1995, BLDS 2005, BLDS 2015 cùng các Nghị

quyết hướng dẫn, các cơng trình nghiên cứu, các bài viết có liên quan đến vấn đề

trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra được sử
dụng với tư cách là cơ sở pháp lý, cơ sở lý luận cho quá trình nghiên cứu.
6. Những điểm mới và ý nghĩa của luận văn.
Với mong muốn trang bị thêm kiến thức chuyên sâu cho bản thân và sau đó
là góp phần vào việc hồn thiện những quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại
ngồi hợp đồng nói chung và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa
thành niên gây ra nói riêng, luận văn nghiên cứu được thực hiện một cách có hệ
thống những vấn đề lý luận cơ bản cùng với việc phân tích, đánh giá đối với các
quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp


8

đồng do người chưa thành niên gây ra. Không chỉ nghiên cứu về mặt lý luận, luận
văn còn chú trọng, đi sâu vào nghiên cứu một số trường hợp áp dụng pháp luật cụ
thể của các cơ quan Nhà nước, qua đó đúc rút một số kinh nghiệm trong cơng tác
thực thi pháp luật, đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật để tháo gỡ
những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng do người chưa thành niên gây ra.
Chương 2: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa
thành niên gây ra trong một số trường hợp cụ thể.
Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án và một số kiến nghị về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra.


9


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
NGOÀI HỢP ĐỒNG DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA.
1.1. Khái niệm và đặc điểm của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra.
1.1.1. Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của
người chưa thành niên.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một chế định có chiều dài lịch sử, phát
triển lâu đời và cho đến nay vẫn là một trong những chế định quan trọng của pháp
luật dân sự các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng nhằm đảm bảo lợi ích
hợp pháp của các chủ thể khi có thiệt hại xảy ra từ hành vi vi phạm của chủ thể
khác. Trong bất kỳ một xã hội nào, việc xảy ra các hành vi gây ra thiệt hại cho các
chủ thể khác là một hiện tượng phổ biến và giải pháp cụ thể để bảo vệ người bị thiệt
hại là áp đặt trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chủ thể đã có hành vi gây hại.
Chính vì lẽ đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra nhằm giải quyết những
tổn thất, sự suy giảm về lợi ích khi có thiệt hại xảy ra.
Ở các nước khác nhau thì vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy
định khác nhau về hình thức bồi thường và cách xác định thiệt hại. Tuy nhiên, tất cả
đều hướng tới một nguyên tắc thống nhất: “Người gây thiệt hại phải bồi thường
thiệt hại”. Có thể thấy nguyên tắc này được thể hiện trong một số quy định trong
luật pháp của nhiều nước khác nhau như:
Điều 1382 BLDS Pháp quy định: “Bất cứ hành vi nào của một người gây
thiệt hại cho người khác thì người đã gây thiệt hại do lỗi của mình phải bồi thường
thiệt hại”.


10

Điều 1383 BLDS Pháp cũng quy định: “Mỗi người phải chịu trách nhiệm

về thiệt hại do mình gây ra, khơng những do hành vi mà còn do sự cẩu thả không
thận trọng”1.
Điều 420 Bộ Luật dân sự và thương mại Thái Lan quy định: “Một người cố
tình hay vơ tình làm tổn thương một cách trái pháp luật đến đời sống thân thể, sức
khỏe, tự do, tài sản hoặc bất cứ quyền nào của người khác thì bị coi là phạm một
hành vi sai trái và có nghĩa vụ bồi thường tổn thương đó”2.
Điều 416 BLDS Nhật Bản quy định: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại sẽ có giá
trị đối với việc bồi thường các thiệt hại mà bình thường sẽ xảy ra do việc không
thực hiện trái vụ. Trái chủ quyền được bồi thường cả những thiệt hại xảy ra trong
những tình huống đặc biệt, nếu các bên biết trước hoặc phải biết trước những tình
huống đó”3.
Ở Việt Nam, trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã xuất hiện rất sớm trong hệ
thống pháp luật nước ta từ thời phong kiến, tuy nhiên còn rất sơ sài, chỉ đến khi
BLDS 1995 ra đời thì các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại mới được
quy định một cách chi tiết, cụ thể hơn. Tiếp đó, BLDS 2005 tiếp tục hoàn thiện hơn
nữa các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và đến nay là BLDS 2015.
Tại Điều 584 BLDS 2015 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây
thiệt hại thì phải bồi thường…”.
Điều này có nghĩa là khi một người gây thiệt hại cho người khác sẽ làm phát
sinh mối quan hệ bồi thường thiệt hại giữa họ với người bị thiệt hại và người gây
thiệt hại cho người khác thì phải có trách nhiệm bồi thường. Như vậy, trách nhiệm
Bộ Luật Dân sự Pháp (1993), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Bộ Luật dân sự và thương mại Thái Lan (1996), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
3
Bộ Luật dân sự Nhật Bản (1993), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
1
2



11

bồi thường thiệt hại theo quan niệm pháp lý của Việt Nam và hầu hết các nước trên
thế giới đều được hiểu là hình thức trách nhiệm dân sự mang tính tài sản áp dụng
đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại nhằm bù đắp những tổn
thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại.
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân
thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng. Đây là cách phân loại cơ bản nhất bởi lẽ: Có hợp đồng hay
khơng có hợp đồng chính là yếu tố quan trọng để từ đó xác định cơ chế giải quyết
bồi thường.
Có ý kiến cho rằng: “…việc phân biệt rõ ràng giữa bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng có vai trị quan trọng cả về mặt
thực tiễn và mặt học thuật”4. Ý kiến nêu trên có vẻ hợp lý bởi có một số trường hợp
chúng ta khơng biết rõ đó là bồi thường thiệt hại trong hay ngoài hợp đồng và việc
phải bồi thường trong hay ngoài hợp đồng mang đến những hậu quả pháp lý khác
nhau, do đó việc phân định rõ ràng là việc cần thiết.
Có thể nói, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm
bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là hai chế định khác nhau. Tuy nhiên, mức độ
khác nhau còn tùy thuộc vào từng hệ thống pháp luật và từng quan điểm. Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự mà theo
đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại cho người
khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây ra. Nếu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng được phát sinh trên cơ sở
một hợp đồng có trước thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được
hiểu là một loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào đó có hành vi vi phạm nghĩa
vụ ngồi hợp đồng do pháp luật quy định, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp
của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra.
Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng: Luật dân sự Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia,

2007.
4


12

Mặc dù BLDS khơng có điều khoản nào nêu khái niệm về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng qua những phân tích trên có thể đưa ra khái
niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự
phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó khơng có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có
quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người gây thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ
thi hành hợp đồng đã ký kết giữa các bên”.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của người chưa thành niên
là một trong những trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi
hợp đồng. Khi nói đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên
gây ra, trước hết một bên chủ thể được xác định trong quan hệ pháp luật dân sự đó
chính là người chưa thành niên với tư cách là bên mang nghĩa vụ bồi thường thiệt
hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra và bên chủ thể cịn lại trong quan hệ
pháp luật là người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người chưa thành niên
gây ra với tư cách là bên có quyền được nhận những khoản bồi thường nhằm để bù
đắp, khôi phục lại những thiệt hại mà họ phải gánh chịu. Chủ thể có quyền trong
quan hệ pháp luật này có thể là cá nhân, pháp nhân, … hay Nhà nước với tư cách là
chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp luật dân sự. Khi tham gia vào quan hệ pháp luật
này, hành vi bồi thường thiệt hại là cái mà các bên hướng tới và thông qua việc thực
hiện hành vi này, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại sẽ được bảo vệ.
Như vậy, khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành
niên gây ra:
“Là quan hệ pháp luật dân sự, trong đó người chưa thành niên có hành vi
trái pháp luật gây thiệt hại, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân

phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và phải bồi thường
thiệt hại do mình gây ra theo quy định của pháp luật”.


13

1.1.2. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do
người chưa thành niên gây ra.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên
gây ra là trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho
nên nó cũng mang những đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngồi hợp đồng và có những đặc thù riêng khi là người chưa thành niên gây thiệt
hại. Có thể đưa ra một số đặc điểm như sau:
 Cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người
chưa thành niên gây ra là do luật định.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự và
chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Khi một người gây ra tổn thất cho người
khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài
sản do Luật Dân sự điều chỉnh và được quy định tại Điều 275 của BLDS 2015, một
trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là “gây thiệt hại do hành vi trái
pháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại Chương XX, Phần thứ
ba BLDS 2015 về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra
được xác định tùy vào năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của họ, được
quy định cụ thể tại tại Điều 586 của BLDS 2015 hay tùy thuộc vào mức độ lỗi,
được quy định cụ thể tại Điều 599, Điều 600 của BLDS 2015.
Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra
phát sinh trên cơ sở quy định của pháp luật. Cơ sở phát sinh, chủ thể chịu trách
nhiệm, cách thức bồi thường, mức bồi thường… được pháp luật quy định sẵn mà
không phụ thuộc vào thỏa thuận trước của các bên. Do đó, trách nhiệm bồi thường

thiệt hại ngồi hợp đồng do người chưa thành niên gây ra được quy định và áp
dụng hồn tồn nằm ngồi ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự
vì giữa các chủ thể trong quan hệ bồi thường ngoài hợp đồng khơng có quan hệ


14

hợp đồng, thậm chí chưa từng có một quan hệ cụ thể nào hoặc có những sự kiện
gây thiệt hại không nằm trong nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đã thỏa thuận.
Trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, Nhà nước ban
hành các quy phạm pháp luật, hậu quả pháp lý đối với những chủ thể có hành vi
xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác. Người chưa thành
niên do có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác nên theo quy định của
pháp luật, họ phải gánh chịu trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại mà mình
đã gây ra.
 Việc thực hiện xong trách nhiệm bồi thường cũng đồng thời là chấm dứt
quan hệ nghĩa vụ giữa các bên. Đối với bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, các bên
có thể thỏa thuận về việc chấm dứt quan hệ hợp đồng sau khi đã bồi thường hoặc
quan hệ hợp đồng vẫn tồn tại cho đến khi chấm dứt trong các trường hợp luật định.
Cịn trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng, sau khi bên có trách
nhiệm bồi thường thiệt hại đã thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại thì đương
nhiên quan hệ nghĩa vụ của hai bên chấm dứt mà khơng dựa vào sự thỏa thuận của
các bên.
-

Ngồi những đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi

hợp đồng thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành
niên gây ra mang những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ tính đặc biệt của chủ thể
tham gia quan hệ pháp luật này đó chính là người chưa thành niên.

 Chủ thể có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại và chủ thể chịu trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể là hai chủ thể khác nhau.
Theo nguyên tắc của trách nhiệm dân sự nói chung hay trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngồi hợp đồng nói riêng thì trách nhiệm bồi thường được áp dụng
đối với người có hành vi vi phạm gây thiệt hại. Tuy nhiên, trong chế định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gây ra thì
nguyên tắc này là một ngoại lệ. Tùy từng trường hợp cụ thể, trách nhiệm bồi thường


15

thiệt hại có thể khơng áp dụng cho chủ thể gây thiệt hại là người chưa thành niên
mà trách nhiệm bồi thường thiệt hại được áp dụng đối với các chủ thể khác không
thực hiện hành vi gây thiệt hại như cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa
thành niên hay trường học, bệnh viện, cơ sở dạy nghề đang quản lý người chưa
thành niên trong những trường hợp được pháp luật quy định.
 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên
là khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi của họ. Trong trường hợp này, pháp luật chia
thành hai độ tuổi khác nhau: Chưa đủ 15 tuổi và từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.
Vấn đề về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên
ở từng độ tuổi cụ thể sẽ được nghiên cứu sâu hơn ở mục 1.3 của chương này.
 Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra,
yếu tố lỗi được xem xét không chỉ đối với người gây thiệt hại là người chưa thành
niên mà còn được xem xét đối với người không trực tiếp gây ra thiệt hại - đó là cha,
mẹ hoặc người giám hộ hay trường học, bệnh viện, cơ sở dạy nghề đang quản lý
người chưa thành niên ... Đối với những người này, yếu tố lỗi được xem xét ở chỗ
họ đã khơng thực hiện tốt việc chăm sóc, giáo dục, quản lý người chưa thành niên
dẫn đến người chưa thành niên gây thiệt hại cho người khác.
1.2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
của người chưa thành niên.

Một nguyên tắc pháp lý quan trọng được thừa nhận trong hệ thống pháp luật
các quốc gia trên thế giới là người thực hiện hành vi gây thiệt hại phải chịu trách
nhiệm về hành vi của mình. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chính là hậu quả bất
lợi về tài sản mà người có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm, uy tín, … của người khác phải gánh chịu. Để đảm bảo cho quyền và lợi
ích hợp pháp của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự thì việc quy
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của một chủ thể gây thiệt hại đối với một chủ thể
khác không thể xác định một cách tùy tiện và thiếu căn cứ. Trên cơ sở này, pháp


16

luật quốc gia xây dựng chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
dựa trên các căn cứ cụ thể.
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là cơ sở
pháp lý mà dựa vào đó để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường,
người được bồi thường và mức độ bồi thường5.
Theo pháp luật các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật án lệ (Anh, Mỹ) quy
định căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là: i/ Có
sự tồn tại một nghĩa vụ (duty); ii/ có sự vi phạm nghĩa vụ (breach of duty); iii/ có
mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi vi phạm nghĩa vụ (causation); iv/ có
thiệt hại thực tế xảy ra (injury)6.
Các căn cứ này không khác nhiều so với căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật Việt Nam. Theo quy định tại Điều
604 của BLDS 2005: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vơ ý xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá
nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây
thiệt hại thì phải bồi thường”. Theo quy định trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt hại phải có “lỗi cố ý hoặc vô ý”. Với quy
định như vậy, ngồi việc chứng minh người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật,

người bị thiệt hại cần phải chứng minh người gây thiệt hại có lỗi. BLDS 2005
khơng có một quy định cụ thể nào để xác định các điều kiện làm phát sinh trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Xuất phát từ những quy định, những
nguyên tắc của pháp luật nói chung và Luật Dân sự nói riêng, tại Nghị quyết số
03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán (HĐTP) TAND tối
cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng đã dựa vào nguyên tắc chung, qua đó xác định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngồi hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ bốn yếu tố:
Giáo trình Luật dân sự trường Đại học Luật Hà Nội – Nxb Công an nhân dân năm 2002, trang 443.
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng – Nguyễn Văn Cương và Chu Thị Hoa – tạp chí Nghiên cứu lập pháp
số 4 (4/2005).
5
6


17

(i) Phải có thiệt hại xảy ra;
(ii) Phải có hành vi trái pháp luật;
(iii) Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật;
(iv) Phải có lỗi vơ ý hoặc cố ý của người gây thiệt hại.
Tại Khoản 1 Điều 584 của BLDS 2015 quy định: “Người nào có hành vi
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích
hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp
Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Như vậy, trong BLDS 2015,
căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là “hành vi xâm phạm của người
gây thiệt hại”, khơng cịn phụ thuộc vào yếu tố “lỗi” như BLDS 2005. Với quy định
về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như trên,
BLDS 2015 đã quy định theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại. Theo đó, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh chỉ còn lại ba yếu tố:

(i) Có thiệt hại xảy ra.
Thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng. Đây là điều kiện tiên quyết, bởi lẽ nếu khơng có thiệt hại xảy ra thì khơng
phát sinh trách nhiệm bồi thường. Thuật ngữ “thiệt hại” được sử dụng khá phổ biến
trong đời sống hằng ngày cũng như trong khoa học pháp lý, tuy vậy để định nghĩa
một cách chính xác, đầy đủ và tồn diện là điều không phải dễ dàng. BLDS 2015
không tồn tại định nghĩa về thiệt hại. Trong khoa học pháp lý, có ý kiến cho rằng
“thiệt hại là sự giảm sút về lợi ích vật chất của người bị thiệt hại mà họ đã có hoặc
sự mất mát lợi ích vật chất mà chắc chắn họ sẽ có” 7 hoặc thiệt hại được hiểu “là sự
thay đổi biến thiên theo chiều xấu đi của tài sản, của các giá trị nhân thân do pháp
luật bảo vệ” 8. Thiệt hại phải xác định được trên cơ sở khách quan, do vậy khi xác

Hoàng Thế Liên (2010), Bình luận khoa học BLDS năm 2005 (tập II), Nxb. Chính trị quốc gia, tr.697.
Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật Dân sự Việt Nam, Nxb. Đại học quốc
gia, tr.471.
7
8


18

định thiệt hại phải đặt thiệt hại đó trong mối quan hệ về mặt không gian và thời gian
của thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có sự thiệt hại về tài sản
hoặc sự thiệt hại về tinh thần. Sự thiệt hại về tài sản là sự mất mát hoặc giảm sút về
một lợi ích vật chất được pháp luật bảo vệ, thiệt hại về tài sản có thể tính tốn được
thành một số tiền nhất định. Thiệt hại về tinh thần được hiểu là do tính mạng, sức
khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại phải chịu đau
thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, tín nhiệm, lịng
tin … và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.

(ii) Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật:
Hành vi trái pháp luật trong trách nhiệm dân sự là những xử sự cụ thể của
chủ thể được thể hiện thông qua hành động hoặc khơng hành động xâm phạm đến
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Như vậy, hành vi
trái pháp luật trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải thỏa mãn
hai điều kiện: Vi phạm đến pháp luật và xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ thể được pháp luật bảo vệ. Hành vi gây thiệt hại có thể tồn tại ở dạng
hành động (A cầm dao đâm B gây thiệt hại) và ở dạng không hành động (A khơng
cứu giúp B đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng dù A có khả năng).
Hành vi vi phạm những quy định của pháp luật bao gồm: Làm những việc
mà pháp luật cấm, không làm những việc mà pháp luật buộc phải làm, thực hiện
vượt quá giới hạn pháp luật cho phép hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ mà
pháp luật quy định.
(iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra:
Mối quan hệ nhân quả được hiểu thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của
hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt
hại. Hành vi trái pháp luật sẽ là nguyên nhân của thiệt hại nếu giữa hành vi đó và


19

thiệt hại có mối quan hệ tất yếu có tính quy luật chứ không phải ngẫu nhiên. Thiệt
hại sẽ là kết quả tất yếu của hành vi nếu trong bản thân hành vi cùng với những điều
kiện cụ thể khi xảy ra chứa đựng một khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại.
Dựa vào mối quan hệ này, khoa học pháp lý nói chung và khoa học pháp luật
dân sự nói riêng xác định rằng: Chỉ những thiệt hại nào được coi là hậu quả tất yếu,
không thể tránh khỏi của hành vi trái pháp luật thì người gây thiệt hại đó mới phải
chịu trách nhiệm bồi thường. Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ được áp
dụng khi xác định chính xác hành vi trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại, hay
nói cách khác thiệt hại là hậu quả của hành vi trái pháp luật 9.

Khi chúng ta bỏ yếu tố lỗi khỏi danh sách các điều kiện phát sinh trách
nhiệm bồi thường thì khơng có nghĩa là “lỗi” khơng cịn có vai trị gì trong chế định
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Chúng ta không để yếu tố này ảnh hưởng tới
“phát sinh” trách nhiệm bồi thường mà chỉ để yếu tố này ảnh hưởng tới nội dung
của trách nhiệm bồi thường (tức sau khi trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã phát
sinh) như giảm mức bồi thường nếu có lỗi cố ý gây thiệt hại. Theo quy định hiện
nay thì: “Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi
thường nếu khơng có lỗi hoặc có lỗi vơ ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh
tế của mình”. (Khoản 2 Điều 585 của BLDS 2015). Như vậy, nếu gây thiệt hại do
lỗi cố ý thì người gây thiệt hại khơng có khả năng u cầu giảm mức bồi thường.
Họ chỉ có thể được yêu cầu giảm mức bồi thường khi có lỗi vơ ý. Điều đó cho thấy,
lỗi vơ ý đóng vai trị khơng nhỏ trong việc ấn định mức bồi thường.
Đối với vấn đề bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra thì “lỗi”
lại là vấn đề khác. Người trực tiếp thực hiện hành vi được xem là khơng có lỗi. Về
mặt nguyên tắc, con người phải chịu trách nhiệm khi họ có lỗi, có khả năng nhận
thức và làm chủ hành vi của mình. Bởi vậy, những người khơng có khả năng nhận
thức và khơng có khả năng làm chủ hành vi của mình thì sẽ khơng có lỗi trong việc
Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật Dân sự Việt Nam, Nxb. Đại học quốc
gia, tr.449.
9


20

thực hiện các hành vi đó. Người chưa thành niên được coi là người chưa có năng
lực hành vi đầy đủ không thể nhận thức một cách thấu đáo, không thể làm chủ được
hành vi của mình thì họ khơng phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình.
Trong trường hợp này cha, mẹ, người giám hộ, bệnh viện, trường học… là những
người theo quy định của pháp luật phải chịu quản lý, chăm sóc, giáo dục, … và đã
có lỗi khi họ khơng thực hiện các nghĩa vụ nêu trên nên họ phải chịu trách nhiệm do

lỗi của họ.
Lý luận về lỗi được xây dựng dựa trên khả năng nhận thức của chủ thể về
hành vi và hậu quả của hành vi đó. Người chưa thành niên là đối tượng đang trong
giai đoạn hình thành và phát triển cả về thể chất và tinh thần. Ở các đối tượng này,
khả năng nhận thức làm chủ hành vi của họ chưa có, hoặc tuy có nhưng vẫn ở mức
độ hạn chế. BLDS đã khẳng định điều này thông qua việc quy định năng lực hành
vi dân sự của người chưa thành niên; theo đó khi họ xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu
cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác. Như
vậy, khi xem xét và phân tích về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người
chưa thành niên gây ra chúng ta không thể chỉ dựa trên khả năng nhận thức của chủ
thể về hành vi và hậu quả hành vi do họ thực hiện (hành động hoặc không hành
động), gây thiệt hại cho xã hội như cách thức truyền thống lâu nay vẫn thường hay
áp dụng mà phải xem xét các yếu tố khác liên quan có ảnh hưởng đến việc hình
thành khả năng nhận thức của người chưa thành niên.
Ngoài những yếu tố là cơ sở cho việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt
hại như: Có thiệt hại, có hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra thì việc xác định độ tuổi của người chưa thành
niên là cơ sở của việc xác định trách nhiệm của những người có nghĩa vụ bồi
thường. Tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế xã hội của từng nước, từ sự phát
triển của nhận thức con người do đó các nước khác nhau quy định về việc xác định
trách nhiệm bồi thường do người chưa thành niên khác nhau.


×