Tải bản đầy đủ (.doc) (8 trang)

Đại hội quốc dân tháng 8

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (94.17 KB, 8 trang )

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ …………………………………………………………….…………1
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ………………………………………………………..……1
I. Bối cảnh ra đời của Đại hội Quốc dân ( 16- 17/8/1945) …………………….…..1
1.Tình hình Thế giới ………………………………………………………………...1
2.Tình hình trong nước …………………………………………………………...…
2
II. Nội dung Đại hội đại biểu Quốc Dân (tháng 8/1945) ………………………….3
III. Vai trò lịch sử của Đại hội Quốc dân tháng 8 năm 1945 ……………………..5
KẾT THÚC VẤN ĐỀ ……………………………………………………………….6
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………..7


ĐẶT VẤN ĐỀ
Cách mạng Việt Nam là những trang sử hào hùng đầy máu và hoa. Đó là cả
một cuộc trường chinh đầy gian khổ những cũng vô cùng oanh liệt và đáng tự hào.
Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng 8/1945 là điểm son của những trang sử ấy. Sự
thắng lợi của dân tộc Việt Nam vào mùa thu năm 1945 lịch sử là kết quả của sự đoàn
kết dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt, khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để đi
đến thắng lợi to lớn, đó là cả 1 q trình chuẩn bị, nắm bắt thời cơ linh hoạt, nhanh
nhạy của Đảng cùng với nhân dân. Khi thời cơ đến, Đảng Cộng sản Việt Nam đã
nhanh chóng nắm bắt, tổ chức Quốc dân Đại hội ngày 16-17/8/1945 đưa ra những
quyết định, chính sách quan trọng có ý nghĩa to lớn đối với sự thắng lợi của Tổng
khởi nghĩa và sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bài viết xin được
phân tích sự kiện lịch sử “Đại hội Quốc dân (16-17/8/1945)”.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Bối cảnh ra đời của Đại hội Quốc dân ( 16- 17/8/1945)
1.Tình hình Thế giới.
Đầu năm 1945, Chiến tranh Thế giới thứ II đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, với


những sự kiện rung chuyển cả cục diện Thế giới. Phe các nước Đồng Minh liên tục
có sự đáp trả đối với phe Phát xít. Qn Đồng Minh trên mọi chiến trường đã giáng
cho quân Phát xít những địn đánh nặng nề. Thế mạnh dần nghiêng về quân Đồng
Minh. Thành lũy của bè lũ Phát xít không ngững rung chuyển, bị đe dọa. Đặc biệt,
sau Hội nghị Ianta (2/1945), các nước Đồng Minh càng có sự đáp trả dữ dội hơn.
Chiến dịch Mãn Châu (8/1945) của Hồng Quân Liên Xô đánh vào Đạo quân Quan
Đông của Nhât Bản được xem là chiến dịch quân sự trên bộ lớn nhất trong Chiến
trường Thái Bình Dương. Quân đội Liên Xô đã thực hành vận động chiến một cách
linh hoạt ở mọi cấp độ, nhanh chóng xuyên thủng các khu vực phòng thủ ngoại vi,
thọc sâu vào trung tâm, chia cắt, làm tê liệt và bức hàng đạo quân Quan Đông, kiểm
2


soát Mãn Châu, Bắc Triều Tiên và miền Nam Sakhalin chỉ trong vòng 2 tuần và tạo
tiền đề cho việc chiếm đóng quần đảo Kuril ngay sau đó.
Tiếp theo đó, để đáp trả lại hành vi ngông cuồng của Nhật Bản tại trận chiến
Trân Châu Cảng, Mỹ đã ném thắng 2 quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố
Hiroshima và Nagashaki của Nhật Bản, san bằng 2 thành phố này thành tử địa. Đây
như một sự kiện trấn động Thế giới, là kết quả mà theo như đánh giá của vị tướng
Yamamoto Isoroku trực tiếp chỉ huy trận Trân Châu Cảng: “Ta e rằng chúng ta đã
đánh thức người khổng lồ”. Sau địn giáng chí mạng này, ngày 15/8/1945, trên Đài
phát thanh Nhật Bản, Nhật Hoàng đọc bài diễn văn tuyên bố Nhật Bản đầu hàng
Đồng Minh vô điều kiện. Lực lượng Phát xít nhật trên chiến trường Thái Bình Dương
rơi vào tê liệt và lực lương Phát xít nói chúng rơi vào khủng hoảng nặng nề, tạo tiền
đề cho sự nổi dậy của cách mạng giải phóng dân tộc tại các nước thuộc địa bị Phát
Xít chiếm đóng.
2.Tình hình trong nước
Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, đưa Trần Trọng Kim lên làm chính phủ
bù nhìn. Pháp và Nhật kí Hiệp ước, bắt tay bóc lột nhân dân ta. Tuy nhiên, bên trong
chúng lại tồn lại những mâu thuẫn lợi ích to lớn, đặc biệt khi Pháp quyết định đứng

về phe Đồng Minh chống Phát Xít. Bên cạnh đó, với chủ trương độc ác của Nhật,
chúng ép dân ta nhổ lúa trồng đay đã dẫn đến hệ quả nạn đói hồnh hành khắp Bắc
Kì, 3 triệu người dân chết đói tính từ cuối năm 1944 đến đầu năm 1945. Nhân dân đói
khổ nên lịng căm thù giặc càng sâu sắc. Nắm chắc tình hình cách mạng, Ban thường
vụ TW Đảng ra chỉ thị “ Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, đi theo
Việt Minh (Hội Việt Nam độc lập Đồng Minh) phá kho thóc Nhật giải quyết nạn đói
cho nhân dân đã dấy lên “Cao trào kháng Nhật cứu nước”. Khí thế cách mạng ngày
càng dục sối như con song dữ mạnh mẽ đẩy thuyền. Cùng với đó, giữa tháng 8/1945,
Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng Minh khiến chính phủ Trần Trọng Kim hoang
3


mang, rệu rã. Quân Đồng Minh chưa kịp tiến vào giải giáp quân Nhật, quân Pháp
chưa có sự giúp đỡ.
Như vậy, tình hình Thế giới cũng như trong nước vơ cùng thuận lợi, trăm năm
có 1 sẽ tạo ra sức bật to lớn cho cách mạng Việt Nam. Nhiệm vụ của Đảng ta phải
nhanh chóng nắm lấy thời cơ, tiến hành Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi. Ngày
16/8/1945, tại Đình Tân Trào (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang), hơn 60 đại biểu
đại diện cho nhân dân Bắc-Trung-Nam kì đã có mặt tại Đại hội đại biểu Quốc dân để
bàn bạc, thảo luận và quyết định những vấn đề vận mệnh của dân tộc, quyết định
Tổng khởi nghĩa trên cả nước.
II. Nội dung Đại hội Quốc Dân (tháng 8/1945)
Đại hội quốc dân ở Tân Trào được coi như một "Hội nghị Diên Hồng" của cách
mạng Việt Nam. Qua đó, tinh thần đồn kết đồng lịng của dân tộc ta được thể hiện
một cách sáng rõ hơn bao giờ hết. Mặt trận Việt Minh đã quy tụ một cách nhanh
chóng tất cả những người yêu nước cách mạng, có mong muốn tham gia vào sự
nghiệp giải phóng đất nước. Đại hội thể hiện sự đồng lịng của cả nước với chính
sách của Mặt trận Việt Minh và của Đảng.
Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân Tân Trào khai mạc (tại Tuyên Quang), do
Tổng bộ Việt Minh triệu tập(nay gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào).Tham dự đại hội

có hơn 60 đại biểu đại diện cho các đảng phái chính trị, các đồn thể cứu quốc, các
dân tộc, tơn giáo, có cả đại biểu từ Nam bộ, miền Nam Trung Bộ và Việt Kiều ở Thái
Lan, ở Lào về dự đại hội. Đại hội quốc dân Tân Trào tập trung vào những vấn đề cơ
bản sau:
Thứ nhất, Đại hội quán triệt đường lối của Hội nghị tồn quốc Đảng Cộng sản
Đơng Dương vừa họp là tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân
Đồng minh nhảy vào Đông Dương.

4


Thứ hai, phát động tổng khởi nghĩa vũ trang và hiệu triệu nhân dân toàn quốc,
các đoàn thể cách mạng phải kịp thời đứng lên phấn đấu, thi hành 10 điểm sau:
"1- Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
trên nền tảng hoàn toàn độc lập.
2- Võ trang nhân dân. Phát triển Quân giải phóng Việt Nam.
3- Tịch thu tài sản của giặc nước và của Việt gian, tuỳ từng trường hợp sung
công làm của quốc gia hay chia cho dân nghèo.
4- Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra; đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.
5- Ban bố những quyền của dân, cho dân: nhân quyền; tài quyền (quyền sở
hữu); dân quyền; quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng,
tự do tư tưởng, ngơn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền.
6 - Chia lại ruộng đất cho cơng bằng, giảm địa tơ, giảm lợi tức, hỗn nợ, cứu tế
nạn dân.
7 - Ban bố Luật lao động: ngày làm 8 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo
hiểm.
8 - Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp. Mở mang Quốc gia
ngân hàng.
9 - Xây dựng nền quốc dân giáo dục, chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng
bách giáo dục đến bậc sơ cấp, kiến thiết nền văn hoá mới.

10 - Thân thiện và giao hảo với các nước Đồng mình và các nước nhược tiểu
dân tộc để giành lấy sự đồng tình và sức ủng hộ của họ" .
Có thể thấy rằng, Chính sách 10 điểm của Việt Minh là những nội dung cơ bản
của chính sách đối nội, đối ngoại, đặc biệt đã quy định rõ thể chế Nhà nước ta là "dân
chủ cộng hoà, theo tinh thần tân dân chủ"; ban bố "những quyền của dân, cho dân:
Nhân quyền, tài quyền, dân quyền; quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ,
quyền dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền".Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng,
5


chương trình 10 điểm của Việt minh mà Quốc dân đại hội thơng qua có thể coi như
là Hiến pháp lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Thứ ba, quyết định lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh
làm Chủ tịch, Trần Huy Liệu, Phó Chủ tịch và các Uỷ viên là Nguyễn Lương Bằng,
Đặng Xuân Khu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Dương Đức Hiền, Chu Văn
Tấn, Nguyễn Văn Xuân, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Lê Văn Hiến, Nguyễn Chí
Thanh, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Đang, Thường trực của Uỷ ban là Hồ Chí
Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền.
Thứ tư, Đại hội cũng quy định Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, Quốc
ca là bài Tiến quân ca (của nhạc sĩ Văn Cao).
III. Vai trò lịch sử của Đại hội Quốc dân tháng 8 năm 1945
-

Hội nghị đánh dấu sự chuẩn bị kĩ càng và bước đi vững chắc tiếp thêm sức mạnh

và nguồn động viên to lớn cho thắng lợi của các cuộc khởi nghĩa về sau.
- Quốc dân đại hội diễn ra khẩn trương và thắng lợi là hình ảnh tiêu biểu của khối
đại đoàn kết dân tộc, với sự kiện này đã tạo một làn hưởng ứng sâu rộng trong cơng
chúng. Tồn dân đồng tâm nhất trí đứng lên đem sức ta mà giải phóng cho ta ở một
thời điểm thuận lợi ngàn năm có một.

-

Thắng lợi này là một biểu hiện sáng tạo độc đáo của chủ tịch Hồ Chí Minh trong

việc vận dụng và thực thi từng bước tư tưởng dân quyền trong tiến trình đấu tranh
giành quyền độc lập cho dân tộc.
- Hội nghị Quốc dân đại hội diễn ra với quyết sách chuyển xoay vận nước bằng tổng
khởi nghĩa, xóa bỏ chế độ cũ, thi hành mười chính sách của Việt Minh, đặt cơ sở
mang tính pháp lí cách mạng đầu tiên cho một chế độ mới của dân, do dân và vì dân
sắp ra đời.
- Với tinh thần của hội nghị đã tạo điều kiện trước hết về tư tưởng trong quần chúng
nhân dân cả nước, triệu người như một nhất tề nổi dậy với ý chí dù có hy sinh đến
6


đâu, dù có đốt cháy cả dãy Trường sơn cũng phải giành cho được chính quyền trong
tồn quốc.
-

Hội nghị đã quyết đinh những vấn đề quan trọng về chính sách đối nội đối ngoại

trong tình hình mới.
- Hội nghị đã đánh dấu được bước đi đúng đắn của đảng ta, nhanh chóng chớp lấy
cơ hội giành chính quyền khi thời cơ tới.
-

Ngay sau hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào trong cả

nước cùng đứng dậy giải phóng dân tộc, nhờ đó nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra và giành
thắng lợi, trong cả nước làm tê liệt chính quyền tay sai của Nhật ở các nơi, cổ vũ

nhiệt liệt tinh thần của nhân dân ở khắp các tỉnh và thành phố trong cả nước nổi dậy

KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Đại hội đại biểu Quốc dân Tân Trào (tháng 8/1945) có ý nghĩa vơ cùng to lớn
đối với sự thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt nam trong cuộc Tổng khởi nghĩa. Quốc
dân Đại hội Tân Trào là một sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử cách mạng
Việt Nam, phát động khởi nghĩa giành chính quyền một cách nhanh nhất, khẩn
trương nhất, để cả đất nước Việt Nam đứng lên tự làm chủ vận mệnh mình và đất
nước mình. Thắng lợi của Đại hội biểu hiện sự sáng tạo độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí
Minh trong việc vận dụng và thực thi từng bước tư tưởng dân quyền ngay trong tiến
trình đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc bằng hình thức tổ chức Quốc dân Đại hội
để thông qua quyết sách chuyển xoay vận nước bằng Tổng khởi nghĩa, xoá bỏ chế độ
cũ, thi hành 10 chính sách của Việt Minh, đặt cơ sở mang tính pháp lý cách mạng đầu
tiên cho một chế độ mới của dân, do dân và vì dân sắp ra đời.

7


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

* Sách
1. Hồ Chí Minh toàn tập (12 tập), Nxb. CTQG, Hà Nội, 2000.
2. Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb. CTQG,
Hà Nội, 2005.
3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam (hệ trung
cấp), Nxb. CAND, Hà Nội, 2001.
4. Từ điển tiếng Việt, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1997.
* Một số địa chỉ website
1.
2.

3.

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×