Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (116.06 KB, 7 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>BÀI TẬP CHƯƠNG 2 (Tiếp theo)</b>
<b>Bài số 1:</b>
Applicant mở 1 L/C ở ngân hàng A cho một lơ hàng nơng sản. Chứng từ từ nước ngồi
về và có sai sót. Applicant vẫn chấp nhận thanh tốn cho lơ hàng này. Nhưng khi lấy
hàng thì biết lơ hàng có chất lượng kém. Tuy nhiên, vì đã chấp nhận thanh toán và lấy
hàng rồi nên Applicant vẫn phải "ngậm bồ hịn làm ngọt".
Sau đó, Applicant lại mở 1 L/C thứ hai ở ngân hàng A cũng cho một lô hàng nông sản
với đối tác cũ. Chứng từ về và vẫn có sai sót, ngân hàng A đã phát điện thơng báo sai sót
cho ngân hàng nước ngồi. Lo lắng cho lô hàng này vẫn kém chất lượng, nên Applicant
đề nghị ngân hàng phát điện đi ngân hàng nước ngoài yêu cầu contact với đối tác cho
phép Applicant lấy hàng mà chưa thanh toán để kiểm định chất lượng và sau đó sẽ dựa
vào kết quả kiểm định để thanh tốn cho lơ hàng. Nhưng ngân hàng nước ngồi đã trả lời
là không đồng ý. Nên bây giờ Applicant lại tự liên lạc với đối tác nước ngoài vì
Applicant vẫn muốn lấy lơ hàng này, chỉ có điều phải kiểm định để định giá lại thơi.
Tuy nhiên, đã 4 tháng trơi qua mà vẫn chưa có kết quả gì cả, hàng thì bị giữ ở cảng, phí
lưu kho lưu bãi đã lên đến hàng tỷ đồng.
Hỏi nếu như Applicant vẫn muốn lấy hàng nhưng phải được kiểm định cẩn thận, thì ngân
hàng A nên tư vấn như thế nào cho Applicant và trong trường hợp này, ngân hàng A có
trách nhiệm gì đối với cái phí lưu kho lưu bãi kia ko???
<b>Bài số 2:</b>
Một L/C không hủy ngang có trị giá 3.000.000 USD được phát hành. Người bán giao
hàng và xuất trình chứng từ để thanh toán. Nhưng bộ chứng từ bị từ chối bởi bất hợp lệ:
- Giao hàng trễ hạn;
- Xuất trình chứng từ trễ hạn.
Trong khi đó ngân hàng mở L/C lại trao bộ chứng từ cho người mua thứ nhất đi nhận
hàng. Trong tình huống này ai đúng, ai sai? Tại sao?
<b>Bài số 3:</b>
Một LC qui định:
Cấm giao hàng từng phần.
Hàng được giao từ cảng Bunsan, Hàn Quốc.
Hàng hóa là xe tải Huynhdai, số lượng 25 chiếc.
Nhà XK ở HQ đã xuất trình các vận đơn.
Vận đơn B/L 1: Cấp 07/02/2011 thể hiện số lượng xe: 10 chiếc, giao hàng từ cảng
Ulsan, tàu Hanjin IV, cảng dỡ hàng là cảng Saigon.
Vận đơn B/L 1: Cấp 07/02/2011, số xe: 5 chiếc, từ cảng Ulsan đến cảng SG, trên
tàu Hanjin IV.
Vận đơn B/L 1: Cấp 15/02/2011 số xe: 10 chiếc từ cảng Quảng Châu, TQ đến cảng
Saigon, trên tàu Hanjin IV.
<b>Hỏi: </b>
a. Ngày giao hàng được nhận định là ngày nào?
b. Người XK trong TH này có vi phạm qui định cấm giao hàng từng phần của LC hay
c. Ngân hàng phát hành L/C đã từ chối các vận đơn xuất trình trên, anh (chị) có nhận
xét gì về quyết định của ngân hàng?
<b>Bài số 4:</b>
Một LC qui định:
LC dẫn chiếu UCP 600.
Thực tế: 18/05/2011 NH nhận được bộ chứng từ xuất trình giao hàng lần đầu: 90 MT hóa
chất A, giao hàng ngày 14/05/2011.
<i><b>Hỏi:</b></i>
a. NH có thể bắt lỗi hàng thiếu hay khơng vì 15/05 phần hàng cịn thiếu có thể tiếp
tục được giao.
b. Nếu 30/05 bộc chứng từ xuất trình nhưng vẫn không thấy 10 MT hàng thiếu chưa
giao, NH từ chối được hay khơng (có thể đã giao đủ 200 MT hóa chất B)?
<b>Bài số 4:</b>
Lagergren, một hãng kinh doanh các sản phẩm nội thất lớn của Thuỵ Điển, đã bán
một lơ hàng đồ gỗ cho tập đồn Cadtrak Furniture Co.Ltd của Đài Loan. Về phần mình,
theo thoả thuận giữa hai bên, Cadtrak đã mở tại ngân hàng của mình một thư tín dụng
L/C để chuyển nhượng số tiền hàng trị giá 760.000 USD cho Lagergren qua một ngân
hàng Thuỵ Điển. Theo thoả thuận giữa hai bên, hàng sẽ được giao thành hai chuyến, mỗi
chuyến cách nhau muộn nhất là 20 ngày . Tiền hàng cũng được thanh toán làm hai lần và
Có hai điều kiện được quy định cho thư tín dụng. Thứ nhất, ngân hàng Đài Loan sẽ
tiến hành thanh toán khi nhận được một bộ đầy đủ vận đơn đường biển đã xếp hàng hoàn
hảo. Thứ hai, ngân hàng Thuỵ Điển sẽ phải đợi giấy chấp nhận hàng do ngân hàng tại Đài
Loan của Cadtrak cấp. Giấy này sẽ được cấp sau khi có thơng báo của Cadtrak rằng họ đã
nhận được hàng và hàng đã được cơ quan y tế Đài Loan tại cảng chấp nhận.
thức từ chối hàng của Lagergren vì Cơ quan Y tế Đài Loan tại cảng đã phát hiện ra nguy
cơ mối mọt trong lô hang đồ gỗ này.
Lagergren lập luận rằng, trong biên bản của Cơ quan y tế đã khơng có dịng chữ bác
bỏ sản phẩm. Tuy nhiên, Cadtrak vẫn giữ nguyên quan điểm của mình vớI nhận định
rằng: “theo thông lệ, hàng đồ gỗ phải đủ độ tin cậy để lưu kho trong vòng 12 tháng”.
Cadtrak cho rằng sản phẩm mà họ đặt đã không được đảm bảo về chất lượng và bởi vậy
khăng khăng không chấp nhận lơ hang này. Về phía Lagergren, hãng đã có đơn kiện gửi
Uỷ ban trọng tài quốc tế (Unctad) mà hai bên đã lựa chọn giải quyết khi có tranh chấp.
Đơn kiện ghi rõ Cadtrak đã từ chối không đúng cách bộ chứng từ và yêu cầu được thanh
toán khoản tiền hàng cộng lãi suất hàng năm 13%.
<b>Bài số 5 : </b>
Tập đồn Nestle có nhập khẩu bơ từ hãng Latel của Na Uy để sản xuất các loại sữa
giàu dinh dưỡng. Cuộc mua bán được giới thiệu thông quan một số thông tin trên
Internet. Do đang trong lúc cần nguyên liệu gấp nên Nestle đã nhanh chóng thoả thuận
hợp đồng nhập khẩu với Latel. Họ đã thoả thuận thanh tốn theo L/C, vì vội vàng nên
Nestle chưa đề cập kỹ các nội dung cụ thể của L/C mà nhanh chóng chuyển tiền cho
Latel theo L/C thơng qua một ngân hàng do Nestle chỉ định. Nhưng rồi, tiền thì được gửi
đi mà hàng thì mãi vẫn chưa thấy về. Tìm hiểu kỹ thì Nestle mới vỡ lẽ ra rằng, Latel chỉ
là một công ty ảo trên mạng, không có thật.
<b>Bài số 6:</b>
Theo thỏa thuận trong hai hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nêu trên, các bên đã
chọn phương thức thanh tốn tín dụng chứng từ làm phương thức thanh toán. Cho nên,
ngày 08 tháng 11 năm 2008, Cơng ty U có đơn gửi và được một ngân hàng thương mại
Việt Nam trên cùng địa bàn mở L/C cùng ngày để Công ty U hồn thiện thủ tục mua lơ
hàng tơm ngun liệu từ Công ty Galaxy theo thỏa thuận trong hai hợp đồng nêu trên.
Ngân hàng Nhà nước Ấn Độ (State Bank of India) là ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu
(Công ty Galaxy).
Ngày 15/12/2008, các lô hàng đã được vận chuyển bằng đường biển về đến cảng Cát
Lái, TP. Hồ Chí Minh. Một ngày sau đó (16/12/2008), Cơng ty U đã nhận bộ chứng từ tại
ngân hàng mở L/C và mang chúng đến làm thủ tục nhận hàng tại cảng Cát Lái. Khi kiểm
tra các lô hàng, với sự giám định của Công ty TNHH SGS Việt Nam (Công ty SGS),
Công ty U đã phát hiện thấy sản phẩm tôm trong các lô hàng đã giao không bảo đảm chất
lượng theo thỏa thuận trong hai hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nêu trên. Trong tổng
số 2.999 thùng của lô hàng tơm nhập khẩu, chỉ có 1.751 thùng tơm ngun liệu đơng
lạnh, số cịn lại 1.248 thùng nước đá đóng khn (khơng có tơm).
Trước sự việc gian lận thương mại của Công ty Galaxy, Công ty U đã nhiều lần cố
gắng liên lạc với Công ty Galaxy để giải quyết vấn đề phát sinh về chất lượng lô hàng
tôm nhập khẩu nhưng không nhận được bất cứ phản hồi nào từ phía Cơng ty Galaxy. Do
đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ngày 17 tháng 01 năm 2009, Công ty
U đã khởi kiện Công ty Galaxy tại Tịa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng với lý do Công ty
Galaxy đã vi phạm hợp đồng mua bán ngoại thương ký kết ngày 07 tháng 11 năm 2008.
<b>Tòa án ND tỉnh Sóc Trăng đã chấp nhận thụ lý hồ sơ và giải quyết vụ kiện trên cơ</b>
<b>sở những quy định hiện hành dưới đây của pháp luật Việt Nam:</b>
<b>Điều 51 của Luật Thương mại 2005: nếu bên mua có bằng chứng về việc bên</b>
bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh tốn.
<b>Khoản 3 Điều 2 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2005: Bộ luật Tố tụng Dân sự</b>
Việt Nam được áp dụng đối với việc giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngồi,
trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì
áp dụng điều ước quốc tế đó.
<b>Điều 19 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2005: bản án, quyết định của Tịa án đã</b>
có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được mọi công dân, cơ quan, tổ chức
tôn trọng.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án phải
nghiêm chỉnh chấp hành.
Trong trường hợp nêu trên, khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (tơm
đơng lạnh), Cơng ty U và Cơng ty Galaxy không thỏa thuận về cơ quan giải quyết
tranh chấp và luật áp dụng để giải quyết tranh chấp. Cho nên, theo tư pháp quốc tế,
luật và cơ quan giải quyết tranh chấp của nước nơi thực hiện hợp đồng sẽ được ưu tiên
viện dẫn tới để giải quyết tranh chấp phát sinh. Trường hợp này, việc hàng được giao
tại Việt Nam là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tranh chấp về thanh tốn. Do vậy, Tịa
án nhân dân có thẩm quyền tại Việt Nam sẽ được xác định để giải quyết tranh chấp từ
hoặc liên quan đến hai hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nêu trên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2009, theo yêu cầu cấp bách của Cơng ty U, Tịa án
nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã ký Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
01/2007/QĐ-BPKCTT, trong đó yêu cầu Ngân hàng mở L/C tạm ngừng thanh tốn
tiền mua hàng cho Cơng ty Galaxy theo các hợp đồng mua bán ngoại thương nêu trên
nhằm ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra. Trước đó, ngày 16/03/2009,
Ngân hàng Nhà nước Ấn Độ đã gửi điện cho Ngân hàng mở L/C thông báo về việc
Trăng không nhận được văn bản trả lời của Công ty Galaxy. Sau một thời gian chờ
thư phản hồi từ phía bị đơn nhưng khơng có kết quả, ngày 26 tháng 02 năm 2009, Tịa
án nhân dân tỉnh Sóc Trăng tiến hành ủy thác tư pháp thông qua Bộ Tư pháp để tống
đạt thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn, nhưng việc ủy thác tư pháp cũng khơng mang
lại kết quả. Vì vậy, Tịa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã đưa vụ án ra xét xử theo thủ
tục chung mà khơng có sự tham dự của bị đơn.
<b>Căn cứ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2009/BPKCTT nêu</b>
<b>trên, ngày 29 tháng 01 năm 2009, Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng đã ký Quyết</b>
<b>định thi hành án số 10/CĐ.THA yêu cầu Ngân hàng mở L/C tạm ngừng thanh toán</b>
<b>tiền mua hàng cho Công ty Galaxy theo các hợp đồng mua bán ngoại thương ngày</b>
<b>07 tháng 11 năm 2009 giữa Công ty U với Công ty Galaxy.</b>
Ngày 27 tháng 09 năm 2009, Tịa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã tiến hành xét xử
sơ thẩm vụ kiện tranh chấp hợp đồng mua bán ngoại thương giữa nguyên đơn là Công ty
U và bị đơn là Công ty Galaxy. Theo Bản án sơ thẩm số 03/2009/KDTM-ST ngày 27
tháng 09 năm 2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, thì Cơng ty U chỉ có nghĩa vụ
thanh tốn cho Cơng ty Galaxy tiền mua hàng theo số lượng thực nhận với số tiền tương
ứng với từng hợp đồng, tổng cộng số tiền thanh toán là 64.815,60 USD và yêu cầu Ngân
hàng mở L/C tạm ngừng thanh tốn số tiền mua hàng cho Cơng ty Galaxy đối với lô hàng
tôm nhập khẩu theo hai hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nêu trên.