Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

SKKN THCS giải pháp nâng cao hiệu quả dạy viết văn biểu cảm cho học sinh khối 7 ở trường trung học cơ sở

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (179.02 KB, 16 trang )

MỤC LỤC
PHẦN A - ĐẶT VẤN ĐỀ.....................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................1
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu...................................................................1
4. Giả thuyết khoa học...........................................................................................2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu........................................................................................2
6. Phạm vi nghiên cứu...........................................................................................2
7. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................2
PHẦN B - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ......................................................................3
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ:...................................................................3
II. THỰC TRẠNG VIẾT VĂN BIỂU CẢM CỦA HỌC SINH:..........................3
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN :..........................................3
1. Củng cố những kiến thức, kĩ năng cơ bản cần nắm vững khi làm văn.............3
1.1. Giúp học sinh nắm được khái niệm văn biểu cảm.........................................4
1.2. Giúp học sinh nắm được cách làm bài văn biểu cảm:....................................4
1.3. Giúp học sinh nắm được cách lập ý trong văn biểu cảm:...............................5
1.4. Giúp học sinh đưa yếu tố miêu tả và tự sự trong văn biểu cảm:....................6
1.5. Giúp học sinh nắm được cách biểu cảm về tác phẩm văn học:......................6
2. Luyện tập về văn biểu cảm:...............................................................................8
2.1. Biểu cảm về một loài cây...............................................................................8
2.2. Biểu cảm về một sự vật..................................................................................9
2.3: Biểu cảm về con người...................................................................................9
2.4. Bài tập cảm thụ ca dao, thơ............................................................................9
PHẦN C - KẾT LUẬN.......................................................................................13
1. Kết luận...........................................................................................................13
2. Kiến nghị.........................................................................................................13
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................14




PHẦN A - ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Văn học có vai trị rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư
duy của con người.
Là một mơn học thuộc nhóm khoa học và xã hội, mơn Ngữ văn có tầm
quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh.
Đồng thời cũng là mơn học thuộc nhóm cơng cụ, mơn Ngữ văn cịn thể hiện rõ
mối quan hệ với các mơn học khác. Học tốt môn Ngữ văn sẽ tác động tích cực
tới các mơn học khác và ngược lại, các mơn học khác cũng góp phần học tốt
mơn Ngữ văn.
Mơn Ngữ văn trong nhà trường bậc THCS chia làm ba phân môn: Văn
học, Tiếng Việt, Tập làm văn. Trong thực tế dạy và học, phân môn Tập làm văn
là phân mơn được coi là khó nhất. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói “
Dạy làm văn là chủ yếu dạy cho học sinh diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình bày
tỏ một cách trung thành, sáng tỏ, chính xác làm nổi bật điều mình muốn nói”
(Dạy văn là một q trình rèn luyện tồn diện, nghiên cứu giáo dục số 28, 11/
1973)
Năm học 2015 - 2016, tôi được phân công dạy môn Ngữ văn 7, tôi nhận
thấy mặc dù biểu lộ tình cảm, cảm xúc là nhu cầu thiết yếu của con người nhưng
học sinh chưa biết cách bộc lộ cảm xúc của mình để “ khơi gợi lòng đồng cảm
nơi người đọc’’. Khi hành văn các em còn lẫn lộn, chưa phân biệt rạch ròi giữa
văn biểu cảm với các thể loại văn khác. Chính vì thế điểm kiểm tra bài văn biểu
cảm chưa cao. Chính vì lý do này tơi muốn đưa ra “Giải pháp nâng cao hiệu
quả dạy viết văn biểu cảm cho học sinh khối 7 ở trường Trung Học Cơ Sở
Nguyễn Trung Trực”.
2. Mục đích nghiên cứu
Khi đặt ra vấn đề làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học văn biểu
cảm ở chương trình Ngữ văn 7, tơi muốn các đồng nghiệp chia sẻ cùng tôi
những kinh nghiệm giảng dạy, trao đổi, bàn luận để tìm ra biện pháp thiết thực,
khả thi nhất, giải quyết triệt để tình trạng học sinh chỉ chú ý đến môn học tự

nhiên hơn mơn học xã hội, bộc lộ tình cảm, cảm xúc một cách hạn chế...Mục
đích cuối cùng của người viết sáng kiến kinh nghiệm là mỗi giáo viên văn sẽ đào
tạo cho đất nước những thế hệ học sinh, không chỉ thành thục về kĩ năng mà cịn
giàu có về cảm xúc, có tâm hồn trong sáng, nhân ái, biết vươn tới chân - thiện – mĩ.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
1


- Khách thể nghiên cứu: Chương trình Trung học cơ sở ban hành năm
2002, phần nội dung chương trình quy định văn biểu cảm chỉ được học 14 tiết ở
lớp 7. Chính vì thế trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi chỉ đề cập đến nội dung
văn biểu cảm trong sách giáo khoa văn 7 tập 1.
- Đối tượng nghiên cứu: Do điều kiện và thời gian nên phạm vi nghiên
cứu của sáng kiến kinh nghiệm chỉ gói gọn ở đối tượng học sinh khối 7 của
trường THCS Nguyễn Trung Trực.
4. Giả thuyết khoa học
Các giải pháp dạy học sinh lớp 7 viết văn biểu cảm đạt kết quả cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề
- Khảo sát đánh giá thực trạng của vấn đề: Hiệu quả dạy – học viết văn
biểu cảm trong môn Ngữ văn 7 chưa cao.
- Đề xuất những biện pháp (giải pháp) ứng dụng cải tạo hiện thực liên quan.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Học sinh THCS lớp 7.
- Thời gian, không gian: năm học 2015 – 2016 tại trường THCS Nguyễn Trung Trực.
7. Phương pháp nghiên cứu
Ở đề tài này, tôi dùng các phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.


2


PHẦN B - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
Văn biểu cảm là tiếng nói tình cảm hết sức phong phú của con người. Đối
tượng của phương thức biểu đạt này không phải là phong cảnh, đồ vật hay bức
tranh về cuộc sống con người như ở văn miêu tả, cũng không phải là những số
phận, những cảnh đời, những sự việc như ở văn tự sự mà là thế giới tinh thần
mn hình, mn vẻ với những tư tưởng, tình cảm, thái độ của con người trước
cuộc đời. Hay nói đúng hơn, tư tưởng, cảm xúc, nỗi niềm là đối tượng phản ánh
trực tiếp của phương thức biểu cảm.
II. THỰC TRẠNG VIẾT VĂN BIỂU CẢM CỦA HỌC SINH
Qua thực tế dạy chương trình Ngữ văn 7, tôi nhận thấy kĩ năng vận dụng
các phương thức biểu đạt trong văn bản, kĩ năng viết, bộc lộ cảm xúc trong bài
tập làm văn của nhiều học sinh chưa cao.
Trong những năm trước, khi viết bài tập làm văn số 2 với đề bài “ Loài
cây em yêu”, học sinh đã học và hình thành kĩ năng tạo lập văn bản biểu cảm
nhưng nhiều em không phân biệt được văn miêu tả và văn biểu cảm nên bài viết
khơng phải viết về thái độ, tình cảm của mình đối với một loại cây cụ thể mà tả
về loài cây đó. Hoặc viết bài tập làm văn số 3 đề yêu cầu “ Cảm nghĩ về người
thân của em”, học sinh sa vào kể lại người thân. Mặc dù biết rằng trong văn biểu
cảm có sử dụng yếu tố miêu tả và tự sự. Song miêu tả và tự sự chỉ nhằm bộc lộ
cảm xúc, chứ không phải phương thức biểu đạt chính.
Dưới đây là kết quả của lớp chưa áp dụng đề tài:
SS

Giỏi
SL %


39

2

6

Khá

Trung bình

Yếu

Kém

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%


6

15

18

45

11

29

2

5

III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Củng cố những kiến thức, kĩ năng cơ bản cần nắm vững khi làm
văn biểu cảm.
Đây là khâu quan trọng đầu tiên, không phải chỉ riêng văn biểu cảm mà là
ở tất cả các kiểu văn bản được học ở THCS. Việc cung cấp tri thức, kĩ năng về
văn biểu cảm được tiến hành ở nhiều tiết, xen kẽ: Từ tiết 20: “ Tìm hiểu chung
về văn biểu cảm”, đến tiết 62: “ Ôn tập văn biểu cảm”. Do vậy việc củng cố kiến
thức, kĩ năng làm văn biểu cảm theo một hệ thống là rất cần thiết. Sau đây là
những kiến thức, kĩ năng cơ bản cần cung cấp cho học sinh.
3


1.1. Giúp học sinh nắm được khái niệm văn biểu cảm
Văn biểu cảm là văn bản viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc, sự đánh

giá của con người đối với thế giới xung quanh và khêu gợi lòng đồng cảm nơi
người đọc. (SGK Ngữ văn 7- Tập I).
Thường thì những bài văn biểu cảm tập trung biểu đạt một tình cảm chủ
yếu. Tình cảm ấy được bộc lộ trực tiếp thông qua những suy nghĩ, những nỗi
niềm, những cảm xúc trong lòng người. Tuy nhiên trong thực tế, khi viết văn
biểu cảm (dù ở dạng thơ hay văn xuôi), người ta vẫn thường hay kết hợp sử
dụng những phương thức khác như miêu tả, tự sự để bộc lộ thái độ, tình cảm
gián tiếp thơng qua những đối tượng, những hình ảnh có ý nghĩa ẩn dụ.
Tuy nhiên, khi vận dụng phương thức miêu tả và tự sự vào văn biểu cảm
thì cũng cần lưu ý: có tả thì cũng khơng tả một cách cụ thể, hồn chỉnh; có kể thì
cũng khơng kể một cách chi tiết, đầy đủ, rõ ràng. Người viết văn biểu cảm chỉ
chọn những đặc điểm, những sự việc, những thuộc tính nào đó có khả năng gợi
cảm để biểu hiện tư tưởng, tình cảm của mình.
Về bố cục, bài văn biểu cảm cũng được tổ chức theo mạch cảm xúc của
người viết. Do vậy, trình tự các ý, các phần trong văn biểu cảm thường được sắp
xếp rất tự nhiên, khơng gị bó cứng nhắc. Về thái độ, tình cảm, phải đảm bảo
tính chân thực, trong sáng, rõ ràng, có nghĩa là khơng được giả dối, sáo rỗng. Có
như vậy, văn biểu cảm mới đi vào lòng người.
1.2. Giúp học sinh nắm được cách làm bài văn biểu cảm
Bước 1: Xác định yêu cầu của đề và tìm ý: Phải căn cứ vào các từ ngữ và
cấu trúc của đề bài để xác định nội dung, tư tưởng, tình cảm mà văn bản sẽ viết
cần phải hướng tới. Từ đó đặt câu hỏi để tìm ý (nội dung văn bản sẽ nói về điều
gì? Qua đó cần bộc lộ thái độ, tình cảm gì?)
Bước 2 : Xây dựng bố cục (dàn bài).
Bố cục của văn biểu cảm cũng bao gồm ba phần: Mở bài – Thân bài – Kết
bài. Tuy nhiên việc sắp xếp ý để tạo thành một bố cục hoàn chỉnh phụ thuộc vào
mạch cảm xúc của người viết, không hề máy móc áp đặt một kiểu nào. Nhưng
dù sao thì phần mở bài và kết bài thường là những câu văn nêu cảm nhận chung
hoặc nâng lên thành tư tưởng, tình cảm khái quát. Các ý lớn nhỏ trong phần thân
bài phải được sắp xếp hợp với diễn biến tâm lý của con người trước từng sự

việc, đối tượng.
Mở bài: Có thể giới thiệu sự vật, cảnh vật trong thời gian và khơng gian.
Cảm xúc ban đầu của mình.
4


Thân bài: Qua miêu tả, tự sự mà biểu lộ cảm xúc, ý nghĩ một cách cụ thể,
chi tiết, sâu sắc.
Kết bài: Kết đọng cảm xúc, ý nghĩ hoặc nâng lên bài học tư tưởng.
Bước 3: Hoàn thành văn bản: Đây là bước quan trọng. Trên cơ sở là dàn
bài đã xây dựng, người viết triển khai thành bài văn hồn chỉnh. Cần lưu ý là
trong q trình diễn đạt phải biết kết hợp với các phương thức biểu đạt khác
(miêu tả, tự sự, nghị luận); đồng thời phải biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật
đặc sắc (so sánh, nhân hố, ẩn dụ, điệp ngữ, nói q…). Câu văn có sự biến hố
linh hoạt (có câu trần thuật, câu cảm, câu nghi vấn, câu cầu khiến; câu dài, câu
ngắn; có câu tỉnh lược, câu tồn tại…). Lời văn phải có cảm xúc với vốn từ ngữ
giàu hình ảnh, giàu sức gợi cảm.
Bước 4: Kiểm tra lại bài: Ngoài việc kiểm tra cách diễn đạt, sửa lỗi cần
phải kiểm tra lại xem văn bản đã tốt lên tư tưởng, tình cảm chính chưa, hoặc đã
tạo được sự xúc động cho người đọc chưa.
1.3. Giúp học sinh nắm được cách lập ý trong văn biểu cảm
a. Liên hệ hiện tại với tương lai: Là hình thức dùng trí tưởng tượng để liên
tưởng tới tương lai, mượn hình ảnh tương lai để khơi gợi cảm xúc về đối tượng
biểu cảm trong hiện tại. Cách biểu cảm này tạo nên mối liên hệ và tương lai.
b. Hồi tưởng quá khứ và suy nghĩ hiện tại : là hình thức liên tưởng tới
những kí ức trong quá khứ, gợi sống dậy những kỉ niệm để từ đó suy nghĩ về
hiện tại. Đây cũng là hình thức lấy quá khứ soi cho hiện tại khiến cho cảm xúc
của con người trở nên sâu lắng hơn. Cách biểu cảm này sẽ tạo nên mối liên hệ
gắn kết rất tự nhiên và nhuần nhuyễn giữa hiện tại và quá khứ.
c. Tưởng tượng tình huống, hứa hẹn, mong ước: Là hình thức liên tưởng

phong phú, từ những hình ảnh thực đang hiện hữu để đặt ra các tình huống và
gửi gắm vào đó những suy nghĩ và cảm xúc về đối tượng biểu cảm cũng như
những ước mơ hi vọng. Cách biểu cảm này đòi hỏi người viết văn biểu cảm phải
có trí tưởng tượng phong phú.
d. Quan sát, suy ngẫm: Là hình thức liên tưởng dựa trên sự quan sát
những hình ảnh đang hiện hữu trước mắt để có những suy ngẫm về đối tượng
biểu cảm. Cách lập ý thường tạo nên những cảm xúc chân thực, sâu sắc.
Ví dụ: Lập ý cho đề bài:
Cây bàng già ở góc sân trường trong kí ức tuổi thơ của em.
- Hồi tưởng qúa khứ, nhắc lại những kỉ niệm về cây bàng trong kí ức tuổi thơ em.
- Quan sát để suy ngẫm.
5


- Liên hệ hiện tại và tương lai.
Một số cách lập ý cho đề bài:
Từ các cách lập ý này để triển khai thành những nội dung cụ thể cho bài
văn biểu cảm.
1.4. Giúp học sinh đưa yếu tố miêu tả và tự sự trong văn biểu cảm
A. Đối tượng biểu cảm trong một bài văn biểu cảm là cảnh vật, con người
và sự việc. Khơng có sự biểu cảm chung chung. Cái gì, vật gì, việc gì… làm ta
xúc động? Vì thế muốn bày tỏ tình cảm, muốn bộc lộ cảm xúc người viết phải
thông qua miêu tả và tự sự.
Ví dụ: Bài tập trang 89- SGK Ngữ văn 7- tập I:
“ …Tuổi thơ tôi đã hằn sâu trong kí ức những ngọn núi trơng xa lấp lánh
như kim cương, lúc xanh mờ, khi xanh thẫm, lúc tím lơ, khi rực rỡ như núi ngọc
màu xanh. Những năm tháng xa quê, dông tố cuộc đời tưởng chừng cuốn bay tất
cả, nhưng trong tâm tư tơi những dịng sơng q mênh mơng vẫn cuồn cuộn
chảy, những dịng kinh biêng biếc vẫn lặng lờ trôi. Tôi yêu những cánh đồng
bao la vàng rực ngày mùa, mù mù khói rạ, thơm vị mía lùi và trắng xóa sương

mù sau tết. u cả tiếng chuông chùa ngân thăm thẳm canh khuya. Tôi yêu ánh
nắng chiều tà trải màu vàng tái trên rẫy khoai mì, nghiêng nghiêng bên triền
núi.”… ( Theo Tản văn Mai Văn Tạo)
Đọc đoạn văn trên ta thấy, Mai Văn Tạo nhớ An Giang, nhớ quê mẹ là nhớ
ngọn núi, nhớ dịng sơng, những cánh đồng, tiếng chng chùa, ánh nắng chiều
tà…. Tác giả vừa miêu tả, vừa bộc lộ cảm xúc. Có thể nói, cảnh sắc An giang
được nhắc tới là xương thịt của bài văn; tình yêu, nỗi nhớ niềm tự hào quê mẹ là
linh hồn bài văn. Như vậy, để biểu cảm về quê hương An Giang, nhà văn đã sử
dụng phương thức tự sự và miêu tả.
B. Trong bài văn biểu cảm, tự sự và miêu tả chỉ là phương tiện, là yếu tố
để qua đó, người viết gửi gắm cảm xúc và ý nghĩ.
Cảm xúc, ý nghĩ là chất trữ tình của bài văn.
Ví dụ: Biểu cảm về loài cây em yêu.
Đưa yếu tố tự sự và miêu tả như thế nào khi làm đề văn trên?
- Miêu tả vẻ đẹp của cây để gợi cảm xúc của con người.
- Khi bộc lộ cảm xúc về vai trị, ý nghĩa của lồi cây cần xen miêu tả và
kể kỉ niệm gắn bó với lồi cây.
1.5. Giúp học sinh nắm được cách biểu cảm về tác phẩm văn học
6


A. Thế nào gọi là biểu cảm về tác phẩm văn học?
Phát biểu cảm nghĩ về một tác phẩm văn học (bài văn, bài thơ) là trình
bày những cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng, suy ngẫm của mình về nội dung và
hình thức của tác phẩm đó.
Tác phẩm văn học có thể là một bài ca dao, một bài thơ, một bài văn.
B. Các bước làm một bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học:
B.1. Phần chuẩn bị:
- Đọc bài văn, bài thơ …một vài lần, rút ra ấn tượng ban đầu. Đọc lần nữa
để phát hiện ra giọng điệu, chủ đề, những tư tưởng, tình cảm cao đẹp, ngôn ngữ

nghệ thuật… mà tác giả đã diễn tả rất hay, gây cho mình nhiều ấn tượng.
- Gạch chân, đánh dấu các chi tiết nghệ thuật, các hình ảnh, các câu thơ,
câu văn hay nhất mà mình u thích nhất.
- Làm dàn bài, dựng đoạn.
- Viết bài và chỉnh sửa.
B.2. Bố cục bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học:
* Phần mở đầu: Có thể giới thiệu một vài nét về tác phẩm; nêu lên ấn
tượng sâu sắc nhất, khái quát nhất của mình khi đọc, khi xem tác phẩm ấy. Mở
bài hay nhất được hai yêu cầu: Tính khái quát và tính định hướng.
* Phần thân bài: lần lượt nêu lên những cảm nghĩ của riêng mình về
những khía cạnh của tác phẩm. Khơng lan man dàn đều mà nên xoáy sâu vào
các trọng tâm, trọng điểm. Phải đi từ “a” qua “b,c”…. nhớ liên kết đoạn.
* Phần kết bài: Nêu lên cảm nghĩ chung, có thể đánh giá và liên hệ. Tránh
dài dòng, trùng lặp và đơn điệu.
B.3. Thao tác cơ bản:
Phát biểu cảm nghĩ không thể nói chung chung mà phải rất cụ thể, phải
chỉ ra được yêu thích, thú vị ở chỗ nào. Nghĩa là phải phân tích và trích dẫn.
Vì vậy, phân tích và trích dẫn là thao tác cơ bản nhất lúc phát biểu cảm nghĩ.
Có lúc phải khen, chê. Khen, chê chính là phải viết lời bình. Khen, chê
trên cơ sở yếu tố nghệ thuật chứ không phải tùy tiện. Giáo viên qua các bài
giảng cụ thể, qua việc hướng dẫn đọc sách… sẽ giúp các em dần bình văn, biến
thành kĩ năng, kĩ xảo. Lúc nào viết được lời bình hay, sâu sắc thì bài phát biểu
cảm nghĩ mới thực sự mang vẻ đẹp trí tuệ.

7


Có lúc phải biết liên tưởng, so sánh. Từ hiện tượng này mà nghĩ, mà nhớ
đến hiện tượng văn học khác. Có thể liên tưởng, so sánh về hình ảnh, chi tiết
nghệ thuật, sử dụng từ, biện pháp tu từ, hình tượng nhân vật… trong cùng một

tác giả hoặc giữa các tác giả có mối liên hệ với nhau. Khi học sinh phát biểu
cảm nghĩ về cụm từ “ta với ta” trong bài thơ “ Qua Đèo Ngang” ( Bà Huyện
Thanh Quan) thì có thể so sánh tới cụm từ “ ta với ta” trong tác phẩm “ Bạn đến
chơi nhà” ( Nguyễn Khuyến ). Hoặc phát biểu cảm nghĩ về âm thanh tiếng suối
trong bài thơ “ Cảnh khuya” ( Hồ Chí Minh) thì nên so sánh với âm thanh tiếng
suối của bài thơ “ Bài ca Côn Sơn” ( Nguyễn Trãi). Từ việc so sánh này để
người đọc thấy được cái hay của mỗi tác phẩm.
Viết lời bình, liên tưởng, so sánh là thao tác nên có. Với bài văn thi học
sinh giỏi phải được coi trọng thao tác bình, liên tưởng, so sánh.
2. Luyện tập về văn biểu cảm
Để nắm vững và củng cố tri thức, kĩ năng về văn biểu cảm, không phải chỉ
biết, hiểu, học thuộc lòng mà quan trọng hơn là phải biết làm – biết thực hành –
biết sáng tạo. Chân Hy (Trung Quốc) đã từng khun:
“Học rộng điều gì khơng bằng hiểu rành điều ấy. Hiểu rành điều ấy
không bằng thực hành điều ấy”. Mặt khác chúng ta đều biết Tập làm văn là phân
môn thực hành tổng hợp – thực sự là thực hành. Việc thực hành cũng cần theo
qui trình từ dễ đến khó, từ đơn giản đến tổng hợp; từ việc làm dàn bài, viết ngắn
đến viết dài – thành văn hoàn chỉnh. Đối tượng biểu cảm cũng mở rộng.
Việc thực hành - luyện tập phải được thường xuyên, liên tục; phải được
kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm; phải có yêu cầu, nghiêm túc song cũng cần
phải động viên, khích lệ.
Sau đây là một số bài tập thực hành mà tôi đã thực hiện trong thời gian qua:
2.1. Biểu cảm về một loài cây
Bài tập : Phát biểu cảm nghĩ về loài cây em yêu.
Giải:
- Mở bài: Giới thiệu về loài hoa hoặc loài cây em yêu và giới thiệu cảm
xúc ban đầu của người viết.
- Thân bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về loài cây, hoặc lồi hoa đó.
+ Những đặc điểm gợi cảm ở cây hoặc hoa mà em thích thú.
+ Những kỉ niệm gắn bó của em với lồi hoa, lồi cây đó.


8


+Nêu ý nghĩa của lồi hoa, lồi cây đó trong cuộc sống của em và của mọi
người. (ngồi ra có thể nêu ý nghĩa biểu tượng của nó ).
- Kết bài : Nêu tình cảm của em về lồi hoa, cây đó.
2.2. Biểu cảm về một sự vật
Bài tập : Phát biểu cảm nghĩ của em về món quà tuổi thơ.
- Mở bài : - Giới thiệu về món quà tuổi thơ.
- Thân bài : Phát biểu cảm nghĩ của em về món quà tuổi thơ đó.
+ Những đặc điểm gợi cảm ở món q khiến em thích thú.
+ Những kỉ niệm gắn bó của em với món quà đó.
+ Nêu ý nghĩa của món quà đó trong cuộc sống của em và của mọi người.
(ngồi ra có thể nêu ý nghĩa biểu tượng của nó ).
- Kết bài : Nêu tình cảm của em về món q đó.
2.3. Biểu cảm về con người
Bài tập : Phát biểu cảm nghĩ của em về người em thương yêu nhất.
- Mở bài : Giới thiệu người mà em yêu mến.
- Thân bài : Phát biểu cảm nghĩ của em về người mà em u mến đó.
+ Những đặc điểm ( về hình thức và tính tình ) của người đó làm em yêu mến.
+ Những kỉ niệm yêu thương, gắn bó của em với người đó.
+ Tưởng tượng ra tình huống để bộc lộ tình cảm với người đó.
- Kết bài : Nêu tình cảm của em với người đó.
2.4. Bài tập cảm thụ ca dao, thơ
Bài tập 1: Phát biểu cảm nghĩ của em về bài ca dao sau :
Râu tôm nấu với ruột bầu.
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.
a. Tìm hiểu:
- Râu tơm, ruột bầu là 2 thứ bỏ đi.

- Bát canh ngon:Từ “ngon” có giá trị gợi cảm.
- Cảm nghĩ của em về cuộc sống nghèo về vật chất nhưng đầm ấm về tinh thần.
b. Tập viết:
* Gợi ý: “Râu tôm”, “ruột bầu” là hai thứ bỏ đi.Thế mà ở đây hai thứ ấy
được nấu thành một bát canh “ngon” mới tuyệt và đáng nói chứ. Đó là cái ngon
9


và cái hạnh phúc có thực của đơi vợ chồng nghèo thương yêu nhau. Câu ca dao
vừa nói được sự khó khăn thiếu thốn cùng cực, đáng thương vừa nói được niềm
vui, niềm hạnh phúc gia đình đầm ấm, tuy bé nhỏ đơn sơ, nhưng có thực và rất
đáng tự hào của đôi vợ chồng nghèo khổ khi xa. Cái cảnh chồng chan, vợ húp
thật sinh động và hấp dẫn. Cái cảnh ấy cịn được nói ở những bài ca dao khác
cũng rất hay :
Lấy anh thì sướng hơn vua.
Anh ra ngoài ruộng bắt cua kềnh càng.
Đem về nấu nấu, rang rang.
Chồng chan, vợ húp lại càng hơn vua.
Hai câu ở bài ca dao trên chỉ nói được cái vui khi ăn, cịn bốn câu này nói
được cả một q trình vui khá dài (từ khi bắt cua ngồi đồng đến lúc ăn canh cua
ở nhà, nhất là cái cảnh nấu nấu, rang rang).
Bài tập 2: Hãy trình bày cảm nghĩ của em về tình yêu quê hương đất
nước và nhân dân qua bài ca dao sau:
Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng mênh mơng bát ngát.
Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mơng.
Thân em như chẽn lúa đòng đòng.
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.
a.Tìm hiểu:
- Hình ảnh cánh đồng đẹp mênh mơng, bát ngát.
- Hình ảnh cơ gái.

Biện pháp so sánh: Em như chẽn lúa đòng đòng.
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.
b. Luyện viết:
* Gợi ý: Cái hay của bài ca dao là miêu tả được 2 cái đẹp: cái đẹp của cánh đồng
lúa và cái đẹp của cô gái thăm đồng mà khơng thấy ở bất kì một bài ca dao nào khác.
Dù đứng ở vị trí nào, “đứng bên ni” hay “đứng bên tê” để ngó cánh đồng
quê nhà, vẫn cảm thấy “mênh mông bát ngát ... bát ngát mênh mơng”.
Hình ảnh cơ gái thăm đồng xuất hiện giữa khung cảnh mênh mông bát
ngát của cánh đồng lúa và hình ảnh ấy hiện lên với tất cả dáng điệu trẻ trung,
xinh tươi, rạo rực, tràn đầy sức sống. Một con người năng nổ, tích cực muốn
thâu tóm, nắm bắt cảm nhận cho thật rõ tất cả cái mênh mông bát ngát của cánh
đồng lúa quê hương .
10


Hai câu đầu cơ gái phóng tầm mắt nhìn bao qt tồn bộ cánh đồng để
chiêm ngưỡng cái mênh mơng bát ngát của nó thì hai câu cuối cơ gái lại tập
trung ngắm nhìn quan sát và đặc tả riêng một chẽn lúa đòng đòng và liên hệ với
bản thân một cách hồn nhiên. Hình ảnh chẽn lúa địng địng đang phất phơ trong
gió nhẹ dưới nắng hồng buổi mai mới đẹp làm sao!
Hình ảnh ấy tượng trưng cho cơ gái đang tuổi dậy thì căng đầy sức sống.
Hình ảnh ngọn nắng thật độc đáo. Có người cho rằng đã có ngọn nắng thì cũng
phải có gốc nắng và gốc nắng là mặt trời vậy.
Bài ca dao quả là một bức tranh tuyệt đẹp và giàu ý nghĩa.
3. Bài làm của học sinh về văn biểu cảm
Đề bài : Phát biểu cảm nghĩ của em về loài cây em yêu.
Bài làm:
Ai cũng vậy khi xa quê hương, người ta đều nhớ đến quê, nhớ đến cảnh
vật gần gũi, gắn bó với họ. Có thể là bờ tre, là con sơng hay đầm sen ngát
hương, hay luỹ tre xanh rì rào. Riêng tơi, khi nói đến q hương, hình ảnh cây

đa cổ thụ vẫn không thể phai mờ, vẫn sâu lắng trong lịng tơi thuở nào.
Tơi ln nhớ hình ảnh cây đa ấy - một hình ảnh đồ sộ, hùng vĩ như tồ lâu
đài cổ kính, nguy nga. Cành cây to như cột đình, đỉnh chót vót giữa trời xanh.
Gốc cây lớn đến nỗi chín, mười người ơm khơng xuể. Tơi nhớ cái dáng cao lớn
của nó. Tơi nhớ bộ rễ nổi xù xì mà nhăn nheo. Nhớ cả từng chiếc lá vàng rơi
trong chiều thu tĩnh lặng. Và tuổi thơ tơi đã in đậm những ngày hè bên gốc đa.
Đó là những buổi trèo cây bắt chim sẻ, ngồi dưới gốc đa hóng mát, kể chuyện…
Tơi cứ tưởng rằng những năm tháng theo mẹ xa quê đã cuốn những kỉ niệm xưa
vào dĩ vãng. Nhưng thời gian càng lâu thì chúng càng khắc sâu trong tâm trí,
tâm hồn tơi.
Cây đa ấy làm tôi thêm yêu đời, yêu người dân quê hương tơi. Nghĩ đến
cây đa lịng tơi vui khơn tả. Trong trái tim bé bỏng này, tôi luôn nghĩ về quê
hương – nghĩ về cây đa.
Đề bài : Viết đoạn văn : Em hãy phát biểu cảm nghĩ của em về bức tranh
quê trong “Thiên Trường vãn vọng”(Trần Nhân Tông).
Bài làm :
Bài tứ tuyệt “Thiên Trường vãn vọng” là bức tranh quê đậm nhạt, mờ
sáng rất đẹp và tràn đầy sức sống. Một bút pháp nghệ thuật cổ điển tài hoa. Một
tâm hồn thanh cao yêu đời. Tình yêu thiên nhiên, yêu đồng quê xứ sở đã được
thể hiện bằng một số hình tượng đậm đà, ấm áp qua những nét vẽ tinh tế, gợi
11


hình, gợi cảm, giàu liên tưởng. Kì diệu thay, bài thơ đã vượt qua hành trình trên
bảy trăm năm, đọc lên nó vẫn cho ta nhiều thú vị. Ta vẫn cảm thấy cánh cị trắng
được nói đến trong bài thơ vẫn còn bay trong ráng chiều đồng quê và còn chấp
chới trong hồn ta. Tình quê và hồn quê chan hòa dào dạt.
4. Kết quả của đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Qua rút kinh nghiệm và thay đổi, áp dụng những phương pháp nêu trên,
tôi nhận thấy chất lượng dạy và học văn biểu cảm ở môn Văn khối 7 được nâng

cao rõ rệt. Ở phương diện là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, tơi thấy
mình vững vàng hơn trong chuyên môn; tự tin, say mê hơn trong sự nghiệp
trồng người. Ai đó đã từng nói rằng “ nghiệp văn là nghiệp khổ” nhưng tôi
chẳng thấy khổ chút nào mà ngược lại, tơi thấy mình hạnh phúc, sung sướng vì
được cống hiến, góp sức mình làm đẹp cho đời. Đối với các em học sinh, các em
bước đầu đã ý thức được tầm quan trọng của môn Văn, biết bộc lộ cảm xúc của
mình đúng cách, đúng nơi, đúng lúc. Số lượng học sinh làm văn biểu cảm tốt
khá nhiều. Cụ thể thống kê điểm như sau:
SS
39

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Kém

SL

%

SL

%

SL


%

SL

%

SL

%

6

16,5

28

71

5

12,5

0

0

0

0


12


PHẦN C - KẾT LUẬN
1. Kết luận
Thật vậy, trong nhà trường khơng có mơn nào có thể thay thế được mơn
Ngữ văn. Đó là mơn học vừa hình thành nhân cách, vừa hình thành tâm hồn.
Trong thời đại hiện nay, khoa học kĩ thuật phát triển rất nhanh, môn Ngữ văn sẽ
giữ lại tâm hồn con người, giữ lại cảm giác nhân văn để con người tìm đến con
người, trái tim hoà cùng nhịp đập trái tim. Sau khi nghiên cứu, bản thân người
dạy và người học sẽ có cái nhìn mới mẻ, tích cực hơn về phương pháp dạy và
học văn biểu cảm. Từ đó rất hi vọng kết quả Ngữ văn của các em tốt hơn.
2. Kiến nghị
+ Đối với phụ huynh
- Quan tâm hơn đến việc học con em mình, đầu tư nhiều hơn về thời gian
cho con cái học tập.
- Hướng dẫn và tạo cho con thói quen đọc sách: chia sẻ, tư vấn định
hướng, bồi dưỡng tâm hồn cho con để các em có nhiều thuận lời trong việc bộc lộ
và phát triển cảm xúc, tình cảm trong cuộc sống nói chung và trong việc làm văn
biểu cảm nói riêng.
- Phối hợp chặt chẽ, thường xun với giáo viên bộ mơn để tìm hiểu, nắm
bắt kịp thời tình hình học tập của con em mình.
+ Đối với ngành giáo dục
- Tổ chức chuyên đề, hội thảo cho giáo viên bộ môn Ngữ văn trong từng
năm để giáo viên có dịp trao đổi kinh nghiệm, bình luận đưa ra biện pháp tối ưu,
tích cực nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn.
- Đầu tư trang thiết bị, dụng cụ trực quan, đặc biệt là đầu tư công nghệ
thông tin để hỗ trợ cho giáo viên dạy Văn.
Vạn Khánh, ngày 10 tháng 03 năm 2016

DUYỆT CỦA LÃNH ĐẠO

Người viết

Nguyễn Thị Xuân Hân

13


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ văn 7 tập 1.
2. Phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường THCS theo hướng tích hợp và
tích cực – Đoàn Thị Kim Nhung – NXB Đại học Quốc gia HCM.
3. Dạy học làm văn ở trung học cơ sở - NXB Giáo dục
4. Văn biểu cảm trong chương trình Ngữ văn THCS - Nguyễn Trí,
Nguyễn Trọng Hồn – NXB Giáo dục.

14



×