MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................................1
2. Lịch sử của đề tài.......................................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu đề tài.......................................................................................2
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu......................................................................2
4.1. Nhiệm vụ................................................................................................................2
4.2. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................2
5. Giới hạn (phạm vi) nghiên cứu..................................................................................3
6. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu...........................................................................3
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ............................................................................................3
1. Cơ sở lý luận của vấn đề............................................................................................3
2. Thực trạng của vấn đề................................................................................................5
3. Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề............................................................6
3.1. Tìm hiểu lí lịch của học sinh...................................................................................6
3.2. Bầu ban cán bộ lớp..................................................................................................7
3.3. Sắp xếp vị trí chỗ ngồi cho học sinh.......................................................................8
3.4. Xây dựng nội qui của lớp........................................................................................8
3.5. Phối hợp phụ huynh học sinh trong giáo dục học sinh............................................9
3.6. Phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn trong việc giáo dục toàn diện học sinh. .10
3.7. Phối hợp với các đồn thể trong nhà trường..........................................................10
3.8. Phân cơng, giao nhiệm vụ cho cán bộ lớp đồng thời rèn luyện khả năng tự quản
cho học sinh.................................................................................................................11
3.9. Đặc biệt quan tâm, giáo dục với học sinh cá biệt..................................................12
3.10. Khen thưởng và kỉ luật........................................................................................14
3.11. Tổ chức buổi sinh hoạt lớp..................................................................................14
3.12. Giáo dục kỹ năng sống........................................................................................14
4. Hiệu quả của đề tài...................................................................................................15
III. KẾT LUẬN............................................................................................................ 16
1. Đúc kết lại những nội dung đã trình bày..................................................................16
2. Biện pháp triển khai áp dụng đề tài vào thực tiễn....................................................17
3. Kiến nghị, đề xuất....................................................................................................18
3.1. Kiến nghị..............................................................................................................18
3.2. Đề xuất.................................................................................................................. 18
4. Hướng phát triển của đề tài......................................................................................19
BẢNG ĐĂNG KÝ CHỮ VIẾT TẮT
Cụm từ, thuật ngữ được viết tắt
Giáo viên chủ nhiêm
Sáng kiến
Thể dục thể thao
Lực lượng vũ trang nhân dân
An tồn giao thơng
Cha mẹ học sinh
Phụ huynh học sinh
Chi đội trưởng
Ban cán sự lớp
Chữ viết tắt
GVCN
SK
TDTT
LLVTND
ATGT
CMHS
PHHS
CĐ trưởng
BCS lớp
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong giai đoạn Cơng nghiệp hóa - Hiện đại hóa, xã hội
ngày một phát triển, cuộc sống ngày một hiện đại với bao sự đổi mới. Đặc biệt,
đời sống văn hóa, tinh thần được nâng lên với những tiến bộ của cơng nghệ
thơng tin tồn cầu. Song song với những sự phát triển đó, tình hình đạo đức của
học sinh cũng có nhiều biến động như sa sút về đạo đức, thiếu ý thức trong việc
học tập, đặc biệt là những học sinh cá biệt, chậm tiến bộ..Đa số học sinh đều
ham học và chăm ngoan. Bên cạnh đó, vẫn có một bộ phận khơng nhỏ học sinh
chưa ngoan, biểu hiện của sự chưa ngoan ở các em vô cùng phức tạp và đa dạng:
Văng tục, chửi thề, không vâng lời cha mẹ, thầy cô, không trung thực, trốn học
để chơi game online, gây gỗ đánh nhau, vô lễ với người lớn, ln có nguy cơ bỏ
học, xem thường nội quy trường lớp,…
Xét về tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung học cơ sở là lứa tuổi hiếu động
và hiếu thắng, nhiều nông nổi do sự phát triển tâm sinh lý chưa hoàn chỉnh, là
lứa tuổi đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Q trình hình
thành cái mới diễn ra khơng đồng đều ở các mặt trong mỗi cá nhân. Vì vậy tơi
rất lo lắng là: Làm sao đưa chất lượng học tập, rèn luyện đạo đức của các em
học sinh trong lớp ngày càng tiến bộ và phát triển tốt để cuối năm đều được xét
tốt nghiệp THCS và tôi nghĩ muốn vậy thì phải đổi mới phương pháp quản lí lớp
chủ nhiệm để xây dựng tập thể lớp đoàn kết, thân ái giúp đỡ nhau trong học tập
và rèn luyện. Là một giáo viên vừa giảng dạy bộ môn, vừa làm công tác chủ
nhiệm lớp, cộng với những biểu hiện chưa ngoan của một bộ phận học sinh
trong lớp đã làm tôi trăn trở.
Trong năm học vừa qua tôi được BGH nhà trường THCS Nguyễn Huệ
tiếp tục phân công công tác chủ nhiệm (phân công chủ nhiệm lớp 9/1). Các em
học sinh lớp 9/1 một số rất nghịch, tính tự do, thường xuyên mất trật tự trong
giờ học, nghịch ngầm (nói chuyện riêng trong giờ học), gia đình các em phần
lớn là gia đình lao động nơng nghiệp, làm nghề tự do, bn bán, nhiều bố mẹ
các em khơng có việc làm vì vậy họ (một số gia đình) khơng thực sự quan tâm
đến việc học của các em. Từ đó dẫn đến việc các em có những nhìn nhận sai,
chưa đúng về đạo đức, lối sống và không phát huy được tinh thần đồn kết trong
một tập thể. Nhìn chung ý thức kỷ luật, đạo đức và sức học của các em so với
một số lớp khác trong trường chưa thực sự vượt trội. Nhưng đây là năm học cuối
cấp, học sinh lại đang ở lứa tuổi phát triển toàn diện ở mọi mặt về tâm sinh lí.
Thực tiễn là như vậy đó, nên mỗi giáo viên chủ nhiệm cần phải có đủ
trình độ hiểu biết về kiến thức sư phạm, có năng lực quản lý, có lịng say mê với
nghề nghiệp, chủ động trong việc phối hợp với nhà trường, với giáo viên bộ
mơn, kết hợp với gia đình, tổ chức tốt các giờ sinh hoạt nội khoá, ngoại khố…
giúp các em hồn thiện mình hơn, xây dựng một tập thể ln đồn kết nhất trí
trong học tập và sinh hoạt, một tập thể đoàn kết vững mạnh. Tập thể trong đó
các em ln xác định cho mình mục đích đúng đắn của việc học tập, ln phấn
đấu đi lên để đạt được kết quả cao nhất mà các em, gia đình và các thầy cơ trong
nhà trường hằng mong muốn. Vì vậy, để góp phần cùng với Nhà trường THCS
Nguyễn Huệ trong công tác giáo dục học sinh tốt hơn nữa, tơi xin trình bày
1
những kinh nghiệm của mình để “Đổi mới phương pháp quản lí lớp chủ nhiệm
nhằm xây dựng tập thể lớp vững mạnh ở trường THCS Nguyễn Huệ” được rút
ra từ thực tế làm cơng tác chủ nhiệm của mình.
2. Lịch sử của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế phát triển, cơng tác chủ nhiệm
ngày càng địi hỏi sự dày cơng của giáo viên, bởi vì u cầu ngày càng cao của
xã hội, bởi tình hình cuộc sống đang tồn tại nhiều tác động xấu đối với học sinh,
bởi sự mưu sinh của gia đình nên khơng ít phụ huynh đã giao phó việc giáo dục
con cái cho nhà trường. Chúng ta đã biết giáo viên chủ nhiệm ngồi việc giảng
dạy thì cịn thay mặt nhà trường để quản lí điều hành lớp, trực tiếp giáo dục về
tư tưởng đạo đức, góp phần hình thành nhân cách cho học sinh, là cầu nối giữa 3
môi trường giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Giáo viên chủ nhiệm tìm ra một số phương pháp hữu hiệu, khả thi thích
hợp để tiếp cận với những học sinh nhằm nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, hoàn
cảnh, điểm mạnh, yếu của từng học sinh để từ đó có những biện pháp giáo dục
phù hợp, giúp các em hồn thiện mình hơn. Đồng thời tạo điều kiện cho phong
trào thi đua của lớp vào nề nếp, khn khổ, phát huy tính tích cực của học sinh
và tinh thần làm chủ tập thể, tự quản của học sinh, phát huy được vai trò, thế
mạnh của ban cán sự lớp để xây dựng được tập thể lớp đoàn kết vững mạnh.
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ
Căn cứ vào tình hình phát triển tâm sinh lí của học sinh lớp 9/1 trường
THCS Nguyễn Huệ trong giai đoạn này: đây là giai đoạn mà các em muốn trở
thành người lớn trong mắt người lớn, các em bướng bỉnh khơng nghe lời thầy cơ
và gia đình, khó bảo, rất dễ bị lơi kéo và những việc làm xấu như: bỏ học chơi
game, đánh bài, hút thuốc, uống rượu,… mà gia đình, nhà trường và xã hội
khơng mong muốn. Ở giai đoạn này các em muốn người lớn coi trọng và quan
tâm đến mình.
Hiện nay số học sinh ngoan dễ quản lí cịn ít đa phần là học sinh khơng
ngoan ít vâng lời thầy cơ, hay làm cho thầy cơ buồn phiền. Đó là thời kì chuyển
tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi
khác nhau như: “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”.
Để giáo dục tốt học sinh lớp 9/1 cần phải phối hợp tốt với ban cán sự lớp
nhằm xây dựng tập thể lớp chủ nhiệm vững mạnh, thì giáo viên chủ nhiệm cần
phải tìm hiểu kĩ về lý lich học sinh để bầu ra ban cán sự lớp nhiệt tình, năng nổ
và có trách nhiệm cao với lớp. Đồng thời cần phải sắp xếp chỗ ngồi phù hợp,
xây dựng nội qui của lớp rõ ràng, cụ thể. Thường xuyên theo dõi, bám sát lớp
chủ nhiệm để khen thưởng và kỉ luật kịp thời. Phối hợp với nhà trường và phụ
huynh học sinh khi cần thiết.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Đầu năm giáo viên chủ nhiệm điều tra tình hình rèn luyện hạnh kiểm, học
lực của học sinh ở năm học trước để nắm được số lượng về học lực và hạnh
kiểm của lớp, đồng thời nắm được mặt mạnh, mặt yếu của từng học sinh trong
lớp. Đặt biệt nắm được học sinh cá biệt trong lớp.
2
Tìm hiểu về hồn cảnh gia đình, điều kiện học tập của từng học sinh trong
lớp. Theo dõi các hoạt động học tập và rèn luyện đạo đức của từng học sinh trên
lớp thông qua ban cán sự lớp và sổ đầu bài để có biện pháp giáo dục thích hợp.
Đàm thoại với học sinh thông qua từng tiết dạy, sinh hoạt lớp, 15 phút
đầu giờ, hoạt động ngoài giờ lên lớp và ở mọi lúc, mọi nơi để kịp thời nắm bắt
thông tin nhằm đôn đốc, nhắc nhở, khen thưởng, phê bình và kỉ luật kịp thời..
Trao đổi thường xuyên với giáo viên bộ môn để nắm bắt thông tin về các
học sinh lười học, tiến bộ trong học tập.
Phối hợp với phụ huynh học sinh, Đoàn – Đội trong nhà trường.
Tìm hiểu nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm, quyền của học sinh trung
học cơ sở….để làm đúng và đủ nhiệm vụ của mình, đồng thời bảo vệ quyền lợi
của học sinh.
5. Giới hạn (phạm vi) nghiên cứu
Đổi mới phương pháp quản lý lớp của giáo viên chủ nhiệm nhằm xây
dựng tập thể lớp vững mạnh.
Thời gian: 28/08/2017 đến 30/5/2018
Trường THCS Nguyễn Huệ
Đối tượng khảo sát: học sinh lớp 9/1
6. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Trong quá trình làm cơng tác chủ nhiệm tơi nhận thấy học sinh lớp 9/1
trường THCS Nguyễn Huệ có sự phát triển về mặt tâm sinh lí mạnh mẽ, ở giai
đoạn này các em có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”.
Các em ln muốn khẳng định mình, muốn làm người lớn gây ra hiện tượng
bướng bỉnh khơng nghe lời thầy cơ và gia đình, khó bảo ở dẫn đến không làm
chủ được cảm xúc của mình, khơng kiềm chế được xúc động mạnh, các em dễ bị
kích động, dễ bực tức cáu gắt, mất bình tĩnh…Thực tiễn là như vậy, do đó với
vai trị là một giáo viên có nhiều năm làm cơng tác chủ nhiệm ở trường THCS
Nguyễn Huệ, tôi đã, đang và sẽ luôn vận dụng những kinh nghiệm mà bản thân
đã đúc kết được trong nhiều năm học qua để hoàn thành tốt cơng tác chủ nhiệm
lớp. Bên cạnh đó, nêu ra một số biện pháp hữu hiệu, khả thi về công tác chủ
nhiệm để phong trào thi đua của lớp vào nề nếp, khn khổ, phát huy tính tích
cực của học sinh và tinh thần làm chủ tập thể, tự quản của học sinh, giúp các em
hồn thiện mình hơn, đưa lớp chủ nhiệm đạt được những thành tích nhất định,
xây dựng được tập thể lớp đoàn kết vững mạnh, đưa nhà trường ngày càng tiến
lên.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận của vấn đề
Chúng ta ai cũng biết, lứa tuổi học sinh THCS đặc biệt là học sinh khối 9
đã có sự thay đổi rất lớn về đặc điểm tâm sinh lý hết sức điển hình. Những đặc
điểm tâm lý, trình độ hiểu biết, vốn sống của học sinh này cịn nhiều hạn chế.
Mỗi học sinh có đặc điểm, hồn cảnh, thể chất, tâm lí, hành vi đạo đức, năng
khiếu, sở thích…rất khác nhau là do một số nguyên nhân sau: Nhiều cha mẹ học
sinh phải đi làm ăn xa, để con em tự quản lý gia đình. Sự phát triển của mạng
Internet về nông thôn, nhiều điểm chat, chơi game online mọc lên ở lân cận
trường học và trên đường đi học của nhiều học sinh. Nhiều bậc cha mẹ hoặc
3
phải lo làm ăn do kinh tế cịn khó khăn hoặc mãi lo làm giàu mà vơ tình qn đi
việc giáo dục đạo đức cho con, đẩy hết trách nhiệm về phía nhà trường. Một số
gia đình phụ huynh có điều kiện nhưng lại nng chìu con q mức. Một số học
sinh có cha mẹ bất hịa hoặc cha mẹ li thân, li dị, hoặc cha (mẹ) có vợ (chồng)
khác,…Một số học sinh kết bạn và đi chơi với các thanh thiếu niên hư hỏng ở
bên ngoài nhà trường cộng với sự tác động của những tiêu cực xã hội. Từ đó dẫn
đến việc các em có những nhìn nhận sai, chưa đúng về đạo đức, lối sống và
không phát huy được tinh thần đoàn kết trong một tập thể. Nắm bắt những
nguyên nhân trên giáo viên cần có những biện pháp sư phạm phù hợp nhằm khơi
dậy và phát huy những mặt mạnh sẵn có ở mỗi em, đồng thời hình thành và phát
triển thêm những phẩm chất để xây dựng cho các em những tâm hồn và tình cảm
phong phú, có cách nghĩ trong sáng, có tấm lịng nhân hậu, có năng lực và sức
khỏe dồi dào để thích ứng cuộc sống độc lập và yêu cầu của thời đại.
Cơng tác chủ nhiệm lớp đóng một vai trị quan trọng trong q trình giáo
dục tồn diện cho học sinh, cơng tác này góp phần chủ đạo khơng chỉ trong việc
giúp các em tiếp cận, lĩnh hội tri thức văn minh của nhân loại mà cịn trong q
trình dần hình thành nhân cách để các em có đạo đức trong sáng, có lối sống, tác
phong, cách ứng xử với gia đình, thầy cơ, bạn bè và những người khác một cách
đúng mực... nó quyết định đến chất lượng “Sản phẩm giáo dục” chính là bản
thân các em học sinh trong từng năm học. Nó giúp các em tu dưỡng, rèn luyện
bản thân để trở thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, cháu ngoan Bác Hồ và trở
thành con người có ích cho bản thân, cho gia đình và xã hội ngay từ khi các em
đang còn ngồi trên ghế nhà trường và cả tương lai sau này nữa. Mà sản phẩm
này không giống như những sản phẩm hay hàng hóa khác (bởi vì đó là con
người), nên cơng tác chủ nhiệm càng được coi trọng trong công tác giáo dục
tồn diện cho học sinh. Trong cơng tác chủ nhiệm thì giáo viên chủ nhiệm lớp
đóng vai trị quan trọng nhất, quyết định nhất và chính các thầy cơ chủ nhiệm sẽ
là người quyết định đến phong trào của lớp, đến chất lượng giáo dục, đến kết
quả phấn đấu của học sinh trong một năm học, vậy chúng ta phải làm thế nào để
nâng cao hiệu quả của công tác chủ nhiệm lớp đặc biệt với những lớp ở khối 9,
khối cuối cấp bậc trung học cơ sở? Đây là câu hỏi khó mà bất cứ thầy cơ giáo
chủ nhiệm khối 9 nào cũng suy nghĩ, băn khoăn và trăn trở để tìm ra câu trả lời.
Cơng tác chủ nhiệm lớp là cơng tác tổ chức quản lí một lớp học sao cho
khi thầy cơ có hoặc khơng có ở lớp thì mọi hoạt động vẫn được duy trì ổn định,
có tính tự giác cao và mọi việc vẫn hoàn thành tốt. Sự phát triển về nhận thức,
nhân cách, , khả năng tiếp thu của học sinh chỉ thực sự hiệu quả khi đó là một
tập thể lớp vững mạnh và lớp học phải là ngôi nhà thứ hai của mỗi trò. Trong
lớp học cần phải tạo ra một bầu khơng khí sư phạm ấm cúng, những u cầu về
việc thực hiện nội quy lớp học cần phối hợp và duy trì đều đặn, giáo viên chủ
nhiệm ln khuyến khích, động viên những học sinh của mình phát huy hết khả
năng, năng lực học tập, năng lực công tác và khả năng làm các công việc khác,
cần phát hiện sớm để hạn chế những biểu hiện chưa tích cực của học sinh, ln
tạo khơng khí vui vẻ, u thương, đoàn kết giữa học sinh trong lớp. Tất cả các
em học sinh đều mong muốn có một giáo viên chủ nhiệm mẫu mực, đó là một
địi hỏi hết sức chính đáng để mỗi người giáo viên chủ nhiệm luôn phấn đấu.
4
Giáo viên chủ nhiệm lớp có vai trị quan trọng trong việc giáo dục nhân
cách của học sinh trong lớp phát triển một cách toàn diện. Bởi lẽ họ là người
trực tiếp đảm đương vai trị quản lí học sinh trong một lớp, trực tiếp tổ chức cho
học sinh thực thi mọi yêu cầu giáo dục của nhà trường đưa ra. Giáo viên chủ
nhiệm là người gần gũi học sinh nhất, hiểu tâm tư tình cảm của các em, ln
trực tiếp uốn nắn những hành vi sai trái của học sinh và giúp học sinh phát triển
đúng hướng.
Giáo viên chủ nhiệm phải đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh và tập
thể lớp. Chức năng này có ý nghĩa cực kì quan trọng với quá trình học tập, rèn
luyện và phát triển nhân cách của học sinh. Sự đánh giá khách quan, chính xác,
đúng mực là một trong những điều kiện quan trọng để thầy và trò tiếp tục điều
chỉnh mục đích kế hoạch hoạt động cho cả lớp và mỗi thành viên. Việc đánh giá
này được thông qua nhiều kênh đánh giá như: tập thể tổ, lớp, giáo viên bộ
mơn…
Khi tiếp nhận tập thể lớp 9/1 thì trong ngày đầu ra mắt hoc sinh tôi cần
chuẩn bị chu đáo từ tư thế, trang phục, nội dung…để tạo dựng được hình ảnh
đẹp trong mắt trị. Tất cả các em học sinh đều mong muốn có được có một giáo
viên chủ nhiệm mẫu mực. Đó là những địi hỏi hết sức đúng đắn và đáng trân
trọng, để mỗi người giáo viên trên phương diện chủ nhiệm lớp luôn phấn đấu.
Đồng thời, giáo viên chủ nhiệm phải thực hiện tốt những nhiệm vụ của mình,
phải nắm được đường lối quan điểm lí luận giáo dục, giáo dục những phẩm chất
đạo đức để giúp học sinh trở thành những công dân tốt mai sau. Không những
thế, người giáo viên chủ nhiệm phải tham gia các hoạt động chính trị xã hội tốt
hơn, phải rèn luyện ở mức cao hơn. Đó là trách nhiệm nghĩa vụ và cũng là vinh
dự vì học sinh.
2. Thực trạng của vấn đề
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế mở cửa, kinh tế của địa phương phát
triển, các phương tiện thông tin đại chúng phát triển đặc biệt là dịch vụ Internet
mở ra rất nhiều ở địa bàn và điện thoại di động tăng dần về số lượng ở học sinh
nên công tác chủ nhiệm ngày càng địi hỏi sự dày cơng của giáo viên, bởi vì yêu
cầu ngày càng cao của xã hội, bởi tình hình cuộc sống đang tồn tại nhiều tác
động xấu đối với học sinh, bởi sự mưu sinh của gia đình nên khơng ít phụ huynh
đã giao phó việc giáo dục con cái cho nhà trường.
Như chúng ta đều biết công tác chủ nhiệm lớp là một nhiệm vụ khó khăn
mà bất cứ thầy cô giáo nào khi được phân công đều thấy ngại đặc biệt là học
sinh khối lớp 9 (kể cả khi được chủ nhiệm lớp có nhiều học sinh ngoan), tuy
nhiên trong suốt q trình làm cơng tác giáo dục của mình thầy cơ nào cũng phải
tiếp nhận nó. Thực tế chúng ta thấy hiện nay ở nhiều trường, nhiều địa phương
có nhiều học sinh có ý thức đạo đức tốt, đạt nhiều thành tích trong học tập, trong
rèn luyện và tu dưỡng đạo đức, trong các kì thi học sinh giỏi các cấp; ... tuy
nhiên cũng có khơng ít những học sinh bỏ bê việc học hành, suy đồi về đạo đức
hay sa vào các trị khơng lành mạnh như: chơi điện tử, đánh bài bạc, hút hít, u
đương, đua địi tụ tập băng nhóm... để rồi cơng sức của bản thân, của gia đình và
của thầy cơ trong suốt 9 năm học trở thành số không, thậm chí có những trường
hợp phạm tội rồi sa vào lưới pháp luật. Trong đó đối tượng học sinh ở khối lớp 9
5
dễ bị kích động, lơi cuốn và mắc phải nhất bởi các em đang trong giai đoạn
chuyển giao giữa trẻ con và người lớn. Suy nghĩ của các em còn rất “trẻ con”,
thiếu kinh nghiệm sống... nhưng lại muốn thể hiện cái “tơi”, cái “người lớn” của
chính mình. Là giáo viên chủ nhiệm lớp 9, làm thế nào để giúp các em hiểu và
tránh xa những sai trái đó, để giúp các em tiến bộ và đưa phong trào lớp chủ
nhiệm đi lên là mong muốn không chỉ của các bậc phụ huynh mà cịn của bất cứ
thầy cơ nào.
Năm học 2017-2018 tôi được BGH trường THCS Nguyễn Huệ phân công
làm công tác chủ nhiệm lớp 9/1. Ngày đầu tiên tôi nhận lớp và sau một tiết làm
quen tôi nắm được sĩ số trong lớp là 32 em, trong đó nam 19 em nữ, 13 em nam.
Ấn tượng không phai mờ là các em nhìn tơi rất chăm chú lắng nghe bao điều tơi
dặn dị với lớp. Tơi tự hứa với lịng mình cố gắng thực hiện thật tốt cơng tác chủ
nhiệm ở lớp 9/1 trường THCS Nguyễn Huệ, để tác động tích cực đến nhận thức,
suy nghĩ và tình cảm của các em để tập thể 9/1 trở thành một tập thể lớp tiên tiến
xuất sắc vững mạnh.
Sau khoảng hai tuần tìm hiểu về lớp, nắm được thực trạng của lớp. Đa số
học sinh là con em gia đình làm nơng nghiệp, bn bán, một số em hồn cảnh
gia đình cịn khó khăn, (3 hộ nghèo, 2 hộ cận nghèo), có em bố mẹ đi làm xa, ở
với ơng bà, thiếu sự quan tâm thường xuyên của bố mẹ; còn một số phụ huynh
chưa thật sự để tâm đến việc học và giáo dục con cái, phó mặc cho nhà trường.
Điều này cũng là một yếu tố khó khăn đối với giáo viên chủ nhiệm. Tôi bắt đầu
vận dụng những kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm đối với lớp để xây dựng
một tập thể đoàn kết, vững mạnh, luôn cố gắng vươn lên trong học tập.
Trường THCS Nguyễn Huệ nằm trên địa bàn xã Vạn Phước, huyện Vạn
Ninh, có rất nhiều các qn internet, nhiều trị chơi điện tử lôi cuốn các em…
Học sinh trong lớp không chỉ sinh sống tại địa bàn xã Vạn Phước mà còn rải
đều trên các xã: Vạn Long, Vạn Khánh, Vạn Thọ nên đây cũng là một khó khăn
trong quản lí học sinh, nhất là sau giờ tan trường.
Bên cạnh đó, một số học sinh cịn có tính ham chơi, bỏ nhiều thời gian để
lên facebook, các trang mạng xã hội, chơi các trò chơi điện tử… ,chưa xác định
rõ nhiệm vụ học tập, rèn luyện đạo đức. Bên cạnh đó ban cán sự lớp cịn rụt rè,
chưa hoạt động tích cực , năng nổ, nhiệt tình nên kết quả thi đua của lớp chưa
cao.
3. Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề
Được Ban Giám hiệu giao trọng trách chủ nhiệm, giáo viên phải thấy rằng
đó là trách nhiệm lớn, phải xem lớp chủ nhiệm là những người thân của mình,
đó là em, là con trong gia đình. Xuất phát từ nhận thức trên, người giáo viên chủ
nhiệm mới để hết tâm trí, tình cảm của mình vào cơng việc quan trọng này. Từ
đó có thể xây dựng được những phương pháp chủ nhiệm có hiệu quả, áp dụng
cho tất cả các dạng lớp và áp dụng cho bất cứ năm học nào. Công việc đầu tiên
khi mới nhận lớp chủ nhiệm:
3.1. Tìm hiểu lí lịch của học sinh
Sĩ số của lớp đầu năm: 32 em (trong đó nam 13 em, nữ 19 em). Trong
ngày sinh hoạt đầu năm, tôi cho học sinh viết vào phiếu điều tra thông tin, lí lịch
trích ngang của học sinh và đã cơ bản nắm rõ từng đối tượng học sinh.
6
Đầu năm học tôi đã phân loại học sinh và tìm hiểu hồn cảnh gia đình,
thơng qua danh sách những học sinh nghèo, hỏi thăm GVCN năm trước và cập
nhật thông tin đầu năm thông qua việc điều tra học sinh có hồn cảnh gia đình
nghèo (Nguyễn Thị Diễm Hương, Võ Minh Thông, Châu Quốc Huy) và một số
em gia đình có hồn cảnh khó khăn (Phan Thị Minh Thư, Lê Thị Thu Trang, Lê
Thị Phi Dung, Nguyễn Hữu Nghĩa) để từ đó đề ra biện pháp thích hợp nhằm
định hướng cho các em có ý thức học tập. Đồng thời định hướng cho những em
đã có thành tích thì phát huy hết khả năng của mình (Cao Thị Kim Phăn,Trần
Thu Điều,Trần Thị Kim Hân, Lê Thị Hồng Vũ). Cịn những em học sinh có cá
tính, chậm tiến bộ như: Lê Thị Thu Trang, Lê Thị Phi Dung, Châu Quốc Huy,
Diệp Đào Gia Khang, Võ Minh Thông, Khương Kim Ái Thùy, Trần Thị Kim
Yến. Cần tìm hiểu kỹ và phân loại học sinh này chính xác về: Hồn cảnh sống
từng học sinh, điều kiện kinh tế gia đình của học sinh, sự quan tâm của cha mẹ,
quan hệ giữa các thành viên trong gia đình,… Những đặc điểm thể chất, sinh lý
từng học sinh. Thể trạng bình thường hay khơng. Những đặc điểm về tâm lý:
khả năng nhận thức, nhu cầu giao tiếp, tình cảm như: cởi mở hay lầm lì, ưu tư,
nóng nảy, ln nghĩ mình bị mọi người “cơ lập”,“bỏ rơi”,… Nắm được tính cách
và hành vi đạo đức từng học sinh: lười học, ba hoa, không trung thực, cách ứng
xử với mọi người xung quanh… Nắm được sở trường và sở thích của học sinh:
khả năng ca hát, bóng đá, bơi lội, chơi game, u thích thơ văn,… Đặc biệt cần
chú trọng đến mối quan hệ của học sinh với những thanh thiếu niên bên ngoài và
học sinh chưa ngoan khác trong nhà trường.
3.2. Bầu ban cán bộ lớp
Đầu năm học tôi khẩn trương cho các em tổ chức tốt bộ máy cán bộ lớp,
bằng cách cho các em tự bầu ra BCS lớp mà các em tín nhiệm nhất để trong
cơng việc lãnh đạo bộ máy hoạt động đạt hiệu quả cao.
Phân công nhiệm vụ cụ thể phù hợp với khả năng của từng em. Cân nhắc
kỹ khi gợi ý lựa chọn cán bộ ngay từ ban đầu. Tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn cụ
thể từng chi tiết thường xuyên chỉ bảo, động viên khích lệ để các em tự tin và
đảm nhiệm tốt phần công việc được giao cụ thể là:
Lớp trưởng: Trần Thu Điều. Là một học sinh ngoan, năng động, chăm chỉ,
học giỏi được các bạn trong lớp yêu mến. Chức năng quản lí và phụ trách chung
ở tất cả các mặt hoạt động của lớp.
Lớp phó học tập: Trần Thị Kim Hân. Là một học sinh ngoan, năng động,
tích cực, có lối sống chan hồ với bạn bè, học giỏi có sáng tạo. Chức năng phụ
trách việc học tập của lớp trong giờ học, trong 15 phút truy bài đầu giờ và trong
các hoạt động học tập, như vậy sẽ tạo được phong trào thi đua học tập ở các em.
Lớp phó lao động: Võ Mạnh Hiếu. Là một học sinh ngoan, năng
động, tích cực, học giỏi có sáng tạo, có sức khỏe tốt, ý thức kỷ luật cao, có trách
nhiệm. Chức năng phụ trách theo dõi lao động, vệ sinh trường lớp sạch sẽ của
các bạn được phân công trực nhật.
Bầu 4 tổ trưởng: (Lê Thúy Nhi Tổ trưởng tổ 1, Trương Thị Mỹ Dung Tổ
trưởng tổ 2, Võ Thụy Lâm Trúc Tổ trưởng tổ 3, Lê Thị Hoàng Vũ Tổ trưởng tổ
4) đều là học sinh ngoan, chăm chỉ học tập, có tác phong chuẩn mực và thực
hiện tốt mọi nội quy của lớp, trường. Có chức năng theo dõi về nề nếp thi đua
7
hàng ngày (về nội quy, nề nếp, học tập, đạo đức…) cuối tuần sơ kết thi đua của
tổ mình sau đó báo cáo lên cho lớp trưởng, lớp trưởng tổng kết, nhận xét ưu
nhược điểm của từng tổ, từng cá nhân (nếu vi phạm nội quy ảnh hưởng đến thi
đua của lớp), có khen và tuyên dương những bạn đạt nhiều điểm chín mười,
cơng tác tốt, lao động tích cực…và gửi lên thầy Tổng phụ trách tuyên dương các
bạn trước cờ hàng tuần.
3.3. Sắp xếp vị trí chỗ ngồi cho học sinh
Qua tìm hiểu sơ lược tình hình của lớp, tôi tiến hành sắp xếp chỗ ngồi cho
học sinh. Đây là một vấn đề khó khăn trong cơng tác chủ nhiệm, vì chỗ ngồi có
thể giúp học sinh tiến bộ hoặc làm cho học sinh và lớp đi xuống trong vấn đề
học tập. Vậy làm thế nào để mọi học sinh có một chỗ ngồi tốt và như mong
muốn của học sinh đây là điều rất khó nhưng ở giai đoạn này nếu không hợp là
các em sẽ phản khán ngay, điều đó sẽ gây khó khăn trong cơng tác quản lí của
giáo viên chủ nhiệm và giảng dạy của giáo viên bộ mơn.
Ưu tiên xếp chỗ hợp lí cho các em gặp những khó khăn về sức khỏe đặc
biệt về thị lực để giúp các em đảm bảo sức khỏe tốt, điều kiện tốt nhất trong suốt
năm học.
Không nên để các em học sinh yếu, hay nói chuyện ngồi cạnh nhau.
Những em này cũng không nên cho ngồi bên cửa lớn hoặc cửa sổ, chúng ta nên
sắp xếp các em học yếu, hay nói chuyện ngồi cùng với các bạn học tốt, có đạo
đức tốt để bạn giúp đỡ. Xây dựng được đôi bạn học tập ở trường cũng như ở
nhà.
Dựa trên danh sách phân loại đầu năm, giáo viên chủ nhiệm chia lớp
thành 4 tổ có học sinh đồng đều nhau về tất cả các mặt rồi sắp xếp chỗ ngồi hợp
lí, điều này sẽ giúp ích khơng nhỏ trong việc các em tham gia xây dựng bài hay
giúp đỡ nhau trong học tập, rèn luyện...
3.4. Xây dựng nội qui của lớp
Ngay từ đầu năm học tôi cho lớp tổ chức học tập nội qui của nhà trường
và bầu BCS lớp, đồng thời nêu phương hướng phấn đấu cho năm học 20172018. Trong quá trình bầu BCS lớp quan trọng là bầu Chi đội trưởng, Chi đội
phó (đã bầu được Trần Thu Điều CĐ trưởng, Trần Thị Kim Hân CĐ phó). Đội
ngũ cán bộ lớp, cán bộ các tổ hồn thành tốt cơng việc do nhà trường cơ giáo
chủ nhiệm và lớp đề ra. Nhiệt tình trong cơng việc có trách nhiệm làm việc phải
cơng bằng, nhất là khi đánh giá xếp loại thi đua cho các bạn trong lớp. Động
viên các bạn phấn đấu đi lên trong học tập và tu dưỡng. Trong q trình giáo dục
tơi luôn coi 5 điều Bác Hồ dạy như kim chỉ nam xuyên suốt quá trình giáo dục ý
thức về mọi mặt của học sinh .
Cho học sinh nghiên cứu nội qui của nhà trường, nhiệm vụ và quyền hạn
của học sinh và đưa ra nội qui của lớp theo hình thức thảo luận vào tiết sinh hoạt
lớp ở tuần đầu tiên của năm học.
Căn cứ vào bảng điểm thi đua của nhà trường và các tiêu chí thi đua của
lớp, giáo viên chủ nhiệm cùng tập thể lớp xây dựng thang điểm đánh giá thi đua
học sinh cho lớp chủ nhiệm và đây cũng được coi là nội qui của lớp. Thang điểm
đánh giá thi đua học sinh của lớp được BCS lớp thơng qua và lấy ý kiến bằng
hình thức giơ tay biểu quyết của các bạn trong lớp. Khi các bạn trong lớp thống
8
nhất ý kiến về thang điểm đánh giá thi đua học sinh của lớp thì BSC lớp sẽ
photo và phát đầy đủ cho 32 bạn trong lớp để thực hiện.
Tổ trưởng theo dõi và chấm điểm cho các thành viên trong tổ và tổng hợp
vào cuối tuần. Tuy nhiên việc theo dõi cũng gặp khơng ít khó khăn nhưng đối
với giáo viên chủ nhiệm không nên đặt nặng vấn đề điểm đối với học sinh mà
chỉ nhằm để học sinh thể hiện tính tự phê của mình và khả năng quản lí của các
cán bộ lớp. Để các em có ý thức tự giác hơn trong học tập.
3.5. Phối hợp phụ huynh học sinh trong giáo dục học sinh
Giáo viên chủ nhiệm cần coi trọng và làm tốt công tác tổ chức các buổi
họp phụ huynh học sinh và lựa chọn đại diện hội phụ huynh một cách chính xác,
đây sẽ là những người tích cực nhất đồng hành cùng giáo viên chủ nhiệm trong
suốt năm học và có tác động tích cực đến các phụ huynh khác.
Phải tổ chức họp phụ huynh học sinh vào đầu năm học để giáo viên nắm
bắt tâm tư nguyện vọng của phụ huynh và triển khai những nội qui của trường,
của lớp và kế hoạch của Nhà trường trong năm học này. Đồng thời trong buổi
họp đầu tiên này, giáo viên phải kiểm tra lại được số điện thoại liên lạc của phụ
huynh học sinh mà các em đã ghi vào phiếu thông tin trước đó và cho số điện
thoại của giáo viên (nếu phụ huynh yêu cầu) để tiện việc liên lạc khi cần thiết.
GVCN phải thường xuyên liên lạc, trao đổi với phụ huynh về tình hình
học tập của các em trong lớp. Chúng ta ai cũng biết “Lúc ở nhà mẹ cũng là cơ
giáo” cịn khi đến trường “Cơ giáo như mẹ hiền” từ lời bài hát ấy cũng đã thể
hiện được sự ân cần chăm sóc của cơ và mẹ. Vậy khi đặt mình vào vị trí của phụ
huynh bản thân tôi luôn trăn trở và nghĩ họ mong muốn gì ở GVCN, ở nhà
trường? chính vì thế GVCN phải thật sự quan tâm, phối hợp chặt chẽ với phụ
huynh cùng nhau tìm ra phương pháp hiệu quả nhất, nhằm hạn chế những tiêu
cực làm sa sút về nhân cách đạo đức con người học sinh. Ví dụ: Trường hợp em
Trần Khánh Hiển, Châu Quốc Huy đầu năm phụ huynh có trao đổi đề nghị đổi
chỗ ngồi cho các em. Sau khi tơi phân tích khi sắp xếp chỗ ngồi cho các em thì
phụ huynh khơng có ý kiến gì và thống nhất. Ngồi ra, tơi cịn liên lạc trao đổi
với một số phụ huynh của các em để thơng tin về tình hình học tập, rèn luyện
của các em ở trường và ở nhà cũng như các vấn đề khác.
Trong quá trình giáo dục học sinh trong cả năm học, việc đến thăm gia
đình học sinh rất cần thiết. Trước khi đến thăm phụ huynh học sinh, giáo viên
cần phải phân loại đối tượng học sinh theo: học lực, hạnh kiểm, thành tích cũng
như những sai phạm thậm chí phải tìm hiểu cả những phụ huynh để có kế hoạch
đi thăm, ưu tiên thăm gia đình những em chậm tiến bộ, mắc sai phạm trước. Đối
với học sinh chậm tiến bộ, mắc sai phạm trước việc giáo viên chủ nhiệm đến nhà
thăm gia đình là hết sức cần thiết. Vì đa số học sinh gia đình có điều kiện đặc
biệt hơn những em khác, cha mẹ ít có thời gian quản lý, chỉ bảo chuyện học
hành của con cái, có thể nói là họ giao con mình cho thầy cô. Đến khi được giáo
viên chủ nhiệm thông báo cho biết về tình hình học tập, rèn luyện đạo đức của
con cái họ thì họ mới hiểu ra. Có gia đình thực sự khổ tâm, bức xúc về con cái
mình, nhưng cũng có gia đình thờ ơ, xem như chẳng có chuyện gì, thậm chí bỏ
qua khi nghe thơng tin từ giáo viên nhưng giáo viên chủ nhiệm phải kiên trì, cứ
đến gặp họ một lần, hai lần... để đả thơng tư tưởng họ rồi sau đó cùng nhau bàn
9
bạc về việc giáo dục con cái họ để có kết quả. Và điều rất quan trọng là khi giáo
viên chủ nhiệm trao đổi cùng phụ huynh học sinh phải có mặt các học sinh đó.
Thường xuyên trao đổi cùng phụ huynh bằng nhiều hình thức, có thể liên
lạc qua điện thoại để thông báo mức độ vi phạm, những biểu hiện sai lệch cần
được uốn nắn, khắc phục. Nhưng cần lưu ý rằng phải giao tiếp ở một góc độ cởi
mở, tâm lý, tế nhị nhưng chân tình, tránh sự dồn dập, gay gắt. Có như vậy giáo
viên chủ nhiệm mới tạo được với phụ huynh sự tin tưởng và tận tâm hợp tác để
giáo dục con em họ tốt hơn.
Đối với những bậc phụ huynh của học sinh cá biệt muốn đạt kết quả tốt
giáo viên cần chú ý:
Lần đầu đến thăm gia đình chỉ để biết nhà, biết gia cảnh mà không bàn
chuyện giáo dục học sinh nếu họ không đề cập.
Khi bàn chuyện giáo dục các em phải thật bình tĩnh, trao đổi ơn hồ,
khơng để phụ huynh có cảm nhận là họ bị xúc phạm, hãy phân tích để cho họ
hiểu trước khi bàn bạc phương pháp giải quyết và luôn tôn trọng họ cũng như
những quan điểm, ý kiến tích cực từ phía họ.
Mời phụ huynh học sinh đến trường gặp giáo viên chủ nhiệm là việc làm
càng hạn chế càng tốt bởi vì làm như vậy không những mất thời gian, công việc
của giáo viên, của học sinh, phụ huynh học sinh mà cịn của ban giám hiệu hay
những giáo viên khác khơng những vậy phụ huynh có thể cảm thấy xấu hổ vì
con cái mình và có cảm giác bị xúc phạm trước ánh mắt của giáo viên, của học
sinh trong trường.
3.6. Phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn trong việc giáo dục tồn
diện học sinh
Trong q trình giáo dục tồn diện cho học sinh thì giáo viên bộ mơn
đóng vai trò rất quan trọng, giáo viên chủ nhiệm lớp muốn nắm rõ về ý thức đạo
đức, ý thức học tập, những biểu hiện cả tích cực và khơng tích cực của học sinh
trong từng tiết học, từng môn học thì cần phối hợp chặt chẽ với các thầy cơ dạy
bộ mơn bởi vì giáo viên chủ nhiệm chỉ dạy ở lớp chủ nhiệm một vài tiết dạy nên
không thể nắm rõ tất cả được. Thông qua các thầy cô bộ mơn giáo viên chủ
nhiệm kịp thời tìm ra biện pháp uốn nắn, giáo dục, động viên các em học sinh,
đặc biệt. Sự phối hợp này là rất cần thiết nhưng lại rất dễ bởi các thầy cô là đồng
nghiệp có cùng mục tiêu giáo dục, cùng đối tượng giáo dục chính là các em học
sinh.
Giáo viên bộ mơn có một phần trách nhiệm đối với việc giáo dục học sinh
chưa ngoan ở các lớp. Khi lên lớp, cần chú ý đến các đối tượng học sinh này,
cần tìm cách tạo ra “cơ hội học tập tốt” bằng các câu hỏi dễ hay bài tập đơn
giản. Và hãy đừng quên tặng một lời khen khi các em có sự tiến bộ dù rất ít.
3.7. Phối hợp với các đồn thể trong nhà trường
GVCN còn phối hợp với Liên đội cho các em học tập, tìm hiểu các ngày
lễ kỉ niệm trong năm, cũng như tìm hiểu các mốc lịch sử, các anh hùng
LLVTND, tổ chức các phong trào TDTT chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam
20/11…
10
Phối hợp với BCH chi Đoàn lựa chọn những Đội viên ưu tú giới thiệu
xem xét học lớp “Cảm tình đoàn” và kết nạp vào hàng ngũ của Đoàn, làm hạt
nhân, nòng cốt thúc đẩy phong trào của lớp đi lên.
Tham mưu thường xuyên, nhờ sự “trợ giúp” kịp thời của BGH khi cần
thiết nhằm có những giải pháp thiết thực, phù hợp từng thời điểm hoặc nhờ Ban
giám hiệu trao đổi riêng với các học sinh có đạo đức chưa tốt xem như là “đưa
lên cấp cao hơn” đối với những trường hợp thường xuyên tái phạm lại lỗi cũ sau
nhiều lần đã được xử lý ở lớp.
3.8. Phân công, giao nhiệm vụ cho cán bộ lớp đồng thời rèn luyện khả
năng tự quản cho học sinh
Hơn cả giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn, cán bộ lớp là những
người có thời gian gần gũi, tiếp xúc với các học sinh chưa ngoan trong lớp nhiều
nhất. Do vậy, giao nhiệm vụ cho các thành viên trong cán bộ lớp quan sát và
quan tâm, giúp đỡ các học sinh chưa ngoan dưới sự hướng dẫn, giám sát của
giáo viên chủ nhiệm là việc làm rất hợp tình hợp lý. Bằng hình thức “Đơi bạn
cùng tiến”, học sinh giỏi sẽ nhận trách nhiệm kèm học sinh yếu, cả trong rèn
luyện đạo đức (Phăn kèm Khang), (Nhi kèm Thùy), (Vũ kèm Yến), (Điều kèm
Trang). Ở đây đòi hỏi người giáo viên chủ nhiệm phải thật tinh ý, sáng suốt.
Thông qua cán bộ lớp, giáo viên chủ nhiệm càng hiểu rõ hơn về từng đối tượng
học sinh, về các học sinh chưa ngoan của lớp.
Làm thế nào để xây dựng được một tập thể lớp tự quản theo đúng nghĩa
của nó. Tức là các em tự quản lý: hành vi, đạo đức, tác phong, nề nếp, hoạt động
của lớp khi không có giáo viên. Điều này GVCN phải tạo trước cho các em ý
thức tự giác và việc quản lý theo dõi hoạt động của đội ngũ cán bộ lớp phải được
thực hiện thường xuyên. Muốn vậy, ngay từ đầu năm học GVCN cho tiến hành
việc theo dõi thi đua của các tổ. Các tổ trưởng và tổ phó tự quản lý thành viên
của tổ mình, phân cơng theo dõi trực chéo nhau giữa các tổ dưới sự giám sát của
cán bộ lớp tương ứng với nội dung từng hoạt động.
Truy bài 15 phút đầu buổi, các tổ trưởng sẽ kiểm tra việc chuẩn bị bài các
bộ môn trong buổi hôm đó của các bạn trong tổ như thế nào. Cán sự các mơn và
lớp phó học tập sẽ kiểm tra việc chuẩn bị của các tổ trưởng.
Tiết trống hoặc không có giáo viên, lớp sẽ ơn bài hoặc hoạt động tập thể
(đọc báo đội, tự ôn bài…) dưới sự chỉ đạo của lớp trưởng.
Những sai phạm của các tổ, thành viên trong lớp được ghi tên và nêu ra
trong tiết sinh hoạt cuối tuần.
Giáo viên chủ nhiệm phải giao việc cụ thể cho học sinh đặc biệt là cán bộ
lớp để các em có trách nhiệm hơn trong việc quản lí.
Lớp trưởng quản lí chung về mọi mặt của lớp và sẽ báo cáo kịp thời với
giáo viên khi có công việc cấp bách và thay mặt giáo viên để phân cơng nhiệm
vụ cho học sinh lớp.
Lớp phó học tập sẽ nhắc nhở học sinh lớp về mặt học tập và hướng dẫn
cho các bạn khác về những câu hỏi khó hoặc thay mặt lớp nêu thắc mắc của các
bạn đến với giáo viên bộ môn.
11
Lớp phó lao động sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm quán xuyến về công tác lao
động và vệ sinh lớp, báo cáo kịp thời những vấn đề có liên quan cho giáo viên
chủ nhiệm.
Lớp phó văn thể mĩ sẽ giúp đỡ giáo viên chủ nhiệm trong việc tập các bài
hát mới của tổ chức đội và sẽ chịu trách nhiệm trong lĩnh vực văn thể mĩ.
Nhiệm vụ của tổ trưởng, tổ phó: Theo dõi và ghi chép đầy đủ vào sổ trong
tất cả các tiết học. Cập nhật các thông tin của thành viên trong tổ một cách chính
xác và khách quan. Chủ động phân công việc và liên lạc với các thành viên
trong tổ khi cần. Nhắc nhở, động viên các thành viên trong tổ cùng nhau thi đua,
phê bình những thành viên thường xuyên vi phạm và báo cáo với GVCN. Tổng
hợp điểm, xếp loại vào cuối tuần, cuối tháng. Đặc biệt phải tổng kết và xếp hạnh
kiểm của các bạn vào cuối mỗi học kì. Hỗ trợ lớp phó, lớp trưởng trong các hoạt
động chung. Ln mang sổ theo trong các buổi học, giữ gìn sổ cẩn thận. Có tinh
thần trách nhiệm cao, gương mẫu trong các hoạt động. Chịu trách nhiệm trước
GVCN về công việc được phân công.
3.9. Đặc biệt quan tâm, giáo dục với học sinh cá biệt
Đầu tiên phải tìm hiếu nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh cá biệt.
Trong thực tế có những HS chưa nhận thức được: Học để làm gì? vì cái gì mà
học? hoặc chưa biết hài hịa giữa quyền và bổn phận trách nhiệm của mọi con
người trong cuộc sống, do được giáo dục chưa đầy đủ hoặc chưa đứng cách,
hoặc bản thân thiếu tự giác chấp nhận những bổn phận, trách nhiệm của mình
bên cạnh việc đuợc hưởng thụ các quyền lợi trong gia đình, nhà trường và xã
hội. Vì vậy, các em đến trường, đi học như là ý muốn của gia đình, cha mẹ, mà
khơng nhận thức đuợc đi học là cơ hội để thành công và hạnh phúc sau này. Cho
nên các em này thiếu tự giác, thậm chí thiếu trách nhiệm với việc học tập và tu
dưỡng. Các em đi học như hòa vào dòng chảy của cái tuổi đến truờng mà thiếu
hẳn vai trị chủ thể tích cực và đáng phải có trong quá trình học tập và tham gia
các hoạt động giáo dục, rèn luyện ý chí, nghị lực để vượt qua những khó khăn,
thách thức trong cuộc đời.
Một số em có niềm tin sai về giá trị của con người và cuộc sống. Bên
cạnh những em thiếu tự giác, còn cị những em thiếu niềm tin, quan niệm chưa
hợp lí về giá trị của con người và cuộc sống. Các em này không tin rằng: sự học
sẽ đem lại cho con người giá trị và cuộc sống có chất lượng, có những em cho
rằng tiền bạc và quyền uy mới làm nên giá trị của con người, cuộc sống, mà
không tin rằng sự hiểu biết, tình người, danh dự của con người mới là giá trị và
là một thứ quyền lục vơ hình của con người.
Có rất nhiều HS ở lứa tuổi khác nhau có tiềm năng nhưng cảm thấy chán
nản về năng lực của mình, mất dần hứng thú, động cơ học tập, hoạt động. HS tin
rằng mình khơng thể “khá" lên đuợc, đánh giá thấp về bản thân mình, khơng
vượt qua được khó khăn, bỏ giữa chừng, kém tự tin. “Tất cả những HS “hư" hay
có hành vi không phù hợp đều là những HS chán nản". Khi chán nản, HS khơng
cịn hứng thú hoạt động và động cơ hoạt động nữa. HS chưa có mục đích học tập
rõ ràng, chưa nhận thức được trách nhiệm, bổn phận của bản thân.
Thực tế lớp nào cũng có những em thuộc diện “cứng đầu, cứng cổ” làm
ảnh hưởng đến học sinh khác và các phong trào của và sức ảnh hưởng, lôi cuốn
12
rất lớn đến những học sinh khác, một trong những bí quyết để thành cơng trong
cơng tác chủ nhiệm chính là “cải tà qui chính” những học sinh thuộc diện này.
Muốn làm được điều này giáo viên chủ nhiệm cần đặc biệt chú ý những điều
sau:
Có cách nhìn nhận và đánh giá đúng, tích cực về những học sinh thuộc
diện này và tuyệt đối khơng được có cách nhìn phiến diện, kì thị với những việc
làm của học sinh và chính các em. Thầy cơ nên nhẹ nhàng khun nhủ, kịp thời
động viên, khen ngợi khi các em tiến bộ kể cả những tiến bộ nhỏ nhất và với
những sai phạm của các em sau khi giải quyết xong không nhắc lại, khơng lấy
đó để đánh giá, soi mói các em nữa.
Thực sự quan tâm đến các em và hoàn cảnh gia đình của các em và tìm
cách giúp các em tiến bộ. Điều này sẽ giúp các em thấy được sự quan tâm của
thầy cô, của bạn bè đến mình ngồi ra tác động từ phía gia đình cũng là một
động lực lớn giúp các em tiến bộ.
Thầy cô nên chia nhỏ những đối tượng học sinh cá biệt ra để giáo dục,
tuyệt đối không được cùng một lúc tập trung vào tất cả các đối tượng này bởi nó
sẽ có tác động phản ngược lại, hãy chọn học sinh nào coi là đứng đầu để tập
trung giáo dục. Sự tiến bộ của những em này sẽ có tác dụng tích cực đến những
học sinh khác và giúp các em khác có suy nghĩ, hành động tích cực hơn, tiến bộ
hơn.
Giáo viên chủ nhiệm nên phải khéo léo và mềm mỏng nhưng cương quyết
trong quá trình giáo dục những học sinh thuộc diện này bởi vì có nhiều em có
“thành tích” trong nhiều năm học trước nên cần có thời gian để tiến bộ. Với
những em có tiến bộ dù là rất ít cũng nên động viên trước lớp, trước cờ, ngồi ra
giáo viên có thể tin tưởng giao cho các em những việc như: tắt điện lớp, đóng
cửa, mua đồ dùng cho lớp... các em thấy thầy cô tin tưởng mình nên có động lực
để phấn đấu. Nhưng với những học sinh không những không tiến bộ mà cịn lơi
kéo những học sinh khác vi phạm thì cần phối hợp với giáo viên bộ mơn, tổ
chức đồn đội, phụ huynh học sinh... quản lí thật chặt chẽ, khi cần có thể có
những hình thức kỉ luật thích đáng để làm gương, để răn đe những đối tượng
khác.
Ngoài ra, giáo viên cần phải tiếp cận cá nhân và xây dựng quan hệ tin cậy,
tôn trọng, thân thiện với học sinh cá biệt. GV phải hiểu đầy đủ từng HS và
những đặc điểm cơ bản cũng như những đặc điểm riêng cửa từng HS cá biệt và
ứng xử theo quan điểm tích cực thì sẽ đem lại hiệu quả hơn. Đồng thời, giúp học
sinh biết nhận thức đúng về điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, giúp học sinh
nhận thức được hậu quả của những hành vi tiêu cực và tất yếu phải thay đổi thói
quen, hành vi cũ. Giáo viên cần phải quan tâm hỗ trợ các em vượt qua những
khó khăn và đáp ứng nhu cầu chính đáng của học sinh cá biệt.
Tổ chức cho lớp quan tâm, giúp đỡ HS cá biệt khi gặp khó khăn; phụ đạo
bồi dưỡng thêm để các em có được những kiến thức, kĩ năng cơ bản, vận dụng
phương pháp tự học bộ mơn. Điều này rất quan trọng vì nó giúp HS dần thành
công trong từng nấc thang chiếm lĩnh kiến thức. Từ đó từng bước tạo cho HS
niềm vui, niềm tin về khả năng học tập của bản thân. GV cùng HS đặt ra những
mục tiêu phù hợp với khả năng của HS và giúp HS đạt đuợc những mục tiêu đó,
13
giúp củng cố niềm tin có thể vươn lên trong học tập. Thường xuyên động viên,
khích lệ, tạo động lực cho học sinh cá biệt, tạo động lực học tập và hoàn thiện
nhân cách cho học sinh.
3.10. Khen thưởng và kỉ luật
Mỗi tuần sau khi học sinh đã tổng kết những hoạt động của tuần qua thì
giáo viên chủ nhiệm phải tổng kết các ưu khuyết điểm của lớp trong tuần qua,
đồng thời khen những học sinh đạt các thành tích, thực hiện tốt nội qui của
trường, của lớp, phạt những học sinh vi pham nội quy của trường, của lớp hoặc
làm các việc không tốt.
3.11. Tổ chức buổi sinh hoạt lớp.
Tiết sinh hoạt lớp là tiết quan trọng nhất trong một tuần thời lượng chỉ có
45 phút mà cơng việc lớp trong tuần có rất nhiều thì làm sao giải quyết truyền tải
hết. Vì vậy, GVCN phải tập cho lớp việc đánh giá, xếp thi đua trước. Mỗi bộ
phận có sẵn bản tổng hợp báo cáo. Đến tiết sinh hoạt các em tự thông báo kết
quả thi đua, các nội dung được thực hiện trong một tuần (những việc đã làm
được và không làm được với lý do cụ thể), tình hình lớp trong tuần, số bạn vi
phạm học tập (không chuẩn bị bài, không thuộc bài…), vi phạm việc rèn luyện
đạo đức tác phong (không đồng phục, mất đồn kết, mất trật tự…), vi phạm về
cơng tác văn thể, lao động, tự quản.
GVCN theo dõi, ghi sổ từng nội dung sinh hoạt trong tuần thông qua báo
cáo của từng bộ phận. Lần lượt giải quyết từng nhóm vụ việc, tìm lý do sai
phạm, đưa ra biện pháp xử lý. GVCN nhận xét kết quả thi đua tuyên dương tổ,
cá nhân tốt. Triển khai nội dung tuần tiếp theo và nhắc nhở các em thực hiện tốt
các nội dung của lớp trong tuần tiếp theo.
Giáo viên chủ nhiệm phải tham gia tiết sinh hoạt lớp và xem trước kế
hoạch sinh hoạt lớp của lớp trưởng và các tổ, giáo viên chủ nhiệm lên một kế
hoạch sinh hoạt riêng cho mình. Khi dự sinh hoạt lớp dưới sự điều khiển của lớp
trưởng, giáo viên chủ nhiệm cần so sánh các số liệu với tuần trước, khen chê
phải hợp lý, nhẹ nhàng để cho các em chấp nhận.
Lớp trưởng điều khiển tiết sinh hoạt: Nhận xét tuần, triển khai kế hoạch
tuần tới.
Các tổ trưởng lần lượt thông báo kết quả theo dõi và xếp loại của tổ, thành
viên trong tổ nêu ý kiến.
Sao đỏ nhận xét, đọc kế hoạch đội, đoàn.
Giáo viên chủ nhiệm nhận xét, đưa ra ý kiến, nêu kế hoạch tuần tới.
Thư ký ghi biên bản: Giáo viên chủ nhiệm, lớp trưởng ký xác nhận.
3.12. Giáo dục kỹ năng sống
Giáo viên chủ nhiệm cần phải có kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh vào tuần thứ tư của tháng với các chủ đề phù hợp với kế hoạch của nhà
trường đề ra. Qua đó, học sinh trong lớp chủ nhiệm nắm được các kỹ năng đơn
giản, thiết thực, gần gũi với cuộc sống hằng ngày trong từng chủ đề của từng
tháng.
Giáo dục kỹ năng sống mang một ý nghĩa rất quan trọng và là công việc
hết sức cần thiết, bởi lẽ các em sẽ học được cách rèn luyện và rút ra những kinh
nghiệm, kỹ năng mà các em sẽ gặp lại trong cuộc sống, là bài học quí báu mang
14
ý nghĩa giáo dục sâu sắc để các em tự hồn thiện mình. Qua đó, giúp các em
nhìn lại những việc làm của mình từ trong hành động, trong suy nghĩ ,lời nói
việc làm. Nó cịn giúp các em hồn thiện hơn về nhân cách, về lối sống, các em
sẽ tích cực hơn . Có kỹ năng tham gia các hoạt động mang ý nghĩa cộng đồng,
đoàn kết, yêu thương, trách nhiệm, hợp tác, hòa đồng, thân ái, đồng cảm chia sẻ
với mọi người chung quanh và hơn hết là sống tốt, sống có ý nghĩa và có một
niềm tin thiết tha hơn về cuộc sống hiện tại và tương lai.
4. Hiệu quả của đề tài
Từ cơ sở lý luận đã nêu ở trên cùng với kinh nghiệm của bản thân tôi nghĩ
rằng: Một giáo viên chủ nhiệm nắm vững và chấp hành các chính sách của
Đảng, pháp luật của nhà nước, của ngành giáo dục, nắm đầy đủ chủ trương
đường lối của cấp trên, nhận và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao thì
chưa đủ mà cịn phải có sự yêu người, yêu nghề, yêu thương học sinh, không
ngừng học tập bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, mẫu mực trong vai trò nhà giáo,
nhà sư phạm và nhà giáo dục. Mọi cử chỉ lời nói, cách ăn mặc, đi đứng và thái
độ biểu hiện của giáo viên chủ nhiệm lớp trước mọi hiện tượng xã hội đều có
ảnh hưởng đến nhân cách học sinh. Vì vậy giáo viên chủ nhiệm mà có ý chí
trong phấn đấu, mẫu mực trong cơng tác và trong cuộc sống thì đó chính là
những biện pháp giáo dục có hiệu quả nhất với học sinh lớp chủ nhiệm, sẽ đào
tạo được những học sinh vừa có tri thức vừa có đạo đức đó sẽ là hành trang giúp
các em bước vào cuộc sống một cách tự tin, là nền tảng cho các em phấn đấu trở
thành cơng dân mẫu mực, có ích cho xã hội.
Thực tế trong công tác chủ nhiệm lớp cũng như giáo dục đạo đức học sinh
thông qua tiết sinh hoạt lớp ở năm trước, việc áp dụng các phương pháp trên đã
mang lại những hiệu quả giáo dục nhất định. Trong năm học 2017 – 2018 với sự
đổi mới phương pháp quản lí lớp chủ nhiệm nhằm xây dựng tập thể lớp vững
mạnh trong công tác chủ nhiệm, lớp 9/1 của tôi đã đạt được một số thành tích
sau đây:
100% học sinh lớp đều tích cực tham gia các buổi sinh hoạt tập thể, các
hoạt động quyên góp, ủng hộ….do Đoàn và Đội phát động.
Loại tốt tất cả các tuần học, khơng có tuần nào xếp loại khá, khơng có học
sinh gây gỗ đánh nhau hay vơ lễ với giáo viên.
Kết quả học tập cũng cao nhất trường. Về thi HSG cấp huyện năm học
2017- 2018 đã đem lại thành tích cho nhà trường (em Phăn giải nhì mơn Hóa,
em My giải khuyến khích mơn Hóa, em Điều giải khuyến khích mơn Lý, em Vũ
giải khuyến khích mơn Tốn) và có 4 em tham gia thi HSG cấp tỉnh.
Khơng có học sinh bị trách phạt trước tồn trường, học sinh đến trường
ln đảm bảo an tồn cả trong giờ học lẫn giờ chơi. Hát, múa và tập thể dục đầu
và giữa giờ nghiêm túc, khơng có học sinh vi phạm ATGT.
Bàn, ghế của lớp luôn được bảo quản tốt, khơng có tình trạng hư hao, mất
mát như những lớp khác.
Trong “ Vui hội trăng rằm”: Đạt giải nhất làm lồng đèn.
Trong “Hội khỏe phù đổng cấp trường”: Đạt giải nhì chạy điền kinh nữ,
Trong sơ kết thi đua đợt 1 xếp vị thí 3, sơ kết thi đua đợt 2 xếp vị thứ 2, sơ
kết thi đưa đợt 3 cũng xếp thứ 2, sơ kết thi đua đợt 4 và đợt 5 đều xếp vị thứ 1.
15
Giải nhất tiết học tốt.
Tích cực trồng và chăm sóc bồn hoa chi đội theo kế hoạch của nhà trường.
Duy trì sĩ số: 100%
Tỉ lệ chuyên cần: 99,2%
Xếp loại hai mặt giáo dục cả năm:
Tổng
số học
Tốt
sinh SL %
32
Hạnh kiểm
Khá
TB
Yếu
Giỏi
SL % SL % SL % SL %
53,
32 100 0 0 0 0 0 0 17
1
Học lực
Khá
TB
Yếu
SL % SL % SL %
37,
12
3 9,4 0 0
5
III. KẾT LUẬN
1. Đúc kết lại những nội dung đã trình bày
Như vậy, để có một tập thể tốt về mọi mặt trước hết tôi phải được học
sinh chấp nhận là “người cha, mẹ thứ hai” trong công tác quản lí lớp chủ nhiệm.
Muốn vậy tơi ln gần gũi các em, phải có tấm lịng u thương chia sẻ cùng
các em, là chỗ dựa vững chắc để học sinh trao đổi tâm sự cùng hướng những
niềm vui và cùng tháo gỡ những vướng mắc trong học tập và sinh hoạt, tạo niềm
tin cho các em có ý chí vươn lên và coi tập thể lớp là tổ ấm thứ hai của mình. Để
làm được điều đó bản thân tôi cần phải:
Biết lắng nghe: Giáo viên chủ nhiệm luôn giữ mối quan hệ gần gũi, thân
thiết với học sinh, đặc biệt là với học sinh chưa ngoan, hãy khuyến khích các em
nói ra những điều mình nghĩ bằng nhiều cách khác nhau. “Lắng nghe và thấu
hiểu” là điều mà các học sinh chưa ngoan thật sự rất cần ở giáo viên chủ nhiệm.
Biết quan tâm: Giáo viên chủ nhiệm quan tâm bằng cách trị chuyện, hỏi
thăm hồn cảnh gia đình học sinh, về bạn bè thân của các em, biết được sở thích,
cá tính cũng như thái độ, sự lễ phép của học sinh đối với người lớn. Kêu gọi và
yêu cầu các học sinh khác trong lớp quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ bạn mình, khơng
nên xem thường hay cơ lập các bạn chưa ngoan đó. Dưới sự hỗ trợ của cán sự
lớp, giáo viên chủ nhiệm luôn theo dõi được những biểu hiện hàng ngày của học
sinh chưa ngoan, tránh được sự kết luận về vấn đề nào đó thiếu chính xác làm
tổn thương đến tâm lý và tình cảm của các em.
Có uy tín với học sinh và đồng nghiệp về chuyên môn và tư cách đạo
đức, tác phong sinh hoạt: Giáo viên có tầm hiểu biết rộng rãi ngồi việc có kiến
thức sâu rộng về bộ mơn của mình, bao giờ cũng giải đáp được vấn đề học sinh
đang quan tâm thì ảnh hưởng và uy tín của giáo viên sẽ tác động mạnh đến việc
giáo dục đạo đức học sinh. Mặt khác, uy tín về tư cách đạo đức của giáo viên có
ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành ý thức và hành vi của học sinh. Nếu được
như vậy, chắc chắn rằng tầm ảnh hưởng của giáo viên chủ nhiệm đối với các học
sinh chưa ngoan sẽ không nhỏ.
Động viên và định hướng: Thông thường các học sinh chưa ngoan không
định hướng được mình cần rèn luyện thế nào để giúp ích bản thân và hoàn thành
nhiệm vụ học tập. Mặt khác, một trong những nguyên nhân chủ yếu làm học
16
sinh chưa ngoan đều bắt đầu từ sự học kém, dẫn đến bất mãn, chán học rồi bỏ
mặt mọi việc. Chính vì vậy giáo viên chủ nhiệm là người giúp học sinh biết định
hướng và động viên, khích lệ các em trên tinh thần “kiến tha lâu cũng đầy tổ”,
“có cơng mài sắt có ngày nên kim”. Hãy tìm và tuyên dương những mặt tốt ở
các em dù nhỏ thay vì cứ phê bình khi các em sai phạm.
“Người bạn lớn”: Giáo viên chủ nhiệm hãy là “Người bạn lớn” của học
sinh. Chính điều này làm cho học sinh chưa ngoan thấy mình khơng hề bị “bỏ
rơi”, tình cảm thầy trị được hình thành, tạo điều kiện thuận lợi cho những tâm
sự, chia sẻ. Khi đó những lời động viên, những định hướng của giáo viên chủ
nhiệm sẽ đạt hiệu quả cao.
Nghiêm khắc: Giáo viên chủ nhiệm tỏ ra nghiêm khắc với tất cả học sinh
trong lớp, tôn trọng học sinh, xử lý mọi việc công bằng cho dù là cán bộ lớp hay
học sinh chưa ngoan vi phạm. Như thế các học sinh chưa ngoan sẽ cảm thấy
giáo viên chủ nhiệm đều tôn trọng mọi học sinh, không thiên vị, khơng hề “ghét
bỏ” mình.
Vui tính: Ngồi những điều trên, giáo viên chủ nhiệm cần phải có óc khơi
hài, ln vui vẻ với mọi người, kể cả học sinh chưa ngoan. Điều này giúp cho
học sinh có cảm giác dễ gần với giáo viên, dễ sẻ chia tâm sự, mối quan hệ giữa
thầy trị tránh được sự căng thẳng. Ngồi ra, người giáo viên còn được xem là
“kỹ sư tâm hồn”. Chính cái “tâm” của người giáo viên chủ nhiệm sẽ giúp cho họ
có đủ kiên nhẫn để thực hiện hết trách nhiệm của mình. Đó là năng lực để cảm
hóa học sinh. Việc dùng nhân cách để giáo dục nhân cách chính là việc người
thầy dùng nhân cách của mình để tác động vào học sinh, dạy học sinh bằng
chính nhân cách.
Trong cơng tác quản lí học sinh thì cần phải có các biện pháp, tuy nhiên
nếu chỉ thực hiện các biện pháp một cách miễn cưỡng thì hiệu quả sẽ không cao.
Qua kinh nghiệm của bản thân, tôi rút ra một điều: Là một giáo viên chủ nhiệm
phải có tâm với nghề và thương yêu học sinh như con em của chính mình, mọi
việc làm của mình đều phải vì học sinh, đều đặt mình vào vị trí của học sinh,
phải làm gương cho các em về mọi mặt: tác phong, giờ giấc,… thực hiện
nghiêm túc thì hiệu quả giáo dục sẽ cao. Đặc biệt đối với học sinh cá biệt, muốn
giáo dục được các em thì phải tìm hiểu rõ các em về mọi mặt: hồn cảnh gia
đình, khả năng học tập, tâm tư, tình cảm… khi đó giáo dục mới có hiệu quả, cịn
nếu giáo viên chỉ chú ý đến hình phạt học sinh mà khơng cho các em một lời
biện minh thì các em sẽ khơng phục, khi đó thì việc giáo dục trở nên khó khăn
hơn.
Trên đây là đổi mới phương pháp quản lí lớp chủ nhiệm nhằm xây dựng
tập thể lớp 9/1 vững mạnh ở trường THCS Nguyễn Huệ được rút ra từ thực tế
làm công tác chủ nhiệm mà tôi đã sử dụng. Dù đã cố gắng rất nhiều nhưng chắc
chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được nhiều ý kiến
đóng góp của cấp trên, đồng nghiệp để tơi bổ sung, sửa chữa và tích luỹ thêm
được nhiều kinh nghiệm hay.
2. Biện pháp triển khai áp dụng đề tài vào thực tiễn
Sáng kiến này qua trải nghiệm thực tế, tôi nhận thấy rằng giáo dục đạo
đức HS thành cơng hay thất bại cịn phụ thuộc vào yếu tố khác nữa. Chúng ta
17
khơng nên áp dụng rập khn máy móc bất kỳ một phương pháp giáo dục tiên
tiến nào bởi lẽ sản phẩm đây chính là “con người”.
Để đạt được mục đích giáo dục, ta cần phải biết chọn điểm xuất phát thích
hợp với đặc điểm riêng của từng trường, từng lớp, từng HS,…
Muốn duy trì tốt thành quả giáo dục cần có sự phối hợp chặt chẽ với các
phong trào khác, những hoạt động khác và đặc biệt cần phối hợp chặt chẽ giữa
nhà trường với Chi Hội CMHS, được sự quan tâm lãnh đạo của cấp uỷ, chính
quyền, các đồn thể và nhân dân địa phương để tạo sức mạnh đồng bộ, toàn xã
hội cùng giáo dục thế hệ trẻ đồng thời giữ vững được hướng đi đúng .
Sự thành công trong công tác chủ nhiệm lớp, một nhân tố quan trọng mà
chúng ta nên thận trọng cân nhắc khi quyết định lựa chọn, đó chính là “lớp
truởng”. Vì đó là người luôn đi sâu đi sát với lớp, luôn nắm rõ tình hình lớp.
Thay mặt ta điều hành, quản lí và báo cáo kịp thời các cơng việc hằng ngày của
lớp để mang lại hiệu quả cao nhất cho lớp.
Muốn làm tốt được những điều trên đòi hỏi người GVCN lớp phải là
người có uy tín, có năng lực chỉ đạo, dám nghĩ, dám làm đi trước, đề xuất được
các vấn đề giá trị, tập hợp được sức mạnh tổng hợp, vai trò con chim đầu đàn là
yếu tố có phần lớn lao, tạo nên sự thành cơng hay thất bại ở mỗi học sinh, mỗi
lớp học, mỗi trường học…
Tơi rất mong sự đóng góp ý kiến và chỉ bảo của ban giám hiệu nhà trường
của các đồng chí tổ trưởng các đồng chí đồng nghiệp giàu kinh nghiệm để giúp
tơi hồn thành tốt cơng việc được giao và thành cơng trong sự nghiệp trồng
người của mình.
3. Kiến nghị, đề xuất
3.1. Kiến nghị
Đối với Nhà trường: Cần quan tâm xây dựng tổ chức Đoàn - Đội vững
mạnh hơn nữa. Trong thời gian qua tổ chức Đoàn - Đội cũng có rất nhiều thành
cơng tuy nhiên trong cơng tác quản lí nề nếp và theo dõi tình hình học sinh vẫn
thực hiện chưa tốt; đồng thời phải có biện pháp cứng rắn hơn đối với những học
sinh vi phạm nội qui của nhà trường ngay từ đầu năm học.
Đối với tổ chức Đoàn – Đội: Cần phối hợp thực hiện một cách đồng bộ,
triển khai công việc phải cụ thể về thời gian, địa điểm; các thông báo cần phải
đưa đến lớp hoặc giáo viên chủ nhiệm đồng thời phải được cơng bố ở 3 địa
điểm: phịng Đồn - Đội; bảng tin và phòng giáo viên để giáo viên, học sinh tiện
theo dõi. Thời gian ra thông báo và thực hiện phải có đủ thời gian để học sinh
chuẩn bị.
Đối với giáo viên bộ môn: Phải kịp thời thông báo với giáo viên chủ
nhiệm về những học sinh vi phạm để có biện pháp giáo dục kịp thời.
3.2. Đề xuất
Để hồn thành tốt cơng tác chủ nhiệm thì mỗi thầy cơ phải vất vả để tìm
ra những giải pháp và rất cần sự động viên kịp thời của các ban ngành, đoàn thể
về sự hỗ trợ, động viên cả về thời gian, vật chất lẫn lẫn tinh thần. Tôi xin có một
vài đề xuất nhỏ như sau:
Ban lãnh đạo các cấp xem xét để tăng thêm tiết chủ nhiệm khi giáo viên
chủ nhiệm lớp.
18
Tăng cường, quản lí chặt chẽ và ngăn chặn các hiện tượng vi phạm, các tệ
nạn có thể xâm nhập vào trong trường học.
Có kế hoạch giáo dục học sinh ngay từ khi các em mới chuyển từ cấp I sang.
Giáo viên chủ nhiệm lớp nên nhiệt tình, có trách nhiệm hơn nữa trong
công tác chủ nhiệm lớp và tất cả những công tác khác.
4. Hướng phát triển của đề tài
Những kinh nghiệm của tơi trình bày trên đây áp dụng cho đối tượng học
sinh khối lớp 9 rất phù hợp và mang lại hiệu quả cao, tuy nhiên đối với các đối
tượng khác như học sinh khối 6, 7, 8 có thể có những điểm chưa phù hợp vì tâm
sinh lứa tuổi của các em là khác nhau. Tôi sẽ tiếp tục áp dụng vào thực tế để tìm
ra phương pháp chủ nhiệm phù hợp hơn với các đối tượng này nhằm giúp cho
các em học sinh tiến bộ hơn và các thầy cơ giáo chủ nhiệm có thể hồn thành tốt
nhiệm vụ chủ nhiệm của mình.
Vạn Phước, ngày 08 tháng 12 năm 2018
Người viết
Nguyễn Thị Thu Hằng
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chỉ thị hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2007 - 2008 .
2. Tâm lí học đại cương - Hà Nội 1995 - PGS. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên).
3. Điều lệ trường trung học - Bộ GD & ĐT.
4. Luật GD 2005 - Bộ GD & ĐT.
5. Pháp lệnh cán bộ công chức.
6. Quyết định 40 về đánh giá xếp loại học sinh- Bộ GD&ĐT
7. Sách thực hành kĩ năng sống lớp 9 của TS Phan Quốc Việt
PHỤ LỤC 1
Mẫu Phiếu điều tra thông tin, lý lịch trích ngang học sinh đầu năm
PHIẾU ĐIỀU TRA THƠNG TIN, LÝ LỊCH TRÍCH NGANG HỌC SINH
Lớp 9/1. GVCN: Nguyễn Thị Thu Hằng
-----***----I. Bản thân học sinh
Họ và tên:..............................Giới tính (Nam, nữ)….....
Dân tộc.........................................................
Ngày tháng năm sinh:...................................
Nơi sinh: ( Huyện, Tỉnh):.........................
Chỗ ở hiện tại: (Thôn, Xã)):.................................................
Kết quả xếp loại năm học 2016-2017: Học tập:..............Hạnh kiểm:…….....
Đã tham gia cán bộ lớp (Ghi rõ chức danh: Lớp trưởng, Lớp phó, nhóm trưởng,
chi đội trưởng:....................
II. Nhân thân:
Họ tên cha:.............................Năm sinh:…… Nghề nghiệp:.........
Nơi công tác:.........................Số điện thoại liên lạc:....................
Họ tên mẹ:.............................Năm sinh:…… Nghề nghiệp:.........
Nơi công tác:.................Số điện thoại liên lạc:................
(Hiện nay đang ở với ai: ghi rõ họ tên ơng bà, chú bác cơ dì đang )
...................................................SĐT:................................
Hồn cảnh gia đình (Con Thương binh, Mồ cơi, Hộ nghèo, Khó khăn) ..............
….......................................................................
Ghi rõ vài nét khái quát về hồn cảnh gia đình hiện nay như thế nào (khó khăn,
đau ốm, thu nhập của cha mẹ, hoàn cảnh anh chị em trong gia đình có gì khó
khăn khăn, cần giúp đỡ):.........…........................................................................
Sở thích học các mơn:..........................................................................................
Năng khiếu (Các lĩnh vực Văn nghệ, TDTT, Sáng tác thơ văn, Tin học...):...........
...............................................................................................................................
Ghi chú:
- Nộp đầy đủ và đúng hạn bản tóm tắt lí lịch của lớp cho GVCN. Hạn cuối ngày.
29/08/2017
* Đề nghị HS ghi đầy đủ thông tin và nộp đúng hạn để khỏi ảnh hưởng công
việc chung của trường.
…………….., ngày.…....tháng…… năm 2017
XÁC NHẬN CỦA PHỤ HUYNH
Học sinh ký tên
(ký và ghi rõ họ tên)
(ký, họ tên)
PHỤ LỤC 2
TRƯỜNG THCS NGUYỄN HUỆ
THANG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ THI ĐUA HỌC SINH
Năm học: 2017 – 2018 - Lớp 9/1
1. Thực hiện nội qui, đạo đức, nề nếp:
- Có hành vi xúc phạm thầy, cô giáo và cán bộ nhân viên: - 20đ
- Xúc phạm nhân phẩm, danh dự của bạn, đánh nhau gây rối trật tự trong và
ngoài nhà trường:- 20đ
- Hút thuốc , uống rượu bia, đánh bạc …..- 20đ
- Có các hành vi lấy cắp tài sản của nhà trường, của tập thể và của cá nhân: 30đ
- Nói tục, chửi thề: - 10đ
- Cố ý để tóc dài, nhuộm tóc, tơ son, đánh phấn, sơn móng tay, móng chân…: - 5đ
- Khơng đồng phục theo quy định: - 5đ
- Không đeo khăn quàng: - 5đ
- Không bảng tên: - 5đ
- Áo ngoài quần: - 5đ
- Đi học trễ: - 5đ
- Vắng không phép: - 5đ
- Ra ngồi trong giờ chuyển tiết khi chưa có sự cho phép của GV: - 5đ
- Tự động ra khỏi sân trường trong giờ học, giờ chơi: - 10đ
- Đi xe trong sân trường, để xe không đúng nơi qui định: - 5đ
- Đi vệ sinh không đúng nơi qui định …: - 5đ
- Vứt rác bừa bãi -5đ
- Mang điện thoại khi đến trường dưới bất kỳ hình thức nào - 10đ
- Mặc áo khoác trong giờ học:- 10đ
- Vào lớp chậm sau khi đã có hiệu lệnh trống - 5 đ
- Không xếp hàng đầu và giữa giờ: -5 đ.
2. Hoạt động học tập:
- Truy bài không nghiêm túc: - 5đ
- Trốn tiết: - 20đ
- Không soạn bài, không thuộc bài hoặc không làm bài tập : -5đ
- Gian lận trong học tập, kiểm tra và thi cử: -30đ và xếp HK Trung bình cho cả HK.
- Khơng mang dụng cụ học tập: - 5đ/ môn.
- Giơ tay phát biểu đúng: + 2đ/ lần
- Kiểm tra bài cũ: + Đạt điểm 10: + 5đ
+ Đạt điểm 9: + 4đ
+ Đạt điểm 8: + 3đ
+ Đạt điểm 7: + 2đ
+ Đạt điểm 6: + 1đ
+ Đạt điểm 4: -1đ
+ Đạt điểm 3: -2đ
+ Đạt điểm 2: -3đ
+ Đạt điểm 1: -4đ
+ Đạt điểm 0: -5đ
3. Lao Động - Văn nghệ - Bảo vệ tài sản:
- Không hát đầu và giữa buổi học: - 5đ
- Không nghiêm túc khi chào cờ: - 5đ
- Tham gia tốt các phong trào do trường và các Đoàn thể tổ chức: + 20đ.
- Trực nhật lớp học, hành lang , xung quanh lớp học bẩn : -5đ
- Không lau bảng khi đổi tiết: - 5đ
- Không tham gia lao động theo kế hoạch cuả nhà trường – 10đ
- Làm mất vệ sinh lớp học…: - 5đ
- Không chốt cửa sổ, tắt quạt, điện cẩn thận sau khi ra về: - 5đ
- Đập bàn, ghế gây mất trật tự : - 5đ
- Nhảy, ngồi… lên bàn, cửa sổ, lan can....: - 5đ
- Làm gãy bàn ghế, làm vỡ cửa, làm hư hỏng thiết bị điện...: - 20đ và bồi
thường nếu nhà trường yêu cầu.
- Viết vẽ bậy lên tường, bảng…: - 5đ
- Bẻ cây, cành trong trường: - 5đ
* Lưu ý:
+ Hạ 2 bậc hạnh kiểm nếu lớp bị giờ TB (Nếu sổ đầu bài ghi tên HS nào vi
phạm).
+ Hạ 1 bậc hạnh kiểm nếu lớp bị giờ khá (Nếu sổ đầu bài ghi tên HS nào vi
phạm).
+2 tuần/ tháng: HS xếp loại hạnh kiểm yếu thì phê bình trước lớp, viết giấy kiểm
điểm có chữ kí của PHHS.
+ 3 tuần / tháng HS xếp loại hạnh kiểm yếu thì phê bình trước cờ, mời PHHS lên
làm việc.
Cách xếp loại thi đua:
- Từ 20 đ trở lên xếp loại Tốt
- Từ 10 đ đến 19 đ xếp loại Khá
- Từ 0 đ đến 9 đ xếp loại Trung bình
- Dưới 0 đ xếp loại Yếu