Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (247.88 KB, 14 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>MỞ ĐẦU </b>
Thị trường chứng khoán là một bộ phận không thể thiếu được trong hệ
thống tài chính của các nước theo nền kinh tế thị trường. Đối với Việt Nam,
thị trường chứng khoán mới ra đời được 9 năm những đã trải qua những biến
động mạnh mẽ. Thực tế cho thấy, sự tham gia của các Ngân hàng thương mại
tác động lớn tới sự sôi động và hiệu quả hoạt động của thị trường. Ngân hàng
TMCP Nam Á chính thức hoạt động từ ngày 21/10/1992, tuy không phải là
một ngân hàng lớn, Ngân hàng Nam Á được biết đến là một trong những
Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển ổn định, bền vững, Sự tham gia của
NHTMCP Nam Á trên thị trường chứng khoán là một tất yếu khi cổ phiếu NH
Nam Á là một trong những hàng hố có chất lượng và thanh khoản trên thị
trường. Vì vậy đẩy mạnh vai trò hoạt động của Ngân hàng Nam Á trên thị
trường chứng khoán cũng là nhằm nâng cao vị thế của mình trong nền kinh tế
nói chung và hệ thống tài chính nói riêng.
Do đó, phân tích hoạt động của Ngân hàng Nam Á và đưa ra các giải pháp
để tăng cường hoạt động của Ngân hàng Nam Á tham gia trên thị trường chứng
khốn là vơ cùng cần thiết.
Từ những lý do trên, <i><b>học viên đã chọn đề tài “Tăng cường hoạt động </b></i>
<i><b>trên Thị trường chứng khoán của Ngân hàng TMCP Nam Á” để nghiên cứu. </b></i>
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu hoạt động của Ngân
hàng TMCP Nam Á trên TTCK Việt Nam trong xu thế hội nhập.
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM TRÊN TTCK
<b>1.1. Các vấn đề cơ bản về thị trường chứng khốn </b>
<i><b>1.1.1. Khái qt về sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán </b></i>
Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của
nền kinh tế hiện đại. Là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, thị
trường chứng khốn, được hiểu một cách chung nhất, là nơi diễn ra các giao dịch
mua bán, trao đổi các chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ chuyển đổi
và các công cụ phái sinh) giữa các chủ thể tham gia.
Thị trường chứng khoán ban đầu phát triển một cách tự phát và rất sơ
khai, xuất phát từ một sự cần thiết đơn lẻ của buổi ban đầu là trao đổi vật phẩm
hàng hoá.
Sau một thời gian hoạt động thị trường không có khả năng đáp ứng được yêu cầu
của ba loại giao dịch khác nhau. Vì thế, thị trường hàng hoá được tách ra thành
các khu thương mại, thị trường ngoại tệ được tách ra và phát triển thành thị
trường hối đoái. Thị trường chính thức trở thành thị trường chứng khốn.
<i><b>1.1.2. Khái niệm thị trường chứng khoán </b></i>
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán, trao đổi các
loại chứng khoán. Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ hay bút toán ghi sổ,
nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát
hành. Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứng khoán, tuỳ
theo tính chất sở hữu của chúng.
<i><b>1.1.3. Phân loại thị trường chứng khoán </b></i>
Theo các loại hàng hoá được mua bán trên thị trường, người ta có thể
Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn, thị trường được phân thành thị
trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường Thị trường chứng khoán
có thể được tổ chức thành các Sở giao dịch (Stock Exchange) hoặc thị trường
giao dịch phi tập trung - thị trường giao dịch qua quầy (Over - the - Counter
Market) .
<i><b>1.1.4. Vai trò của thị trường chứng khoán </b></i>
<i>Thứ nhất, TTCK với việc tạo ra các cơng cụ có tính thanh khoản cao, có </i>
thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế.
<i>Thứ hai, TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn. </i>
<i>Thứ ba, TTCK tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý </i>
doanh nghiệp.
<i>Thứ tư, việc mở cửa thị trường chứng khoán làm tăng tính lỏng và cạnh </i>
tranh trên thị trường quốc tế.
<i>Thứ năm, TTCK tạo cơ hội cho Chính phủ huy động các nguồn tài chính </i>
mà không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các cơng cụ cho việc thực hiện
chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ.
<i>Thứ sáu, TTCK cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh doanh </i>
trong tương lai.
<i><b>1.1.5. Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán </b></i>
<b>1.2. NHTM và hoạt động của các NHTM trên TTCK </b>
<i><b>1.2.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại </b></i>
Ngân hàng Thương mại là một loại Trung gian tài chính (Financial
Intermediaries) là tổ chức tài chính, một loại hình doanh nghiệp mà tài sản chính
của nó là các tài sản tài chính. Phần lớn lượng vốn trong nền kinh tế được
chuyển bằng con đường gián tiếp, thông qua các trung gian tài chính mà các
Ngân hàng Thương mại là trung tâm.
<i><b>1.2.2. Hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên TTCK </b></i>
Hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên TTCK là khác nhau, phụ
thuộc vào quy định của luật pháp từng nước. Trên thế giới tồn tại ba mơ hình cơ bản:
<i>Thứ nhất, mơ hình ngân hàng đa năng tồn phần: Trong mơ hình này </i>
khơng có bất kỳ sự tách biệt nào giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh
doanh chứng khốn.
<i>Thứ hai, mơ hình ngân hàng đa năng một phần: các ngân hàng muốn </i>
kinh doanh chứng khoán phải thành lập các cơng ty con, có tư cách pháp nhân
độc lập, do vậy loại bỏ được nhược điểm của mơ hình đa năng toàn phần, tạo
ra sự độc lập tương đối giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh
chứng khoán.
<i>Thứ ba, mơ hình chun doanh: Mơ hình này thể hiện sự phân biệt có tính </i>
pháp lý giữa hai ngành ngân hàng và chứng khoán. Hoạt động kinh doanh chứng
khốn do các cơng ty chứng khoán thực hiện và các ngân hàng thương mại
không được phép kinh doanh chứng khoán.
<b>1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM trên TTCK </b>
Hoạt động của các NHTM trên TTCK có một ý nghĩa quan trọng trong
việc thúc đẩy hiệu quả và sự phát triển của thị trường. Nhận thức được điều đó,
hầu hết các nước trên thế giới đã gắn kết hai lĩnh vực hoạt động ngân hàng và
chứng khoán nhằm xây dựng và phát triển TTCK trên nền tảng phát triển của
ngân hàng. Để có thể tham gia trên TTCK, các NHTM cần phải đáp ứng các điều
kiện về pháp lý; vốn; trình độ cơng nghệ; năng lực quản trị, điều hành; trình độ
nhân sự, hiệu quả kinh doanh...
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTMCP NAM Á TRÊN TTCK VN
<b>2.1. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại Cổ phần Nam Á </b>
<i><b>2.1.2. Tổng quan về NHTMCP Nam Á </b></i>
Ngân hàng TMCP Nam Á chính thức hoạt động từ ngày 21/10/1992, là
một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên được thành lập sau khi
Pháp lệnh về Ngân hàng được ban hành. Qua 17 năm hoạt động, Ngân hàng
Nam Á đã không ngừng lớn mạnh, có mạng lưới gồm hơn 50 địa điểm giao dịch
trên cả nước. So với năm 1992, vốn điều lệ hiện nay tăng gấp 270 lần, số lượng
cán bộ nhân viên tăng gấp 20 lần. Những năm gần đây, Ngân hàng Nam Á được
biết đến là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển ổn định,
bền vững, có chất lượng tín dụng thuộc loại tốt
<i><b>2.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh Ngân hàng TMCP Nam Á </b></i>
<i><b>2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn </b></i>
<i><b>- Vốn huy động trên thị trường 1 (các tổ chức kinh tế và dân cư), tính </b></i>
đến 31/12/2008 đạt 3,420 tỷ đồng, tăng 21,64% so với năm 2007, chiếm tỷ
trọng 76,10% trên tổng vốn huy động.
<i><b>- Huy động trên thị trường 2 tăng đều từ năm 2004 đến 2007. Năm </b></i>
2008, thị trường tiền tệ có nhiều biến động chịu ảnh hưởng lớn của khủng hoảng
kinh tế, hoạt động thì trường 2 của Ngân hàng Nam Á có sự sụt giảm. Tính đến
31/12/2008 huy động thị trường 2 đạt 1,074 tỷ đồng giảm 598 tỷ đồng tỷ lệ giảm
là 35,71% so với năm 2007, tuy vậy, Ngân hàng Nam Á vẫn đảm bảo thanh
khoản, giữ vững an toàn trong hệ thống.
<b>2.1.2.2. </b> <b>Hoạt động cho vay </b>
Dư nợ tín dụng của Ngân hàng Nam Á tăng đều qua các năm, nếu năm
2004, dư nợ tín dụng mới là 789 tỷ đồng thì năm 2008 tổng dư nợ tín dụng
của Ngân hàng Nam Á đạt 3,730 tỷ đồng, tăng 1.051 tỷ đồng tương đương
38.94% so với năm 2007, trong đó dư nợ khách hàng doanh nghiệp đạt 1.250
<b>2.1.2.3. </b> <b>Hoạt động khác </b>
<b> Hoạt động đầu tư: </b>
Tính đến cuối năm 2008, tổng số tiền đầu tư góp vốn trực tiếp và các
doanh nghiệp của Ngân hàng Nam Á đạt 91.35 tỷ đồng. Các ngành nghề Ngân
hàng Nam Á chú trọng đầu tư gồm tài chính, Ngân hàng và thương mại dịch vụ.
<b> Hoạt động kinh doanh chứng khoán </b>
này Ngân hàng Nam Á luôn cẩn trọng nhằm hạn chế rủi ro. Tính đến cuối năm
2008, tỷ lệ cho vay kinh doanh chứng khoán của Ngân hàng Nam Á chỉ đạt 5.2%
trên vốn điều lệ, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ quy định của Ngân hàng nhà nước.
<b> Hoạt động dịch vụ </b>
<i><b> Hoạt động thanh toán quốc tế </b></i>
Hoạt động thanh toán quốc tế là 1 trong những mảng được trú trọng tại
NH Nam Á. Năm 2008 là năm đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong hoạt
động thanh toán quốc tế của Ngân hàng Nam Á. Doanh số thanh toán trong năm
2008 đạt 127.5 triệu USD tăng 180% so với năm 2007.
<i><b> Kinh doanh Ngoại tệ </b></i>
Doanh số kinh doanh ngoại tệ của NH Nam Á tăng đều qua các năm. Năm
<i><b>Dịch vụ thẻ, kiều hối</b><b>: </b></i>
Năm 2008 hoạt động Kiều hối của Ngân hàng Nam Á đã có sự thay đổi
rõ rệt. Đây là năm đầu tiên Ngân hàng Nam Á triển khai các chương trình
khuyến mãi kiều hối. nhờ đó số lượng khách hàng và doanh số chi trả kiều hối
của Ngân hàng Nam Á tăng đáng kể. Doanh số chi trả kiều hối Western Union
đạt gần 1 triệu USD tăng 250% so với năm 2007 với số lượt chi trả lên đến 1.500
lượt, tăng 240% so với năm 2007.
<i><b>2.1.3. Kết quả kinh doanh </b></i>
<b>2.2. Hoạt động của Ngân hàng TMCP Nam Á trên TTCK Việt Nam </b>
<i><b>2.2.1. Thực trạng hoạt động của NH TMCP Nam Á trên TTCK Việt Nam </b></i>
<b>2.2.1.1. Trên thị trường chứng khoán sơ cấp </b>
<b> Hoạt động phát hành chứng khoán </b>
Vốn điều lệ của Ngân hàng Nam Á tăng chủ yếu là qua việc phát hành
chứng khoán, cụ thể là phát hành cổ phần mới. Dự kiến trong năm 2009, sẽ phát
hành cổ phiếu ra công chúng, phạm vi phát hành là phát hành cổ phần mới cho
cổ đông hiện hữu để đến 31/12/2009 vốn điều lệ đạt 2000 tỷ đồng. Đến 2010,
tăng vốn điều lệ lên 3000tỷ đồng theo đúng lộ trình mà NHNN quy định.
<b> Hoạt động đầu tư trực tiếp </b>
Ngân hàng Nam Á đã đẩy mạnh hoạt động liên doanh góp vốn vào các
doanh nghiệp có triển vọng kinh doanh tốt. Tính đến cuối năm 2008, tổng số tiền
đầu tư góp vốn trực tiếp và các doanh nghiệp của Ngân hàng Nam Á đạt 91.4 tỷ
đồng. Các ngành nghề Ngân hàng Nam Á chú trọng đầu tư gồm tài chính, Ngân
hàng và thương mại dịch vụ. Dự kiến trong năm 2009, Ngân hàng Nam Á tiếp
tục lựa chọn các doanh nghiệp tốt để đầu tư, nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào
hoạt động tín dụng.
<b> Hoạt động đại lý bảo lãnh phát hành chứng khoán </b>
Ngân hàng Nam Á chưa được phép hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu
cũng như chưa thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu
doanh nghiệp. Theo tinh thầnh luật mới hoạt động này của Ngân hàng Nam Á sẽ
được thực hiện thông qua công ty con là Công ty chứng khoán Ngân hàng Nam
Á đã được cấp phép hoạt động.
<b>2.2.1.2. Trên thị trường chứng khoán thứ cấp </b>
<b> Hoạt động kinh doanh chứng khoán </b>
vào tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh cơ bản ổn định
và hiệu quả. Hoạt động kinh doanh trái phiếu của Ngân hàng Nam Á hiện chưa
hiệu quả với khoản mục đầu tư nhỏ với giá trị vào thời điểm 31/12/2008 chỉ là
33 triệu đồng.
<b> Sản phẩm phái sinh </b>
Chứng khốn phái sinh là cơng cụ tài chính, xuất hiện dưới hình thức hợp
đồng mà giá trị của nó dựa vào giá trị của các sản phẩm tài chính khác như cổ
phiếu, trái phiếu… được sử dụng với mục đích phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận
hoặc tạo lợi nhuận. Ngân hàng Nam Á mặc dù chưa được phép thực hiện các
<b> Cho vay chứng khốn </b>
Nghiệp vụ tín dụng cho vay đầu tư chứng khoán của Ngân hàng Nam Á
chiểm tỷ trọng nhỏ trong tổng dư nợ tín dụng tồn ngân hàng, thực hiện tốt các
quy định về giới hạn cho vay kinh doanh chứng khoán của NHNN (tỷ lệ cho vay
cầm cố chứng khoán dưới 3% vốn điều lệ), vì Ngân hàng Nam Á luôn ý thức
được vấn đề rủi ro trong nghiệp vụ này và đã kiểm soát tốt dư nợ cho vay chứng
khoán. Tháng 3/2009, Ngân hàng Nam Á đã ký kết văn bản hợp tác với công ty
chứng khoán Beta hỗ trợ cho vay chứng khoán và các hoạt động liên quan.
<b>2.3. Đánh giá hoạt động của NHTMCP Nam Á trên TTCK Việt Nam </b>
<i><b>2.3.1. Kết quả hoạt động: </b></i>
Ngân hàng Nam Á đã bước đầu tham gia vào thị trường chứng khốn
Việt Nam, đang từng bước hịa nhập, có khả năng phát triển và hoạt động hiệu
quả trên thị trường này.
<i>Về hoạt động phát hành chứng khoán, kế hoạch tăng vốn điều lệ của Ngân </i>
Ngân hàng Nam Á tuy không phải là cổ phiếu của những ngân hàng đứng đầu
nhưng lại là sự lựa chọn an tồn bởi tính ổn định của nó.
<i>Về hoạt động đầu tư góp vốn, Ngân hàng Nam Á tập trung đầu tư vào các </i>
ngành tài chính, Ngân hàng và thương mại dịch vụ. Hoạt động đầu tư của Ngân
hàng Nam Á đang ngày được chú trọng phát triển nhằm giảm sự phụ thuộc vào
hoạt động tín dụng.
<i>Về hoạt động kinh doanh chứng khoán, Ngân hàng Nam Á tham gia hoạt </i>
động kinh doanh chứng khoán chưa nhiều do đó những biến động lớn của thị
trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn vừa qua không ảnh hưởng nhiều đến
hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
<i>Về hoạt động cho vay chứng khoán, Ngân hàng Nam Á kiểm soát tốt hoạt </i>
động cho vay chứng khoán, dư nợ cho vay chứng khốn ln tn thủ mức quy
định của Ngân hàng Nhà nước. Đảm bảo nguyên tắc an toàn, hiệu quả, Ngân
hàng Nam Á khơng phải chịu áp lực giải chấp chứng khốn cầm cố như nhiều
ngân hàng khác đã phải gánh chịu.
<i><b>2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân: </b></i>
Phạm vi hoạt động của các Ngân hàng Nam Á trên TTCK còn đơn điệu,
mới thể hiện ở hoạt động phát hành chứng khoán, cho vay chứng khoán, hoạt
động kinh doanh chứng khốn cịn chưa đáng kể. Các hoạt động khác như bảo
lãnh phát hành, nghiệp vụ sản phẩm phái sinh còn chưa được Ngân hàng Nam Á
triển khai.
Quy mô của các hoạt động còn nhỏ, là chưa tương xứng với tiềm năng.
Hoạt động kinh doanh cổ phiếu, trái phiếu còn nhỏ lẻ, bỏ lỡ nhiều cơ hội thu lợi
nhuận cao cho ngân hàng.
Chất lượng các hoạt động còn chưa cao, Ngân hàng Nam Á chưa có bộ
khoán vẫn do các cán bộ kinh doanh nguồn thực hiện nên chưa có sự chun
nghiệp.
Nguồn nhân lực có trình độ, kinh nghiệm hiểu biết về TTCK còn mỏng.
Do chưa hiểu biết sâu về TTCK nên chưa dám thực sự tham gia vào thị trường,
sợ rủi ro, sợ biến động.
Nguyên nhân trực tiếp từ phía ngân hàng: Tiềm lực tài chính tuy đã được
cải thiện nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng; chưa đáp ứng được quy mô
vốn của tổ chức tài chính trong xu thế hội nhập tài chính quốc tế. Các hoạt động
của Ngân hàng Nam Á trên thị trường chứng khoán chưa đa dạng, vẫn chủ yếu
tập trung hoạt động trên thị trường truyền thống và rủi ro trong hoạt động cao.
Bộ máy quản lý chưa mạnh dạn đẩy mạnh việc đa dạng hóa các hình thức hoạt
động, chưa có đủ các quy trình nghiệp vụ theo sát hoạt động của thị trường, hoạt
động kiểm tra giám sát cũng chưa theo sát được hoạt động nên dễ dẫn đến rủi ro.
Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Nam Á còn thấp, công nghệ chưa cao, tổ
chức và điều hành chưa hoàn thiện. Cơ sở vật chất kỹ thuật Ngân hàng Nam Á
chưa đáp ứng được sự phát triển của thị trường. Ngân hàng Nam Á thiếu nguồn
nhân lực có kỹ năng.
Nguyên nhân khách quan: thị trường chứng khoán Việt Nam mới
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG CỦA NH TMCP NAM Á TRÊN TTCK
VIỆT NAM
<b>3.1. Mục tiêu phát triển thị trường tài chính, chứng khốn Việt Nam </b>
Mục tiêu phát triển của thị trường tài chính, chứng khốn VN trong thời
gian tới là: phát triển số lượng, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại hàng
hóa, đáp ứng nhu cầu thị trường; thị trường vốn phải phát triển theo hướng hiện
đại, hoàn chỉnh về cấu trúc, được quản lý giám sát bởi Nhà nước và có khả năng
liên kết với các thị trường khu vực, quốc tế; cần phát triển các định chế trung
gian và dịch vụ thị trường; phát triển hệ thống nhà đầu tư trong và ngoài nước,
khuyến khích các định chế đầu tư chuyên nghiệp tham gia vào thị trường; nâng
cao hiệu quả quản lý, giám sát của Nhà nước.
<b>Định hướng hoạt động của NHTMCP Nam Á trong thời gian tới </b>
. Mục tiêu tổng quát của Ngân hàng Nam Á là đến năm 2020 sẽ trở thành
một trong những ngân hàng bán lẻ đa năng, hiện đại, có chất lượng dịch vụ
ngang tầm các Ngân hàng lớn của các nước trong khu vực.
Tăng cường năng lực quản lý, mở rộng quy mô hoạt động đi đôi với tăng
cường năng lực tự kiểm tra, quản lý rủi ro, bảo đảm an toàn và hiệu quả trong
kinh doanh, phát triển hệ thống quản lý của ngân hàng phù hợp với các thông lệ
và chuẩn mực quốc tế và thực tiễn hoạt động của Ngân hàng Nam Á.
sản có, tăng cường nguồn vốn huy động, ân đối tỷ lệ lợi nhuận từ Tín dụng và
dịch vụ (kinh doanh trái phiếu, ngoại tệ, vàng, thanh toán, thẻ, nghiệp vụ phái
sinh tiền tệ...)
<b>3.2. Các giải pháp thúc đẩy hoạt động của NH TMCP Nam Á trên TTCK </b>
<b>Việt Nam </b>
<b>Thứ nhất, Ngân hàng Nam Á cần tăng cường tiềm lực tài chính. Để tăng </b>
Thứ hai, nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực hoạt động của Ngân hàng
<b>Nam Á trên thị trường chứng khoán. Để nâng cao năng lực cạnh tranh, ngân hàng </b>
cần thay đổi phong cách phục vụ; những cải cách về tổ chức sẽ góp phần nâng cao
năng lực hoạt động của ngân hàng; cần nâng cao năng lực quản lý điều hành.
Ngân hàng TMCP Nam Á cần đẩy mạnh và đa dạng hóa các nghiệp vụ
trên TTCK; tiến hành niêm yết cổ phiếu NHTMCP Nam Á trên TTCK Việt Nam;
đưa cơng ty chứng khốn NH Nam Á đi vào hoạt động hiệu quả. Bên cạnh đó,
Ngân hàng cần tiến hành đổi mới, hiện đại hố cơng nghệ. Ngồi ra, con người
là nhân tố quyết định để thành công trong mọi lĩnh vực, nhân tố con người cần
đặt lên hàng đầu.
<b>3.3. Một số kiến nghị với Chính phủ và các bộ ngành liên quan </b>
<i>3.3.1. Các kiến nghị với Chính phủ </i>
<i>3.3.2. Kiến nghị với UBCKNN và TTGDCK </i>
Để tăng cường hoạt động trên TTCK, Ngân hàng Nam Á kiến nghị với
UBCKNN và TTGDCK phát triển hơn nữa các thị trường giao dịch chứng
khốn; tăng cường cơng tác giám sát thanh tra; nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ
thông tin. Bên cạnh đó cần có quy định về chế độ báo cáo và cơng khai hố
thơng tin; tuyên truyền và đào tạo kiến thức về chứng khoán và TTCK.
<i>3.3.3. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước </i>
Ngân hàng TMCP Nam Á kiến nghị với NHNN tiếp tục thực hiện cải cách
chính sách Tài chính – Tiền tệ; xây dựng hệ thống quy định phù hợp nhất quán
trong điều tiết hoạt động kinh doanh, cho vay chứng khoán của các NHTM; tăng
cường phối hợp với UBCKNN, Bộ tài chính.
<b>KẾT LUẬN </b>