MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc anh em cùng sinh
sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số khoảng hơn hơn 85% tổng dân số cả
nước và có sự cư trú đan xen trên nhiều địa bàn của Tổ quốc. 53 dân tộc còn
lại chỉ chiếm hơn 14% tổng dân số cả nước và được gọi chung là các dân tộc
thiểu số. Mỗi dân tộc có tiếng nói, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa riêng.
Chính điều đó làm nên đặc điểm văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng,
giàu bản sắc dân tộc.
Trong tiến trình phát triển hàng ngàn năm, các dân tộc dù quá trình tộc
người khác nhau nhưng luôn luôn sát cánh bên nhau cùng xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Anh em các dân tộc Việt Nam có truyền thống đồn kết, ln kề vai
sát cánh trong quá trình dựng nước và giữ nước. Xuất phát từ đặc điểm đó,
ơng cha ta đã thực thi nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề dân tộc trước
yêu cầu phát triển quốc gia, đặc biệt là trong thời cổ trung đại và di sản trong
lịch sử về vấn đề dân tộc đã để lại nhiều bài học quý giá cho hơm nay khi giải
quyết vấn đề dân tộc. Chính vì vậy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã xác định vấn đề dân tộc có vai trị và vị trí đặc biệt quan
trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Đảng ta luôn coi trọng vấn đề dân tộc và đã đề ra chủ trương, chính
sách dân tộc với nguyên tắc nhất quán: các dân tộc “bình đẳng, đồn kết,
tương trợ nhau cùng phát triển”. Chính sách của Đảng được đồng bào các dân
tộc ủng hộ, đón nhận và ra sức thực hiện, tạo động lực to lớn, góp phần quan
trọng vào thắng lợi của cách mạng dân tộc, dân chủ và những thành tựu to lớn
của cách mạng XHCN. Trong giai đoạn hiện nay, trước u cầu của cơng cuộc
đổi mới tồn diện, đồng bộ đất nước và hội nhập quốc tế với những thời cơ và
thách thức đan xen, việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc có ý nghĩa quan
trọng trong xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn
đấu vì mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh.
2
NỘI DUNG
1. Khái niệm dân tộc và chính sách dân tộc
1.1. Khái niệm dân tộc: Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa:
- Nghĩa hẹp: Dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ
và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngơn ngữ riêng, có những nét đặc
thù về văn hoá; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những
nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người
của dân cư cộng đồng đó. Theo nghĩa này dân tộc là một bộ phận của quốc
gia, là dân tộc - tộc người (Ethnie).
- Nghĩa rộng: Dân tộc chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân
dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung
và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính
trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong suốt
quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Theo nghĩa này dân tộc là
dân cư của một quốc gia nhất định, là quốc gia - dân tộc (Nation).
1.2. Khái niệm chính sách dân tộc:
Chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam là một bộ phận quan hệ
hữu cơ với công tác dân tộc, được quy định bởi quan điểm về vấn đề dân tộc,
xử lý vấn đề dân tộc và cách thức thực hiện công tác dân tộc. Hiện nay, khái
niệm chính sách dân tộc được luận giải phong phú theo nhiều góc độ, trong
đó:
Dưới góc độ chính trị - xã hội, chính sách dân tộc là tổng hợp những
quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được đề ra tác động
trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ dân tộc. Chính sách dân tộc mang bản
chất giai cấp của Nhà nước trong phạm vi đối nội và đối ngoại.
Dưới góc độ quản lý nhà nước, chính sách dân tộc là hệ thống những
quyết sách của Đảng, Nhà nước được thực thi thông qua bộ máy hành pháp để
quản lý và phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đối với các dân tộc và
vùng đồng bào dân tộc nhằm thiết lập sự bình đẳng và hịa nhập phát triển,
3
củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam.
Chính sách dân tộc là chính sách phát triển nhằm thiết lập nên những
thành tựu phát triển về kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc và vùng dân tộc,
hướng tới đạt mục tiêu cao nhất là sự bình đẳng về mọi mặt, đặc biệt về mặt
chính trị, kinh tế và văn hóa giữa các vùng và các dân tộc ở Việt Nam.
1.3. Thực hiện chính sách dân tộc:
Thực hiện chính sách dân tộc là việc đưa pháp luật, chính sách vào
cuộc sống, trên cơ sở cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng, Nhà nước, từ khâu
hướng dẫn, thông tin, phân công trách nhiệm, chuẩn bị các điều kiện nguồn
lực tài chính, nhân lực cần thiết bảo đảm thực hiện đúng mục tiêu, tiến độ yêu
cầu quy định trong chính sach.
Thực hiện chính sách dân tộc cịn thể hiện mục tiêu cơng bằng xã hội,
là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; thể hiện tình cảm, trách nhiệm của cả
nước đối với những đóng góp của đồng bào dân tộc trong sự nghiệp cách
mạng giành và giữ nền độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Các nguyên tắc cơ bản trong xây dựng và thực hiện chính sách
dân tộc
Ngay từ khi Đảng ta mới ra đời, các nguyên tắc cơ bản trong việc xây
dựng và thực hiện chính sách dân tộc chính sách dân tộc đã được hình thành
và ngày càng hồn thiện. Trong thời kỳ đổi mới, các nguyên tắc cơ bản này
tiếp tục được khẳng định và bổ sung thêm. Nếu như trong các văn kiện Đại
hội Đảng từ lần thứ II đến lần thứ V đều nhấn mạnh: “Đồn kết, bình đẳng
giữa các dân tộc” thì từ Đại hội VI trở đi các ngun tắc này đã được xác định
là: “Đồn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau’’ (Đại hội VI), “Đoàn kết, bình
đẳng, giúp đỡ lẫn nhau” (Đại hội VII), “Bình đẳng, đồn kết, tương trợ’’ (Đại
hội VIII), “Bình đẳng, đồn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển’’ (Đại
4
hội IX), “Bình đẳng, đồn kết, tơn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ’’ (Đại
hội X).
Bình đẳng giữa các dân tộc: là một nguyên tắc cơ bản về chính sách
dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tất cả các dân tộc, dù đơng người hay ít
người, đều có tư cách chính trị - xã hội - pháp lý như nhau trong các quan hệ
tộc người, trong quyền hạn và nghĩa vụ đối với đất nước. Nguyên tắc này đã
được thể hiện rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh và các Hiến pháp ở nước
ta. Hiến pháp đầu tiên ở nước ta năm 1946 đã khẳng định: “Tất cả quyền binh
trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, khơng phân biệt nịi giống,
gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo’’ và “Tất cả công dân Việt Nam đều
bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến
quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình”. Các Hiến pháp tiếp theo đều
cũng đã thể hiện rõ nguyên tắc quan trọng này.
Bình đẳng giữa các dân tộc là bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hóa. Bình đẳng cịn thể hiện trong quyền phát triển, được đảm
bảo và tạo mọi điều kiện để các dân tộc thực hiện và có cơ hội phát triển bình
đẳng với các dân tộc khác. Để thực hiện bình đẳng dân tộc thì phải làm giảm,
tiến tới từng bước xóa bỏ khoảng cách giữa các dân tộc do các điều kiện lịch
sử quy định, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân,...
Đoàn kết dân tộc: là một nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc mà
Đảng ta xác định, là chiến lược của cách mạng Việt Nam. Phát triển nguyên
tắc đoàn kết giai cấp công nhân tất cả các dân tộc của Lênin, trên nền tảng
truyền thống Việt Nam, Đảng ta coi đoàn kết dân tộc có ý nghĩa then chốt đối
với sự phát triển đất nước. Đoàn kết dân tộc là sự đoàn kết trong nội bộ của
từng dân tộc thiểu số; giữa dân tộc thiểu số và dân tộc đa số; giữa các dân tộc
ở Việt Nam với các dân tộc trên thế giới vì hịa bình và tiến bộ xã hội.
Hồ Chí Minh đã nói: “Đồn kết, đồn kết, đại đồn kết; Thành cơng,
thành cơng, đại thành cơng”. Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng
5
định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong
sự nghiệp cách mạng nước ta”.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đoàn kết các dân tộc đã tạo
nên sức mạnh to lớn để giành lại nền độc lập dân tộc, tự do cho Tổ quốc.
Trong cơng cuộc đổi mới, đồn kết các dân tộc nhằm hướng tới mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, các dân tộc ở nước ta được làm chủ vận mệnh của mình trong khối đại
đồn kết tồn dân tộc. Đó chính là cơ sở để chúng ta thực hiện thắng lợi
đường lối, chính sách dân tộc của Đảng.
Giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc: là phương châm, nguyên
tắc quan trọng trong xử lý mối quan hệ giữa các dân tộc với nhau, mối quan
hệ giữa nhà nước với các dân tộc. Đó khơng đơn thuần là các quan hệ về kinh
tế, văn hóa, xã hội mà biểu hiện cao nhất là quan hệ về chính trị. Ngồi thực
hiện các quyền bình đẳng chung thì giải quyết vấn đề lợi ích trên mọi mặt của
đời sống xã hội, giải quyết những vướng mắc trong tâm lý của các cộng đồng
dân tộc, các nhóm dân tộc cần được chú trọng. Nguyên tắc này xuất phát từ
một thực tế lịch sử là sự phát triển không đều giữa các dân tộc khi chúng ta
bắt tay vào xây dựng đất nước trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, việc giúp đỡ, thúc đẩy phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng, ghi
nhận và khẳng định các giá trị văn hóa dân tộc, tăng cường sự tham gia của
đại diện các dân tộc trong hệ thống chính trị phù hợp, thúc đẩy giao lưu, trao
đổi, hợp tác giữa các nhóm dân tộc, vùng, miền nhằm tạo nên tâm lý dân tộc
đồng thuận có ý nghĩa quan trọng.
Giúp nhau cùng phát triển là tư tưởng, quan điểm mới được Đại hội lần
thứ XI của Đảng đưa vào nguyên tắc chính sách dân tộc. Đây là quan điểm
phát triển biện chứng của việc gắn chính sách dân tộc với xu thế tiến bộ
chung của đất nước tiến lên con đường cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù
hợp với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước. Theo quan điểm này, cùng
với các chính sách của Đảng, Nhà nước, các dân tộc anh em cùng chung
6
trách nhiệm yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, bằng nhiều hoạt động cụ thể góp
phần đẩy nhanh sự phát triển ở từng vùng, trong từng dân tộc trên tất cả các
mặt kinh tế - xã hội, môi trường một cách bền vững. Đồng thời đây cũng là
trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, mọi ngành, mọi cấp và cả hệ thống
chính trị.
Các phạm trù bình đẳng, tơn trọng, đồn kết, giải quyết hài hòa quan hệ
giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển có quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho
nhau, hòa quyện vào nhau, biện chứng lẫn nhau, thể hiện trong công tác xây
dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc.
Có thể thấy rõ rằng, trong giai đoạn đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn
nhất quán chủ trương, nguyên tắc trong đường lối, chính sách dân tộc, đó là
xây dựng khối đồn kết, bình đẳng giữa cộng đồng các dân tộc, phát triển toàn
diện về kinh tể - chính trị - xã hội, bảo đảm các quyền và tiếp cận các quyền
của đồng bào dân tộc thiểu số trên mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tể, văn
hóa, xã hội trên cơ sở hệ thống pháp luật quốc gia và một sổ chính sách đặc
thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiêu sô.
Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau là sự giúp đỡ của dân tộc này với dân tộc
khác, không phải là sự giúp đỡ một chiều. Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau vừa là
yêu cầu, vừa là mục tiêu của sự phát triển, vì sự phát triển bền vững của cộng
đồng quốc gia dân tộc. Đó cũng chính là bản chất của chính đảng vơ sản. Để
thực hiện vấn đề này, vai trị của nhà nước và hệ thống chính trị rất quan
trọng. Trong các văn kiện của Đảng, nguyên tắc tương trợ được bổ sung các
thành tố “tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng tiến bộ”. Có thể coi
đây là một nguyên tắc đối với vấn đề dân tộc trong thời kỳ cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. Bình đẳng là cơ sở để đồn kết, đồn kết là
biểu hiện thực hiện bình đẳng và tương trợ giúp đỡ nhau là điều kiện để thực
hiện bình đẳng và đồn kết. Các ngun tắc cơ bản trên có mối quan hệ mật thiết
7
với nhau, được xác định và triển khai đồng bộ trong q trình xây dựng và triển
khai thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta.
3. Những yếu tố về dân cư và tộc người của Việt Nam trong thời kỳ đổi
mới
Cộng đồng các dân tộc Việt Nam hiện nay là kết quả của một quá trình
hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, có
nhiều đặc điểm riêng so với các dân tộc khác trên thế giới. Các dân tộc ở Việt
Nam có tỷ lệ số dân không đều nhau, song các dân tộc luôn coi nhau như anh
em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, khơng có tình trạng dân tộc đa số
cưỡng bức, đồng hóa, thơn tính các dân tộc thiểu số, khơng có tình trạng các
dân tộc thiểu số chống lại dân tộc đa số. Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân
tán và xen kẽ nhau. Người Kinh có mặt trên khắp cả nước, nhưng địa bàn cư
trú chủ yếu là đồng bằng, ven biển và trung du. Cịn hầu hết các dân tộc thiểu
số khơng cư trú thành những khu vực riêng biệt, mà cư trú xen kẽ trên các
vùng rừng núi, cao nguyên, biên giới. Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ
phát triển kinh tế - xã hội khơng đều nhau, có những dân tộc thiểu số trình độ
thấp, đời sống có nhiều khó khăn, nhất là những dân tộc cư trú ở vùng điều
kiện địa lý - tự nhiên khắc nghiệt, canh tác khơng ổn định. Mỗi dân tộc ở Việt
Nam đều có bản sắc văn hóa riêng, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng
của văn hóa Việt Nam. Sự thống nhất và đa dạng của nền văn hóa Việt Nam
đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của dân tộc Việt Nam trong công cuộc
đấu tranh dựng nước và giữ nước. Các dân tộc ở Việt Nam ln có truyền
thống đoàn kết trong đấu tranh để chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại
xâm, luôn chăm lo xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất với tinh thần
“người trong một nước phải thương nhau cùng”.
4. Nội dung của chính sách dân tộc của Đảng trong thời kỳ đổi mới:
thể hiện ở các nhóm chính sách sau:
Chính sách về chính trị: nâng cao tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số;
phát huy vai trị của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; đào tạo,
8
bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn các tỉnh khu vực miền
núi.
Chính sách về phát triển kinh tế vùng các dân tộc thiểu số nhằm phát
huy tiềm năng thế mạnh của vùng đồng bào các dân tộc, gắn với kế hoạch
phát triển chung của cả nước, đưa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cùng cả
nước tiến hành cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là một trong
những vấn đề có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện chính sách dân tộc trong
hoàn cảnh và điều kiện mới với mục tiêu tạo sự chuyển biến căn bản diện mạo
và đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số.
Chính sách về văn hóa tập trung vào việc thực hiện Chương trình mục
tiêu Quốc gia về văn hóa; bảo tồn tiếng nói, chữ viết của một số dân tộc thiểu
số; chính sách bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số…nhằm bảo vệ
ngày càng tốt hơn sự sáng tạo văn hóa của đất nước.
Chính sách xã hội tập trung vào các vấn đề giáo dục - đào tạo, văn hóa,
y tế... nhằm nâng cao năng lực, tạo tiền đề và các cơ hội để các dân tộc có đầy
đủ các điều kiện tham gia vào quá trình phát triển, để trên cơ sở đó khơng
ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào.
Chính sách liên quan đến quốc phịng - an ninh, nhằm củng cố các địa bàn
chiến lược, giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc và quan hệ dân tộc trong mối
liên hệ tộc người, giữa các tộc người và liên quốc gia trong xu thế tồn cầu hóa.
Chính sách đặc thù đối với một số dân tộc thiểu số. Ở nước ta hiện nay có
5 dân tộc: Si La, Pu Péo, Ơ Đu, Brâu, Rơmăm (có dân số dưới 1000 người).
Thực hiện chính sách này nhằm giúp các dân tộc này thoát khỏi nguy cơ đói
nghèo, lạc hậu và suy giảm dân số.
Nhìn tổng thể các chính sách trên, xét về mục tiêu, chính sách dân tộc
của Đảng đều nhằm khai thác mọi tiềm năng của đất nước để phục vụ đời
sống nhân dân các dân tộc, từng bước khắc phục khoảng cách chênh lệch, xóa
đói, giảm nghèo, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
9
bằng, văn minh”, thể hiện nguyên tắc cơ bản: bình đẳng, đồn kết, tơn trọng
giúp nhau cùng phát triển. Các nội dung đó có quan hệ hữu cơ với nhau, tác
động qua lại lẫn nhau, hợp thành một thể thống nhất, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển. Bình đẳng dân tộc là nền tảng thực hiện đồn kết dân
tộc; có đồn kết, thương u, tơn trọng giúp đỡ nhau thì mới thực hiện được bình
đẳng dân tộc.
5. Thực trạng thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới
5.1. Kết quả thực hiện chính sách dân tộc
Công tác dân tộc thời gian qua đã góp phần tích cực làm thay đổi rõ nét
diện mạo nơng thơn vùng dân tộc và miền núi, quyền bình đẳng giữa các dân
tộc ngày càng được thể chế hóa và thực hiện trên thực tế các lĩnh vực của đời
sống. Qua đó, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được nâng lên từng
bước, tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt. Theo báo cáo của các địa phương vùng dân
tộc và miền núi, chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo đều đạt và vượt, bình quân
khoảng 3% - 4%/năm, cụ thể là: Các tỉnh vùng Đông Bắc giảm 3,62%; Tây
Bắc giảm 4,47%; Tây Nguyên giảm 3,04%; đồng bằng sông Cửu Long giảm
2,15%. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thay đổi rõ rệt: 98,6% số xã có đường
ơ-tơ đến trụ sở ủy ban nhân dân xã; có 99,8% số xã và 95,5% số thơn có điện.
Cơng tác xóa đói, giảm nghèo đạt được kết quả khả quan. Đời sống của
đồng bào các dân tộc được cải thiện đáng kể. Đặc biệt, mặt bằng dân trí được
nâng cao. Vùng dân tộc và miền núi đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học
và xóa mù chữ. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được hình thành và
phát triển từ Trung ương đến các huyện vùng dân tộc và miền núi, tạo nguồn
đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số.
Đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số được nâng cao một
bước, văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số được tôn trọng, bảo tồn
và phát huy. Hệ thống phát thanh, truyền hình ở vùng dân tộc và miền núi
khơng ngừng phát triển. Cơng tác giáo dục có nhiều tiến bộ: 99,5% số xã có
10
trường tiểu học; 93,2% số xã có trường trung học cơ sở; 12,9% số xã có
trường trung học phổ thơng và 96,6% số xã có trường mẫu giáo/mầm non;
100% số xã đạt chuẩn phổ cập tiểu học, nhiều nơi đã đạt chuẩn phổ cập trung
học cơ sở. Loại hình trường nội trú, bán trú đang phát triển, hiện nay cả nước
có 294 trường phổ thơng dân tộc nội trú với 80.832 học sinh; 4 trường dự bị
đại học với trên 3.000 học sinh/năm. Tất cả các tỉnh vùng dân tộc và miền núi
đều có trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, trường dạy nghề và đào tạo
nghiệp vụ trong các lĩnh vực nơng nghiệp, quản lý kinh tế, tài chính, giáo dục,
y tế,...
Bên cạnh đó, mạng lưới y tế phát triển, hệ thống bệnh viện tỉnh, huyện
và trạm y tế xã được quan tâm đầu tư, có 99,39% số xã có trạm y tế, 77,8% số
xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận dịch
vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản, người nghèo được khám, chữa bệnh miễn phí
và được hưởng chính sách bảo hiểm y tế đúng quy định. Các dịch bệnh ở
vùng dân tộc và miền núi, như sốt rét, bướu cổ cơ bản được khống chế; tỷ lệ
trẻ em suy dinh dưỡng giảm đáng kể. Mạng lưới thông tin, văn hóa, thể thao
nơng thơn có sự phát triển nhanh, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh
thần của đồng bào. Năm 2011, 81,5% số xã có hệ thống loa truyền thanh đến
thơn; 38,7% số xã có nhà văn hóa xã; 48% số xã có sân thể thao.
Cơng tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong vùng dân tộc
và miền núi có chuyển biến tốt, dịch vụ trợ giúp pháp lý đang tiếp cận với
người dân. Cơng tác vận động nhân dân, phát huy vai trị người có uy tín
trong cộng đồng được chú trọng. Bình đẳng giới từng bước được tạo lập giúp
người phụ nữ nâng cao nhận thức, vươn lên phát huy vai trò của bản thân
trong gia đình và xã hội.
5.2. Hạn chế, yếu kém của chính sách dân tộc
Thứ nhất, hệ thống chính sách vùng dân tộc và miền núi so với giai
đoạn trước có nhiều ưu điểm, nhưng cịn bộc lộ khơng ít hạn chế, như chưa
bảo đảm gắn kết thống nhất giữa chính sách phát triển dân tộc - tộc người với
11
chính sách phát triển vùng; thời gian thực hiện chính sách ngắn, thiếu tính
chiến lược; trình tự thủ tục xây dựng và trình một số đề án mất nhiều thời
gian; hầu hết các chính sách đều mang tính chất hỗ trợ; chính sách đầu tư
chưa đáp ứng được yêu cầu cơ bản, do vậy hiệu quả chưa thực sự bền vững;
nhiều chính sách phải kéo dài thời gian thực hiện dẫn đến định mức khơng
cịn phù hợp với thực tế; có chính sách do huy động nhiều nguồn vốn, khi cấp
vốn khơng đồng bộ dẫn đến khó khăn trong triển khai thực hiện.
Việc xây dựng một số chính sách thiếu thực tế, chưa phù hợp với địa
bàn vùng dân tộc và miền núi. Tổ chức thực hiện chính sách cịn nhiều yếu
kém, phân cơng chủ trì chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa hợp lý; việc phối hợp
giữa các bộ, ngành có lĩnh vực chưa chặt chẽ, chỉ đạo có mặt cịn chồng chéo.
Cơng tác kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách cịn hạn
chế. Chỉ đạo, thực hiện chính sách ở một số địa phương còn lúng túng…
Thứ hai, ở vùng dân tộc và miền núi, kinh tế chậm phát triển so với
tiềm năng của vùng và phát triển chưa vững chắc. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu
lao động chuyển dịch chậm. Mức độ thương phẩm hóa của nơng sản cịn thấp;
sản phẩm sản xuất ra chưa có thị trường tiêu thụ ổn định, sức cạnh tranh và
hiệu quả kinh tế thấp. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiếu và yếu kém: Hiện
cịn 535/1.848 xã có đường đến trung tâm xã chỉ đi được trong mùa khơ;
14.093 thơn, bản chưa có đường ơ-tơ; 204/1.848 xã chưa có điện lưới quốc
gia đến trung tâm xã và trên 8.100 thôn, bản chưa được sử dụng điện lưới
quốc gia; 304 xã đặc biệt khó khăn chưa đủ lớp học kiên cố; 15.930 thôn, bản
chưa có nhà trẻ, mẫu giáo; 758 xã chưa có nhà văn hóa;...
Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều vùng dân tộc và miền núi
cao nhất cả nước; tình trạng tái nghèo phổ biến ở nhiều nơi. Năm 2016, tỷ lệ
hộ nghèo khu vực miền núi Tây Bắc là 34,52%, miền núi Đông Bắc: 20,74%;
Tây Nguyên: 17,14%; các tỉnh Bắc Trung Bộ: 12,5%. Kết quả giảm nghèo
thiếu tính bền vững, tỷ lệ tái nghèo cao. Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục và
nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi thấp: 21% số người trong độ tuổi đi
12
học không biết đọc, biết viết chữ phổ thông; số người trong độ tuổi lao động
chưa qua đào tạo chiếm 89,5%, riêng số người trong độ tuổi lao động là người
dân tộc thiểu số chưa qua đào tạo chiếm 94,2%; chất lượng đào tạo nghề thấp.
Đội ngũ cán bộ y tế vùng dân tộc và miền núi vừa thiếu, vừa yếu về
chuyên môn nghiệp vụ, nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số. Trang thiết bị y
tế thiếu và lạc hậu, phần lớn người nghèo vùng dân tộc và miền núi khơng có
điều kiện tiếp cận với các dịch vụ y tế chất lượng tốt.
Hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi còn yếu, đặc biệt đội ngũ cán bộ
có năng lực, trình độ cịn hạn chế, nhất là thiếu đội ngũ cán bộ người dân tộc
thiểu số hoặc có cán bộ dân tộc nhưng chưa được đào tạo. Tỷ lệ cán bộ là
người dân tộc thiểu số trong chính quyền cấp huyện và tỉnh tại các địa phương
có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số cịn thấp. Trong tổng số 48.200 cán bộ dân
tộc thiểu số cấp xã, số người có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm 45%,
tiểu học: 18,7%, chỉ có 1,9% có trình độ cao đẳng và đại học.
Cơng tác dân tộc đang có những thách thức chủ yếu là: Khoảng cách
giàu - nghèo, chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền, giữa các nhóm dân
tộc ngày càng lớn; tỷ lệ nghèo ở các vùng dân tộc và miền núi cao hơn 2,5 lần
so với tỷ lệ bình quân chung của cả nước. Đặc biệt, là những khó khăn, thiếu
thốn ở các “vùng lõi” của đói nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc và
miền núi từ các tỉnh phía Bắc đến các tỉnh phía Nam.
Nhu cầu nguồn lực đầu tư để phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu theo
Nghị quyết của Chính phủ về định mức giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp
cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 là rất lớn, sẽ vượt quá khả
năng đáp ứng của ngân sách nhà nước. Chất lượng các cơng trình kết cấu hạ
tầng, như giao thơng, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa cịn thấp. Nguồn vốn
đầu tư cho các chính sách chưa đáp ứng nhu cầu mục tiêu.
5.3. Những bất cập, hạn chế của hệ thống chính sách dân tộc
13
Có chính sách nhưng nguồn lực đầu tư để thực thực hiện chính sách
chưa đầy đủ. Chính sách chủ yếu mang tính chất giải quyết tình thế, trước
mắt, thiếu tính chiến lược và bền vững. Có những chính sách chồng chéo,
trùng lắp do nhiều đầu mối quản lý, chỉ đạo và điều hành gây khó khăn, lúng
túng cho các địa phương trong tổ chức thực hiện.
Các văn bản quản lý, hướng dẫn về cơ chế thực hiện chính sách ban
hành chưa kịp thời, một số nội dung khó thực hiện. Thiếu cơ chế khuyến
khích và các chế tài xử lý. Công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên,
chất lượng chưa cao.
6. Những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách của công tác dân tộc trong
thời gian tới
- Đẩy mạnh cơng tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng
bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa;
trong những năm trước mắt tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc đặc
biệt khó khăn giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu
lương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng
cụ sinh hoạt tối thiểu; xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu,
vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và tranh chấp đất
đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên, Tây Bắc và vùng
đồng bào dân tộc Khơme Nam Bộ.
Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng biên
giới. Làm tốt công tác định canh, định cư và di dân xây dựng vùng kinh tế
mới; công tác quy hoạch, sắp xếp, phân bổ lại hợp lý dân cư, nguồn nhân lực
theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững, gắn với bảo
vệ an ninh, quốc phòng.
- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh,
truyền hình; tăng cường các hoạt động văn hóa thơng tin, tun truyền hướng
14
về cơ sở; tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh,
truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số, làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm,
gìn giữ và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa các dân tộc.
Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các
chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục,
đào tạo, nhất là trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp; đẩy mạnh việc tổ
chức các trường mẫu giáo công lập; mở rộng việc dạy chữ dân tộc. Đa dạng
hóa phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân
tộc, đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú; tiếp tục thực
hiện chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho con em các dân tộc vào học tại các
trường đại học và cao đẳng; mở thêm trường dự bị dân tộc ở miền Trung, Tây
Nguyên. Nghiên cứu tổ chức trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng trí thức và cán
bộ người dân tộc thiểu số. Tăng cường cơ sở khám, chữa bệnh, cán bộ y tế
cho các xã, bản, thôn, ấp; nâng cao hơn nữa công tác chăm sóc sức khỏe cho
đồng bào dân tộc thiểu số, khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân
gian.
- Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân
tộc thiểu số. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về kiện toàn,
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, kiên quyết khắc phục tình trạng xa
dân của một số cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng,
sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển cán bộ. Đẩy mạnh phát triển đảng viên trong
đồng bào dân tộc...
- Xây dựng thế trận quốc phịng tồn dân và thế trận an ninh nhân dân,
phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan âm mưu phá hoại của các thế
lực thù địch; tăng cường công tác an ninh chính trị và trật tự an tồn xã hội,
khơng để xảy ra những điểm “nóng’’ về an ninh trật tự xã hội ở vùng dân tộc
và miền núi.
- Tiếp tục phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp quốc phịng ở vùng
sâu, vùng xa. Thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tơn giáo ở vùng dân tộc
15
và miền núi; kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tơn giáo, tự
do tín ngưỡng để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân. Đổi mới nội dung,
phương thức công tác dân tộc phù hợp với nhiệm vụ trong tình hình mới.
16
KẾT LUẬN
Như vậy, chính sách dân tộc là một chiến lược cơ bản và rất lâu dài của
đất nước. Đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm thường xuyên của Đảng, Nhà
nước, của cả hệ thống chính trị. Kết quả thực hiện chính sách dân tộc quyết
định sự ổn định và phát triển bền vững đất nước. Thực hiện tốt chính sách dân
tộc chính là tạo thêm cơ sở, tiền đề, động lực để nhằm ổn định và phát triển
bền vững đất nước. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm, đường lối chính sách dân tộc của Đảng đó là: Bình đẳng, đồn kết,
tương trợ, giúp nhau cùng phát triển. Do vậy, cần tiếp tục thấu suốt những
quan điểm chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay là: Sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi là sự nghiệp chung
của cả nước. Phát triển vùng dân tộc và miền núi toàn diện cả về chính trị,
kinh tế, văn hố, xã hội, an ninh - quốc phòng. Tập trung phát triển thế mạnh
kinh tế, quan tâm giải quyết đúng mức các vấn đề xã hội, cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc. Với truyền thống văn hóa tốt
đẹp, tinh thần tự lực tự cường, đồng bào các dân tộc chính là chủ thể quyết
định tổ chức thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
trong tiến trình đổi mới, cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển
của vùng đồng bào các dân tộc ở nước ta hiện nay.
--------------------------------
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Cao cấp lý
luận chính trị Khối kiến thức thứ tư các chuyên đề bổ trợ, tập 14.
17
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu tồn quốc lần
thứ X, XI, XII Nxb.Chính trị quốc gia.
3. Viện lý luận dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam: chuyên đề
“Quan điểm của Đảng và nhà nước Việt Nam đối với vấn đề dân tộc trong
thời kỳ đổi mới’’.
4. Hội đồng dân tộc của Quốc hội khóa X: Chính sách dân tộc của
Đảng, Nhà nước về dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
5. Phan Hữu Dật (Chủ biên): Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp
bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2001.