Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Mối quan hệ giữa cấu trúc nguồn vốn và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (420.94 KB, 5 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>TÓM TẮT LUẬN VĂN </b>



“Nghiên cứu xác định mức độ tác động của cấu trúc nguồn vốn tới khả năng sinh


lời của các doanh nghiệp đã, đang là một chủ đề nghiên cứu giành được sự quan tâm của


nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cũng như nhiều nhà quản trị doanh nghiệp và


nhà đầu tư khác.”Từ trước đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này và các học


giả đưa ra nhiều kết quả trái ngược nhau. Điều đáng chú ý là vấn đề nghiên cứu này được


áp dụng riêng đối với các doanh nghiệp bất động sản thì chưa có nhiều ở trên thế


giới,“còn ở Việt Nam thì tác giả chưa thấy có nghiên cứu nào nghiên cứu mối quan hệ


cấu trúc nguồn vốn đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết


<b>trên thị trường chứng khoán Việt Nam.”</b>


Mục tiêu nghiên cứu của tác giả trong nghiên cứu này nhằm xem xét các thành


phần nợ trong cấu trúc nguồn vốn có tác động ngược chiều hay cùng chiều đến khả năng


sinh lời của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt


<b>Nam. Bài luận văn nghiên cứu này của tác giả trả lời các câu hỏi:“Cấu trúc nguồn vốn và </b>


khả năng sinh lời của doanh nghiệp là gì? Mối quan hệ giữa cấu trúc nguồn vốn và khả
năng sinh lời của doanh nghiệp bất động sản như thế nào? Giải pháp, khuyến nghị như
thế nào đối với các doanh nghiệp bất động sản và cơ quan nhà nước?”



Trong nghiên cứu này tác đã khái quát chung các lý thuyết về cấu trúc vốn của


doanh nghiệp;


“Lý thuyết Modigliani và Miller với đề xuất cho rằng, chi phí vốn cổ phần của một
cơng ty có mối quan hệ tuyến tính dương với cấu trúc vốn của nó.”Các ơng kết luận rằng
chi phí vốn hoặc tỷ suất lợi nhuận yêu cầu đối với tài sản của công ty không phụ thuộc
vào tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu.


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

chiều nhau hình thành lý thuyết cấu trúc tài chính tối ưu.


"Lý thuyết trật tự phân hạng (thông tin bất cân xứng) giải thích tại sao các doanh


nghiệp có khả năng sinh lời cao thường vay ít,“vì họ khơng cần nguồn tài trợ bên ngồi.


Các doanh nghiệp có khả năng sinh lời ít hơn thường phát hành nợ vì họ khơng có đủ


nguồn vốn nội bộ đủ cho đầu tư vốn và tài trợ nợ chỉ đứng sau lợi nhuận giữ lại trong trật


tự phân hạng.”Ngoài ra thuyết trật tự phân hạng còn dự báo các thay đổi trong tỷ lệ nợ


của nhiều doanh nghiệp ở giai đoạn phát triển bão hòa. Tỷ lệ nợ của các doanh nghiệp


giảm khi có thặng dư tài chính và tăng khi các có thâm hụt tài chính."


Thuyết đánh đổi cấu trúc cho<b>“</b>rằng, các cơng ty có thị trường sản phẩm ổn định lâu


dài nên dùng nhiều nợ vay để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp; Các cơng ty có nợ vay q



nhiều, khơng thể trả bằng tiền mặt trong vòng một vài năm,<b>”</b>nên phát hành cổ phần, hạn


chế cổ tức, hay bán bớt tài sản để huy động tiền mặt nhằm tái cấu trúc vốn.


“Thuyết thời điểm thị trường các doanh nghiệp nợ thấp có xu hướng tăng nguồn


vốn khi giá trị tiền của họ cao, và ngược lại những doanh nghiệp nợ cao có xu hướng tăng


nguồn vốn khi giá trị tiền của họ thấp. Phần lớn cấu trúc vốn là kết quả liên tiếp của


những nỗ lực điều chỉnh thị trường cổ phiếu. Trong thuyết này, không có cấu trúc vốn tối
ưu,”vì thế mà các quyết định tài chính điều chỉnh thị trường chỉ nhiều lên thành kết quả


cấu trúc vốn theo thời gian.


Và tác giả trình bày một số nghiên cứu trên thế giới và trong nước về mối quan hệ
giữa cấu trúc nguồn vốn và khả năng sinh lời của doanh nghiệp, từ đó chỉ ra những tương
đồng cũng như sự khác biệt của các cơng trình nghiên cứu.


Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa cấu trúc nguồn vốn và khả năng


sinh lời tóm gọn lại có thể được chia làm 4 nhóm chính;


<i>“Nhóm thứ 1: Các nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm có mối quan hệ có ý nghĩa </i>


tích cực giữa khả năng sinh lời và nợ phải trả, đồng nghĩa càng có nhiều khoản nợ thì khả
năng sinh lời của doanh nghiệp sẽ nhiều hơn, điển hình là nghiên cứu của Gill, Amarjit,


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

<i>Nhóm thứ 2: Các nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm có mối quan hệ tiêu cực giữa </i>



nợ và khả năng sinh lời của cơng ty, điển hình là các nghiên cứu của Zeitun, R. and Tian


(2007), Mahfuzah Salim, Dr.Raj Yadav (2012),


<i>Nhóm thứ 3: Các nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm có mối quan hệ tích cực giữa </i>


nợ ngắn hạn và khả năng sinh lời nhưng với nợ dài hạn lại có mối quan hệ tiêu cực với


khả năng sinh lời của doanh nghiệp, điển hình là các nghiên cứu của Lara và Mesquita và


Lara (2003), Abor (2005), Hasan, Ahsan, Rahaman và Alam (2014), Mutinda Jane


Nduku (2015).


<i>Nhóm thứ 4: Các nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm có mối quan hệ tiêu cực giữa </i>


nợ ngắn hạn và khả năng sinh lời nhưng với nợ dài hạn lại có mối quan hệ tích cực với
khả năng sinh lời của doanh nghiệp, điển hình là các nghiên cứu của Zuraidah Ahmad và
cộng sự (2012), Mutinda Jane Nduku (2015).”


Dựa trên các cơ sở lý thuyết về cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp, dựa vào các
kết quả nghiên cứu của các học giả nổi tiếng trong và ngoài nước tác giả kế thừa và đưa


ra mơ hình giả thuyết nghiên cứu trong đó kế thừa các ưu điểm nổi bật của các nghiên


cứu trước đó để áp dụng nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc nguồn vốn và khả năng
sinh lời của các công ty bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.


Tác giả đã xây dựng giả thuyết nghiên cứu, mơ hình nghiên cứu, cách thu thập số
liệu cho mơ hình và quy trình phân tích xử lý số liệu chạy phần mềm để lựa chọn mơ


hình thích hợp.“Dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính của 51 doanh nghiệp bất động sản
trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2015. Và số liệu để phân tích cho bài
nghiên cứu được tác giả thu thập từ các báo cáo tài chính, các chỉ số đánh giá của các
doanh nghiệp bất động sản được niêm yết trên hai sàn chứng khoán HOSE và HNX trong
khoảng thời gian từ năm 2011-2015.”


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

sốt: Quy mơ cơng ty (SIZE),“tỷ lệ tăng trưởng tài sản (AG), tỷ lệ tăng trưởng doanh thu
(SG), tỷ lệ doanh thu trên tài sản (EFF).”


Mơ hình hồi quy trong nghiên cứu:


<i><b>Y</b><b>it</b></i><b> = β0 + β1STD/Eit + β2 LTD/Eit + β3 SIZEit + β4 AGit + β5 SGit + β6EFFit + €it </b>


<i><b>Y</b><b>it</b></i><b> = β0 + β1TD/Eit + β2SIZEit + β3 AGit + β4 SGit + β5EFFit + €it </b>


Sau khi chạy mô hình, các kết quả nghiên cứu gồm: Kết quả thống kê mô tả, kết


quả mô tả hệ số tương quan, kết quả hồi quy cho các biến phụ thuộc ROE, ROA, EPS và


các kiểm định lựa chọn mô hình, kiểm định biến khơng cần thiết trong mơ hình; Từ đó


tác giả đưa ra kết luận về các giả thuyết nghiên cứu.


Kết quả nghiên cứu cho thấy:“Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu (TD/E) tương quan
âm với tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA).
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu (TD/E) khơng có tương quan với lợi nhuận trên mỗi cổ
phiếu (EPS). Như vậy tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng theo hướng tiêu cực
đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng
khoán củacViệt Nam.



Tỷ số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu (LTD/E) tương quan dương với tỷ suất sinh
lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên
mỗi cổ phiếu (EPS). Như vậy tỷ số dài hạn trên vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng tích cực
đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam.


Tỷ số nợ ngắn hạn trên vốn chủ sở hữu (STD/E) tương quan âm với tỷ suất sinh lời trên
vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA). Tỷ số nợ ngắn hạn trên vốn chủ
sở hữu (STD/E) khơng có sự tương quan với lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS). Như vậy tỷ số
nợ ngắn hạn trên vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời của các doanh
nghiệp bất động sản niêm yết trên sàn chứng khốn Việt Nam.


Quy mơ cơng ty (SIZE), tỷ lệ tăng trưởng tài sản (AG), tỷ lệ doanh thu trên tổng


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

Biến kiểm sốt tỷ lệ tăng trưởng doanh thu (SG) khơng có tương quan với khả năng sinh
lời của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.”


Kết quả nghiên cứu hoàn toàn phù hợp, tương đồng với một số kết quả nghiên cứu
có liên quan trên thế giới và một số kết quả nghiên cứu trong nước. Như vậy để các
doanh nghiệp bất động sản tăng khả năng sinh lời cho doanh nghiệp mình thì doanh
nghiệp cần giảm các nguồn vay ngắn hạn, tăng cường sử dụng thêm các nguồn vay dài
hạn.“Tuy nhiên điều đó khơng phải là không sử dụng nguồn vốn vay ngắn hạn, hay sử
dụng thật nhiều nguồn vốn vay dài hạn, mà dựa theo tình hình kinh doanh, đặc thù các
cơng trình... mà lựa chọn sử dụng nguồn vay ngắn hay dài hạn và sử dụng vốn vay một
cách hiệu quả nhất để lượng vốn vay là nhỏ nhất, tránh việc sử dụng quá nhiều vốn vay
vào hoạt động sản xuất kinh doanh làm gia tăng nhiều chi phí giảm khả năng sinh lời cho
doanh nghiệp.”


Tác giả dựa trên kết quả nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp khuyến nghị đối
với doanh nghiệp bất động sản và“Nhà nước nhằm giúp doanh nghiệp sử dụng và huy


động nguồn vốn vay phục vụ kinh doanh đạt hiệu quả, khả năng sinh lời cao: Doanh
nghiệp cần giảm các nguồn vay ngắn hạn, tăng cường sử dụng thêm các nguồn vay dài
hạn, Bộ Xây dựng và các ngành có liên quan cần rút ngắn các thủ tục hành chính cho việc
cấp phép đầu tư, cấp phép xây dựng một dự án, cơng khai, minh bạch hóa trong q trình
đấu thầu để giúp doanh nghiệp bất động sản giảm bớt được các chi phí trung gian, giúp
doanh nghiệp kinh doanh bất động sản nhanh chóng đưa sản phẩm vào sử dụng, thu hồi
vốn nhanh, sử dụng hiệu quả nguồn vốn tự có, và giảm nguồn vốn phải đi vay ngoài..”


Nghiên cứu này sẽ là cơ sở khoa học để giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp
bất động sản hiểu được tác động của cấu trúc nguồn vốn đến khả năng sinh lời của công
ty, từ đó đưa ra chiến lược hợp lý, phù hợp với đặc thù lĩnh vực kinh doanh của doanh
nghiệp mình.


</div>

<!--links-->
nghiên cứu cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ngành khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
  • 26
  • 789
  • 2
  • ×