Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (478.27 KB, 14 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>2.1.1. Khái niệm về kiểm toán hoạt động ... Error! Bookmark not defined.</b>
<b>2.1.2. Các yếu tố của 3Es ... Error! Bookmark not defined.</b>
<b>2.1.3. Quy trình Kiểm tốn hoạt động ... Error! Bookmark not defined.</b>
<b>2.3.1. Kinh nghiệm của Cơ quan Tổng kiểm toán CanadaError! Bookmark not defined.</b>
<b>3.3.2. Kinh nghiệm của Cơ quan Kiểm toán quốc gia AustraliaError! Bookmark not defined.</b>
<b>3.1.1. Khái quát sự ra đời, hình thành và phát triển của Kiểm toán Nhà nướcError! Bookmark not defined.</b>
<b>3.1.2. Vai trị của Kiểm tốn Nhà nước ... Error! Bookmark not defined.</b>
3.2.1. <b>Giai đoạn chuẩn bị và lập kế hoạch kiểm toánError! Bookmark not defined.</b>
<b>4.1.1. Các kết quả đạt được ... Error! Bookmark not defined.</b>
<b>4.1.2. Hạn chế và nguyên n.hân hạn chế ... Error! Bookmark not defined.</b>
4.3.1. Xây dựng và ban hành hướng dẫn việc vận dụng quy trình kiểm tốn hoạt
<b>động vào kiểm tốn các chương trình Nhà ở xã hộiError! Bookmark not defined.</b>
<b>4.3.2. Hồn thiện cơng tác kiểm sốt chất lượng kiểm toánError! Bookmark not defined.</b>
<b>4.3.3. Nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viênError! Bookmark not defined.</b>
4.3.4. Hoàn thiện cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa các đơn vị trong nội
<b>bộ Kiểm toán nhà nước ... Error! Bookmark not defined.</b>
<b>Chữ viết tắt </b> <b>Viết đầy đủ </b>
ANAO Cơ quan kiểm toán quốc gia Australia (Australian National Audit
Office)
AoGBPGs Thông lệ thực hành tốt nhất cho các chương trình tài trợ Chính phủ
(Administration of grants - Better Practice Guides)
BPGs Thông lệ thực hành tốt nhất (Better practice guides)
BCKT Bằng chứng kiểm tốn
CICA Hiệp hội kế tốn viên cơng chứng Canada (Chartered Accountans
of Canada)
CĐT Chủ đầu tư
ĐTXD Đầu tư xây dựng
INTOSAI Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (International
Organization of Supreme Audit Institutions)
KTNN Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
KTHĐ Kiểm toán hoạt động
KTV Kiểm toán viên
NOXH Nhà ở xã hội
OAG Office of the Auditor General – Cơ quan Tổng kiểm toán
UBND TP. Ủy ban nhân dân thành phố
Vấn đề nhà ở xã hội (NOXH) bắt đầu được đề cập tại Luật Nhà ở Số 56/2005/QH11
ngày 29/11/2005 của Quốc hội đã có các cơ chế xác định để phát triển loại hình NOXH.
Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn, thị trường bất động sản trầm lắng hiện
nay, việc xây dựng các chương trình NOXH được coi là giải pháp mang lại lợi ích chung
cho tất cả các bên (người dân, nhà đầu tư, Nhà nước), là chính sách đúng và đang đi vào
cuộc sống, góp phần giải quyết nhu cầu nhà ở cho những đối tượng chính sách xã hội,
người có thu nhập thấp và người nghèo gặp khó khăn về nhà ở.
Theo các nguồn tin trên các phương tiện thơng tin đại chúng cho thấy q trình triển
khai thực hiện còn nhiều tồn tại có thể ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu của
Chương trình. Với tư cách là cơ quan hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực
hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản cơng, Kiểm tốn Nhà nước Việt
Nam (KTNN) đã tiến hành cuộc kiểm tốn hoạt động (KTHĐ) đối với Chương trình Nhà
ở xã hội của Thành phố Hà Nội, thông qua việc đánh giá tính hiệu quả, hiệu lực của
Chương trình, đưa ra kiến nghị nhằm hướng tới việc đạt được mục tiêu của chính sách.
Hơn nữa, hiện nay, Chương trình NOXH đang dần được mở rộng không chỉ tại khu
vực Hà Nội (thí điểm) mà cịn ở 24 tỉnh thành lớn khác như Thành phố Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng, n Bái... với mơ hình mỗi tỉnh thành trung bình từ 25-30 dự án NOXH, tổng dự
án NOXH trên tồn quốc là 752 dự án. Vì vậy, việc hồn thiện vận dụng quy trình KTHĐ
vào kiểm tốn Chương trình NOXH do KTNN Việt Nam thực hiện trên địa bàn Thành
phố Hà Nội sẽ nhằm mục đích xác định ra các hạn chế trong việc vận dụng một quy trình
Kiểm tốn hoạt động nói chung vào một cuộc Kiểm tốn hoạt động cụ thể trong lĩnh vực
Nhà ở xã hội, từ đó hỗ trợ cho các Kiểm tốn Nhà nước khu vực khi thực hiện các cuộc
KTHĐ Chương trình NOXH trên địa bàn tồn quốc, từ đó, góp phần thúc đẩy hoạt động
quản lý của các cơ quan nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và tính minh bạch;
gia tăng lợi ích xã hội và niềm tin của người dân vào chủ trương, chính sách an sinh xã
hội và công chúng vào hoạt động của KTNN. Xuất phát từ các lý do đó, tác giả đã chọn
Đề tài “Hồn thi ện vận dụng quy trình Kiểm tốn hoạt động vào kiểm tốn Chương trình
Nhà ở xã hội do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện trên địa bàn thành phố Hà
Nội”. Trên cơ sở kết hợp với việc tìm hiểu và đánh giá như<sub>̃ng n ội dung cần thực hiện và </sub>
những khó khăn gặp phải trong khi thực hiện KTHĐ, tác giả đề xuất những gi ải pháp
nhằm thay đổi quan điểm , cách thức tiếp cận và xác định rủi ro trong việc thực hiện kiểm
tốn Chương trình NOXH, giúp KTNN hồn thiện việc vận dụng quy trình KTHĐ vào
kiểm tốn Chương trình này.
Việc nghiên cứu Đề tài nhằm các mục tiêu sau:
Mục tiêu chung: Hoàn thiện vận dụng quy trình kiểm tốn hoạt động vào kiểm toán
Chương trình Nhà ở xã hội tại Thành phố Hà Nội do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện
với mục tiêu đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của chương trình.
Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu quy trình KTHĐ cùng những đặc điểm của Chương trình NOXH ảnh
hưởng đến cơng tác kiểm tốn hoạt động chương trình NOXH trên địa bàn thành phố Hà
Nội do KTNN thực hiện;
- Đánh giá thực trạng việc vận dụng quy trình KTHĐ vào kiểm tốn Chương trình
NOXH đang được Kiểm toán nhà nước thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội, những
kết quả đạt được và hạn chế; Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số các giải pháp nhằm
xây dựng hướng dẫn cụ thể việc vận dụng quy trình kiểm tốn hoạt động vào kiểm tốn
Chương trình NOXH do KTNN thực hiện.
NOXH là một loại hình nhà ở thuộc sở hữu của cơ quan nhà nước (có thể trung
ương hoặc địa phương) hoặc các loại hình nhà được sở hữu và quản lý bởi nhà nước, các
tổ chức phi lợi nhuận được xây dựng với mục đích cung cấp nhà ở giá rẻ cho một số đối
tượng được ưu tiên trong xã hội như công chức của nhà nước chưa có nhà ở ổn định,
người có thu nhập thấp... và được cho thuê hoặc cho ở với giá rẻ so với giá thị trường.
Quy hoạch kiến trúc, Sở Tài chính, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, UBND các
quận/huyện/phường/xã, Công an Thành phố và cơ quan công an các
quận/huyện/phường/xã, trong đó Sở Xây dựng đóng vai trò là cơ quan thường trực,
giúp UBND Thành phố thực hiện quản lý nhà nước về nhà ở trên địa bàn, bao gồm
NOXH.
Các quy trình quản lý, thực hiện chính của Chương trình:
- Lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch và bố trí quỹ đất để phát triển NOXH
- Lập danh mục dự án, lựa chọn nhà đầu tư, chấp thuận đầu tư các dự án NOXH
- Lựa chọn đối tượng được mua NOXH
- Cung cấp các hỗ trợ, ưu đãi cho người thuê, thuê mua, mua NOXH
- Thẩm định, xác định giá bán
Quy trình KTHĐ Chương trình NOXH gồm 4 bước: Chuẩn bị kiểm toán; Thực hiện
kiểm tốn; Lập báo cáo kiểm tốn, cơng bố, lưu trữ hồ sơ kiểm toán; Tổ chức theo dõi, tiến
hành kiểm tra đơn vị được kiểm toán thực hiện các kết luận kiểm toán.
KTHĐ Chương trình NOXH tại thành phố Hà Nội được thực hiện theo phương thức
thực hiện cuộc KTHĐ độc lập, là một trong hai cuộc kiểm tốn thí điểm đầu tiên tại Việt
Nam được thực hiện độc lập.
<i>(i) KTNN khi thực hiện cuộc KTHĐ chương trình NOXH về cơ bản đã thực hiện đầy </i>
<i>đủ và phù hợp với các giai đoạn trong quy trình KTHĐ nói chung </i>
KTNN khi thực hiện cuộc KTHĐ chương trình NOXH về cơ bản đã thực hiện đầy
đủ và phù hợp với các giai đoạn trong quy trình KTHĐ nói chung, bao gồm: Lập kế
hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán, lập báo cáo kiểm toán và theo dõi, thực hiện kết
luận, kiến nghị kiểm toán nhà nước. Tại mỗi giai đoạn, các KTV đã thực hiện tương đối
đầy đủ các bước, mang lại hiệu quả cao trong việc gia tăng chất lượng kiểm toán, đánh
thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Trong giai đoạn này, KTNN đã xác định tương đối đúng và đủ các nội dung cần làm
trong quy trình kiểm tốn hoạt động, theo đúng thứ tự hướng dẫn trong quy trình và đạt
được các u cầu cần có theo từng bước của quy trình.
Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, KTV đã thu thập các bằng chứng kiểm tốn
tương đối đầy đủ và thích hợp, nhằm phân tích, đánh giá và đưa ra các phát hiện kiểm
tốn, từ đó đưa ra kết luận về mục tiêu kiểm toán. Đối với cuộc kiểm toán hoạt động này,
chất lượng của bằng chứng kiểm toán được đề cao rất lớn, đa dạng (thông qua điều tra,
phỏng vấn, thu thập tài liệu, phân tích, tổng hợp kết quả).
Đặc biệt, nội dung và công việc kiểm tốn đã được phân cơng một cách phù hợp với
chun mơn và năng lực của kiểm tốn, đảm bảo tiến độ cuộc kiểm tốn.
Ngồi ra, việc quản lý rủi ro kiểm toán và điều chỉnh kế hoạch để giảm thiểu rủi ro
dự kiến trong suốt cuộc kiểm toán được đề cao rất nhiều.
Giai đoạn lập báo cáo kiểm toán
Với mục tiêu và nội dung về KTHĐ được nêu tại giai đoạn Lập kế hoạch kiểm tốn
như đã nêu trên; trong q trình thực hiện KTHĐ Chương trình NOXH, KTNN đã đưa ra
các nhận xét và kiến nghị về tính hi.ệu lực và hiệu quả của Chư.ơng trình NOXH. Báo
cáo kiểm toán trong cuộc kiểm toán này đưa ra các kết luận kiểm tốn theo các nhóm tiêu
chí đã đề ra, giúp người đọc hình dung một cách khá rõ ràng về việc mục tiêu kiểm tốn
có đạt được hay không.
Giai đoạn theo dõi, kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán
KTNN thực hiện theo dõi, kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán tương đối phù
hợp với hướng dẫn theo quy trình kiểm tốn hoạt động nói chung, sau một năm kể từ khi
<i>(ii) KTNN đã tận dụng được sự hướng dẫn của các tổ chức quốc tế liên quan đến </i>
<i>việc hướng dẫn việc vận dụng quy trình kiểm tốn hoạt động vào kiểm tốn chương trình </i>
<i>NOXH trên địa bàn thành phố Hà Nội </i>
<i> (iii) Cuộc kiểm toán hoạt động đã được thực hiện các chính sách và thủ tục về kiểm </i>
<i>soát chất lượng </i>
Cuộc kiểm toán hoạt động đã được thực hiện các chính sách và thủ tục về kiểm
soát chất lượng để đảm bảo hợp lý rằng cuộc kiểm toán đã tuân thủ các chuẩn mực kiểm
toán của Kiểm toán nhà nước và các quy định có liên quan; báo cáo kiểm tốn hoạt động
được phát hành phù hợp với hoàn cảnh cụ thể và tạo thêm giá trị.
<i>(i) Hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán </i>
- KTHĐ là một lĩnh vực rất phức tạp đòi hỏi phải đầu tư rất nhiều thời gian và công
sức cho giai đoạn lập kế hoạch. Thực tế KTHĐ của nhiều cơ quan kiểm toán lập pháp
trên thế giới cho thấy tỷ lệ phân chia thời gian cho một cuộc kiểm toán thường là 3:1:1,
có nghĩa là thời gian dành cho giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán thường nhiều gấp 3 lần
so với giai đoạn thực hiện và lập báo cáo kiểm toán. Tuy nhiên, thực trạng KTHĐ
Chương trình NOXH do KTNN thực hiện lại theo xu hướng ngược lại. Trong một cuộc
kiểm toán, nếu như thời gian dành cho việc triển khai kiểm toán tại các đơn vị kiểm toán
thường là 60-70 ngày, thì thời gian dành cho lập kế hoạch kiểm tốn, bao gồm cả khảo
sát thu thập thơng tin, lập và trình duyệt, ký kế hoạch kiểm tốn thường chỉ diễn ra trong
vòng 1-2 tháng. Thực tế đó cho thấy trong mối quan hệ so sánh với mục tiêu đặt ra của
cuộc kiểm tốn, cơng tác chuẩn bị kiểm toán chưa được thực sự quan tâm đúng mức.
- Đồn kiểm tốn chưa chú trọng đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ tại các đơn vị
được kiểm toán, xác định trọng yếu kiểm toán cịn chung chung khơng gắn với tình hình
cụ thể của đối tượng kiểm toán. Thời gian dành cho khảo sát cịn ít, hầu như chỉ thu thâp
một số thông tin cơ bản về chương trình, phạm vi triển khai Chương trình và công tác
quản lý điều hành của cơ quan quản lý Chương trình ở cấp trung ương; nguồn thơng tin
chưa được đa dạng hóa và chủ yếu là thông tin một chiều do đơn vị cung cấp; chưa thực
hạn chế của hệ thống kiểm soát n.ội bộ của đơn vị được kiểm toán, đặc biệt là ở cấp địa
phương, dẫn tới xác định rủi ro kiểm sốt khơng phù hợp, nội dung, mục tiêu kế hoạch
kiểm tốn cịn chung chung, chưa gắn với số liệu, tình hình cụ thể. Các phương tiện
thông tin đại chúng, dư luận xã hội là một kênh thông tin mang tính định hướng rất quan
trọng tuy nhiên chưa được khai thác đúng mức để phục vụ cho việc lập kế hoạch kiểm
toán.
- Mục tiêu của cuộc kiểm toán mới chỉ xem xét và đề cập đến tính hiệu lực và hiệu
quả của chương trình, tức là mức độ đạt được mục tiêu của chương trình chứ chưa đề cập
đến tính kinh tế của chương trình, từ đó đánh giá một cách toàn diện kết quả của Chương
trình NOXH. Bên cạnh đó, việc đánh giá tính hiệu quả chưa được thể hiện rõ trong việc
xác định mục tiêu và tiêu chí cuộc kiểm tốn.
- Một hạn chế nữa có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của một cuộc KTHĐ Chương
trình NOXH đó là chương trình kiểm tốn chỉ ra các thủ tục kiểm tốn cần thiết để thực
hiện đánh giá các tiêu chí kiểm tốn khơng được thiết kế theo như u cầu của lý luận về
KTHĐ.
<i>(ii) Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong giai đoạn thực hiện kiểm toán </i>
Sử dụng các kỹ thuật kiểm toán để thu thập bằng chứng kiểm toán, phát triển các
phát hiện kiểm toán nhằm đưa ra kết luận kiểm tốn là nội dung chính của giai đoạn thực
hiện kiểm toán. Tuy nhiên do cơng tác xây dựng chương trình kiểm tốn chủ yếu là mang
tính sao chép lại kế hoạch thu thập bằng chứng kiểm toán chứ chưa hướng dẫn chi tiết
các thủ tục. Đồng thời kế hoạch kiểm toán chi tiết lập bởi các tổ trưởng tổ kiểm toán chủ
yếu là phân công trách nhiệm và thời gian của các thành viên trong tổ cho việc thực hiện
các phần việc liên quan đến kiểm toán chi tiết các hồ sơ dự án cũng như là đánh giá giá
thành nên nội dung KTHĐ chủ yếu mang tính hình thức, phát hiện và ghi nhận thiếu sót,
thực trạng, chưa đi sâu vào phân tích tìm hiểu nguyên nhân mang tính hệ thống của
những tồn tại đó.
Một nguyên nhân quan trọng của hạn chế này đó là trình độ chun mơn cũng như
nhận thức về KTHĐ của KTV nhà nước còn hạn chế. Đa phần KTV được đào tạo trong
hoặc báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành nên mối quan tâm chủ yếu là các thơng
tin tài chính hơn là các thơng tin phi tài chính – mối quan tâm hàng đầu của KTHĐ.
Bên cạnh đó, nhận thức của các đơn vị kiểm tốn về KTHĐ cũng cịn ở giai đoạn
rất sơ khai nên sự phối hợp trong việc chuẩn bị, cung cấp hồ sơ tài liệu, nhân sự phục vụ
cho nội dung KTHĐ chưa thực sự có hiệu quả.
<i>(iii) Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong giai đoạn lập báo cáo kiểm tốn </i>
- Cơng tác lập báo cáo KTHĐ đã thực hiện và phân bổ đánh giá theo từng tiêu chí,
tuy nhiên, việc xác định nguyên nhân của các phát hiện chưa được phân loại theo từng
nhóm để mang tính dễ đọc và dễ hiểu.
- Các kết luận kiểm toán chưa phản ánh rõ là chương trình có đạt được tính hiệu quả
và tính hiệu lực (tương ứng với mục tiêu kiểm toán được xác định từ khâu lập kế hoạch),
khơng có kết luận liên quan đến tính kinh tế, từ đó, chưa đưa ra được đánh giá chung về
chương trình NOXH.
- Cơng tác sốt xét, thẩm định báo cáo kiểm toán cũng là một vấn đề cần được
nghiên cứu xem xét cải thiện. Việc thẩm định báo cáo kiểm toán của từng cuộc kiểm tốn
KTHĐ ở cấp vụ có chất lượng chưa cao do ảnh hưởng của tâm lý ngại va chạm và một
phần do năng lực, trình độ của KTV được giao nhiệm vụ thẩm định còn hạn chế.
- Từ khi Luật KTNN có hiệu lực (2006), KTNN đã thực hiện công khai kết quả
kiểm toán, tuy nhiên mới chỉ dừng ở mức cơng khai kết quả kiểm tốn tổng thể hàng năm
và một vài cuộc kiểm toán được dư luận xã hội quan tâm thông qua các kênh là họp báo
và đăng tải trên website của KTNN.
chí và nguồn tiêu chí, đưa ra các Thơng lệ thực hành tốt nhất liên quan đến các mục tiêu
này để từ đó làm cơ sở hướng dẫn cho các kiểm toán viên thực hiện, tránh tình trạng
nhầm lẫn giữa một cuộc kiểm tốn hoạt động với cuộc kiểm tốn mang tính tn thủ (khi
chỉ có duy nhất tính hiệu lực).
Bên cạnh đó, trong việc triển khai cuộc kiểm tốn cũng cần có những hướng dẫn cụ
thể cho những thay đổi nhất định so với thông lệ. Thời gian của một cuộc kiểm toán hoạt
động nên được linh hoạt, quyết định bởi mục tiêu và phạm vi của cuộc kiểm tốn.
Các Đồn kiểm tốn cần chú trọng việc tự kiểm soát trong nội bộ Đồn kiểm tốn
đối với giai đoạn thực hiện kiểm toán. Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành và khu
vực đẩy mạnh việc kiểm soát chất lượng kiểm toán, nhất là việc thực hiện mục tiêu kiểm
toán và thu thập bằng chứng kiểm toán. Nhờ vậy, ngay trong quá trình vận dụng quy trình
KTHĐ vào kiểm tốn Chương trình NOXH, nếu đội ngũ kiểm soát chất lượng phát hiện
được các hạn chế, bất cập sẽ đưa ra các biện pháp khắc phục tức thì.
KTNN cần nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp của KTV nhà nước nói
chung và trong lĩnh vực KTHĐ các Chương trình NOXH nói riêng theo hướng:
<i>Một là, tăng cường đủ về mặt số lượng, cơ cấu và nâng cao trình độ chuyên môn </i>
nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho KTV, chú trọng nâng cao nghiệp vụ KTHĐ;
<i>Hai là, tiêu chuẩn hóa đội ngũ KTV về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, về phẩm </i>
chất đạo đức, năng lực tổ chức và trình độ chun mơn hóa theo hướng thống nhất, đa
dạng.
<i>Ba là, xây dựng chiến lược đào tạo đội ngũ cơng chức kiểm tốn về mọi mặt và có </i>
mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cụ thể, thích hợp với từng giai đoạn, trước hết là về chuyên
môn nghiệp vụ, trong đó chú trọng bồi dưỡng chuyên sâu theo loại hình kiểm tốn, đối
tượng kiểm tốn, về kinh nghiệm kiểm tốn trong mơi trường cơng nghệ thơng tin.
Tăng cường công tác phối hợp, trao đổi thơng tin về hoạt động kiểm tốn trong nội
bộ ngành KTNN là một trong những công cụ hữu hiệu góp phần n.âng cao hiệu quả của
hoạt động kiểm tốn nói chung và KTHĐ các Chương trình NOXH nói riêng. Sự phối
hợp, trao đổi thông tin diễn ra ở hai cấp độ: trong nội bộ đơn vị và giữa các đơn vị trong
toàn ngành.
Nhận thức của khách thể kiểm toán là một yếu tố ảnh hưởng đến sự thành cơng của
bất kỳ cuộc kiểm tốn nào, dù là kiểm toán BCTC, Kiểm toán tuân thủ hay KTHĐ. Nhận
thức về hoạt động kiểm toán sẽ chi phối đến tinh thần và thái độ phối hợp công tác của
khách thể kiểm tốn với đồn, tổ kiểm tốn. Cuộc kiểm tốn sẽ khó có thể đạt được hiệu