Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (482.14 KB, 11 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>CHƯƠNG 1 </b>
<b>GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU </b>
<b> Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam với 29 doanh nghiệp với mức </b>
doanh thu phí năm 2013 là hơn 54.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng hơn 7% và dự
báo sẽ tăng trưởng cao hơn trong những năm tiếp theo. Thời gian qua thị trường
bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam đã phát triển nhanh với nhiều sản phẩm đa dạng
giúp khách hàng có cơ hội lựa chọn. Tuy nhiên việc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp ngày càng diễn ra mạnh mẽ; trục lợi bảo hiểm, gian lận thu phí bảo hiểm,
đầu tư tài chính không hiệu quả đang là vấn đề nan giải; một trong những ngun
nhân đó là cơng tác kiểm tốn nội bộ chưa được coi trọng.
Được thành lập từ năm 1998, trải qua hơn 17 năm hoạt động, Tổng công ty
Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) đã có những bước phát triển không ngừng và
PTI đang đứng thứ 5 trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ về thị phần bảo hiểm
gốc và là một cơng ty có tốc độ tăng trưởng bình qn ổn định trong nhiều năm.
Ban lãnh đạo Tổng công ty nhận thức rất rõ tầm quan trọng của hoạt động kiểm tra,
kiểm toán nội bộ trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp nên
kể từ năm 2012, Tổng công ty đã ký hợp đồng tư vấn “Nâng cao năng lực kiểm
tốn nội bộ” với Cơng ty TNHH Pricewaterhouse Coopers Việt Nam (PWC) – một
trong 4 công ty kiểm tốn lớn nhất thế giới. Theo đó, bộ phận kiểm toán nội bộ ra
đời và hoạt động theo quy trình được xây dựng trên những thơng lệ quốc tế tốt nhất
Trải qua hơn 2 năm hoạt động, bộ phận kiểm toán nội bộ đã phát hiện và chỉ
ra được nhiều điểm yếu trong hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp; ngăn
chặn kịp thời các sai sót, tiêu cực và giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra; đồng thời
khuyến nghị những biện pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát được Ban lãnh đạo
Tổng công ty ghi nhận và đánh giá cao. Tuy nhiên, quá trình áp dụng quy trình
kiểm tốn vào thực tế vẫn cịn một số tồn tại, khó khăn cần phải điều chỉnh và hồn
thiện để bộ phận kiểm tốn nội bộ sẽ tiếp tục phát triển đúng hướng và đóng vai trò
quan trọng trong sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Do đó, với mong muốn
<i><b>giải quyết được vấn đề trên, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Hoàn thiện quy </b></i>
<i><b>trình kiểm tốn nội bộ tại Tổng cơng ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện” cho luận </b></i>
văn tốt nghiệp Thạc sỹ của mình.
Ngoài phần danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng, biểu, sơ đồ, hình
vẽ, và phụ lục, Luận văn được kết cấu thành 4 chương:
<i><b>Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu </b></i>
<i><b>Chương 2: Lý luận chung về kiểm toán nội bộ tại doanh nghiệp bảo hiểm </b></i>
<i><b>Chương 3: Thực trạng quy trình kiểm tốn nội bộ tại Tổng cơng ty Cổ phần Bảo </b></i>
hiểm Bưu điện
<i><b>Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và các giải pháp hồn thiện quy trình </b></i>
kiểm tốn nội bộ tại Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện
<b>CHƯƠNG 2 </b>
<b>LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG </b>
Bản chất của bảo hiểm là hoạt động trên quy luật số đông (the law of large
numbers), nghĩa là sự phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả
những người tham gia bảo hiểm cùng gánh chịu. Do đó, kinh doanh bảo hiểm là
hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro, trong đó gian lận và trục lợi bảo hiểm là hai
vấn đề quan trọng nhức nhối nhất. Trên thực tế, trục lợi bảo hiểm đã và đang diễn
ra ở hầu hết các nghiệp vụ bảo hiểm, khơng những có tác động xấu đến xã hội, làm
giảm lợi nhuận và uy tín của doanh nghiệp bảo hiểm mà còn ảnh hưởng tới sự phát
triển bền vững của ngành bảo hiểm.
Nhằm phòng tránh trục lợi bảo hiểm một cách có hiệu quả, các chuyên gia
trong lĩnh vực bảo hiểm cho rằng cần tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ. Về phía
doanh nghiệp bảo hiểm, cần nâng cao năng lực chuyên môn, quản lý, đầu tư phát
triển hệ thống công nghệ thông tin, theo dõi, quản lý và giám sát công tác cán bộ,
hoạt động của đại lý và môi giới bảo hiểm, kiểm tra, giám sát và nâng cao khả
năng đánh giá rủi ro trước và sau khi nhận bảo hiểm. Như vậy, doanh nghiệp bảo
hiểm cần xây dựng cho mình một hệ thống kiểm sốt nội bộ hoạt động có hiệu quả
để hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro gian lận và trục lợi bảo hiểm.
Trong doanh nghiệp bảo hiểm, nội dung kiểm tra, đánh giá của KTNB bao
gồm: kiểm tốn cơng tác tài chính kế tốn; kiểm tốn công tác giám định, bồi
thường; kiểm tốn cơng tác khai thác bảo hiểm; kiểm tốn cơng tác đại lý; kiểm
tốn cơng tác tái bảo hiểm; kiểm toán hoạt động đầu tư; kiểm toán cơng tác hành
chính nhân sự.
Phương pháp tiếp cận của kiểm toán nội bộ là yếu tố ảnh hưởng tổng quát đến
cách thức tiến hành các hoạt động kiểm toán. Phương pháp tiếp cận kiểm toán phù
hợp là điều kiện tiên quyết để đảm bảo hiệu quả hoạt động của bộ phận kiểm toán
toán nội bộ bao gồm: phương pháp tiếp cận truyền thống, phương pháp tiếp cận hệ
thống và phương pháp tiếp cận dựa trên định hướng rủi ro. Trong đó, phương pháp
tiếp cận theo định hướng rủi ro là phương pháp tiếp cận kiểm toán hiện đại, ưu việt,
giúp KTV nội bộ nhận biết được các rủi ro và xác định các lĩnh vực cần ưu tiên,
nâng cao hiệu quả của hoạt động KTNB. Phương pháp tiếp cận này đặc biệt phù hợp
với các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm, rủi ro như lĩnh
vực kinh doanh bảo hiểm.
Quy trình kiểm tốn nội bộ theo định hướng rủi ro bao gồm 4 giai đoạn:
<i> Giai đoạn 1: Lập kế hoạch kiểm toán </i>
Thứ nhất, Lập kế hoạch kiểm toán năm: Lập kế hoạch kiểm tốn hàng năm là
cơng việc đầu tiên bắt buộc, thường được thực hiện trước khi kết thúc năm tài
chính. Việc lập kế hoạch kiểm toán năm là rất quan trọng, bởi KTNB tại các doanh
nghiệp nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng luôn phải đối mặt với các
giới hạn về thời gian, chi phí, nhân lực cho hoạt động kiểm toán, trong khi các đối
tượng được kiểm tốn rất đa dạng, phức tạp, mơi trường hoạt động thường xuyên
biến động. Lập kế hoạch kiểm toán hàng năm giúp KTNB bao quát được tất cả các
đối tượng kiểm toán, tập trung nguồn lực cho các hoạt động rủi ro hơn, giúp cho
các cuộc kiểm toán nội bộ được thực hiện một cách hiệu quả, tiết kiệm thời gian
chi phí và đạt được mục tiêu đề ra. Kế hoạch kiểm toán năm xác định đối tượng
kiểm toán cũng như tần suất thực hiện kiểm toán tại các đối tượng cụ thể. Kế hoạch
kiểm toán được lập trên cơ sở đánh giá thơng tin tổng qt về tình hình hoạt động
và môi trường kinh doanh của tất cả các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp.
Thứ hai, Lập kế hoạch kiểm toán chi tiết là kế hoạch kiểm toán được lập cho
từng cuộc kiểm toán tại từng bộ phận, nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhằm chỉ đạo
hoạch cuộc kiểm toán là kế hoạch kiểm toán năm được phê duyệt và đặc điểm của
<i>từng bộ phận, đơn vị được kiểm toán. </i>
<i> Giai đoạn 2: Thực hiện kiểm toán: Mục đích của việc thực hiện kiểm tốn là </i>
tiến hành các bước kiểm toán đã được xây dựng trong quá trình lập kế hoạch chi
tiết để: Đánh giá hiệu quả hoạt động của các quy trình kiểm sốt và phát hiện các
Ngoài hoạt động trung tâm của giai đoạn thực hiện kiểm toán là thu thập
bằng chứng kiểm toán để đưa ra các phát hiện kiểm tốn thì hai nhiệm vụ hết sức
quan trọng trong giai đoạn này là hoạt động kiểm tra, soát xét kiểm toán và hoạt
động tổng hợp, phân tích các bằng chứng kiểm tốn và các phát hiện kiểm tốn.
Trong q trình thực hiện kiểm tốn, kế hoạch kiểm tốn có thể phải điều chỉnh, ví
dụ như khi rủi ro thực tế là cao hơn đánh giá ban đầu của KTV. Trong những
trường hợp cần thiết, khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát ở mức cao, KTV cần
tiến hành thêm các thử nghiệm mở rộng. Việc tăng cường các thử nghiệm mở rộng
có thể làm thay đổi mục tiêu và phạm vi của cuộc kiểm toán và trong trường hợp
này, KTVNB phải lập chương trình bổ sung bao gồm cả số lượng KTV nội bộ, thời
gian kiểm toán nếu cần thiết.
<i> Giai đoạn 3: Kết thúc kiểm toán: Giai đoạn kết thúc KTNB và lập báo cáo </i>
kiểm tốn nội bộ được thực hiện với hai cơng việc chính sau:
lại kết luận kiểm toán. Trên cơ sở tổng hợp kết quả kiểm toán, KTV nội lập dự
thảo báo cáo để làm việc trong nhóm, trao đổi và thống nhất nội dung trong nhóm
KTNB.
<i> Hai là, Lập báo cáo kiểm toán: Kết thúc quá trình kiểm tốn, KTV nội bộ tiến </i>
hành lập báo cáo kiểm toán. Báo cáo KTNB gồm các nội dung chính: kết quả kiểm
tốn và các kết luận, kiến nghị kiểm toán. Trước khi phát hành báo cáo, KTV nội
bộ có thể tổ chức họp với đơn vị được kiểm tốn nhằm trình bày những phát hiện
kiểm toán và tập hợp các ý kiến phản hồi từ phía đơn vị được kiểm tốn.
<i> Giai đoạn 4: Theo dõi thực hiện khuyến nghị: Mục tiêu của việc theo dõi thực </i>
hiện khuyến nghị sau kiểm toán là đảm bảo đối tượng được kiểm toán thực hiện
các hành động khắc phục hoặc cải thiện theo những khuyến nghị tại báo cáo
KTNB. Bộ phận KTNB cần theo dõi tình hình thực hiện đối với tất cả các khuyến
nghị trừ trường hợp “lãnh đạo cấp cao chấp nhận rủi ro và không tiến hành các
biện pháp khắc phục”.
<b>CHƯƠNG 3 </b>
<b>THỰC TRẠNG QUY TRÌNH KIỂM TỐN NỘI BỘ TẠI </b>
<b>TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN </b>
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện – PTI (trước đây là Công ty Cổ
phần Bảo hiểm Bưu điện) được Bộ Tài chính cấp giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và
điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm số 10TC/GCN ngày 18/6/1998 và Uỷ
ban Nhân dân Thành phố Hà Nội cấp Giấy phép thành lập số 3633/GP-UP ngày
01/08/1998. Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện chính thức đi vào hoạt động từ
ngày 01/09/1998.
chỗ đứng vững chắc trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam và có uy tín
cao đối với khách hàng nhờ có định hướng kinh doanh đúng đắn và hơn 100 sản
phẩm bảo hiểm chất lượng cao, mức phí cạnh tranh được triển khai rộng khắp trên
phạm vi cả nước. Hiện nay PTI có 35 đơn vị thành viên trải dài trên các tỉnh thành
trong cả nước. Với nỗ lực và quyết tâm của toàn hệ thống, PTI cam kết tiếp tục
hoàn thiện và nỗ lực không ngừng vươn lên những tầm cao mới. PTI đang là 1
trong 5 doanh nghiệp dẫn đầu thị trường trong mảng bảo hiểm phi nhân thọ.
KTNB tại PTI là một bộ phận trực thuộc Ban Tổng giám đốc và chịu trách
nhiệm báo cáo trực tiếp cho Tổng Giám đốc về kết quả và hiệu quả hoạt động
KTNB. KTNB cũng có trách nhiệm báo cáo cho Hội đồng quản trị và Ban Kiểm
soát khi được yêu cầu. Trải qua hơn hai năm hoạt động (từ tháng 6/2013), bộ phận
KTNB tại PTI đã thực hiện hơn 20 cuộc kiểm toán tại các đơn vị thành viên, phát
hiện và chỉ ra rất nhiều sai phạm trong quá trình hoạt động kinh doanh đồng thời
đưa ra được các giải pháp hoàn thiện quy trình, quy định nội bộ phù hợp với thực
tế, nâng cao hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ. Các kết quả đạt được của
KTNB đã được Ban lãnh đạo PTI ghi nhận và đánh giá rất cao.
Quy trình kiểm toán nội bộ theo cách tiếp cận rủi ro tại PTI bao gồm 04 giai
đoạn: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán, báo cáo kiểm toán và theo dõi
thực hiện khuyến nghị.
<i> Giai đoạn 1: Lập kế hoạch kiểm toán </i>
<i> Thứ nhất, Lập kế hoạch kiểm toán năm: Hàng năm, sau khi kết thúc kiểm toán </i>
năm hiện tại, Ban PC & KSNB PTI bắt đầu tiến hành lập kế hoạch kiểm toán cho
năm tiếp theo. Nội dung của việc lập kế hoạch kiểm toán năm bao gồm hai bước
là: Đánh giá rủi ro năm và lập kế hoạch chiến lược, kế hoạch kiểm toán năm.
được thực hiện trước khi tiến hành từng cuộc kiểm toán riêng lẻ dựa trên đối tượng
<i><b>được kiểm toán đã xác định trong kế hoạch kiểm toán năm. Bao gồm các bước sau: </b></i>
Thơng qua phương án kiểm tốn; thu thập thơng tin ban đầu; phân tích tổng quan
xác định mục tiêu và phạm vi kiểm toán; đánh giá rủi ro chi tiết và xác định rủi ro
ưu tiên; phê duyệt kết quả; lập kế hoạch kiểm toán thực địa và xây dựng chương
trình kiểm tốn
<i>Giai đoạn 2: Thực hiện kiểm toán: Bao gồm các bước: Họp khởi động với đối </i>
tượng kiểm toán; xác nhận và đánh giá lại các thiết kế kiểm soát; thực hiện kiểm
tra hiệu quả kiểm soát xác định các kết quả phát hiện được và theo dõi giám sát
cuộc kiểm toán.
<i>Giai đoạn 3: Kết thúc kiểm toán: Bao gồm các bước sau: Lập báo cáo kiểm </i>
toán nội bộ dự thảo; tổ chức họp tổng kết thống nhất các vấn đề phát hiện kiểm
tốn và cơng bố báo cáo kiểm toán.
<i>Giai đoạn 4: Theo dõi thực hiện khuyến nghị sau kiểm toán: Sau khi phát </i>
hành báo cáo kiểm toán nội bộ chính thức, KTV nội bộ PTI sẽ tiến hành lập kế
hoạch theo dõi thực hiện khuyến nghị. Khi kết thúc thời hạn cam kết thực hiện
khuyến nghị của đơn vị được kiểm toán đã được nêu trong báo cáo kiểm tốn chính
thức, KTV nội bộ PTI lập công văn gửi xuống đơn vị yêu cầu báo cáo chi tiết kết quả
và bằng chứng thực hiện các hành động sửa chữa, khắc phục.
<b>CHƯƠNG 4 </b>
<b>THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN </b>
<b>QUY TRÌNH KIỂM TỐN NỘI BỘ TẠI TỔNG CƠNG TY CỔ PHẦN BẢO </b>
Hoạt động kiểm toán nội bộ tại PTI đã đi đúng hướng, dần trở thành cánh tay
nối dài của Ban lãnh đạo Tổng công ty trong việc điều hành, quản lý trong những
năm gần đây, đóng vai trị to lớn vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bên
cạnh đó, quy trình kiểm tốn nội bộ tại PTI vẫn cịn tồn tại một số vấn đề sau:
<i>Một là, KTNB chưa xây dựng được ngân hàng rủi ro phục vụ cho việc đánh </i>
giá rủi ro hàng năm. Các chỉ số đo lường rủi ro chính KRI được kế thừa, ổn định và
khơng có sự thay đổi đáng kể nào từ năm 2013.
<i>Hai là, Thời gian cho một cuộc kiểm toán nội bộ tại đơn vị thành viên còn </i>
khá dài, đặc biệt là thời gian kiểm toán tại thực địa – 2 tuần tương ứng với 10 ngày
làm việc (nghỉ thứ 7 và chủ nhật)
<i>Ba là, Giấy tờ làm việc của KTV chưa có quy định cụ thể về tiêu chuẩn về </i>
mẫu biểu, nội dung ghi chép mà chủ yếu mỗi KTV thiết kế theo phong cách riêng.
<i>Bốn là, KTNB PTI sử dụng chủ yếu là các phương pháp tiến hành kiểm toán </i>
<i>chứng từ mà chưa sử dụng các phương pháp kiểm tốn ngồi chứng từ. </i>
<i>Năm là, Báo cáo kiểm toán nội bộ hiện tại chưa phân loại theo đối tượng sử </i>
dụng, chưa có báo cáo kiểm tốn nội bộ định kỳ.
<i>Sáu là: Tại PTI, chưa có hoạt động đánh giá chất lượng kiểm toán nội bộ định </i>
kỳ nhằm mục đích đảm bảo hoạt động kiểm tốn phù hợp với phương pháp, quy
trình và chính sách kiểm tốn nội bộ của PTI
Các giải pháp hồn thiện quy trình kiểm tốn nội bộ tại Tổng công ty Cổ phần
Bảo hiểm Bưu điện:
<i>Thứ nhất, Hàng năm, khi tiến hành đánh giá rủi ro lập kế hoạch kiểm toán, </i>
cập nhật thêm các rủi ro mới trên thị trường qua các kênh thông tin khác nhau và
qua chính q trình thực hiện kiểm tốn thực tế tại các đơn vị. Phân tích mức độ
ảnh hưởng của các rủi ro đến hoạt động của PTI để xác định và điều chỉnh các
KRI, trọng số, ngưỡng rủi ro cho phù hợp.
<i>Thứ hai, Giảm bớt thời gian kiểm tốn tại thực địa: Quy trình kiểm tốn cần </i>
xây dựng cụ thể thời gian kiểm toán cho từng đối tượng kiểm tốn dựa theo quy
mơ đơn vị, kết quả đánh giá rủi ro sao cho hạn chế tối đa thời gian làm việc tại
thực địa nhưng vẫn đảm bảo được hiệu quả công việc.
<i>Thứ ba, Xây dựng hệ thống Giấy tờ làm việc thống nhất cho kiểm tốn viên. </i>
<i>Thứ tư, Hồn thiện các kỹ thuật kiểm toán: KTNB khi thực hiện kiểm tốn, </i>
ngồi phương pháp kiểm toán chứng từ cần chú trọng thực hiện các phương pháp
khác như kiểm kê, xác nhận, dự báo…Cách tốt nhất là KTV nội bộ sử dụng kết
hợp các phương pháp kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ.
<i>Thứ năm, phân loại báo cáo kiểm toán nội bộ: Tùy thuộc vào thời gian, đối </i>
tượng sử dụng, báo cáo kiểm tốn nội bộ có thể chia thành (i) báo cáo kiểm toán
chi tiết, (ii) báo cáo kiểm tốn nội bộ tóm tắt và (iii) báo cáo định kỳ.
<i>Thứ sáu: Đánh giá chất lượng kiểm toán định kỳ. Bao gồm: tự đánh giá và </i>
<i>thuê ngoài đánh giá độc lập. </i>
Để tạo điều kiện thực hiện đồng bộ các giải pháp, tác giả đưa ra một số kiến
nghị như sau:
Về phía cơ quan quản lý nhà nước: Nghiên cứu ban hành hệ thống các chuẩn
mực kiểm toán nội bộ, đặc biệt là các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, làm cơ sở
nghề nghiệp về KTNB để làm nơi trao đổi kinh nghiệm và quản lý hành nghề kiểm
toán nội bộ. Cục quản lý giám sát bảo hiểm cần định kỳ tổ chức các buổi hội thảo,
tọa đàm giữa các công ty bảo hiểm về cập nhật các rủi ro liên quan đến thị trường
bảo hiểm, cách quản lý rủi ro và xây dựng các biện pháp kiểm soát làm giảm thiểu
các rủi ro đó. Đây cũng là cơ hội để các KTV nội bộ của các doanh nghiệp bảo
hiểm cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm trong công việc, cập nhật những cách làm
hay, những kỹ thuật kiểm tốn mới để hồn thiện hoạt động.
Về phía Tổng cơng ty: Tổng cơng ty cần chú ý bồi dưỡng và phát triển nguồn
nhân lực phục vụ cho công tác KTNB cả về số lượng và chất lượng. Xây dựng quy
chế tuyển dụng nhân sự kiểm toán phù hợp với yêu cầu cơng việc và chính sách đãi
ngộ thỏa đáng. Tổng công ty cũng nên đặt ra các tiêu chuẩn rõ ràng về đạo đức
nghề nghiệp và đảm bảo tính độc lập cho KTV khi thực hiện kiểm toán.
Ban lãnh đạo Tổng công ty xem xét phê duyệt ngân sách các chương trình đào
tạo nâng cao năng lực đội ngũ KTV nội bộ, thuê ngoài đánh giá chất lượng bộ
phận kiểm toán để tạo điều kiện cho KTNB PTI khơng ngừng hồn thiện và đóng