Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (216.67 KB, 6 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>Đặng Thị Lệ Tâm* </b>
<i>Trường Đại học Sư phạm - ĐH Thái Nguyên </i>
TÓM TẮT
Hội thoại là hoạt động thường xuyên và phổ biến của lồi người khi sử dụng ngơn ngữ. Muốn dạy
sử dụng một thứ tiếng nói có kết quả cao trong giao tiếp phải dạy hội thoại.Thông qua việc rèn kĩ
năng hội thoại, người học mới thực sự học sử dụng tiếng nói phong phú, đa dạng. Bài viết tìm hiểu
vấn đề nội dung dạy học rèn kĩ năng hội thoại trong chương trình dạy tiếng mẹ đẻ cho học sinh
tiểu học của hai nước Lào và Việt Nam, từ đó có cái nhìn đối chiếu vấn đề dạy học hội thoại trong
nhà trường tiểu học của hai quốc gia.
<i><b>Từ khoá: Hội thoại, chương trình, giao tiếp, tiểu học, kĩ năng... </b></i>
ĐẶT VẤN ĐỀ*
Giao tiếp là hoạt động mang tính xã hội của
con người, là một trong những điều kiện quan
trọng để xã hội loài người tồn tại và phát
<i>triển. Trong đó, “ngơn ngữ là phương tiện </i>
<i>giao tiếp quan trọng nhất của loài người” </i>
(V.I.Lênin) (dẫn theo [1.19]). Hiện nay, các
nước phát triển trên thế giới đều quan tâm
nghiên cứu vấn đề giao tiếp và đưa nội dung
này vào dạy học trong nhà trường từ tiểu học
đến đại học. Xu hướng phát triển chung của
giáo dục các nước tiên tiến trên thế giới là
hướng đến việc hình thành các loại năng lực
Hội thoại là hoạt động thường xuyên và phổ
biến của loài người khi sử dụng ngôn ngữ.
Muốn dạy sử dụng một thứ tiếng nói có kết
quả cao trong giao tiếp phải dạy hội thoại.
Thông qua việc học hội thoại, người học mới
thực sự học sử dụng tiếng nói phong phú, đa
dạng, gắn với cuộc sống, học tiếng nói trong
giao tiếp và để giao tiếp. Hơn nữa, dạy hội
thoại là dạy văn hóa ứng xử trong giao tiếp.
Các hàm lượng văn hóa của mỗi dân tộc hàm
chứa trong ngôn ngữ (như các nghi thức lời
nói, các cách sử dụng tu từ về từ, câu…) khi
được tích cực hóa sẽ trở thành vốn riêng của
từng người.
*<sub> Tel: 0912 454828, Email: </sub>
Quan niệm này đã làm thay đổi diện mạo
chương trình và sách giáo khoa dạy tiếng mẹ
đẻ và dạy tiếng nước ngoài của các nước trên
thế giới. Hiện nay, trong chương trình giáo
dục phổ thông của nhiều nước trên thế giới, kĩ
năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết) được coi
là mục tiêu chiến lược trong giáo dục, đặc
biệt là việc hình thành và phát triển các kĩ
Bài viết này tìm hiểu vấn đề dạy học hội thoại
trong chương trình dạy tiếng mẹ đẻ cho học
sinh tiểu học của hai nước Việt Nam và Lào - là
hai nước cùng nằm trong khu vực Đông Nam
Á, cùng có nền giáo dục đã và đang phát triển
mạnh mẽ trong khu vực và trên thế giới. Văn
bản Chương trình của hai nước trên bao gồm:
<i>- Chương trình giáo dục phổ thơng cấp Tiểu </i>
<i>học của Việt Nam: do Bộ Giáo dục và Đào </i>
tạo ban hành kèm theo Quyết định số
16/2006/QĐ - BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm
2006. Chương trình được áp dụng từ khi ban
hành đến nay.
<i>- Chương trình giáo dục cấp Tiểu học của </i>
Lào: do Viện nghiên cứu Khoa học giáo dục -
Bộ Giáo dục và Đào tạo Lào ban hành năm
<i>2010, đăng tải trên trang http://www </i>
<i>Moes.edu.la. Chương trình được áp dụng từ </i>
khi ban hành (2010) đến nay.
trường phổ thông, nằm trong hoặc bên cạnh
các mạch nội dung khác (như đọc, nghe,
viết,...). Vì thế, trong khn khổ bài báo này,
tác giả sẽ xem xét chung về các chương trình
nhưng tập trung chủ yếu vào sử dụng các
phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống
hóa, đối chiếu về phương diện nội dung dạy
NỘI DUNG DẠY HỌC HỘI THOẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH CỦA VIỆT
NAM VÀ LÀO
<i><b>Mô tả </b></i>
<i>Chương trình giáo dục phổ thơng cấp Tiểu </i>
<i>học của Việt Nam </i>
Trong chương trình giáo dục phổ thơng cấp
Tiểu học môn Tiếng Việt của Việt Nam, nội
dung dạy học hội thoại được cụ thể qua kĩ
năng nói trong bảng 1 như sau:
<i><b>Bảng 1. Nội dung dạy học hội thoại trong chương trình mơn Tiếng Việt </b></i>
<i><b>Lớp </b></i> <i><b>Kĩ năng nói </b></i>
<i><b>1 </b></i>
<i>- Nói lời chào hỏi, chia tay trong gia đình, trường học. </i>
<i>- Trả lời câu hỏi; đặt câu hỏi (theo mẫu). </i>
<i>- Kể lại những câu chuyện được nghe kể trên lớp (kết hợp nhìn tranh minh họa và đọc lời gợi ý </i>
<i>dưới tranh). </i>
<i>- Nói về mình và người thân bằng một vài câu </i>
<i><b>2 </b></i>
<i>- Biết nói lời chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, mời, nhờ, yêu cầu, tự giới thiệu; đáp lời cảm ơn, xin lỗi, </i>
<i>lời mời...trong các tình huống giao tiếp ở trường học, gia đình, nơi công cộng. </i>
<i>- Trả lời và đặt câu hỏi đơn giản. </i>
<i>- Kể một mẩu chuyện hoặc một đoạn của câu chuyện được nghe. </i>
<i>- Nói lời giới thiệu đơn giản về bản thân, gia đình, bạn bè, trường lớp theo gợi ý. </i>
<i><b>3 </b></i> <i>- Dùng lời nói phù hợp với hồn cảnh giao tiếp chính thức trong sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đội. </i>
<i>- Đặt câu hỏi về vấn đề chưa biết, trả lời câu hỏi của người đối thoại. </i>
<i>- Kể từng đoạn hoặc kể toàn bộ câu chuyện đơn giản đã được nghe. </i>
<i>- Phát biểu ý kiến trong cuộc họp; giới thiệu hoạt động của tổ, lớp, chi đội; trình bày miệng </i>
<i>báo cáo ngắn (đã viết theo mẫu) về hoạt động của tổ, lớp, chi đội. </i>
<i><b>4 </b></i> <i>- Kể câu chuyện đã nghe, đã đọc; thuật lại sự việc đã chứng kiến hoặc tham gia. Kể chuyện </i>
<i>bằng lời của nhân vật. </i>
<i>- Bày tỏ ý kiến riêng khi trao đổi, thảo luận về vấn đề gần gũi. Đặt câu hỏi, trả lời câu hỏi làm </i>
<i>rõ vấn đề trong trao đổi thảo luận. </i>
<i>- Giới thiệu về con người, lịch sử, văn hóa, địa phương. </i>
<i><b>5 </b></i> <i>- Kể câu chuyện đã nghe, đã đọc; thuật lại sự việc đã chứng kiến hoặc tham gia. </i>
<i>- Trao đổi, thảo luận về đề tài phù hợp với lứa tuổi; bày tỏ ý kiến, thái độ về vấn đề đang trao </i>
<i>đổi, thảo luận. </i>
<i>- Giới thiệu lịch sử, văn hóa, các nhân vật tiêu biểu của địa phương. </i>
<i>* Chương trình giáo dục cấp Tiểu học của Lào </i>
Nội dung hội thoại qua kĩ năng nghe và nói được thể hiện trong Bảng 2.
<i><b>Nhận xét </b></i>
<i>Điểm tương đồng </i>
Nội dung dạy học hội thoại trong chương trình tiểu học của hai nước đều hết sức đa dạng, phong
phú, có khả năng giúp các em giao tiếp phù hợp với mọi hồn cảnh của cộng đồng. Với cách
nhìn nhận toàn diện về nguyên tắc giao tiếp, cả hai chương trình đã chú trọng xây dựng các nội
dung dạy học để rèn luyện kĩ năng nghe nói cho học sinh bên cạnh các nội dung dạy học đọc,
viết và phù hợp với việc giao tiếp của học sinh từ 6-11 tuổi.
<i><b>Bảng 2. Nội dung dạy học hội thoại trong chương trình mơn Tiếng Lào </b></i>
<b>Lớp 1 </b> <b>Lớp 2 </b> <b>Lớp 3 </b> <b>Lớp 4 </b> <b>Lớp 5 </b>
<i>1.Nói để gửi </i>
<i>thơng tin như: </i>
<i>Chào mừng, giới </i>
<i>thiệu tên của bản </i>
<i>thân và người </i>
<i>khác. </i>
<i>2. Nói để thơng </i>
<i>báo với giáo viên </i>
<i>Như: hai học sinh </i>
<i>hội thoại cùng </i>
<i>nhau. </i>
<i>3. Trình bày </i>
<i>nhóm: tranh vẽ và </i>
<i>một cái gì đó mà </i>
<i>giáo viên giúp đỡ. </i>
<i>1.Tham gia và lắng </i>
<i>nghe, biết dùng lời </i>
<i>nói để đề xuất ý </i>
<i>kiến, miêu tả đặc </i>
<i>điểm cử chỉ, tính </i>
<i>tính </i>
<i>2.Thơng tin với giáo </i>
<i>viên,bạn cùng </i>
<i>lớp,trường và khách </i>
<i>đã đến thăm. </i>
<i>Thảo luận theo đơi, </i>
<i>theo nhóm và trình </i>
<i>bày trước lớp về </i>
<i>chủ đề đơn giản, </i>
<i>nghe – hiểu và thực </i>
<i>hiện yêu cầu của </i>
<i>3. Trình bày thành </i>
<i>tích của mình và </i>
<i>của nhóm, có giáo </i>
<i>viên giúp đỡ. </i>
<i>1.Báo cáo, nói chính </i>
<i>xác về mục tiêu, tình </i>
<i>hình sự việc, biết </i>
<i>miêu tả phải có mở </i>
<i>đầu, nội dung, kết </i>
<i>luận câu chuyện hợp </i>
<i>với chủ đề. </i>
<i>2.Thông tin với </i>
<i>những người chung </i>
<i>quanh về các mục </i>
<i>tiêu của công việc và </i>
<i>mục đích, phạm vi, </i>
<i>chủ đề cũ và chủ đề </i>
<i>mới bằng câu hỏi và </i>
<i>câu từ chối. </i>
<i>3. Trình bày thành </i>
<i>tích của mình và của </i>
<i>nhóm trên bảng có </i>
<i>giáo viên giúp đỡ. </i>
<i>1.Báo cáo được </i>
<i>3.Giới thiệu thành </i>
<i>tích cá nhân hay </i>
<i>của nhóm với các </i>
<i>bạn cùng lớp đúng </i>
<i>với mục tiêu. </i>
<i>1.Biết thuyết phục </i>
<i>người khác, biết </i>
<i>nói mở đầu,trình </i>
<i>bày nội dung </i>
<i>thơng tin chính </i>
<i>xác và biết kết </i>
<i>luận phù hợp chủ </i>
<i>đề liên quan. </i>
<i>2.Thông tin với </i>
<i>cộng đồng về mục </i>
<i>tiêu, chủ đề của </i>
Bên cạnh đó, nội dung dạy học hội thoại
trong chương trình của hai nước đều chú
trọng mọi hình thức hội thoại: đơn thoại, song
thoại, đa thoại. Chương trình được sắp xếp
theo trật tự kĩ năng từ dễ đến khó, từ đối
thoại, dạng lời nói các em thường sử dụng
hàng ngày đến đơn thoại, dạng lời nói yêu
cầu HS phải tự mình sáng tạo cả nội dung lẫn
cấu trúc hình thức và phương thức liên kết.
Cách sắp xếp chương trình này phù hợp với
đặc điểm tâm lí ngôn ngữ của HS lứa tuổi
tiểu học. Vì học sinh tiểu học chưa quen nói
trước đơng người, vốn từ và khả năng ứng xử
ngơn ngữ cịn hạn chế. Việc rèn luyện kỹ
năng nói lời hội thoại ở mức đơn giản trong
quan hệ hồ hợp có tác dụng giúp học sinh
sớm có khả năng hồ nhập với xã hội rộng
lớn. Hơn nữa, nó cịn tạo tiền đề để sau này
các em nói lời hội thoại phức tạp ở các mức
độ, yêu cầu khác nhau trong các cuộc giao
tiếp chính thức. Có thể nói, với các đề tài, nội
cả hai chương trình cũng khơng đưa ra các
quy định về thời lượng, cách sắp xếp, tổ chức
cụ thể cho mỗi nội dung học tập, rèn luyện.
Việc làm này sẽ do các nhà soạn sách, các
giáo viên căn cứ vào trình độ của học sinh,
đối chiếu với yêu cầu kiến thức và kĩ năng để
tự quy định. Cách làm mềm dẻo đó sẽ tạo ra
nhiều phương án thực hiện chương trình thích
hợp với thực tiễn giáo dục đa dạng ở mỗi
quốc gia.
<i>Sự khác biệt giữa hai chương trình </i>
xử văn hóa cho học sinh (từ bậc Tiểu học) thì
việc rèn kĩ năng giao tiếp chính thức phục vụ
đời sống và học tập sẽ giúp các em tự thích
ứng được với công việc học tập, với cuộc
sống hàng ngày. Đây là những đóng góp rất
lớn của mơn Tiếng Việt trong việc hình thành
nhân cách cho học sinh tiểu học.
Mặt khác, trong chương trình Tiếng Việt tiểu
học, các chủ đề hội thoại được trình bày cụ
thể, chi tiết; mỗi một kĩ năng, chiến lược, thái
KẾT LUẬN
Chương trình giáo dục phổ thông của hầu hết
các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến
việc hình thành năng lực sử dụng ngôn ngữ
cho học sinh thông qua 4 kĩ năng cơ bản,
<i>gồm: nghe (listening), nói (speaking), đọc </i>
<i>(reading), viết (writing). Một số nước còn chú </i>
<i>ý thêm kĩ năng quan sát (viewing) và trình </i>
<i>bày (presenting). Các kĩ năng trên là cơ sở </i>
quan trọng để hình thành và rèn luyện cho HS
năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ với nhiều
cấp độ khác nhau. Trong đó, kĩ năng nghe –
nói, đặc biệt là kĩ năng hội thoại được chú ý
nhiều hơn cả. Vì thế, đối với việc xây dựng
chương trình mơn học tiếng mẹ đẻ cho nhà
trường phổ thông của tất cả các nước, trong
đó có Việt Nam, rèn kĩ năng hội thoại không
thể không được quan tâm từ mục tiêu, chuẩn
kiến thức kĩ năng đến nội dung, phương pháp
dạy học và kiểm tra đánh giá...
<i>Theo PGS.TS Bùi Mạnh Hùng, “Trong bối </i>
<i>cảnh đổi mới giáo dục của Việt Nam, vốn bị </i>
mẹ đẻ cho học sinh tiểu học, cần đối chiếu
chương trình giáo dục phổ thông của Việt
Nam và một số nước trong trong khu vực và
trên thế giới, từ đó phát huy những việc đã
làm tốt; đồng thời tiếp thu, điều chỉnh lại
những gì cịn bất cập, góp phần đổi mới
chương trình và sách giáo khoa phổ thông ở
nước ta, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa và hội
nhập với xu thế quốc tế về giáo dục phổ thông
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Mai Ngọc Chừ (CB), Nguyễn Thị Ngân Hoa,
<i>Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Tốn (2007), Nhập mơn </i>
<i>Ngơn ngữ học, Nxb Giáo dục. </i>
<i>2.Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Chương trình </i>
<i>giáo dục phổ thông cấp Tiểu học.Nhà xuất bản </i>
Giáo dục.
3. Bộ Giáo dục và đào tạo - Viện nghiên cứu Khoa
<i>học giáo dục (2010), Chương trình giáo dục cấp </i>
<i>Tiểu học (http://www Moes.edu.la). </i>
<i>4. Bùi Mạnh Hùng (2013), Về định hướng đổi mới </i>
<i>chương trình và sách giáo khoa môn Ngữ văn ở </i>
<i>trường phổ thông, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa </i>
học quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường phổ
thông Việt Nam, Nxb Đại học Sư phạm.
SUMMARY
<b>THE CONTENT TEACHING CONVERSATIONS </b>
<b>IN PRIMARY CURRICULUM IN VIETNAMESE AND LAO LANGUAGE </b>
<b>THROUGH A COMPARATIVE GLANCE</b>
<b>Dang Thi Le Tam* </b>
<i>University of Education - TNU </i>
Conversation is a frequent and popular activity of the human race when they use languages. To
<i><b>Key words: Conversation, curriculum, communication, primary schools, skills…</b></i>
<i><b>Ngày nhận bài: 17/8/2018; Ngày phản biện: 14/9/2018; Ngày duyệt đăng: 12/10/2018</b></i>