ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÁO CÁO
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
NHÓM 3
ĐỀ TÀI 1
VAI TRÒ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC
ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
1
ST
T
1.
2.
3.
4.
5.
6.
BÁO CÁO PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI CỦA TỪNG THÀNH VIÊN NHÓM….
Họ và tên
MSSV
Nhiệm vụ
Kết quả
Chữ ký
Lê Quốc Bảo
Nguyễn Thiện Bảo
Trần Vũ Quốc Bảo
Nguyễn Phúc Lâm Bình
Tạ Hồng Châu
Ngơ Quốc Chi
1710585
1710602
1810835
1811572
1610282
1710679
Phần mở đầu, 1.1
Hoàn thành
Phần 1.2
Hoàn thành
Phần 2.1
Hoàn thành
Phần 2.2
Hoàn thành
Phần 3.1
Hoàn thành
Phần 3.2
Hoàn thành
NHÓM TRƯỞNG (ghi rõ họ tên, ký tên)
MỤC LỤC
2
LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế, Xã hội Việt Nam dưới ách thống trị, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
đang dần dần bị tha hóa, lệ thuộc. Một lượng lớn tài nguyên bị khai thác nhằm mục đích
làm giàu cho thực dân, tệ nạn ăn chơi, cờ bạc…. được bọn chúng tiêm nhiễm nhằm mục
đích kiềm chế, kiểm sốt nhân dân.
Các cuộc kháng chiến nổ ra ở những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX diễn ra
thường xuyên nhằm chống lại chủ nghĩa thực dân bị đàn áp thẳng tay, man rợ nhưng cũng
vơ cùng dễ dàng vì sự thiếu đoàn kết, thiếu tổ chức của các tập đoàn kháng chiến.
Từ lâu, Nguyễn Ái Quốc đã thấm nhuần tư tưởng của C.Mác-LêNin. Nhận ra con
đường đúng đắn để giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân là con
đường cách mạng vô sản, là con đường kháng chiến huy động sức lực của toàn dân tộc.
Để làm rõ được bối cảnh lịch sử, con đường và những thách thức của cách mạng Việt
Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Nhóm chúng em quyết định chọn đề tài
“VAI TRÒ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM” để làm đề tài tìm hiểu. cùng vời sự hướng dẫn của giảng viên Đào Thị Bích
Hờng.
3
Phần I: Bối cảnh lịch sử Việt Nam dưới chính sách thống trị, khai
thác thuộc địa của thực dân Pháp và sự lựa chọn con đường cách
mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc
1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam
Hòa ước Giáp Thân (1884), ký kết giữa nhà Nguyễn và Pháp, mở đầu thời Pháp
thuộc hoàn toàn của Việt Nam. Từ đó mở ra một giai đoạn hoàn toàn mới của nước
Việt Nam.[1]
1.1.1 Kinh tế - Văn hóa – Xã hội:
1.1.1.1 Kinh tế:
Theo sắc lệnh ngày 17-10-1887, thực dân Pháp thành lập Liên bang Đơng Dương,
thời điểm đó mới bao gờm có Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì và Campuchia, trực thuộc
Bộ Hải quân và Thuộc địa. Ngày 19- 4-1899, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh sáp nhập
thêm Lào vào Liên bang Đông Dương. Việt Nam bị chia cắt làm 3 kì: Bắc Kì, Trung
Kì và Nam Kì với ba chế độ cai trị khác nhau. Bắc Kì và Trung Kì là hai xứ bảo hộ
vẫn cịn giữ lại chính quyền phong kiến về hình thức; Nam Kì là đất thuộc địa hoàn
toàn do Pháp nắm cùng với Lào và Campuchia cũng là đất bảo hộ của Pháp, hợp
thành Liên bang Đơng Dương. Việt Nam, Lào, Campuchia bị xóa tên trên bản đồ thế
giới.[5]
Vào giai đoạn đầu, thực dân Pháp chỉ mới chú trọng vào hai lĩnh vực chủ yếu là
nông nghiệp và khai mỏ.
•
Nơng nghiệp: Năm 1897, Pháp ép triều Nguyễn ký điều ước
"nhượng" quyền "khai khẩn đất hoang" cho họ. Ngay sau đó, Pháp tăng cường
cướp đoạt đất đai, lập các khu đồn điền lớn để trồng cao su, thứ cây cơng nghiệp
mà Pháp coi trọng khi đó.
•
Cơng nghiệp: chú trọng khai thác mỏ than và kim loại. Tuy nhiên
Pháp không xây nhà máy luyện kim tại Việt Nam, tất cả khoáng sản được chở về
Pháp. Phần lớn các xí nghiệp khai mỏ nằm trong tay những tập đoàn tư bản Pháp.
4
Phương thức hoạt động là tận dụng nhân công lao động rẻ mạt, sao cho chi phí sản
xuất giảm xuống mức thấp nhất để thu lợi nhuận cao.
Giao thông vận tải: xây dựng hệ thống đường giao thơng hiện đại,
•
vừa phục vụ làm ăn lâu dài, vừa nhằm mục đích quân sự.
Thương nghiệp: Việt Nam trở thành thị trường độc quyền của tư
•
bản Pháp, Pháp độc quyền thu thuế xuất nhập khẩu. Tất cả hàng hóa Việt Nam mà
Pháp cần đều phải ưu tiên xuất sang Pháp, không được xuất khẩu sang nước khác,
những hàng hóa mà Pháp thừa ế hoặc kém phẩm chất so với hàng hóa của các
nước khác thì Pháp xuất sang Việt Nam.
1.1.1.2 Văn hóa:
Dưới thời Pháp thuộc, văn hóa truyền thống chịu ảnh hưởng của Nho giáo suy tàn
dần và bị thay thế bởi văn hóa phương Tây. Các giá trị đạo đức được ni dưỡng bởi
Nho giáo suy yếu trong khi người Việt không tiếp thu được các giá trị cốt lõi của nền
văn hóa phương Tây. Sự du nhập văn hóa phương Tây chỉ là sự bắt chước hời hợt vẻ
bên ngoài của người phương Tây chứ người Việt không hấp thu được phần tinh túy của
văn hóa phương Tây. Ngơ Đình Nhu nhận xét về tình trạng này "...cơng cuộc Tây
phương hóa, mà chúng ta đã phải chịu nhận từ một thế kỷ nay, là một cơng cuộc Tây
phương hóa bắt buộc, khơng mục đích, khơng được hướng dẫn. Dân chúng bị lơi cuốn
vào một phong trào Tây phương hóa, mà khơng hiểu Tây phương hóa để làm gì, Tây
phương hóa đến mức nào là đủ, và Tây phương hóa làm sao là đúng. Tình trạng đó đã
dẫn dắt đến sự tan rã của xã hội chúng ta. Các giá trị tiêu chuẩn cũ đã mất hết hiệu
lực đối với tập thể mà giá trị tiêu chuẩn mới thì khơng có".[6]
1.1.1.3 Xã hội:
Y tế : Năm 1902, Pháp thành lập trường Y khoa Hà Nội do bác sĩ Alexandre
Yersin làm hiệu trưởng. Khóa đầu tiên có 29 sinh viên. Sau đó trường được đổi tên
thành Y khoa Đơng Dương. Chương trình học tại trường kéo dài 4 năm và học
sinh ra trường được cấp bằng y sĩ. Năm 1908, xảy ra phong trào nơng dân chống
thuế ở các tỉnh Trung Kì khiến người Pháp giáng cấp Y khoa Đông Dương thành
trường Y khoa Hà Nội. Nha Học Chính Đơng Dương đã phải thừa nhận: "Dưới
5
chính quyền mới, một giai đoạn ngừng trệ đã tác động lên tồn bộ nền giáo dục
nói chung - bị chụp mũ một cách đáng tiếc là tác giả thực sự của phong trào cách
mạng 1908. Cái trạng thái tinh thần đáng buồn đó, hiện vẫn chưa hồn tồn mất
đi, đã làm chậm sự phát triển của trường mất 10 năm"
Giáo dục:
Tổng thời gian học là 6 năm. Tiểu học tập đọc và viết chữ Quốc ngữ, chữ Nho,
tiếng Pháp; tiếng Pháp căn bản; tốn sơ đẳng; hình học sơ đẳng; khái niệm đo đạc;
tổng quan về lịch sử và địa lý. Đến bậc trung học, học sinh sẽ học kỹ hơn về tiếng
Pháp, văn học Pháp; làm luận bằng tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ Nho và nhiều nội
dung nâng cao hơn về toán, vũ trụ, vật lý, hội họa... Năm 1879, nghị định cải tổ giáo
dục Nam Kì được ban hành, chia chương trình học làm ba cấp với tổng thời gian học
là 10 năm. Cấp một học trong ba năm, dạy Pháp văn, Quốc ngữ và Hán văn. Cấp hai
có thời lượng ba năm, mỗi tuần sẽ dành hai giờ cho chữ Nho và Quốc ngữ, còn lại
dành cho tiếng Pháp. Cấp ba sẽ học trong bốn năm với nhiều nội dung, dạy bằng tiếng
Pháp như số học, hình học phẳng, đại số, lượng giác, trắc lượng, vẽ, địa lý, vũ trụ, hóa
học, vật lý, vạn vật học... Những năm đầu, sối phủ Nam Kì gặp rất nhiều khó khăn
khi hệ thống trường Nho học giải tán. Các thầy đờ di cư ra Trung Kì thuộc triều đình
Huế để tiếp tục dạy học. Nhiều học trị tham gia các lực lượng nghĩa quân.[7]
Sau khi chiếm được Bắc Kì và Trung Kì, năm 1906 Pháp thực hiện cải cách giáo
dục. Pháp thiết lập hệ thống tiểu học do chính quyền đài thọ với tên gọi là đệ nhị cấp
(tiểu học) và đệ tam cấp (trung học). Chương trình học được thêm vào nội dung mới
nhất của khoa học phương Tây, tri thức thực hành thơng dụng. Chính quyền thực dân
ở Việt Nam cho mở hai hệ thống trường học: trường Hán học có cải tổ đơi chút và hệ
thống trường Pháp - Việt. Hai hệ thống trường Hán học và trường Pháp Việt cùng tồn
tại song song được triều đình nhà Nguyễn chấp thuận. Trường Hán học chỉ duy trì tạm
thời, đã được thay thế bằng trường Pháp - Việt trên cả nước kể từ thập niên 1910. Hệ
thống giáo dục Nho học cũ trở nên không hợp thời. Nhà Nguyễn ban đầu cải cách kỳ
thi Hương bằng cách đưa chữ Quốc ngữ vào nội dung thi sau đó bãi bỏ ln các kỳ thi
thuộc hệ thống Khoa bảng Việt Nam vào năm 1919. Năm 1917, Toàn quyền Đông
Dương Albert Sarraut ký nghị định ban hành tổng quy chế nền học chính toàn cõi
6
Đông Dương với mục tiêu thống nhất nền giáo dục bản xứ, tiến tới xóa bỏ nền giáo
dục cũ. Nền học chính lúc này được chia làm ba cấp, cấp một là các trường tiểu học,
cấp hai là cao đẳng tiểu học, cấp ba là bậc trung học (tú tài), với hai hệ thống giáo dục
gồm trường Pháp và trường bản xứ. Trường Pháp sử dụng chương trình giáo khoa
Pháp ở Đông Dương gần giống như bên Pháp và hoàn toàn dạy tiếng Pháp, không dạy
tiếng Việt. Tại trường bản xứ, ở bậc Tiểu học sách giáo khoa do Nha Học chính Đơng
Pháp biên soạn và xuất bản. Từ bậc Cao đẳng Tiểu học trở lên thì dùng sách giáo khoa
xuất bản ở Pháp. Sách giáo khoa một số môn như Lịch sử Việt Nam, Địa lý Đông
Dương, Văn học Việt Nam do các giáo chức người Pháp hay người Việt biên soạn và
xuất bản. Với đợt cải cách giáo dục lần hai, chữ Quốc ngữ đã hoàn toàn thay thế chữ
Hán. Chương trình học bao gờm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội với tính hệ
thống cao. Bên cạnh các trường phổ thơng, Pháp cịn lập ra trường dạy nghề để đào
tạo ra công nhân cho các ngành công nghiệp thuộc địa. Tuy vậy, trên toàn Việt Nam,
tính đến năm 1906 mới chỉ có 25 trường học tiểu học Pháp - Việt và tính đến hết năm
1913 mới chỉ có 10 vạn học sinh các cấp (trong tổng số 20 triệu dân lúc bấy giờ). Sự
phát triển giáo dục cũng không đều khắp: Tất cả các vùng miền núi đều khơng có
trường học, riêng tỉnh Sơn La mãi đến 1917 mới có 1 trường sơ học.
1.1.2 Tình hình kháng chiến chống thực dân Pháp:
Sau khi đầu hàng ở hiệp ước Giáp Tân ( 1884 ) nội bộ triều đình nhà Nguyễn vẫn
phân hóa thành 2 phe rõ rệt – phe chủ chiến và phe chủ hòa. Phe chủ chiến kiên quyết
không khuất phục thực dân Pháp, muốn giữ vững nền độc lập của đất nước. Còn phe chủ
hòa sẵn sàng quy thuận và hợp tác với Pháp để tránh tiếp tục chiến tranh sau một thời
gian dài xung đột với Pháp. Đứng đầu phe chủ chiến là đại thần Tôn Thất Thuyết,
Thượng thư Bộ binh, nắm giữ quân đội trong tay và là nhân vật quan trọng nhất trong
Hội đờng phụ chính.
Tơn Thất Thuyết huy động số quân còn lại ở các địa phương tập trung về Huế, bí mật tổ
chức phản cơng. Biết tình hình, ngày 27 tháng 6 năm 1885, tướng De Courcy (tổng chỉ
huy vừa được cử sang) đem quân vào thẳng Huế nhằm loại trừ phe chủ chiến, dự định bắt
7
Tôn Thất Thuyết. Biết trước âm mưu của Pháp, nên mặc dù việc chuẩn bị chưa thật đầy
đủ, đêm ngày 5 tháng 7 năm 1884, Tôn Thất Thuyết vẫn nổ súng trước nhằm giành thế
chủ động cho cuộc tấn công. Đến sáng, quân Pháp phản công, đánh chiếm thành Huế, đốt
phá dinh thự, cướp bóc của cải và tàn sát nhiều người dân trên đường tiến quân. Do đó từ
đấy về sau, hàng năm nhân dân Huế đã lấy ngày 23 tháng 5 Âm lịch làm ngày giỗ chung.
[1]
Không chỉ hàng ngàn người bị giết hại mà kinh thành Huế còn bị cướp đi phần lớn
những tài sản quý báu nhất. Quân Pháp chiếm được một số lớn của cải mà triều đình chưa
kịp chuyển đi, gờm 2,6 tấn vàng và 30 tấn bạc, trong số này chỉ có một phần rất nhỏ sau
này được hoàn lại cho triều đình Huế. Còn lại, số 700.000 lạng bạc phải được 5 lính Pháp
đóng hịm trong 5 ngày mới xong và chở về Pháp.[2]
Linh mục Père Siefert, nhân chứng sự kiện này đã ghi lại: "Kho tàng trong hoàng
cung đã mất đi gần 24 triệu quan vàng và bạc… Cuộc cướp cạn ấy kéo dài trong 2 tháng
còn gây tai tiếng hơn cuộc cướp phá Cung điện Mùa Hè của Thanh Đế ở Bắc Kinh".
Cũng theo Père Siefert, khi đối chiếu với bảng kiểm kê tài sản của hoàng gia, thì quân
Pháp đã cướp "228 viên kim cương, 266 món nữ trang có nạm kim cương, hạt trai, hạt
ngọc, 271 đồ bằng vàng trong cung của bà Từ Dũ. Tại các tôn miếu thờ các vua… thì
hầu hết các thứ có thể mang đi… đều bị cướp" [3]
Quốc Sử quán triều Nguyễn ghi: riêng tại Phủ Nội vụ ở tầng dưới cất giữ 91.424 thỏi bạc
đỉnh 10 lạng, 78.960 thỏi bạc đỉnh 1 lạng; tầng trên cất giữ khoảng 500 lạng vàng,
khoảng 700.000 lạng bạc; kho gần cửa Thọ Chỉ cất giữ 898 lạng vàng, 3.400 lạng bạc.
Toàn bộ số vàng bạc này đã bị Pháp chiếm. Tướng De Courcy, chỉ huy cuộc tấn công vào
kinh đô Huế, ngày 24 tháng 7 năm 1885 đã gửi cho chính phủ Pháp một bức điện với nội
dung sau: "Trị giá phỏng chừng các quý vật bằng vàng hay bằng bạc dấu kỹ trong các
hầm kín là 9 triệu quan. Đã khám phá thêm nhiều ấn tín và kim sách đáng giá bạc triệu.
Xúc tiến rất khó khăn việc tập trung những kho tàng mỹ thuật. Cần cử sang đây một
chiếc tàu cùng nhiều nhân viên thành thạo để mang về mọi thứ cùng với kho tàng". Ngoài
ra, trong quá trình quân Pháp truy đuổi Tôn Thất Thuyết từ tháng 7 năm 1885, đã thu giữ
8
ở tỉnh Quảng Trị 34 hòm bạc chứa 36.557 tiền bạc và 6 hòm bạc chứa 196 thỏi bạc, mỗi
thỏi 10 lạng và 18.696 tiền bạc.
Phụ chính đại thần Tơn Thất Thuyết (1839 – 1913)
Sáng mùng 5 tháng 7, Tôn Thất Thuyết đã đưa vua Hàm Nghi rời kinh đô Huế
chạy ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị). Ngày 13 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết lấy
danh nghĩa vua Hàm Nghi, đã hạ chiếu Cần Vương lần thứ nhất. Để tránh sự truy lùng
gắt gao của quân Pháp, Tôn Thất Thuyết lại đưa Hàm Nghi vượt qua đất Lào đến sơn
phòng Ấu Sơn (Hương Khê, Hà Tĩnh). Tại đây, Hàm Nghi lại xuống chiếu Cần Vương
lần hai ngày 20 tháng 9 năm 1885. Hai tờ chiếu này tập trung tố cáo âm mưu xâm lược
Việt Nam của thực dân Pháp, đồng thời kêu gọi sĩ phu, văn thân và nhân dân cả nước
đứng lên kháng chiến giúp nhà vua bảo vệ quê hương đất nước.
Phong trào Cần Vương bùng nổ. Hưởng ứng chiếu Cần Vương, nhân dân Việt Nam dưới
sự lãnh đạo của các sĩ phu, văn thân yêu nước, đã đứng lên chống Pháp:
•
Nghĩa hội Quảng Nam của Nguyễn Duy Hiệu
•
Khởi nghĩa
Hương
Khê (1885–1896)
Thắng ở Hương Khê, Hà Tĩnh.
•
Khởi nghĩa của Nguyễn Xn Ơn ở Nghệ An
9
của Phan Đình
Phùng, Cao
Khởi nghĩa Ba Đình (1886–1887) của Đinh Cơng Tráng, Phạm Bành ở Nga
•
Sơn, Thanh Hóa.
•
Khởi nghĩa của Mai Xn Thưởng ở Bình Định.
•
Khởi nghĩa của Lê Thành Phương ở Phú Yên (1885–1887).
•
Khởi
nghĩa
Hùng
Lĩnh (1886–1892)
của Tống
Duy
Tân ở Bá
Thước và Quảng Xương, Thanh Hóa.
•
Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883–1892) của Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng n
•
Phong trào kháng chiến ở Thái Bình – Nam Định của Tạ Hiện và Phạm
Huy Quang.
•
Khởi nghĩa Hưng Hóa của Nguyễn Quang Bích ở Phú Thọ và n Bái.
•
Khởi nghĩa Thanh Sơn (1885–1892) của Đốc Ngữ (Nguyễn Đức Ngữ)
ở Hịa Bình.
•
Khởi nghĩa của Trịnh Phong ở Khánh Hịa (1885–1886).
•
Khởi nghĩa của Lê Trực và Nguyễn Phạm Tuân ở Quảng Bình.
•
Khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh ở vùng Lạng Sơn, Bắc Giang.
•
Khởi nghĩa của Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân ở Quảng Ngãi.
•
Khởi nghĩa của Trương Đình Hội, Nguyễn Tự Như ở Quảng Trị.
Pháp gây sức ép buộc hoàng tộc nhà Nguyễn phải gửi thư khuyên Hàm Nghi và Tôn Thất
Thuyết đầu hàng, song Tôn Thất Thuyết vẫn tuyên bố: "Về Huế là tự mình đưa chân vào
cho ngục thất, mà người cầm chìa khóa là qn Pháp. Thừa nhận Hiệp ước 1884 là dâng
nước Nam cho kẻ địch. Đành rằng hịa bình là q, nhưng khơng lo khơi phục thì sẽ
mang tiếng là bỏ giang sơn mà tiền triều dày cơng gây dựng, và cịn có tội với hậu thế".
Đêm ngày 30 tháng 10 năm 1888, vua Hàm Nghi bị người Pháp bắt trong lúc mọi người
đang ngủ say. Bắt được vua Hàm Nghi thực dân Pháp ra sức dụ dỗ thuyết phục, mua
chuộc nhà vua trẻ cộng tác với chúng nhưng vua Hàm Nghi đã từ chối quyết liệt. Không
mua chuộc được vua Hàm Nghi, thực dân Pháp quyết định đày vua Hàm Nghi tới
Algeria, một thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi. Quân Pháp cũng đưa Đồng Khánh lên ngôi.
Đồng Khánh là một người ốm yếu lại hiền lành, không dám chống Pháp, người Pháp
10
chèn ép thế nào cũng nghe theo nên rất được lịng người Pháp. Dưới danh nghĩa của
Đờng Khánh, Pháp lập ra một triều đình mới có tính bù nhìn, Pháp chỉ giữ lại các quan lại
có thái độ thần phục và hịa hỗn, khơng dám gây xích mích với người Pháp.
Tác giả Philippe Devillers, ghi nhận truyền thông tại Pháp, giai đoạn này, giới
thiệu với dư luận Pháp, và dư luận thế giới, về các chính sách tại Việt Nam nói riêng,
và Đơng Dương nói chung, theo "sứ mệnh vừa giải phóng vừa khai hóa văn minh".
[6] Một khi đã hịa nhập vào Pháp thì khơng nước nào có lý do tách ra, vì độc lập sẽ
khiến họ rơi vào tình trạng lạc hậu. Tuy nhiên, cũng theo Devillers, trong khn khổ của
sứ mệnh giải phóng này, Pháp chưa bao giờ đặt ra vấn đề chế độ tự trị hoặc quyền tự
quyết chính trị cho người Việt Nam.
Các cuộc khởi nghĩa chống Pháp vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, phong trào Cần Vương suy yếu
dần; từng cuộc khởi nghĩa lần lượt bị tiêu diệt. Từ cuối năm 1895 đầu 1896, khi khởi
nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng thất bại, phong trào Cần Vương coi như chấm
dứt. Đến đây thì Pháp đã dập tắt những cuộc đấu tranh phản kháng của người Việt, chính
thức bắt tay vào q trình khai thác thuộc địa tại Việt Nam.
Khi bước vào Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp động viên hàng vạn thanh niên
người Việt gia nhập quân đội rồi đưa họ sang tham chiến ở châu Âu, dẫn đến nhiều cuộc
nổi loạn khắp Nam Kỳ. Có đến 50.000 binh lính và 50.000 lao công người Việt, bị cưỡng
chế kéo khỏi những làng mạc, được đưa sang châu Âu chiến đấu cho Pháp trong chiến
tranh. Họ phải chiến đấu tại những nơi xa xôi lạ lẫm, hàng ngàn lính người Việt đã chết
trên biển vì tàu bị bắn chìm, hàng ngàn lính khác đã tử trận ở Somme và Picardy, gần bờ
biển Bỉ và rất nhiều nữa hy sinh ở chiến trường Trung Đông đẫm máu. Hơn 30.000 người
Việt Nam đã chết trong cuộc xung đột và 60.000 bị thương.
Nguyễn Ái Quốc đã châm biếm việc này như sau[4]:
“
Trước năm 1914, họ (lính thuộc địa) chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, nhữ
Nhưng họ đã phải trả bằng một giá khá đắt cho vinh dự đột ngột ấy, vì để
lúc chết cịn tự hỏi phải chăng "nước mẹ" (Pháp) muốn chiếm ngôi nguyê
11
Cuối cùng, ở hậu phương, những người làm kiệt sức trong các xưởng thuố
Tổng cộng có 700.000 người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số
Nhiều binh sĩ người Việt tìm cách chống lại việc bắt lính của Pháp bằng việc bỏ
trốn hoặc chống lệnh. Có các cuộc nổi dậy chống thực dân nhưng bị dập tắt. Tháng 5,
năm 1916, vua Duy Tân, lúc đó 16 tuổi, xuất cung tham gia cuộc nổi dậy do Thái
Phiên và Trần Cao Vân tổ chức.[8][9] Người Pháp được mật báo kế hoạch nổi dậy nên đã
bắt giam và xử chém những người lãnh đạo cuộc nổi dậy. Vua Duy Tân bị truất ngôi và bị
đày ra đảo Réunion ở Ấn Độ Dương.[10] 30 tháng 8 năm 1917, khởi nghĩa Thái Nguyên,
do Đội Cấn dẫn đầu, khởi phát.[11] Khoảng 120 lính cai ngục, hơn 200 tù nhân, 300 dân
đã nổi dậy. Đến tháng 3 năm 1918, quân Pháp mới hoàn toàn khống chế cuộc khởi nghĩa
này, với chiến thuật bắt giữ thân nhân của quân khởi nghĩa. Đội Cấn được cho là đã tự
vẫn, một số người bị bắt bị kết án tử hình, những người khác bị kết án và đày ra Cơn
Đảo.
Người dân Việt Nam cịn bị buộc phải chịu thêm nhiều sưu thuế nặng nề để tài trợ nỗ lực
chiến tranh của Pháp. Việt Nam đã phải đóng góp 184 triệu đờng bạc dưới hình thức vay
nợ và 336.000 tấn lương thực. Những gánh nặng này cùng những khó khăn gây ra bởi tai
họa thiên nhiên đã tạo nên nạn đói từ năm 1914 đến 1917.
1.1.3 Khả năng chống thực dân Pháp của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ:
Nhìn chung, cách mạng Việt Nam những năm này tuy diễn ra một cách mạnh mẽ
nhưng lại thiếu đi tính đờng bộ, tính đờng loạt và đoàn kết. Các phong trào cách mạng
dễ dàng bị đàn áp của lực lượng của thực dân Pháp.
Chưa có con đường kháng chiến đúng đắn cũng như tư tưởng lãnh đạo kháng
chiến của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ chưa thực sự hợp lý. Vì vậy, tương lai của
cách mạng Việt Nam cần có một bộ óc lãnh đạo vĩ đại, cần có cách hoạch định và tổ
chức một cách mới mẻ và cách mạng Việt Nam cần là cuộc cách mạng của toàn bộ
dân tộc, toàn bộ các giai cấp trong nước.
12
1.2. Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc (1911-1920)
1.2.1. Các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
1.2.1.1 Phong trào Cần Vương (1885-1896).
Hoàn cảnh ra đời:
Sau hai Hiệp ước Hác-măng và Pa-tơ-nốt, Pháp đã hoàn thành về cơ bản cuộc
xâm lược Việt Nam, thiết lập chế độ bảo hộ ở Bắc Kì và Trung Kì.
Phái chủ chiến trong triều đình Huế, đại diện là Tơn Thất Thuyết mạnh tay hành
động, phế bỏ những ông vua thân Pháp, đưa Hàm Nghi lên ngơi, bí mật xây dựng sơn
phịng, tích trữ lương thảo và vũ khí để chuẩn bị chiến đấu.
Đêm ngày 4 rạng ngày 5-7-1885, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh tấn công Pháp tại đồn
Mang Cá, toà Khâm sứ. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Pháp phản công, Tôn
Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra sơn phịng Tân Sở (Quảng Trị).
Ngày 13-7-1885, Tơn Thất Thuyết mượn danh vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần
Vương kêu gọi văn thân, sĩ phu, nhân dân cả nước đứng lên vì vua mà kháng chiến.
=> Phong trào Cần Vương ra đời.
Lãnh đạo: chủ yếu là văn thân sĩ phu yêu nước, ngoài ra có một số là thổ hào,
nơng dân.
Lực lượng: tham gia gồm đông đảo nông dân.
Mục tiêu: chống thực dân Pháp xâm lược, chống giai cấp phong kiến đầu hàng, lập
lại chế độ phong kiến độc lập.
Hình thức: là khởi nghĩa vũ trang.
Kết quả: phong trào thất bại sau hơn 10 năm đấu tranh.
=> Đây là phong trào yêu nước trên lập trường phong kiến.
Nguyên nhân thất bại:
Tính chất địa phương: sự thất bại của phong trào Cần Vương có ngun nhân từ sự
kháng cự chỉ có tính chất địa phương. Các phong trào chưa quy tụ, tập hợp thành một
khối thống nhất đủ mạnh để chống Pháp. Các lãnh tụ Cần Vương chỉ có uy tín tại nơi họ
xuất thân, tinh thần địa phương mạnh mẽ làm họ chống lại mọi sự thống nhất phong trào
13
trên quy mô lớn hơn. Khi các lãnh tụ bị bắt hay chết thì quân của họ hoặc giải tán hay đầu
hàng.
Quan hệ với dân chúng: các đạo quân này khơng được lịng dân q nhiều
lắm bởi để có phương tiện sống và duy trì chiến đấu, họ phải đi cướp phá dân chúng.
Mâu thuẫn với tôn giáo: sự tàn sát vô cớ những người Công giáo của quân
Cần Vương khiến giáo dân phải tự vệ bằng cách thông báo tin tức cho phía Pháp. Những
thống kê của người Pháp cho biết có hơn 20.000 giáo dân đã bị quân Cần Vương giết hại.
Mâu thuẫn sắc tộc: Chính sách sa thải các quan chức Việt và cho các dân tộc
thiểu số được quyền tự trị rộng rãi cũng làm cho các sắc dân này đứng về phía Pháp.
Nền sản xuất lạc hậu, kém phát triển làm nền tảng, vì vậy vũ khí thơ sơ
khơng thể chống lại vũ khí hiện đại của Pháp.
Lực lượng và chiến thuật: các cuộc khởi nghĩa khơng đủ mạnh, chỉ có thể tấn
cơng vào những chỗ yếu, sơ hở của địch; không đủ khả năng thực hiện chiến tranh trực
diện với lực lượng chính quy của địch.
1.2.1.2 Phong trào Đông Du của Phan Bội Châu (1905-1909).
Hoàn cảnh ra đời :
Vào đầu thế kỉ XX, Pháp tăng cường sự xâm chiếm, đàn áp nhân dân trong
nước. Các cuộc khởi nghĩa của quân dân ta vẫn liên tiếp nổ ra nhưng chưa giành được
thắng lợi vì lực lượng và kế hoạch cịn non yếu. Trước tình hình đó, Phan Bội Châu và
các sĩ phu yêu nước bắt đầu đi mọi nơi để chiêu tập quân thành lập tổ chức cách mệnh.
Vào năm 1904, sau thời điểm đi Nam Kỳ trở về, Phan Bội Châu và các đồng ý
chí tổ chức cuộc họp tận nhà riêng của vị Nguyễn Hàm. Đờng ý lập ra một rổ chức bí mật
hoạt động cách mạnh yêu nước mang tên gọi là Duy Tân hội. Duy Tân Hội tăng cường
chiêu tập người tài, lên kế hoạch thao tác làm việc, kêu gọi nhân dân tăng cường sản xuất
để hỗ trợ trào lưu. Các hội công, nông, thương được thành lập và là một phần của hội.
Sau lúc hội phát triển mạnh, các vị lãnh đạo đã cùng nhau tập trung hô hào người dân
đứng lên để mở trào lưu Đông Du cứu nước.
Lãnh đạo : Phan Bội Châu và Duy Tân Hội.
Lực lượng : quần chúng nhân dân,
14
Mục tiêu : là tập trung, kêu gọi những thành phần thanh niên trí thức ra nước
ngoài học tập. Sẵn sàng chuẩn bị lực lượng, học hỏi kinh nghiệm về cứu nước.
Hình thức hoạt động : đưa học sinh du học ở Nhật ( 10/1905-8/1908) số học
sinh du học lên tới 200 người. Viết sách báo, tổ chức giáo dục, tuyên truyền yêu nước
trong thanh thiếu niên và nhân dân.
Kết quả : Năm 1908, thực dân Pháp câu kết với Nhật chống phá phong trào
Đơng du ít lâu sau, Chính phủ Nhật ra lệnh trục xuất những người yêu nước Việt Nam và
Phan Bội Châu khỏi Nhật Bản. Đầu năm 1909, phong trào Đông du tan rã.
=> Đây là một phong trào theo khuynh hướng tư sản.
Nguyên nhân thất bại :
Chủ trương đảo chính tập hợp nhân dân đứng lên đấu tranh để giành lấy độc
lập tự do là hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên tư tưởng nhờ việc trợ giúp của bọn tư bản
hiếu chiến, tham lam là không đúng. Bởi bản chất chúng là quân chuyên đi xâm lược các
nước khác, vẫn có ý định lăm le chiếm Việt Nam, coi như con mồi béo bở.
Nhận xét :
- Thất bại của các phong trào Cần Vương đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và
hệ tư tưởng của gia cấp phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước
đánh bại thực dân Pháp giải phóng dân tộc.
- Thất bại của phong trào Đông Du cho ta thấy không để dựa vào đế quốc để
đánh đế quốc vì bản chất của bọn chúng là kẻ xâm lược.
=> Do đó nhiệm vụ đặt ra là tìm một con đường cách mạng mới, một giai cấp
có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực
để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.
1.2.2. Lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc
Ngày 5-6-1911. Nguyễn Tất Thành rời đất nước ra đi tìm đường cứu nước,
xem các nước làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào. Trên lộ trình tìm đường cứu nước,
Nguyễn Ái Quốc đã trải qua những bước ngoặt lớn.
Một là: Nhận ra hạn chế của các nhà yêu nước đương thời. Nguyễn Ái Quốc
rất khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa
15
Thám, nhưng không đồng ý đi theo con đường của một người nào. Trong khi nhiều người
còn ngưỡng mộ cách mạng tư sản, Người đã vượt qua sự hạn chế tầm nhìn của họ, đi tìm
con đường cứu nước khác.
Hai là: Tìm ra chỗ hạn chế của cách mạng dân chủ tư sản là những cuộc cách
mạng khơng giải phóng được công nông và quần chúng lao động.
Một cuộc khảo sát có một khơng hai ở Mỹ, Anh và Pháp đã giúp Nguyễn Ái
Quốc nhận ra là ở đâu cũng có hai loại người: người giàu và người nghèo, người áp bức
và người bị áp bức. Càng ngày Người càng hiểu sâu sắc bản chất của chủ nghĩa đế quốc.
Ngày 6-7-1911, Nguyễn Tất Thành đến cảng Mácxây, thấy nhiều phụ nữ nghèo
khổ. Nguyễn Tất Thành nói với người bạn “Tại sao người Pháp khơng “khai hóa” đờng
bào của họ trước khi đi “khai hóa” chúng ta?”.
Làm thuê trên chiếc tàu đi vịng quanh châu Phi, tận mắt trơng thấy những
cảnh khổ cực, chết chóc của người da đen dưới roi vọt của bọn thực dân, Nguyễn Tất
Thành nghĩ: Đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen
cũng không đáng một xu.
Giữa tháng 12-1912, Nguyễn Tất Thành tới nước Mỹ, Người dành một phần
thời gian để lao động kiếm sống, còn phần lớn thời gian dành cho học tập, nghiên cứu
Cách mạng tư sản Mỹ năm 1776. Khi thăm pho tượng Thần Tự do, Nguyễn Tất Thành
không để ý đến ánh hào quang quanh đầu tượng mà xúc động trước cảnh những nô lệ da
đen dưới chân tượng. Cuối năm 1913, Nguyễn Tất Thành từ Mỹ sang Anh và cuối năm
1917 trở lại Pháp.
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) giết hại biết bao sinh mạng, phá
huỷ vô vàn của cải. Qua đó Nguyễn Ái Quốc càng hiểu thêm bản chất của chủ nghĩa tư
bản.
Quá trình nghiên cứu, xem xét Cách mạng tư sản Mỹ (1776) và Cách mạng tư
sản Pháp (1789) đã giúp Nguyễn Ái Quốc học hỏi được nhiều điều. Tuy vậy, Người vẫn
đánh giá những cuộc cách mạng tư sản là “những cuộc cách mạng không đến nơi”.
Chiến tranh kết thúc, các nước thắng trận họp Hội nghị hoà bình ở Vécxây
(Pháp) để chia phần. Thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc
16
gửi đến Hội nghị bản yêu sách 8 điểm. Trong khi chờ đợi giải quyết vấn đề dân tộc tự
quyết, Người chỉ đề cập những yêu sách “tối thiểu” và “cấp thiết”. Tổng thống Mỹ
Uynxơn (Wilson), tác giả chương trình 14 điểm với chiêu bài dân tộc tự quyết cũng có
mặt ở Hội nghị. Nhưng những yêu sách dù khiêm tốn của Người không được Hội nghị
đáp ứng.
Sự kiện này đã giúp Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ “chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò
bịp bợm lớn...”. Những lời tuyên bố tự do của nhà chính trị tư sản trong lúc chiến tranh
thực ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Muốn được giải phóng, các
dân tộc chỉ có thể trơng cậy vào mình, trơng cậy vào lực lượng của bản thân mình. Đầu
năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một đảng tiến bộ hời bấy giờ,
Người có dịp tiếp xúc, hoạt động với nhiều nhà chính trị nổi tiếng ở Pháp. Nguyễn Ái
Quốc tìm hiểu và hoạt động trong phong trào công nhân, liên lạc và cùng hoạt động với
nhiều nhà cách mạng ở nhiều thuộc địa Pháp.
Ba là: Đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo Quốc tế
Cộng sản.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng 1ợi là sự kiện chính trị lớn nhất
của thế kỷ XX, mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người, thời đại quá độ từ chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, thời đại thắng lợi của cách mạng
giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười đặt ra sự lựa chọn mới đối với những
người cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc cho một số ít người hay cho đại đa số
người? Độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa tư bản hay độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã
hội?
Khi được biết thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc
ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục Lênin. Người đã tham gia nhiều cuộc vận
động ủng hộ nhân dân Nga bảo vệ thành quả cách mạng. Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng
sản (Quốc tế thứ ba) ra đời, có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế giới. Năm
1920, cuộc đấu tranh giữa hai con đường diễn ra quyết liệt trong nhiều đảng công nhân và
17
ngày trong Đảng Xã hội Pháp: tiếp tục theo Quốc tế thứ hai tức là tiếp tục con đường cải
lương hay đi theo Quốc tế thứ ba, con đường cách mạng.
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận
cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương đã giải đáp trúng những vấn
đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở tìm hiểu, giúp Người thấy rõ con đường thắng lợi
của cách mạng giải phóng dân tộc, nhận rõ lập trường của Lênin và Quốc tế thứ ba khác
hẳn với những lời tuyên bố suông của Quốc tế thứ hai. Luận cương của Lênin đã có ảnh
hưởng quyết định đến lập trường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc: Người đến với chủ
nghĩa Mác - Lênin, tán thành Quốc tế thứ ba, đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ
đạo cách mạng vô sản, trở thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là
người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
Qua mười năm sống và làm việc ở những nước tư bản phát triển, Nguyễn Ái
Quốc khơng chống ngợp trước sự giàu có của giai cấp tư sản mà lại nhận thấy chế độ tư
bản có nhiều khuyết tật. Người khẳng định dứt khoát chủ nghĩa tư bản không cứu được
nước, không cứu được dân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã
giúp Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng nhận ra chân lý thời đại: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên
thế giới khỏi ách nô lệ.
Khác với các nhà yêu nước đương thời, Nguyễn Ái Quốc có một phương pháp
nghiên cứu độc lập, tự chủ, sáng tạo, đem lý luận đối chiếu với thực tiễn, lấy mục tiêu
giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội làm tiêu chuẩn đánh giá các học thuyết, tiếp thu
kinh nghiệm cách mạng thế giới có chọn lọc. Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của
Nguyễn Ái Quốc đã được thể hiện nổi bật trong việc vận dụng học thuyết Mác - Lênin,
vạch ra đường lối cứu nước đúng đắn cho dân tộc ta.
Phần II : Phát triển phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản
2.1. Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở
Việt Nam
Trong các cuộc kháng chiến trường kì của cả dân tộc và cơng cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội, vai trò lãnh đạo của Đảng rất là to lớn, nhưng người đã sinh ra và nuôi dưỡng
18
Đảng đó trưởng thành đó chính là Nguyễn Ái Quốc - là Chủ tịch Nguyễn Ái Quốc, vì vậy
bây giờ chúng ta sẽ phân tích sự chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức của Nguyễn Ái
Quốc cho việc thành lập Đảng để thấy được vai trò của Người.
2.1.1. Chuẩn bị về mặt tư tưởng:
Do cách mạng thuộc địa không được quan tâm đúng mức nên Nguyễn Ái Quốc đã đi
sâu nghiên cứu, tham gia vào các diễn đàn, viết báo,... để tuyên truyền về vấn đề thuộc
địa và cách mạng thuộc địa.
Cuối năm 1917, Người lao vào cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Pháp, tham gia
Đảng xã hội Pháp, lập ra Hội những Người Việt Nam yêu nước với tờ báo “ Việt Nam hồn”
để tuyên truyền giáo dục Việt Kiều ờ Pháp.
Năm 1922. Người làm chủ nhiệm chủ bút cho báo “Người cùng khổ” để vạch trần
chính sách đàn áp bọc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc, góp phần vào việc thức tỉnh các
dân tộc bị áp bức đứng lên tự giải phóng. Song song đó. viết nhiều bài đăng trên báo
Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, báo Đời sống công nhân của Tổng Liên đoàn Lao động
Pháp.
Đến năm 1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pháp đi Matxcova để tham dự Hội nghị Quốc tế
nông dân, đồng thời trực tiếp học tập nghiên cứu kinh nghiệm Cách mạng tháng 10 Nga
và chủ nghĩa Mác - Lênin. Người có nhiều bài cho các báo ‘Sự thật' (là cơ quan ngôn
luận của Đảng Cộng Sản Liên Xơ) và tạp chí ‘Thư tín Quốc tế' của Quốc tế Cộng sản.
Qua các bài báo, tạp chí, Nguyễn Ái Quốc đã góp phần quan trọng vào việc tố cáo tội
ác của chủ nghĩa thực dân Pháp ở các thuộc địa, đồng thời tiến hành tuyên truyền tư
tưởng Mác - Lênin, xây dựng mối quan hệ gắn bó giũa những người cộng sản và nhân
dân lao động. Đây là thòi gian Người thu thập tư liệu cho tác phẩm ‘ Bản án chế độ thực
dân Pháp’.
Năm 1924, Người tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô và
các đại hội của Quốc tế công hội, Quốc tế Phụ nữ, Quốc tế Thanh niên,... Và nhất là Đại
hội lần V, đã có bản báo cáo rất quan trọng về dân tộc và thuộc địa: làm sáng tỏ và phát
triển một số luận điểm quan trọng của Lênin vê bản chât chủ nghĩa thực dân và nhiệm vụ
19
của các Đảng Cộng Sản trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, đấu
tranh giải phóng ân tộc ở các thuộc địa.
“Bản án chế độ thực dân Pháp” (năm 1925) mặc dù bị nhà cầm quyền Pháp tìm mọi
cách ngăn chặn, cấm đốn, các sách báo nói trên được bí mật truyền về Việt Nam vạch rõ
âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc, từ đó khơi dậy tinh thần yêu nước, tinh thần
dân tộc để đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược.
Đây là sự chuẩn bị về tư tưởng, lý luận cho sự thành lập Đảng, có ý nghĩa rất quan
trọng. Vì giống như Lênin đã nói “Khơng có lý luận cách mệnh, thì khơng có cách
mệnh, vận động ... Chì có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới
làm nổi trách nhiệm của cách mệnh tiền phong” (Trích hỏi đáp nôn Đường lối cách
mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam _ NXB Đại học Quốc gia 2010).
2.1.2 Chuẩn bị về tổ chức:
Với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc cùng một số chiến sĩ cách
mạng ờ nhiều nước thuộc địa của Pháp thành lập Hội liên hiệp thuộc địa năm 1921 nhằm
tập họp tất cả nhũng người ở thuộc địa sống trên đất Pháp đấu tranh chống chủ nghĩa thực
dân. Và cũng thông qua hội này để truyền bá chủ nghĩa Mac - Lê Nin đến các dân tộc
thuộc địa. Đến ngày 11 / 11/ 1924, Người tới Quảng Châu. Tại đây, Người cùng các nhà
cách mạng Trung Quốc, Thái Lan, Án Độ,... sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức
(9/7/1925) đã nêu bật được tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết dân tộc trên thế giới.
Và bước chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam chính là Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên.
Hội được Nguyễn Ái Quốc thành lập vào tháng 6/1925 với cơ quan tuyên truyền của
Hội là tờ báo Thanh niên.
Sau khi thành lập, Hội đã mờ các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác Lênin và lý luận giải phóng dân tộc cho những người trong tổ chức nhằm thúc đẩy sự
phát triển phong trào cách mạng Việt Nam. Chống lại nhũng đường lối dân tộc chủ nghĩa
hẹp hòi tiểu tư sản.
20
Hội đã giáo dục và giác ngộ nhiều người yêu nước chân chính theo con đường Hờ Chí
Minh, đào tạo vả rèn luyện họ thảnh những chiến sĩ cách mạng trung thành, làm nòng cốt
trong việc thảnh lập Đảng Cộng sản sau này.
Truyền bá chủ nghĩa Mac-Lenin và tư tưởng cách mạng Hờ Chí Minh vào trong phong
trào cơng nhân và phong trào yêu nước gắn liền với xây dựng các tổ chức cơ sở của Hội ờ
nhiều trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng.
Từ năm 1925 - 1927, Người mờ nhiều lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu, đào
tạo nên đội ngũ cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Nhũng bài giảng ở đây của Người đã
được tập hợp thành cuốn “Đường cách mệnh”.
Năm 1928, Hội thực hiện chủ trưong “vơ sản hóa”, đưa hội viên vào nhà máy, hầm
mỏ, đồn điền để rèn luyện lập trường, quan điểm giai cấp công nhân, để truyền bá Chủ
nghĩa Mác- Lênin và lý luận giải phóng dân tộc nhằm thúc đẩy sự phát triển của phong
trào cách mạng Việt Nam.
=>Những ảnh hưởng của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên và các lớp huấn luyện
của Nguyễn Ái Quốc đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển các phong trào công nhân,
phong trào yêu nước. Đưa lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin và tơn chỉ, mục đích đấu tranh
của Hội vào các phong trào này.
=> Chứng tỏ: “Lập trường cách mạng giải phóng dân tộc của vơ sản đã thắng lập
trường cách mạng giải phóng dân tộc của tư sản"
2.1.3. Chuẩn bị vê chính trị:
Sự chuẩn bị về chính trị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái
Quốc được thể hiện thơng qua việc hình thành các quan điểm sau đây, trong đó ảnh
hưởng lớn nhất là cuốn “Đường cách mệnh":
-
Chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa thực dân, xác định chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung
của các dân tộc thuộc địa, của gia cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới.
-
Xác định cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản thế
giới. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng ở chính quốc
có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau nhưng không phụ thuộc vào nhau.
Cách mạng giải phóng dân tộc có thể thành cơng trước cách mạng ở chính quốc, góp
21
phần thúc đẩy cách mạng ở chính quốc.
-
Trong nước nơng nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc
phong kiến bóc lột nặng nề, vì vậy cần phải thu phục và lôi cuốn được nông dân, cần
phải xây dựng khối công nông làm lực lượng cách mạng, đồng thời phải tập hợp
được sự tham giai đông đảo của các giai cấp, tầng lớp khác.
-
Cách mạng muốn giành thắng lợi, trước hết phải có Đảng cách mạng nắm vai trò
lãnh đạo. Đảng muốn vững phải nắm rõ chủ nghĩa Mác-Lênin.
-
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng dân dân, chứ khơng phải của một vài người.
Vì vậy cần phải tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức quần chúng đấu tranh từ thấp
đến cao.
Những quan điểm này đã được Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên truyền bá
trong nước dưới nhiều hình thức, làm cho phong trào công nhân và phong trào
yêu nước Việt Nam có sự chuyển biến mạnh mẽ. Sau này các quan điểm được
phát triển thành những nội dung cơ bản trong cương lĩnh chính trị của Đảng.
2.2 Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản
a
Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức
cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Năm 1911, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc) ra đi tìm đường cứu
nước.Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm tìm hiểu cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga
năm 1917. Người rút ra kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có Cách mệnh Nga là đã
thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự
do, bình đẳng thật”.
- Năm 1919, với tên mới là Nguyễn ái Quốc, Người đã gửi tới hội nghị Vecxây
(Pháp) bản “yêu sách” đòi quyền lợi cho dân tộc Việt Nam.
- Vào tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo. Tại
22
Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc
gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập ĐảngCộng sản Pháp. Sự kiện này
đánh dấu bước ngoặt trong cách mạng của Người và Người tìm thấy con đường cứu
nước đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc khơng có con đường nào khác
con đường cách mạng vô sản”=>trở thành người cộng sản và thực hiện nhiệm vụ với
phong trào cộng sản và nhân dân quốc tế, Ngyễn Ái Quốc từng bước chuẩn bị về tư
tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập chính Đảng ở Việt Nam.
- Tháng 12 – 1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua, Nguyễn ái Quốc tham
gia bỏ phiếu tán thành việc thành lập Đảng Cộng sản Pháp, gia nhập Quốc tế Cộng sản.
Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt lớn từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản,
từ người yêu nước trở thành người cộng sản.
- Từ nước ngoài Người đã viết và gửi các sách báo, tài liệu về Việt Nam như các
báo Việt Nam hồn, Người cùng khổ, đặc biệt tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp …để
truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và chỉ rõ con đường cách mạng mà nhân dân ta cần đi
theo.
- Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc).
- Tháng 6/1925 người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và nêu rõ
chủ trương và điều lệ của Hội.
- Đầu năm 1927 bộ tuyên truyền của hội liên hiệp thuộc địa các dân tộc bị áp bức
xuất bản cuốn “Đường Cách Mệnh” ( tập bài giảng của Nguyễn Ái Quốc trong lớp huấn
luyện chính trị của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên).
- Từ năm 1925-1927, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã được mở lớp huấn
luyện chính trị cho cán bộ cách mạng tại Việt Nam. Xây dựng nhiều cơ sở ở các trung
tâm kinh tế, chính trị trong nước => bước đầu xây dựng nền tảng tư tưởng chính trị
cho cán bộ và nhân dân.
23
Ngoài ra Bác còn giửi những thanh niên ưu tú đi học tại các đại học Phương Đông
và một số trường lục quân Phố Trung Quốc nhằm đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt
Nam. Đồng thời Người tổ chức ra các tờ báo “ Thanh niên, Công nông , lính cách
mệnh Tiền Phong”. Nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-leenin vào Việt Nam.
- Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị bức áp xuất bản tác
phẩm Đường cách mệnh, Đường cách mệnh chỉ rõ tính chất và nhiệm của cách mạng
Việt Nam là giải phóng dân tộc mở đường tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Hai cuộc cách
mạng này có quan hệ mật thiết với nhau; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng là
việc chung của toàn quần chúng do đó toàn dân phải đoàn kết. trong đó cơng, nơng là
chủ của cách mạng, là gốc của cách mệnh.
b
Phương pháp cách mạng:
Phải giác ngộ và tổ chức quần chúng cách mạng, phải làm cho q̀n chúng hiểu rõ mục
đích cách mạng, biết đờng tâm hiệp lực để đánh đổ giai cấp áp bức mình, làm cách mạng
phải biết cách làm, phải có mưu chước, có như thế mới bảo đảm thành cơng cho cuộc
khỏi nghĩa với sự nổi dậy của toàn dân.
c
Sự phát triển phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản:
Sự phát triển của phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản:
- Giai đoạn 1919-1925: Phong trào công nhân diễn ra dưới các hình thức đình cơng, bãi
cơng nhân Ba Son 1925 – Sài Gịn do Tơn Đức Thắng tổ chức; cuộc bãi công của công
nhân nhà máy sợi Nam Định ngày 30-4-1925, đòi chủ tư bản phải tăng lương, bỏ đánh
đập, giai đoạn này hình thức bãi cơng trở phổ biến, diễn ra trên quy mô lớn và thời gian
dài hơn.
-Giai đoạn 1926-1929: Phong trào bãi cơng đã có sự lãnh đạo những tổ chức như: Hội
Việt Nam cách mạng thanh niên, Công hội đỏ và các tổ chức Cộng Sản ra đời từ năm
1929 ( từ năm 1928-1929 đã có khoảng 40 cuộc bãi cơng diễn ra trên cả nước).
+ Các phong trào đấu tranh giai đoạn này đã mang tính chất chính trị rõ rệt, đã có sự
liên kết giữa các nhà máy, các ngành và địa phương.
24
+ Cũng vào thời gian này phong trào yêu diễn ra ở nhiều nơi trong cả nước như: Nông
dân Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh,...đấu tranh chống bọn địa chủ
cướp đất, địi chia ruộng cơng...
- Đáng chú ý là những khẩu hiệu kinh tế kết hợp chặt chẽ với khẩu hiệu chính trị; có sự
liên kết của công nhân nhiều nhà máy, nhiều địa phương, nhiều ngành kinh tế.
Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng giác ngộ về chính trị, ý thức giai cấp ngày
càng rõ rệt, đang đi dần vào cuộc đấu tranh có tổ chức.
Phong trào công nhân đang chuyển biến mạnh mẽ từ tự phát đến tự giác,, có sức quy tụ
và dẫn đầu phong trào u nước nói chung.
Phong trào cơng nhân phát triển là cơ sở để tiếp thu ánh sáng thời đại, nhất là lí luận
giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc.
Phong trào công nhân, phong trào yêu nước phát triển là yêu cầu phải có sự lãnh đạo
của một Đảng Cộng Sản Việt Nam - Tác động vào các tổ chức Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên và tân Việt cách mạng - đấu tranh nội bộ và sự phân hóa tích cực - hình thành
ba tổ chức cách mạng
2.3 Ý nghĩa các phong trào yêu nước đối với việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt
Nam.
a Vị trí, vai trị của phong trào u nước trong q trình phát triển của dân tộc Việt Nam
trong hơn 2000 năm dựng nước:
Phong trào u nước có vị trí, vai trị cực kì to lớn trong q trình phát triển của dân
tộc Việt nam , nó liên tục,bền bỉ, kết thành chủ nghĩa yêu nước, trở thành giá trị văn hóa
tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Trong hơn 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ, các
phong trào yêu nước : các cuộc khởi nghĩa, cải cách … diễn ra liên tục và mạnh mẽ
dù đi theo những khuynh hướng khác nhau.
bCở sở kết hợp:
Mâu thuẫn xã hội giữa toàn thể dân tộc Việt nam với bọn để quốc và tay sai.
Nên mục tiêu chung của toàn dân tộc là làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, xây
dựng đất nước hùng mạnh.
c Tính chất chung:
25