Tải bản đầy đủ (.pdf) (72 trang)

Luận văn - Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (896.03 KB, 72 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>MỤC LỤC </b>


Trang


<b>Chương 1:GIỚI THIỆU </b>


1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu... 1


1.1.1. Sự cần thiết của nghiên cứu ... 1


1.1.2. Căn cứ khoa học và thực tiễn... 2


1.2 Mục tiêu nghiên cứu... 5


1.2.1. Mục tiêu chính ... 5


1.2.2 Mục tiêu cụ thể... 5


1.3. Các giả thuyết cần kiểm định và câu hỏi nghên cứu... 5


1.3.1. Giả thuyết cần kiểm định ... 5


1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu ... 5


1.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ... 5


1.4.1. Không gian nghiên cứu ... 5


1.4.2. Giai đoạn nghiên cứu ... 6


1.4.3. Đối tượng nghiên cứu ... 6



<b>Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU </b>
2.1. Phương pháp luận... 7


2.1.1.Cơ sở lý thuyết của việc đa dạng hóa ... 7


2.1.2. Cách thưc đo lường hiệu quả của việc đa dạng hóa... 9


2.2 Phương pháp nghiên cứu... 14


2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu... 14


2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu ... 15


Chương 3: SƠ LƯỢC VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHỐN VIỆT NAM
3.1. Thị trường chứng khốn Việt Nam- Một thị trường non trẻ ... 17


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

3.2.2. Rủi ro từ cách điều hành của các cơ quan có thẩm quyền ... 21


<b>Chương 4: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ SUY GIẢM RỦI RO DO ĐA </b>
<b>DẠNG HÓA </b>


4.1 Phân tích chung ... 25
4.1.1. Thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu... 25
4.1.2. Phân tích ảnh hưởng của việc gia tăng kích cỡ danh mục đến rủi
ro ở các giai đoạn khác nhau. ... 26
4.1.3. Ảnh hưởng của việc gia tăng kích cỡ danh mục đến lợi nhuận.... 29
4.2. Tiến hành kiểm định các giá trị nhận được ... 36
4.3 Thiết lập hàm hồi quy về mối quan hệ giữa độ lệch chuẩn của danh
mục và danh mục và danh mục kích cỡ n... 37



<b>Chương 5: MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ SAI SÓT ... 39 </b>
<b>Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ </b>


6.1 Kết luận ... 45
6.2 Đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo


<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO: ... 48 </b>
<b>PHỤ LỤC </b>


Phụ lục 1: Diễn biến tỉ suất giá chứng khốn tính theo tháng từ ngày


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

<b>DANH MỤC BIỂU BẢNG </b>


Trang


Bảng 2.1: Minh họa phương pháp tính lợi nhuận theo REA... 13


Bảng 3.1: Quy mơ sàn giao dịch chứng khốn Tp Hồ Chí Minh đến hết
ngày 31/12/2006 ... 17


Bảng 3.2: Các quỹ đầu tư vào Việt Nam thành lập năm 2007... 19


Bảng 4.1 Phân bố trung bình rủi ro tổng thể trong 5 giai đoạn... 26


Bảng 4.2: Tỉ lệ độ lệch chuẩn của các loại danh mục so với danh mục thị
trường... 27


Bảng 4.3: Tỉ lệ rủi ro của các danh mục so với danh mục toàn thị trường
(Tính theo tháng) ... 27



Bảng 4.4: Tỉ lệ suy giảm của rủi ro trên mỗi chứng khoán được thêm vào
danh mục... 28


Bảng 4.5: Lợi ích biên của sự suy giảm độ lệch chuẩn... 29


Bảng 4.6: Tỉ suất lợi nhuận bình quân trong 5 giai đoạn ... 30


Bảng 4.7: Hệ số nhân lợi nhuận bình quân tính theo tháng (phương pháp
REA) ... 34


Bảng 4.8: Phân hạng... 36


Bảng 4.9: Giá trị thống kê ... 36


Bảng 4.10: Các giá trị thống kê của hàm hồi quy ... 37


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

<b>DANH MỤC HÌNH </b>


Trang
Biểu đồ 2.1: Mối liên hệ giữa việc gia tăng kích cỡ danh mục (n)


và sự suy giảm rủi ro (Phương sai - 2


<i>P</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

<b>TÓM TẮT </b>


Mục tiêu của luận văn này là nghiên cứu mối quan hệ giữa việc gia tăng
kích cỡ danh mục và sự suy giảm của rủi ro.



Bằng việc so sánh rủi ro của các kích cỡ danh mục khác nhau và giữa các
giai đoạn khác nhau, luận văn này đã chứng minh được bằng việc gia tăng kích
cỡ danh mục rủi ro có thể giảm xuống đáng kể, nhờ việc phân tán rủi ro phi hệ
thống.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

<b>CHƯƠNG 1 </b>


<b>GIỚI THIỆU </b>


<b>1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: </b>
<b> 1.1.1. Sự cần thiết nghiên cứu </b>


<b> “Khi đầu tư chúng khốn, làm sao để có được lợi nhuận nhưng đồng thời </b>


vẫn giảm rủi ro xuống một mức chấp nhận được?”. Có nhiều cách khác nhau
chẳng hạn như đầu tư vào các công ty có chỉ số tài chính tốt, báo cáo thường niên
dự báo một tương đầy triển vọng hay đơn giản hơn là đầu tư vào những công ty
lớn có tên tuổi trên thị trường, hoặc đầu tư vào những ngành những lĩnh vực mà
mình nắm rõ…Nhưng điều đó cũng khơng có gì đảm bảo là vào một ngày đẹp
trời nào đó bạn thức dậy, đọc báo và thấy rằng cơng ty mà mình mua cổ phiếu đã
bị phá sản, cịn bản báo cáo tài chính với các chỉ số đạt chất lượng AAA của họ
chỉ là một mánh khóe kế tốn đơn giản nào đó.


“Làm sao để tránh được điều này?”. Người xưa đã có câu “Đừng bao giờ
đặt tất cả trứng đã mua vào cùng một rổ”- Đa dạng hóa danh mục đầu tư chính là
cách tự bảo hiểm tốt nhất. Có thể buổi sáng đó, bạn vẫn buồn vì cơng ty của mình
đã bị phá sản, xong ít ra các cơng ty khác trong danh mục đầu tư của bạn vẫn cịn
đó. Vậy đa dạng hóa danh mục đầu tư là như thế nào? Đơn giản chỉ là gia tăng số
loại cổ phiếu nắm giữ? Nếu vậy, bao nhiêu là đủ ?



</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

Thị trường chứng khoán Việt Nam từ đầu năm đến nay (15/04/2008), do bị
tác động từ tình hình kinh tế thế giới lên diễn biến rất phức tạp, chỉ số Vn-Index
và Hastc-Index ở 2 sàn Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội đã mất hơn 50% số điểm chỉ
trong vòng chưa đầy năm tháng. Nhắc đến điều này để thấy rằng việc đa dạng
hóa là cần thiết, khơng phải do tình hình thị trường đang có nhiều biến diễn phức
tạp mà ngay cả khi thị trường tăng trưởng liên tục và ổn định thì đa dạng hóa
cũng khơng bao giờ là thừa. Bởi vì bạn khơng thể đốn định được những điều bất
ngờ xảy ra đối với cơng ty mà mình mua cổ phiếu.


Vậy ở thị trường chứng khoán Việt Nam, việc đa dạng hóa mang lại hiệu
quả như thế nào? Cần bao nhiêu loại chứng khoán trong một danh mục thì đạt
được mục đích của việc đa dạng hóa?. Đa dạng hóa có loại bỏ được hồn tồn rủi
ro?...Để trả lời cho những câu hỏi thú vị này, nên tôi đã quyết định thực hiện đề
<b>tài “Đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng </b>


<b>khoán tại Việt Nam” làm Luận văn của mình. </b>


<b> 1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn. </b>


Đa dạng hóa danh mục đầu tư là một đề tài thú vị và gây tranh cãi từ lâu
trong cộng đồng các nhà kinh tế học và những người đầu tư chúng khoán, những
câu hỏi thường gặp nhất là:


- Trong một danh mục thì bao nhiêu loại chứng khốn là đủ? 10, 15, 20
hay 100 thì đủ để giảm thiểu rủi ro xuống một mức chấp nhận được.
- Chiến lược “Mua và nắm giữ” – Buy and hold (BH) hay Phân phối lại


danh mục – Reallocation (REA) ở mỗi thời điểm bắt đầu của chu kỳ đầu
tư, thì chiến lược nào tốt hơn.



- Đa dạng hóa giữa các ngành thì có tốt hơn là đa dạng hóa với các loại cổ
phiếu trong cùng một ngành.


- Các tiêu chí nào là thích hợp cho việc lựa chọn một cổ phiếu vào trong
danh mục đầu tư.


- Tác dụng đa dạng hóa của các cổ phiếu được xếp hạng cao (AAA) có tốt
hơn các cổ phiếu ở thứ hạng khác.


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>



Lý thuyết về việc đa dạng hóa có thể nói đã ra đời từ rất lâu thậm chí là
trước cả thị trường chứng khốn, nhưng mọi việc chỉ dừng lại ở việc đa dạng hóa
giản đơn, chẳng hạn như họ cố gắng phân tán rủi ro bằng cách đầu tư vào các
ngành nghề, các lĩnh vực khác nhau dựa vào sự khác biệt về bản chất giữa các
ngành chẳng hạn như: Ngành khai khống được xem là có nhiều rủi ro trong khi
đó các ngành phục vụ các mục đích cơng cộng có sự bảo hộ của nhà nước như
nông nghiệp, sản xuất nhu yếu phẩm hay bưu chính viễn thơng được cho là ít rủi
ro hơn.


Lý thuyết Đa dạng hóa hiện đại chỉ thực sự bắt đầu khi Harry Markowitz
phát triển lý thuyết về việc xây dựng “danh mục đầu tư khả dĩ tối ưu”, dựa trên
quan hệ về lợi nhuận - rủi ro. Trong đó ơng giả thuyết hành vi của nhà đầu tư chỉ
dựa vào lơi nhuận mong đợi và phương sai của lợi nhuận "expected
returns-variance of returns" [3, tr.77]. Ơng đã cố gắng lượng hóa rủi ro, dựa trên độ lệch
chuẩn lợi nhuận của danh mục đầu tư. Nhưng các nghiên cứu chỉ thật sự phát
triển khi William F. Sharpe phát triển một mơ hình đo lường lợi nhuận đơn giản
<b>hơn, còn được gọi là Diagonal Modell</b> thường được biết đến với tên gọi “mơ
hình chỉ số đơn” [4, tr 281].



<i>i</i> <i>i</i> <i>i</i> <i>i</i>


<i>R</i> = +<i>A B I C</i><b>+ (1) </b>


<b> Với </b><i>R<sub>i</sub></i> là giá trị thị trường của chứng khoán i


<i>Ai</i> là giá trị cổ phiếu I khi chỉ số thị trường (I) bằng 0.


<i>B<sub>i</sub></i> là hệ số tương quan giữa thị trường và chứng khoán i, được xem là đại


diện cho phần rủi ro hệ thống tức rủi ro khơng thể đa dạng hóa.
I là chỉ số thị trường.


<i>C<sub>i</sub></i> là sai số, được xem là đại diện cho phần rủi ro có thể đa dạng hóa.


<b> Hai nghiên cứu trên đã giúp phát triển các lý thuyết cũng như thực nghiệm </b>


sau đây, mà Luận văn này dựa vào đó để nghiên cứu, đó là:


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

trong đó hai ông nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ đa dạng hóa và độ lệch
chuẩn của lợi nhuận; đại diện cho rủi ro của danh mục trong đầu tư chứng khoán
dựa trên mẫu 470 chứng khoán khác nhau của chỉ số Standard and Poor suốt từ
tháng 1 năm 1958 đến tháng 7 năm 1967, họ đã xây dựng một hàm hồi quy để dự
đoán mối quan hệ giữa số chứng khoán trong một danh mục và độ lệch chuẩn
(rủi ro) của danh mục. Từ đây hai ông rút ra kết luận là với một danh mục sấp xỉ
khoảng 10 cổ phiếu là đạt được lợi ích biên của việc đa dạng hóa [5, tr 767].
- Nghiên cứu của Henry A. Latané và William E. Young về những tiêu
chuẩn của việc xây dựng một danh mục đầu tư “Test Of Portfolio Of Building
Rules” dựa trên mẫu 224 cổ phiếu trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 1953


đến tháng 12 năm 1960 chia thành 7 nhóm. Hai ông đã tiến hành so sánh nhiều
tiêu chuẩn khác nhau để lựa chọn chứng khoán trong danh mục và kích cỡ của
danh mục đầu tư. Họ đã rút ra một số kết luận, trong đó có kết luận rằng 85 –
95% lợi ích khả dĩ từ việc đa dạng hóa có thể được với một danh mục từ 8 đến 16
loại cổ phiếu khác nhau [6, tr 607].


- Nghiên cứu của Lawrence Fisher và James H. Lorie về sự khác nhau
trong việc đa dạng hóa giữa các ngành. Nghiên cứu này “Some Studies Of
Variability Of Returns On Investments In Common Stocks” dựa trên một khối
lượng khổng lồ các danh mục khả dĩ niêm yết trên sàn chứng khoán New York
suốt 40 năm (1926-1965). Hai ông cũng đưa ra kết luận tương tự như Henry A.
Latané và William E. Young là với một danh mục có từ 8 đến 16 chứng khốn thì
lợi ích khả dĩ từ việc đa dạng có thể đạt được là từ 80-90%.[7, tr117]


- Nghiên cứu của W. H. Wagner và S. C. Lau “The Effect Of diversification
On Risk” chỉ ra sự khác biệt của các chỉ tiêu khác nhau, khi đa dạng hóa giữa các
nhóm cổ phiếu cùng chất lượng, dựa trên các đánh giá về chất lượng của 200 cổ
phiếu của chỉ số S&P 500 từ tháng 6 năm 1960 đến tháng 6 năm 1970. Hai ông
đi đến kết luận là với một danh mục có từ 15 đến 20 loại cổ phiếu khác nhau thì
có thể làm giảm độ lệch chuẩn của danh mục từ 42-44% so với danh mục chỉ có
một loại cổ phiếu. [8, tr49]


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

<b>1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: </b>
<b> 1.2.1 Mục tiêu chính. </b>


<b> Xem xét rủi ro của danh mục thay đổi ra sao với mỗi loại cổ phiếu được </b>


cộng thêm vào trong danh mục.
<b> 1.2.2 Mục tiêu cụ thể. </b>



<b> - </b>Ước lượng số loại cổ phiếu cần thiết cho một danh mục để có thể đạt được
từ 80% đến 90% lợi ích của việc đa dạng hóa.


- Xem xét việc đa dạng hóa ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận.


- Phân chia quãng thời gian nghiên cứu thành các thời kì để đánh giá tác
dụng đa dạng hóa giữa các khoảng thời gian khác nhau.


- Xây dựng hàm hồi quy để cụ thể hóa mối quan hệ giữa rủi ro và số lượng
chứng khoán trong danh mục.


<b>1.3. CÁC GIẢ THUYẾT CẦN KIỂM ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU. </b>
<b> 1.3.1. Giả thuyết cần kiểm định. </b>


<b> Dựa trên kết luận từ các nghiên cứu đã đề cập ở trên, chúng ta rút ra một </b>


nhận định và đồng thời cũng là giả thuyết chính cần kiểm định cho nghiên cứu
này. Đó là “Trong danh mục đầu tư chỉ cần có 10 đến 20 loại cổ phiếu là đủ để
đạt được mục đích của việc đa dạng hóa”.


<b> 1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu. </b>


<b> - </b>Số loại chứng khoán cần thiết trong một danh mục đầu tư thì bao nhiêu là
đủ để đa dạng hóa?


- Đa dạng hóa có loại trừ được hoàn toàn rủi ro?
- Đa dạng hóa ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận?


- Ảnh hưởng của việc đa dạng hóa giữa các thời kì khác nhau, thì giống hay
khác nhau?



<b>1.4. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU: </b>
<b> 1.4.1. Không gian nghiên cứu. </b>


<b> Như đã đề cập từ ban đầu, chúng ta sẽ chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của việc </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

cho việc nghiên cứu đa dạng hóa, tơi sẽ sử dụng số liệu của các công ty niêm yết
trên cả hai sàn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh.


<b> 1.4.2. Giai đoạn nghiên cứu. </b>


<b> Các công ty niêm yết ở hai sàn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh, đa phần lên sàn </b>


vào thời điểm cuối Quý 4 năm 2006 nhằm hưởng lợi từ quy định về niêm yết, cổ
phần hóa của Ủy Ban Chứng Khốn Nhà Nước đối với các công ty nên sàn trước
thời điểm 31/12/2006. Do vậy để đảm bảo sự tương đồng về thời gian giữa các
dữ liệu trong Luận văn với nhau. Chúng ta sẽ chỉ nghiên cứu trong giai đoạn từ
ngày 01 tháng 01 năm 2007 đến ngày 31 tháng 03 năm 2008.


<b> 1.4.3 Đối tượng nghiên cứu. </b>


<b> Số liệu được thu thập tập trung tồn bộ vào các cơng ty lên sàn trước thời </b>


điểm ngày 31 tháng 12 năm 2006. Đối tượng sử dụng trong nghiên cứu ở đây là
sự thay đổi về thị giá của các loại chứng khoán này từ ngày 01 tháng 01 năm
2007 đến ngày 31 tháng 03 năm 2008.


</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

<b>CHƯƠNG 2 </b>


<b>PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU </b>



<b>2.1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN: </b>


<b> Trước khi tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm, tơi sẽ trình bày lại các lý </b>


thuyết cơ bản và cùng thống nhất những nguyên tắc liên quan, được sử dụng
trong Luận văn này.


<b> 2.1.1. Cơ sở lý thuyết của việc đa dạng hóa: </b>


Lý thuyết kinh tế hiện đại cho rằng, rủi ro của một cổ phiếu ( rủi ro tổng
thể) là sự kết hợp của 2 thành phần: rủi ro hệ thống ( rủi ro không thể phân tán)
và rủi ro phi hệ thống ( rủi ro có thể phân tán). Rủi ro hệ thống là những loại rủi
ro có ảnh hưởng rộng rãi, tác động đến toàn bộ thị trường không phân biệt một
ngành một lĩnh vực riêng lẻ nào cả. Chẳng hạn như suy thoái kinh tế, chiến
tranh…Và mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực phản ứng một cách khác
nhau đối với loại rủi ro này.


Rủi ro phi hệ thống là loại rủi ro xuất phát từ riêng bản thân doanh nghiệp,
bản thân ngành. Nó khơng tác đông đến các doanh nghiệp, các ngành, các lĩnh
vực khác. Chẳng hạn như các chính sách quản trị của cơng ty thì chỉ ảnh hưởng
đến cơng ty, mất mùa trong nơng nghiệp thì ảnh hưởng đến các doanh nghiệp sản
xuất chế biến, kinh doanh nông nghiệp… Tất nhiên điều này chỉ mang tính chất
tương đối, vì bản thân các ngành các lĩnh vực có mối liên hệ sâu rộng với nhau,
ví như nơng nghiệp mất mùa thì sẽ kéo theo giá lương thực tăng và tất yếu là các
loại chi phí khác cũng tăng theo, do đó ảnh hưởng đến tồn bộ nền kinh tế.


Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau để giải thích sự suy giảm của rủi ro
khi kích cỡ danh mục tăng lên. Nhưng ở đây chúng ta sẽ chỉ trình bày thơng qua
<b>mơ hình Diagonal Modell, bởi vì tính chất đơn giản của nó, ta có thể giải thích </b>


được bản chất của việc đa dạng hóa một cách khá dễ hiểu. Cơng thức (1) có thể
được viết lại cho danh mục như sau:


</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

Mà lợi nhuận của danh mục thì lại phục thuộc vào tỉ lệ (wi ) của các chứng
khoán thành phần. Nhưng ở đây để cho đơn giản chúng ta sẽ giả định rằng tỉ lệ


này là bằng nhau giữa các chứng khốn, w<i><sub>i</sub></i> 1
<i>n</i>


= . Do đó từ (2):


1 1


1 1 1


1


w ( )


1 1 1


<i>n</i> <i>n</i>


<i>P</i> <i>i</i> <i>i</i> <i>i</i> <i>i</i> <i>M</i> <i>i</i>


<i>i</i> <i>i</i>


<i>n</i> <i>n</i> <i>n</i>


<i>i</i> <i>i</i> <i>M</i> <i>i</i>



<i>i</i> <i>i</i> <i>i</i>


<i>R</i> <i>R</i> <i>R</i> <i>e</i>


<i>n</i>


<i>R</i> <i>e</i>


<i>n</i> <i>n</i> <i>n</i>


α β
α β
= =
= = =
= = + +
⎛ ⎞
= + <sub>⎜</sub> <sub>⎟</sub> +
⎝ ⎠



(3)


Chúng ta thấy rằng khi số chứng khoán trong danh mục gia tăng, phần rủi
ro của danh mục đai diện bởi những nhân tố phi thị trường trở lên nhỏ hơn; Nói
cách khác nó bị đa dạng hóa đi. Trong khi phần rủi ro thị trường cịn lại thì khơng
bị ảnh hưởng bởi số chứng khoán tăng thêm trong danh mục.


Phương sai của lợi nhuận danh mục :



2 2 2 2<sub>( )</sub>


<i>P</i> <i>P</i> <i>M</i> <i>eP</i>


σ =β σ +σ


(4)


Phần rủi ro hệ thống trong phương sai danh mục, 2 2


<i>P</i> <i>M</i>


β σ dựa trên sự vận


động của thị trường và lệ thuộc vào hệ số β của các chứng khoán thành phần
trong danh mục. Do đó nó sẽ vẫn tiếp tục tồn tại cho dù kích cỡ danh mục có mở
rộng như thế nào đi nữa.


Ngược lại, phần rủi ro phi hệ thống trong phương sai của danh mục
là 2<sub>( )</sub>


<i>P</i>
<i>e</i>


σ dựa trên sự khác biệt riêng của mỗi công ty, <i>e<sub>i</sub></i>. Những khác biệt này thì


độc lập. Do đó:


2



2 2 2


1


1 1


( )<i><sub>P</sub></i> <i>n</i> ( )<i><sub>i</sub></i> ( )
<i>i</i>


<i>e</i> <i>e</i> <i>e</i>


<i>n</i> <i>n</i>
σ σ σ
=
⎛ ⎞
= <sub>⎜ ⎟</sub> =
⎝ ⎠


(5)


Với σ2( )<i>e</i> là trung bình của phương sai của riêng các chứng khốn. Bởi vì
trung bình thì độc lập với n, nên khi n tăng lên thì 2<sub>( )</sub>


<i>P</i>
<i>e</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14>

<b>Biểu đồ 2.1: Mối liên hệ giữa việc gia tăng kích cỡ danh mục (n) </b>
<b>và sự suy giảm rủi ro (Phương sai - </b> 2


<i>P</i>



<b>σ ). </b>




Phần chứng minh bản chất của việc đa dạng hóa này thực ra khơng phải là
một cơng thức tốn học hồn hảo, mà nó đơn thuần chỉ là kết quả của những
nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện trong nhiều năm. Các bạn có thể xem lại
<i>phần chứng minh gốc từ cuốn sách của: Bodie, Kane, Marcus, (2003). Finace, </i>


<i><b>Volume 1, Investments, Fifth Edition, McGrawHill /Irwin. trang 307 -308. </b></i>


Một lần nữa tôi cần phải nhấn mạnh một điều là mục đích chính của việc đa
dạng hóa khơng phải là gia tăng lợi nhuận, mà mục đích chính của nó là cố gắng
giảm rủi ro trong đầu tư chứng khốn, và hạn chế những chi phí tăng thêm do hệ
quả của đa dạng hóa gây ra như chi phí giao dịch, tìm kiếm thơng tin… và các
chi phí này bao giờ cũng phải thấp hơn lợi ích có được từ việc suy giảm rủi ro.
<b> 2.1.2. Cách thức đo lường hiệu quả của việc đa dạng hóa: </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(15)</span><div class='page_container' data-page=15>

1


<i>k</i> <i>k</i>


<i>k</i> <i>i</i> <i>i</i>


<i>i</i> <i>k</i>
<i>i</i>
<i>P</i> <i>d</i>
<i>R</i>
<i>P</i>


+
⎛ + ⎞
= ⎜ ⎟


⎝ ⎠ (6)


Với <i>k</i>
<i>i</i>


<i>R</i> là tỉ suất lợi nhuận của chứng khốn k trong khoảng thời kì i


<i>k</i>
<i>i</i>


<i>P</i> là giá của chứng khoán k ở thời điểm bắt đầu trong khoảng thời gian i.


<sub>1</sub><i>k</i>
<i>i</i>


<i>P</i><sub>+</sub> giá của chứng khoán k ở thời điểm kết thúc trong khoảng thời gian i.


<i>k</i>
<i>i</i>


<i>d</i> cổ tức được chia của chứng khốn k trong khoảng thời kì i.


Nhà đầu tư sẽ luôn cố gắng mua những khốn có tỉ suất lợi nhuận mong đợi
cao. Vấn đề là chúng ta thường không biết được những cổ phiếu nào sẽ tăng giá
trong tương lai và những chứng khốn có tỉ suất lợi nhuận R cao cũng thường là
những chứng khốn có rủi ro cao. Bởi vì rủi ro được xem là độ phân tán của lợi


nhuận, một chứng khốn có lợi nhuận càng cao thì mức độ phân tán của lợi
nhuận thơng thường cũng cao tương tự. Vì vậy lợi nhuận được xem là sự đánh
đổi của rủi ro.


Để ước lượng rủi ro (mức độ phân tán của lợi nhuận) chúng ta có thể đo
lường bằng độ lệch chuẩn hay phương sai (σ) của R trong những khoảng thời
gian đầu tư. Nhưng ở đây, chúng ta sẽ thống nhất chỉ sử dụng độ lệch chuẩn (S)
của R để đo lường rủi ro. Cơng thức tính như sau:


(

)

2


1
1
<i>n</i>
<i>k</i> <i>k</i>
<i>i</i>
<i>k</i> <i>i</i>
<i>R</i> <i>R</i>
<i>S</i>
<i>n</i>
=

=


(7)


<i><sub>S</sub>k</i><sub> là độ lệch chuẩn của chứng khoán k trong suốt thời gian xem xét. </sub>


<i><sub>R</sub>k</i> <sub> là tỉ suất lợi nhuận trung bình của chứng khốn k trong thời gian xem </sub>



xét.
<i>k</i>


<i>i</i>


<i>R</i> là tỉ suất lợi nhuận của chứng khoán k tại thời điểm i.


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16>

Đối với danh mục, tỉ suất lợi nhuận mong đợi của một danh mục với m
chứng khoán phụ thuộc vào tỉ lệ về giá trị của các chứng khoán thành phần trong
danh mục, nhưng trong Luận văn này chỉ quan tâm đến mối quan hệ giữa rủi ro
và số lượng chứng khốn mỗi loại trong danh mục. Do đó tỉ lệ giá trị đầu tư vào
các chứng khoán trong danh mục ở đây sẽ bằng nhau, và tỉ suất lợi nhận danh
mục ở thời kì i được tính như sau:


1
1 <i>m</i>
<i>P</i> <i>k</i>
<i>i</i> <i>i</i>
<i>k</i>
<i>R</i> <i>R</i>
<i>m</i> =


=

(8)


Với m là tổng số chứng khoán trong danh mục.


Tỉ suất lợi nhuận bình qn của danh mục P trong tồn bộ thời gian xem xét
được tính theo cơng thức.




1
1 <i>n</i>
<i>P</i> <i>P</i>
<i>i</i>
<i>i</i>
<i>R</i> <i>R</i>
<i>n</i> =


=

(9)


Với n là các giai đoạn trong thời gian đầu tư.


Rủi ro của danh mục được tính như sau:


(

)

2


1


1
S


1


<i>n</i>


<i>P</i> <i>P</i> <i>P</i>


<i>i</i>
<i>i</i>



<i>R</i> <i>R</i>


<i>n</i> =


= −


(10)


SP độ lệch chuẩn của danh mục


<i>RP</i> là tỉ suất lợi nhuận trung bình của danh mục nắm giữ trong toàn bộ thời


gian xem xét.
<i>i</i>


<i>P</i>


<i>R</i> là tỉ suất lợi nhuận của danh mục ở thời kì i.


</div>
<span class='text_page_counter'>(17)</span><div class='page_container' data-page=17>



Tiêu chuẩn để đánh giá lợi nhuận của chứng khoán là giá trị của chứng
khoán ở cuối thời điểm xem xét, và do đó chúng ta có chỉ tiêu hệ số nhân trung
bình của lợi nhuận (G) suốt thời kì đó. Trung bình hệ số nhân của lợi nhuận này
hồn tồn khác với trung bình tỷ suất lợi nhuận. Chẳng hạn như nếu ta mua một
chứng khoán với giá 1 đồng, sau 4 năm giá chứng khoán đó tăng lên thành 1,75
đồng. Đồng nghĩa với việc mỗi năm chứng khốn này tăng trưởng trung bình
15%, hay hệ số nhân trung bình của chứng khốn này là 15%. Trong khi đó nếu
tính tỉ suất lợi nhuận trung bình của chứng khốn này suốt 4 năm lại thành,



0,75


18,75%


4 = mỗi năm, và điều này không phản ánh đúng tốc độ phát triển liên


tục của chứng khốn đó.


Cách tính hệ số nhân trung bình lợi nhuận (G) của một chứng khoán như
sau:


1


1


<i>T</i> <i><sub>T</sub></i>


<i>k</i> <i>k</i>


<i>i</i>
<i>i</i>


<i>G</i> <i>R</i>


=


⎛ ⎞


= ⎜ ⎟



⎠ (11)


<i><sub>G</sub>k</i><sub> hệ số nhân trung bình của chứng khoán k suốt thời gian T </sub>


R<i>k</i>


<i>i</i> tỉ suất lợi nhuận chứng khoán k ở thời kì T.


</div>
<span class='text_page_counter'>(18)</span><div class='page_container' data-page=18>

tỉ lệ về giá trị của các chứng khoán trong danh mục khi có sự thay đổi về thị giá ở
mỗi giai đoạn bắt đầu ( trong Luận văn này mỗi quan sát cách nhau một tháng, do
vậy chúng ta sẽ phân bố lại tỉ lệ này vào ngày 15 hàng tháng) trong quá trình đầu
tư. Nhưng ở đây chúng ta sẽ chỉ nghiên cứu về hệ số lợi nhuận của phương pháp
REA, vì theo tơi việc duy trì một tỉ lệ cân bằng về giá trị của các chứng khốn
trong danh mục, thì bao giờ cũng có tác dụng phịng chống rủi ro tốt hơn. Cách
tính hệ số nhân lợi nhuận theo chiến lược REA (ở đây tỉ lệ đầu tư ban đầu là bằng
nhau) có thể hiểu qua minh họa sau:


<b>Bảng 2.1: Minh họa phương pháp tính lợi nhuận theo REA </b>


<b>Kì nắm giữ </b>
<b>Loại cổ phiếu</b>


<b>1 2 3 4 </b>


<b>A </b> 1,01 1,25 1,49 0,69


<b>B </b> 1,5 1,0 1,0 1,2


<b>C </b> 0,7 0,9 1,8 0,9



<b>Trung bình </b> 1,07 1,05 1,43 0,93




Giá trị REA4 = 1,07 x 1,05 x 1,43 x 1,09 = 1,494.


G(REA) =
1
4


(1, 494) =1,1056.


<b> </b>


<b> Trong luận văn này, sẽ đề cập nhiều lần đến khái niệm lợi ích của việc đa </b>


dạng hóa (hay lợi ích biên của đa dạng hóa). Chúng ta sẽ thống nhất về khái niệm
này là so sánh về tỉ lệ rủi ro của danh mục 1 chứng khoán và với danh mục thị
trường ( ở đây là danh mục 192 chứng khoán) với tỉ lệ rủi co của danh mục 1
chứng khoán và các danh mục khác. Cách tính như sau:


1
1


1 0 0 %
<i>i</i>


<i>M</i>



<i>S</i> <i>S</i>


<i>x</i>


<i>S</i> <i>S</i>




− (12)


Với S1 là độ lệch chuẩn của danh mục 1 chứng khoán
<i>S<sub>M</sub></i> độ lệch chuẩn của danh mục thị trường


</div>
<span class='text_page_counter'>(19)</span><div class='page_container' data-page=19>

<b>2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: </b>
<b> 2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu </b>


<b> Dữ liệu sơ cấp là giá chứng khốn đóng cửa, được lấy vào ngày 15 (hoặc </b>


vào ngày tiếp theo, nếu ngày 15 khơng có giao dịch) hàng tháng. Như vậy với
mỗi chứng khốn riêng lẻ chúng ta sẽ có 15 quan sát (tương ứng với 15 tháng) về
tỉ suất lợi nhuận kỳ vọng.


Như vậy khoảng thời gian giữa mỗi quan sát là một tháng, lý do chúng ta
không chọn các quan sát theo tuần hay theo ngày là bởi vì điều này nhằm làm
giảm bớt những ảnh hưởng do sự khác nhau về biên độ dao động giá đặt lệch do
Ủy ban chứng khoán nhà nước quy định ở các khoảng thời gian khác nhau,và sự
khác biệt giữa hai sàn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh. Do những thay đổi này có thể
dẫn đến những sai lệch trong kết quả nghiên cứu.


Ví dụ như chúng ta hãy so sánh biên độ dao động giá 1% với biên độ 5%,


với biên độ là 1% nếu trong 1 tháng có tới 20 phiên giao dịch tăng trần thì biên
độ dao động có thể được kéo dãn ra thành (1+1%)20=1,22 nghĩa là một chứng
khoán tăng trần liên tục trong 1 tháng cũng chỉ có thể tăng được 22% mà thơi.
Trong khi đó nếu biên độ là 5% chỉ cần tăng trần trong 4 phiên (1+5%)4=1,215
cũng gần sấp xỉ 22%, một sự khác biệt lớn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(20)</span><div class='page_container' data-page=20>

<b> 2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu </b>


<b> 192 chứng khoán này sẽ được phân phối ngẫu nhiên vào 6 nhóm. Mỗi </b>


chứng khốn được gán cho một số, cứ như vậy từ 1 cho tới 192. Trong mỗi
nhóm sẽ có 5 loại danh mục. Danh mục có 1 chứng khốn, danh mục có 4 chứng
khốn, danh mục có 8 chứng khốn, danh mục có 16 chứng khốn và danh mục
có 32 chứng khốn. Việc phân chia này sẽ khơng lặp lại, nghĩa là các chứng
khoán ở danh mục 4 chứng khốn ở nhóm 1 sẽ khơng thể xuất hiện ở danh mục 4
chứng khốn ở nhóm 2, đồng thời nó cũng sẽ khơng xuất hiện ở bất cứ danh mục
nào trong số 7 danh mục 4 chứng khoán cịn lại trong nhóm 1.


Như vậy tổng cộng chúng ta sẽ có 192 danh mục 1 chứng khoán, 48 danh
mục 4 chứng khoán, 24 danh mục 8 chứng khoán, 12 danh mục 16 chứng khoán,
6 danh mục 32 chứng khoán.


Cách thức liên kết danh mục này cho phép chúng ta đánh giá hiệu quả của
việc da dạng hóa. Chẳng hạn như ở nhóm 1, các dữ kiện của danh mục 32 chứng
khốn có thể so sánh với trung bình của 2 danh mục 16 chứng khốn, so sánh với
trung bình của 4 danh mục 8 chứng khoán, so sánh tiếp với trung bình của 8 danh
mục 4 chứng khốn, và với trung bình của 32 danh mục 1 chứng khốn. Cứ như
vậy chúng ta có thể đánh giá được tác dụng của việc đa dạng hóa khơng chỉ trong
nội bộ nhóm với nhau, mà cịn tất cả dữ liệu bằng cách tính trung bình của 6
nhóm.



Sau đó, chúng ta sẽ tính tỉ suất lợi nhuận trung bình của từng kích cỡ danh
mục trong từng nhóm. Tiếp theo lấy giá trị trung bình của các tỉ suất lợi nhuận
trung bình của các danh mục có cùng kích cỡ ở các nhóm. Như vậy chúng ta có
thể so sánh được hiệu quả của việc đa dạng hóa.


Trong bài 5 thời kì, với mỗi thời kì là 3 tháng. Liên tục từ 01/01/2007 đến
31/03/2008, chia ra tương ứng với:


</div>
<span class='text_page_counter'>(21)</span><div class='page_container' data-page=21>

Sau khi đã tiến hành phân tích giữa các giai đoạn với nhau như trên, chúng
ta sẽ gộp chung các giai đoạn trên thành một thời kì chung duy nhất từ
01/01/2007 đến 31/03/2008 và thực hiện lại việc đo lường rủi ro cho thời kì
chung này, mọi kết luận chủ yếu trong luận văn này sẽ được rút ra từ khối dữ liệu
gộp này.


Cuối cùng khi đã có được các kết quả tính tốn, tơi sẽ thực hiện kiểm định
để rút ra các nhận xét chung, đồng thời cũng sẽ thiết lập hàm hồi quy để chỉ ra
mối quan hệ giữa việc gia tăng kích cỡ danh mục và suy giảm rủi ro.


<i> Lưu ý: Mặc dù xáo trộn ngẫu nhiên, nhưng để đảm bảo thuận tiện cho việc </i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(22)</span><div class='page_container' data-page=22>

<b>CHƯƠNG 3 </b>


<b>SƠ LƯỢC VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM </b>


<b>3.1. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM – MỘT THỊ TRƯỜNG </b>
<b>NON TRẺ: </b>


<b> Thị trường chứng khoán Việt Nam, Trung tâm giao dịch chứng khốn Tp </b>



Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày
11/07/1998 của Thủ tướng Chính phủ và bắt đầu giao dịch vào ngày 28/07/2000;
Sàn Hà Nội là vào ngày 24/05/2006. Nhưng những diễn biến về chứng khoán chỉ
thật sự được sự quan tâm và chú ý của dư luận, khi Việt Nam gia nhập WTO và
Hội nghị APEC diễn ra tại Hà Nội vào cuối năm 2006. Từ thời điểm đó có thể
nói đã chứng kiến một sự phát triển vượt bậc của thị trường chứng khoán Việt
Nam; Bao gồm cả hai sàn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh. Số lượng công ty niêm yết
trên 2 sàn tăng lên gần 200 công ty ( Số công ty giao dịch trên sàn từ năm 2000
đến đầu năm 2006 là khoảng 35 công ty). Chỉ riêng sàn Tp Hồ Chí Minh giá trị
vốn hóa thị trường đã tăng vọt từ 1,5 tỷ USD vào đầu năm 2006 lên 10 tỷ USD
vào cuối năm.


<b>Bảng 3.1: Quy mô Sàn giao dịch chứng khốn Tp Hồ Chí Minh </b>
<b>đến hết ngày 31/12/2006 </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(23)</span><div class='page_container' data-page=23>

Trong giai đoạn này chỉ số Vn-Index và Hastc-Index liên tục đạt những cột
mộc mới với đỉnh của Vn-Index là 1.179,32 đạt được vào ngày 12/03/2007, còn
Hastc-Index đạt đỉnh 459,36 vào ngày 19/03/2007.


<b> </b>


<b>Biểu đồ 3.1: Diễn biến VN-Index và khối lượng giao dịch </b>
<b>tại Sàn Tp Hồ Chí Minh từ ngày 01/01/2006 đến ngày 16/04/2008. </b>


<b>Biểu đồ 3.2 : Diễn biến Hastc-Index và khối lượng giao dịch tại Sàn Hà Nội </b>
<b>từ ngày 24/05/2006 đến ngày 16/04/2008. </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(24)</span><div class='page_container' data-page=24>

Sự tăng trưởng nóng này có thể giải thích bằng việc các nhà đầu tư kỳ vọng
quá lớn vào thị trường. Vào thời điểm cuối năm 2006 đầu năm 2007 khi thành
phần các nhà đầu tư tham gia thị trường chiếm 90% trong 130.000 tài khoản giao


dịch trên 2 sàn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh là các nhà đầu tư cá nhân, những
người mới chập chững tham gia khi thị trường tăng trưởng nóng, chiến lược đầu
tư của những người này đơn giản là “mua giá cao và bán với giá cao hơn”. Họ kỳ
vọng vào một sự tăng trưởng thần kỳ của thị trường, mà không dựa vào bất cứ
một cơ sở vững chắc nào của các chứng khốn các cơng ty trên sàn mà họ đã
mua.


Thị trường vốn đã nóng lại càng trở nên nóng hơn khi thơng tin về các quỹ
đầu tư được thành lập với giá trị tài sản ròng (NAV) lên đến hàng trăm triệu USD
chuẩn bị đầu tư vào Việt Nam.


<b>Bảng 3.2: Các quỹ đầu tư vào Việt Nam thành lập năm 2007 </b>


<i>Đơn vị tính: Triệu đô la Mỹ </i>


<i><b>Nguồn: HSBC, Bloomberg từ www.tuoitre.com.vn </b></i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(25)</span><div class='page_container' data-page=25>

quân của khu vực là 20 và thế giới chỉ là 17, 18. Và điều tất yếu đã xảy ra khi giá
của các cổ phiếu bắt đầu suy giảm mạnh để trở về với giá trị thực của nó. Đầu
tiên là sàn Hà Nội, khi liên tục suy giảm và mất tới 200 điểm, chạm đáy 246,47
vào ngày 22/08/2007, Vn-Index mặc dù cố gắng giằng co quanh mức 1000 điểm.
Nhưng khi những thông tin xấu từ tình hình kinh tế Mỹ liên tục xuất hiện thì lịng
tin của các nhà đầu tư vào sự tăng trưởng của thị trường khơng cịn nữa. Kết quả
như ta đã biết là từ tháng 11 năm 2007 đến nay (tháng 03/2008), Vn-Index và
Hastc-Index đã suy giảm mạnh và hiên nay chỉ còn dao động quanh mức 550
điểm và 170 điểm.


<b>3.2. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM - MỘT THỊ TRƯỜNG </b>
<b>ĐẦY RỦI RO: </b>



<b> 3.2.1. Rủi ro từ bản thân thị trường: </b>


<b> Như ta đã biết thành phần các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(26)</span><div class='page_container' data-page=26>

quy định cụ thể để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư nhỏ, khơng có các điều
luật chặt chẽ về việc công bố thông tin của các công ty niêm yết, quy định về
việc phát hành thêm cổ phiếu thêm, các quy định về bảo mật thông tin…Tất cả
những điều trên khiến cho những người có quyền quyết định trong Hội đồng
quản trị và thường là nắm luôn các chức vụ trong Ban Giám đốc công ty mặc sức
(cũng có thể là vơ tình ?) trục lợi cho riêng mình. Hậu quả của nó là, lịng tin của
các nhà đầu tư càng suy giảm.


<b> 3.2.2. Rủi ro từ cách điều hành của các cơ quan có thẩm quyền: </b>


Đề cập tới vấn đề này có lẽ đi hơi xa nội dung của Luận văn này. Nhưng
nếu khơng nhắc tới thì lại trở thành thiếu sót, vì bản thân cách điều hành và các
chính sách ảnh hưởng rất lớn đến sự vận động của thị trường, tương ứng với nó
là một thị trường rủi ro hay ít rủi ro. Do vây ở đây tôi chỉ đề cập đến một vài vấn
đề cụ thể để minh chứng cho cách điều hành thiếu nhất quán của các cơ quan có
thẩm quyền đối với thị trường chứng khoán Việt Nam:


Chúng ta còn nhớ là khi thị trường tăng trưởng nóng vào tháng 10/2006. Ủy
ban chứng khốn nhà nước đã đề ra một loạt biện pháp để hạ nhiệt thị trường
trong đó có việc tăng biên độ dao động của giá từ lên 5%, cịn Ngân hàng nhà
nước thì ra chỉ thị 03 hạn chế cho vay chứng khoán. Kết quả của những biện
pháp này và các tác động của nền kinh tế thế giới nên thị trường chứng khoán
Việt Nam đã hạ nhiệt.


Nhưng khi thị trường hạ nhiệt và “nguy cơ vỡ bong bóng” đã được tháo gỡ.
Lúc này (tháng 11/2007) Vn-Index và Hastc-Index giảm liên tục, mà theo tôi


điều này hoàn toàn hợp lý do những nguyên nhân sau:


- Tình hình kinh tế thế giới đang trong giai đoạn suy thối, giá dầu thơ
tăng đạt ngưỡng kỷ lục 120 USD /thùng; Giá vàng cũng phá vỡ mốc
1000 USD/ 1Ounce; Khủng hoảng giá lương thực cũng diễn ra khắp nơi.
Lòng tin của nhà đầu tư suy giảm là chuyên đương nhiên


- Cộng thêm việc các nhà đầu cơ nhỏ lẻ đã nhận được bài học từ những
đợt suy giảm của thị trường vừa qua. Nên làm họ đã khơng cịn mặn mà
với thị trường như trước nữa.


</div>
<span class='text_page_counter'>(27)</span><div class='page_container' data-page=27>

như bất động sản hay giao dịch vàng trên sàn, hay mua vàng vật chất để
bảo toàn vốn, làm một nguồn vốn lớn trên thị trường bị mất đi.


- Các đợt IPO và phát hành chứng khốn ra cơng chúng của các cơng ty
có số vốn chủ sở hữu lên đến hàng ngàn tỷ, rồi phát hành cổ phiếu
thưởng của các công ty. Những điều trên đã tạo nên một lượng cầu lớn
quá mức mong đợi của nhà đầu tư.


- Chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng nhà nước (Mua 23.000 tỷ
đồng tín phiếu bắt buộc và hạn chế tăng trưởng dư nợ tín dụng của các
Ngân hàng thương mại khơng được vượt quá 30% ) để chống lạm phát,
kiềm chế tăng giá và tác dụng của chỉ thị 03 làm ảnh hưởng đến dư nợ
cho vay chứng khoán của các Ngân hàng thương mại.


- …


Và điều hiển nhiên lúc này Vn-Index và Hastc-Index phải giảm xuống là
chuyện hoàn tồn hợp lý, vì khơng có một thị trường nào có thể tăng trưởng liên
tục theo chiều thẳng đứng được cả, nhất là dưới những sức ép như trên. Nhưng


thay vì để 2 sàn chứng khốn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh vận động theo quy luật
thị trường, và các cơ quan hũu trách lúc này chỉ lên tập trung vào việc hoàn chỉnh
các bộ luật, cũng như quy định liên quan đến đầu tư chứng khốn . Thì trước đà
suy giảm q mạnh của thị trường, và sự kêu cứu từ “các nhà đầu tư đã trót dại”
Ủy ban chứng khốn nhà nước lại nhập cuộc bằng cách:


- Giới hạn biên độ dao động giá xuống còn 1%. Nhiều người cho rằng đây
là một chính sách hợp lý và không phá vỡ các quy luật thị trường. Nhưng tôi cho
rằng việc tăng giảm biên độ dao động giá này là một hành động phá vỡ sự vận
động bình thường của thị trường. Bởi vì khi nào thì nên tăng, khi nào thì nên
giảm biên độ? Chẳng lẽ lúc nào thị trường có xu hướng Bearish thì lại hạ biên độ
xuống, lúc nào Bullish thì lại nới rộng biên độ dao động. Cách làm này vơ tình đã
<i>tạo ra lịng tin về sự an toàn giả tạo đối với những nhà đầu tư . Nhắc tới vấn đề </i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(28)</span><div class='page_container' data-page=28>

<i>dao động là 5% thì nếu tăng liên tục 5 phiên sẽ là (1+5%)5 =127,6% . Một sự </i>
<i>khác biệt rất lớn. </i>


- Còn SCIC (Công ty quản lý vốn nhà nước) lại tổ chức mua lại các chứng
khoán trên thị trường, nhằm cân bằng cung cầu. Đây có thể hiểu như là một cách
đầu tư của nhà nước để bình ổn thị trường ( Kiểu như quỹ dự trữ lúa gạo giúp
bình ổn giá!). Nhưng liệu điều này có hợp lý? Nhiều người có thể lập luận rằng
SCIC ra tay cứu thị trường vào lúc này là đúng đắn, vì bằng chứng là giá chứng
khoán đã ổn định, và một khi giá chứng khoán đã ổn định nghĩa là xu hướng tăng
giá sẽ trở lại và khi thị trường tăng trở lại, SCIC chỉ việc bán các chứng khoán đã
mua ra để kiếm lợi và tiếp tục giúp bình ổn thị trường. Nhưng những cái đáy mà
Vn-Index và Hastc-Index chạm phải có phải là đáy thật sự không? Hay đây chỉ là
những đáy giả tạo do sự nâng đỡ của SCIC khi thông tin về việc mua lại cổ phiếu
trên thị trường được công bố. Chúng ta không thể biết được câu trả lời vì mọi
<b>chuyện đã diễn ra. Cịn hành động của SCIC có phải là hành đơng phi thị </b>



<b>trường hay không lại phụ thuộc vào việc tổ chức này là một tổ chức hoạt </b>
<b>động vì mục đích lợi nhuận (kiểu như một quỹ đầu tư tài chính) vận động </b>
<b>theo các nguyên tắc thị trường, hay một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động </b>
<b>theo các mệnh lệnh hành chính, xuất hiện như một cứu cánh giúp bình ổn, </b>
<b>khi thị trường gắp sự cố. Trong hiện tại thì nhiều người cho rằng hành động can </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(29)</span><div class='page_container' data-page=29>

Giá cổ phiếu của các công ty khi suy giảm đến một mức nào đó đương
nhiên sẽ có người mua vào. Vì họ xác định được đấy mới chính là giá trị thực của
các cổ phiếu đó, hành động can thiệp của Ủy ban chứng khoán nhà nước hay các
cơ quan hữu trách khác vơ tình lại tạo nên những thước đo sai lệch đối với giá trị
công ty. Còn những người đa mua phải cổ phiếu với giá cao đương nhiên phải
chịu lỗ, bởi vì họ đã không nắm bắt xu hướng của số đông và xu thế của thị
trường. Thị trường chứng khoán vốn đã là một canh bạc lớn và có kẻ thắng tất
yếu phải có người thua.


<b> Kết luận: Từ những luận điểm trên có thể thấy rằng thị trường chứng </b>
<b>khốn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là hết sức rủi ro. Rủi ro xuất phát từ </b>
chính bản thân các nhà đầu tư nghiệp dư thiếu bản lĩnh nhưng lại thừa thông tin
trên thị trường, rủi ro từ sự thiếu những quy định chặt chẽ, rủi ro từ cách thức
điều hành của các cơ quan hữu trách…Do vậy trước khi thị trường đi vào hoạt
động ổn định, có một cơ chế pháp lý hồn chỉnh, có những quy định cụ thể về rõ
ràng từ các cơ quan chức năng về cách thức điều hành thị trường, quy định về
<b>bảo vệ quyền của các nhà đầu tư nhỏ, quy định về công bố thông tin... Hãy đầu </b>


<b>tư vào thị trường (thay vì đầu cơ) một cách cẩn trong và tự bảo hiểm cho </b>
<b>mình bằng các phương cách có thể; Chẳng hạn như đa dạng hóa danh mục đầu </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(30)</span><div class='page_container' data-page=30>

<b>CHƯƠNG 4 </b>


<b>PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ SUY GIẢM RỦI RO </b>


<b>DO ĐA DẠNG HĨA </b>


<b>4.1. PHÂN TÍCH CHUNG: </b>


<b> 4.1.1. Thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu:</b>


<i> </i>


<b>Biểu đồ 4.1: Diễn biến của Hastc-Index từ 01/01/2007 đến 31/03/2008 </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(31)</span><div class='page_container' data-page=31>

<b> Hai biểu đồ trên cho ta một cái nhìn tổng quan về diễn biến của Trung tâm </b>


giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khốn Tp Hồ Chí Minh
trong thời gian từ 01/01/2007 đến 31/03.2008. Nhận xét đầu tiên mà chúng ta có
được là diễn biến của chỉ số chứng khoán ở 2 sàn là khá tương đồng nhau. Chẳng
hạn như ở T1, khi Vn-Index tăng từ 780 lên gần 1200 thì ở sàn Hà Nội
Index cũng tăng từ 250 lên 460. Ngoại trừ ở T2 khi xu hướng giảm của
Hastc-Index là khá rõ rệt và Vn-Hastc-Index là giằng co, thì ở các giai đoạn cịn lại T3, T4, T5
hầu như khơng có sự khác biệt trong xu hướng tăng giảm giữa hai sàn.


<b> 4.1.2. Phân tích ảnh hưởng của việc gia tăng kích cỡ danh mục đến rủi ro </b>


<b>ở các giai đoạn khác nhau:</b>


Đầu tiên, chúng ta sẽ tiến hành chia dữ liệu trên thành 5 giai đoạn để tiến
hành so sánh với nhau. Mục tiêu là tìm ra được độ lệch chuẩn của các danh mục,
và so sánh độ lệch chuẩn giữa các thời kỳ khác nhau để đi đến kết luận về sự suy
giảm rủi ro, nhờ đa dạng hóa.


Sau đây là bảng kết quả về sự phân bố của độ lệch chuẩn trung bình của tỉ


suất lợi nhuận giữa các kích cỡ danh mục khác nhau và giữa các giai đoạn với
nhau, điều này tạo điều kiện dễ dàng cho chúng ta có thể so sánh các kết quả đạt
được về lợi ích của việc đa dạng hóa ở các khoảng thời gian khác nhau.


<b>Bảng 4.1: Phân bố trung bình rủi ro tổng thể trong 5 giai đoạn. </b>


<b>LOẠI DANH MỤC T1 T2 T3 T4 T5 TRUNG BÌNH</b>


<b>1 </b> 0.3005 0.1987 0.1092 0.2430 0.1682 0.2039


<b>4 </b> 0.1904 0.1667 0.0847 0.2147 0.1573 0.1628


<b>8 </b> 0.1599 0.1535 0.0771 0.2031 0.1554 0.1498


<b>16 </b> 0.1452 0.1506 0.0756 0.2005 0.1543 0.1452


<b>32 </b> 0.1389 0.1477 0.0738 0.1975 0.1541 0.1424


<b>DM Thị Trường </b> 0.1287 0.1468 0.0735 0.1959 0.1540 0.1398


<b> So sánh các giai đoạn với nhau ta thấy rằng, ở giai đoạn 1 rủi ro của danh </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(32)</span><div class='page_container' data-page=32>

rằng rủi ro suy giảm đáng kể khi kích cỡ danh mục tăng lên nhưng sự suy giảm
này lại có sự khác nhau ở các thời kì khác nhau. Ở giai đoạn 1 với việc đưa thêm
3 loại chứng khoán vào trong danh mục 1 chứng khốn ta đã có thể làm rủi ro
giảm đi 0,11 xuống còn 0,19 chiếm tới 36% trong tổng rủi ro. Trong khi đó ở
giai đoạn 5 cũng với 3 loại chứng khoán được thêm vào danh mục 1 chứng
khoán, rủi ro chỉ suy giảm được 6,5%.


<b>Bảng 4.2: Tỉ lệ độ lệch chuẩn của các loại danh mục </b>


<b>so với danh mục thị trường. </b>


<i>Đơn vị tính: % </i>


<b>LOẠI DANH MỤC T1 </b> <b> T2 </b> <b> T3 </b> <b> T4 </b> <b> T5 </b> <b>TRUNG BÌNH </b>


<b>1 </b> 233.54 135.42 148.54 124.04 109.26 145.91


<b>4 </b> 147.97 113.61 115.30 109.62 102.15 116.47


<b>8 </b> 124.25 104.60 104.90 103.67 100.91 107.18


<b>16 </b> 112.82 102.61 102.88 102.34 100.21 103.91


<b>32 </b> 107.91 100.61 100.46 100.81 100.10 101.88


<b>DM Thị Trường </b> 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00


<b> Điều này cũng phù hợp với những lý thuyết mà chúng ta có được, vì chúng </b>


ta đều biết rằng rủi ro của danh mục toàn thị trường thì đại diện cho phần rủi ro
hệ thống khơng thể đa dạng hóa, nên cũng dễ hiểu vì sao ở T1 chỉ với 3 chứng
khốn thêm vào danh mục 1 chứng khốn mà đã có thể hạ rủi ro xuống còn
63,36%. Còn ở thời kì thứ 5 rủi ro phi hệ thống chỉ là 9,26%, đương nhiên kéo
theo việc chúng ta chỉ có thể hạ được rủi ro trong 9,26% này. Nên cho dù với
danh mục 32 chứng khoán hay một danh mục có kích cỡ lớn hơn nữa thì chúng ta
cũng không thể nào hạ thấp được rủi ro xuống quá 0,1540 rủi ro hệ thống.


<b>Bảng 4.3: Tỉ lệ rủi ro của các danh mục </b>
<b>so với danh mục tồn thị trường (Tính theo tháng) </b>



<i>Đơn vị tính: % </i>


<b>LOẠI DANH MỤC </b> <b>T1 T2 T3 T4 T5 TRUNG BÌNH</b>


<b>1 </b> 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00


<b>4 </b> 63.36 83.90 77.62 88.38 93.50 79.82


<b>8 </b> 53.20 77.24 70.62 83.58 92.36 73.45


<b>16 </b> 48.31 75.77 69.26 82.50 91.72 71.22


</div>
<span class='text_page_counter'>(33)</span><div class='page_container' data-page=33>

Như vậy kết luận đầu tiên mà chúng ta có được là rủi ro ở các thời kì khác
nhau thì khơng giống nhau và sự suy giảm của nó phụ thuộc vào rủi ro phi hệ
thống có chiếm tỉ trọng lớn trong tổng rủi ro hay không. Danh mục mà rủi ro phi
hệ thống chiếm tỷ trọng càng lớn thì tác dụng đa dạng hóa càng thể hiện rõ rệt và
càng hiệu quả


Nhưng có một điểm chung là những chứng khoán đầu tiên thêm vào danh
mục bao giờ cũng là những chứng khoán làm rủi ro suy giảm nhiều nhất, chẳng
hạn như với danh mục 1 chứng khoán ở thời kỳ 1 với 3 chứng khoán thêm vào để
tạo thành danh mục 4 chứng khoán thì mỗi chứng khốn làm rủi ro giảm xuống
12,213%. Trong khi đó nếu chúng ta tiếp tục thêm 4 chứng khốn vào danh mục
4 chứng khốn đó, để tạo thành danh mục 8 chứng khốn, thì với mỗi chứng
khoán thêm vào rủi ro chỉ giảm được có 2,54%. Cứ như vậy mức độ suy giảm
của rủi ro trên mỗi chứng khoán được thêm vào danh mục sẽ giảm dần. Điều này
gợi ý cho chúng ta là khơng nên đa dang hóa q mức. Vì việc này khơng những
khơng hiệu quả, do việc suy giảm rủi ro trên mỗi chứng khoán sẽ rất thấp khi
kích cỡ danh mục đã lớn mà cịn kéo theo chi phí quản trị danh mục, chi phí tìm


kiếm thơng tin gia tăng …


<b>Bảng 4.4: Tỉ lệ suy giảm của rủi ro trên mỗi chứng khốn </b>
<b>được thêm vào danh mục </b>


<i>Đơn vị tính: % </i>


<b>SO CK THEM VAO DM </b> <b>T1 </b> <b>T2 </b> <b>T3 </b> <b>T4 </b> <b>T5 </b> <b>TRUNG BÌNH</b>
<b>3 + DM1 = DM4 </b> 12.213 5.367 7.460 3.873 2.167 6.727


<b>4 + DM4 = DM8 </b> 2.540 1.665 1.750 1.200 0.285 1.593


<b>8 + DM8 = DM16 </b> 0.611 0.184 0.170 0.135 0.080 0.279


<b>16 + DM16 = DM32 </b> 0.131 0.092 0.102 0.077 0.006 0.088


</div>
<span class='text_page_counter'>(34)</span><div class='page_container' data-page=34>

<b>Bảng 4.5: Lợi ích biên của sự suy giảm độ lệch chuẩn </b>


<i>Đơn vị tính: % </i>


<b> LOẠI DANH MỤC </b> <b>T1 T2 T3 T4 T5 TRUNG BÌNH</b>


<b>1 </b> 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00


<b>4 </b> 64.08 61.57 68.48 59.96 76.78 64.12


<b>8 </b> 81.84 87.01 89.90 84.73 90.20 84.37


<b>16 </b> 90.40 92.62 94.07 90.29 97.73 91.48



<b>32 </b> 94.08 98.26 99.06 96.62 98.96 95.90


<b>DMTT </b> 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00


Mặc dù sự suy giảm của rủi ro ở các thời kì khác nhau là khơng giống
nhau, do phụ thuộc vào tỉ trọng của rủi ro phi hệ thống có chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng rủi ro hay không. Nhưng mặt khác mức độ suy giảm của rủi ro phi hệ
thống thì lại khá đồng đều giữa các thời kì khác nhau, như bảng 4.5 đã chỉ ra với
một danh mục 4 chứng khốn thì ta có thể đạt được từ 60% đến 75% mục đích
của việc đa dạng hóa, tức là loại bỏ rủi ro phi hệ thống. Với một danh mục có 8
chứng khốn là 82% đến 92%, danh mục có 16 chứng khốn là 90% đến 98%,
danh mục có 32 chứng khoán là 94% đến 99%.


Bảng 4.5 còn cho ta thấy một điều là ở thời kì T5 khơng như ta đã nghĩ là
có mức độ suy giảm của rủi ro thấp, khi 3 chứng khoán được thêm vào để tạo
thành danh mục 1 chứng khoán để tạo thành danh mục 4 chứng khốn, mà thậm
chí nó cịn có mức độ loại bỏ rủi ro phi hệ thống cao nhất trong các thời kì và đạt
76,78%. Trong khi đó thời kì T1, với mức độ làm suy giảm rủi ro được đánh giá
cao nhất nhưng cũng chỉ đạt 64% với 3 chứng khoán được thêm vào danh mục 1
chứng khoán.


<i><b> 4.1.3. Ảnh hưởng của việc gia tăng kích cỡ danh mục đến lợi nhuận: </b></i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(35)</span><div class='page_container' data-page=35>

Như ta đã biết các kết quả mà chúng ta trình bày từ đầu chương 4 tới giờ,
tất cả đều là kết quả trung bình và tỉ lệ giữa các chứng khoán là bằng nhau. Do
vậy khi trình bày tỉ suất lợi nhuận của các kích cỡ danh mục khác nhau chúng ta
gặp phải một khó khăn do việc sử dụng kĩ thuật trung bình này. Ở đây tơi sẽ chỉ
rõ khó khăn này qua một ví dụ minh họa:


Chẳng hạn như chúng ta có 4 chứng khoán A,B,C,D với các mức tỉ suất lợi


nhuận lần lượt A=1,2 B=1,4 C=1,5 D=1. Như vậy chúng ta sẽ có tỉ suất lợi nhuận
trung bình của danh mục 1 chứng khoán là (1,2+1,4+1,5+1)/4=1,275. Với 4
chứng khoán này ta có thể tạo được 2 danh mục 2 chứng khốn chẳng hạn như A
và B thì sẽ có tỉ suất lợi nhuận là (1,2+1,4)/2=1,3, và danh mục 2 chứng khốn
C,D sẽ có tie suất lợi nhuận là (1,5+1)/2=1,25. Lúc này khi trình bày kết quả
chúng ta sẽ sử dụng số trung bình làm đại diện, kết quả là tỉ suất trung bình của 2
danh mục 2 chứng khoán sẽ là (1,25+1,3)/2=1,275. Do vậy chúng ta sẽ không
phân biệt được sự khác nhau của tỉ suất lợi nhuận ở các kích cỡ danh mục khác
nhau.


<b> </b>


<b>Bảng 4.6: Tỉ suất lợi nhuận bình quân trong 5 giai đoạn </b>


<b>LOẠI DANH MỤC T1 </b> <b> T2 </b> <b> T3 </b> <b> T4 </b> <b> T5 </b> <b>TRUNG BÌNH </b>
<b>Tỉ suất lợi nhuận </b> 1.2539 0.9756 0.9841 1.1264 0.8789 1.0438


Để giải quyết vấn đề trên chúng ta sẽ trình bày tỉ suất lợi nhuận của các
kích cỡ danh mục khác nhau bằng đồ thị. Đầu tiên tôi sẽ vẽ đồ thị tỉ suất lợi
nhuận của các danh mục 1 chứng khoán trong các giai đoạn từ T1 tới T5, việc
này cũng được thực hiện cho các danh mục có kích cỡ khác. Sau đó tơi sẽ sử
dụng số liệu của 15 tháng, rồi gộp chung các kích cỡ danh mục này vào một đồ
thị để tiện cho việc xem xét.


</div>
<span class='text_page_counter'>(36)</span><div class='page_container' data-page=36>



<b>Biểu đồ 4.3: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận </b>
<b>của danh mục 1 chứng khoán. </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(37)</span><div class='page_container' data-page=37>

<b>Biểu đồ 4.5: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận </b>


<b>của danh mục 8 chứng khoán</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(38)</span><div class='page_container' data-page=38>

<b>Biểu đồ 4.7: Sự phân bố của độ lệch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận </b>
<b>của danh mục 32 chứng khoán. </b>


Dựa vào sự phân bố độ lệch chuẩn của các kích cỡ danh mục trên ta có thể
rút ra một số kết luận quan trọng sau. Thứ nhất, là sự suy giảm của rủi ro hoàn
tồn có thể đạt được bằng cách gia tăng kích cỡ danh mục, và sự suy giảm này
khá ổn định qua các thời kì khác nhau.. Hãy nhìn vào các biểu đồ từ 4.3 đến 4.7,
hầu hết các loại danh mục đều có khuynh hướng tập trung vào một độ lệch chuẩn
nào đó chẳng hạn như danh mục 1 chứng khốn có khuynh hướng tập trung vào
độ lệch chuẩn vào mức xấp xỉ từ 0 đến 0,4. Khuynh hướng này tiếp tục biểu hiện
rõ qua các biểu đồ còn lại và mức độ tập trung càng lúc càng cao với các mức
xấp xỉ từ 0,05 đến 0,25 ở danh mục 4 chứng khoán, từ 0,05 đến 0,23 với danh
mục 8 chứng khoán, từ 0,07 đến 0,2 ở danh mục 16 chứng khoán và từ 0,14 đến
0,175 ở danh mục 32 chứng khoán.


</div>
<span class='text_page_counter'>(39)</span><div class='page_container' data-page=39>

cỡ nhỏ. Do vậy nếu bạn không phải là một người ưa mạo hiểm, thì với một danh
mục kích cỡ lớn có tỉ suất lợi nhuận trung bình và mức độ rủi ro thấp thì cũng
không phải là một lựa chọn quá tệ.


Tuy nhiên, như đã nói từ ban đầu là việc tính tỉ suất lợi nhuận trung bình
khơng phản ánh được lợi nhuận thực sự mà nhà đầu tư có được, cũng như chiến
lược đầu tư thực tế mà họ áp dụng. Do vây chúng ta sẽ thử tính lại lợi nhuận của
các danh mục có kích cỡ khác nhau ở trong 5 giai đoạn để xem liệu thực tế việc
gia tăng kích cỡ danh mục có làm lợi nhuận suy giảm khơng?


<b>Bảng 4.7: Hệ số nhân lợi nhuận bình qn tính theo tháng </b>
<b> (phương pháp REA) </b>



<b>LOẠI DANH MỤC T1 T2 T3 T4 T5 TRUNG BÌNH</b>


<b>1 1.4523</b> <b>1.0781</b> <b>1.0850</b> <b>1.3326</b> <b>0.9823 1.1861</b>
<b>4 1.6026</b> <b>1.1286</b> <b>1.1078</b> <b>1.3979</b> <b>0.9585 1.2391</b>
<b>8 1.6905</b> <b>1.1112</b> <b>1.1079</b> <b>1.3779</b> <b>0.9584 1.2492</b>
<b>16 1.6905</b> <b>1.1289</b> <b>1.0634</b> <b>1.3249</b> <b>0.9579 1.2331</b>
<b>32 1.6415</b> <b>0.9919</b> <b>1.1078</b> <b>1.4023</b> <b>0.9599 1.2207</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(40)</span><div class='page_container' data-page=40></div>
<span class='text_page_counter'>(41)</span><div class='page_container' data-page=41>

<b>4.2 TIẾN HÀNH KIỂM ĐỊNH CÁC GIÁ TRỊ NHẬN ĐƯỢC: </b>


<b> Các kết luận đã trình bày ở trên, hầu hết đều là kết quả trung bình của các </b>


giá trị tính tốn. Kết quả nhận được ở trên khơng ít thì nhiều cũng sẽ bị ảnh
hưởng bởi cách tính trung bình này, vì kĩ thuật trung bình khơng phản ánh được
những biến thiên của các đại lượng cần quan sát. Do vậy để đảm bảo tính khách
quan cho những kết luận về việc suy giảm rủi ro khi gia tăng kích cỡ danh mục
đã trình bày ở trên. Tôi sẽ tiến hành kiểm tra lại các kết quả đã có được bằng việc
sư dụng kiểm định Kruskal-Wallis cho 5 kích cỡ danh mục nghiên cứu. Nhưng ở
đây chúng ta sẽ chỉ kiểm định cho khoảng thời gian 15 tháng, chứ không kiểm
định lại riêng từng kết quả của các khoảng thời gian 3 tháng (T1, T2, T3, T4,
T5). Sau đây là kết quả có được.


<b>Bảng 4.8: Phân hạng </b>


<b>Loai Danh Muc Cỡ Mẫu Hạng Trung Bình </b>


DM 1 CK 192 154.25


DM 4 CK 48 120.23



DM 8 CK 24 113.67


DM 16 CK 12 99.33


DM 32 CK 6 99.33


<b>Tổng </b> 282


<b>Bảng 4.9: Giá trị thống kê </b>


<b>Đại Lượng thống kê</b> <b>Giá trị </b>


Chi-Square 15.567
df 4
Sig.F 0.004


<b> Như vậy, với Sig F = 0,004 ta có thể bác bỏ giả thuyết H</b>0 là trung bình tổng
thể của các kích cỡ danh mục khác nhau là bằng nhau. Đồng thời với giá trị của
bảng phân hạng 4.8 ở trên ta có thể nói danh mục 1 chứng khốn có rủi ro cao
hơn hẳn so với danh mục 4 chứng khoán, và các danh mục khác. Danh mục 4
chứng khốn có rủi ro cao hơn danh mục 8 chứng khoán, 16 chứng khoán và 32
chứng khốn. Cịn danh mục có 8 chứng khốn có rủi ro cao hơn danh mục 16 và
32 chứng khốn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(42)</span><div class='page_container' data-page=42>

hóa tạo ra. Vì vây để mọi người có một cái nhìn tồn diện hơn, tơi đã thực hiện
phân tích ANOVA một chiều với giả định là các tổng thể có phân phối chuẩn, và
sau đó chúng ta sẽ thực hiện phân tích sâu ANOVA với phương pháp Turkey.
Kết quả của những kiểm định này được trình bày trong phần phụ lục 3, cũng khá
tương đồng với kết quả của kiểm định Kruskal-Wallis đã thực hiện. Các bạn có
thể xem lại và rút ra những nhận định cho riêng mình. .



<b>4.3. THIẾT LẬP HÀM HỒI QUI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘ LỆCH </b>
<b>CHUẨN CỦA DANH MỤC VÀ DANH MỤC KÍCH CỠ n. </b>


Chúng ta sẽ thiết lập mơ hình theo dạng của Evan-Archer :


1
<i>n</i>


<i>S</i> <i>NS DS</i>
<i>n</i>
⎛ ⎞


= + <sub>⎜ ⎟</sub>


⎝ ⎠ (13)


Sn <b> độ lệch chuẩn của danh mục kích cỡ n, là biến phụ thuộc. </b>


NS rủi ro không thể đa dạng hóa ( Rủi ro hệ thống-Non diversible risk)
DS rủi ro có thể đa dạng hóa (Rủi ro phi hệ thống – Diversible Risk)
n <b>số loại chứng khoán trong danh mục, là biến độc lập. </b>


Dựa vào mơ hình này và các kết quả tính tốn có được ở phần trên chúng ta
sẽ tiến hành thiết lập mơ hình hàm hồi quy. Sau đây là kết quả dựa theo phương
pháp OLS:


<b>Bảng 4.10: Các giá trị thống kê của hàm hồi quy. </b>


<b>ĐẠI LƯỢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ</b>



Rủi ro hệ thống (NS) 0,196


Rủi ro phi hệ thống(DS) 0,061


R 0,228


R Square 0,052


Sai số chuẩn 0,1


F 15,379


Sig F 0,000




</div>
<span class='text_page_counter'>(43)</span><div class='page_container' data-page=43>

toán học một biến thông thường với biến phụ thuộc là số lượng chứng khoán
trong danh mục như thế này khó lịng giải thích được hết rủi ro của thị trường,
vốn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.


Với rủi ro hệ thống chiếm 76,3% trong tổng rủi ro, cho thấy thị trường
chứng khoán Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của những nhận tố thị trường,
trong khi đó tác động của những nhân tố phi thị trường đến những thay đổi trong
thị giá chỉ chiếm một phần nhỏ. Như vậy cho dù chúng ta có cố gắng mua tất cả
các cổ phiếu với niêm yết trên 2 sàn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh thì cũng chỉ có
thể làm tổng rủi ro giảm đi một khoảng sấp xỉ 0,061.


</div>
<span class='text_page_counter'>(44)</span><div class='page_container' data-page=44>




<b>CHƯƠNG 5 </b>


<b>MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ SAI SÓT </b>
<b> </b>


<b> </b> Thứ nhất, đó là vấn đề về cổ tức được chia. Do khơng có số liệu về cổ tức
được chia của tất cả các công ty trong danh sách thống kê. Nên tôi đã quyết định
không tính giá trị của cổ tức ở tất cả các công ty niêm yết vào tỷ suất lợi nhuận.
Sự ảnh hưởng của điều này đến kết quả thống kê là khơng thể tính được. Nhưng
bản thân tơi cho rằng điều này sẽ không tác động lớn đến kết quả, vì 2 ngun
nhân sau đây: Thứ nhất, đó là việc khơng tính cổ tức của tồn bộ các công ty.
Điều này tạo ra một sự cân bằng vì nếu ta chỉ tính một số cơng ty trong danh
mục, mà khơng tính các cơng ty khác thì điều này sẽ tạo ra sự chệnh lệch giữa tỷ
suất lợi nhuận mong đợi, từ đó tạo ra sự khác biệt về độ lệch chuẩn và ảnh hưởng
đến kết quả thống kê về suy giảm rủi ro ( là vấn đề quan tâm chủ yếu trong Luận
văn này). Thứ hai, chúng ta dựa trên quan điểm giá chứng khoán trên thị trường
đại diện cho tất cả mọi điều ( Quan điểm của Charles Dow). Do vậy, tơi cho rằng
giá chứng khốn cũng đã bao hàm cả lợi ích từ việc được chia cổ tức, vì vậy kết
quả thống kê sẽ khơng có những sai khác lớn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(45)</span><div class='page_container' data-page=45>

tháng. Quá trình này sẽ được lặp lại 10 lần và đồng thời cũng tính ln hệ số
nhân lợi nhuận theo phương pháp REA. Sau đây là bảng kết quả tính tốn.


<b>Bảng 5.1: Độ lệch chuẩn của danh mục khả dĩ ở các kích khác nhau </b>
<b>theo tháng trong thời gian xem xét 01/01/2007 đến 31/03/2008. </b>


<b>LOẠI DANH MỤC 1</b> <b>4</b> <b>8</b> <b>16</b> <b>32 DM TT </b>


<b>RỦI RO </b> 0.256445 0.205169 0.194151 0.188338 0.185350 0.1832638



CỰC ĐẠI 0.700365 0.314694 0.247423 0.231204 0.214614 x


CỰC TIỂU 0.085433 0.134791 0.138800 0.154021 0.170900 x


<b>G(REA) </b> 1.014782 1.025060 1.026908 1.027869 1.028408 1.0288323


CỰC ĐẠI 1.195100 1.086186 1.073257 1.059239 1.045271 x


CỰC TIỂU 0.894563 0.980425 0.987528 1.002716 1.014124 x


<b>LOẠI DANH MỤC 1 </b> <b>4 </b> <b>8 </b> <b>16 </b> <b>32 </b> <b>DM TT </b>


<b>RỦI RO </b> 0.256445 0.204578 0.194129 0.188536 0.185324 0.1832638


CỰC ĐẠI 0.700365 0.305880 0.236449 0.217923 0.206784 x


CỰC TIỂU 0.085433 0.103781 0.139684 0.157685 0.167435 x


<b>G(REA) </b> 1.014782 1.025102 1.027052 1.027994 1.028465 1.0288323
CỰC ĐẠI 1.195100 1.082174 1.061782 1.047842 1.043665 x


CỰC TIỂU 0.894563 0.975182 1.001343 1.013230 1.020444 x


<b>LOẠI DANH MỤC 1</b> <b>4</b> <b>8</b> <b>16</b> <b>32 DM TT </b>


<b>RỦI RO </b> 0.256445 0.203597 0.193592 0.189448 0.186752 0.1832638


CỰC ĐẠI 0.700365 0.292931 0.270281 0.235128 0.214945 x


CỰC TIỂU 0.085433 0.129916 0.152351 0.157656 0.168346 x



<b>G(REA) </b> 1.014782 1.025400 1.027096 1.027767 1.028274 1.0288323


CỰC ĐẠI 1.195100 1.082379 1.067263 1.050939 1.033545 x


CỰC TIỂU 0.894563 0.986208 0.993579 1.009146 1.021361 x


<b>LOẠI DANH MỤC 1</b> <b>4</b> <b>8</b> <b>16</b> <b>32 DM TT </b>


<b>RỦI RO </b> 0.256445 0.205188 0.193879 0.188773 0.185272 0.1832638


CỰC ĐẠI 0.700365 0.323746 0.259129 0.202033 0.200278 x


CỰC TIỂU 0.085433 0.127213 0.129423 0.169193 0.177333 x


<b>G(REA) </b> 1.014782 1.024897 1.026921 1.028064 1.028532 1.0288323


CỰC ĐẠI 1.195100 1.093818 1.070237 1.041174 1.040988 x


CỰC TIỂU 0.894563 0.982267 0.992047 1.006170 1.017791 x


<b>LOẠI DANH MỤC 1</b> <b>4</b> <b>8</b> <b>16</b> <b>32 DM TT </b>


<b>RỦI RO </b> 0.256445 0.205188 0.193879 0.188773 0.185272 0.1832638


CỰC ĐẠI 0.700365 0.323746 0.259129 0.202033 0.200278 x


CỰC TIỂU 0.085433 0.127213 0.129423 0.169193 0.177333 x


<b>G(REA) </b> 1.014782 1.024897 1.026921 1.028064 1.028532 1.0288323



CỰC ĐẠI 1.195100 1.093818 1.070237 1.041174 1.040988 x


CỰC TIỂU 0.894563 0.982267 0.992047 1.006170 1.017791 x


<b>LOẠI DANH MỤC 1</b> <b>4</b> <b>8</b> <b>16</b> <b>32 DM TT </b>


<b>RỦI RO </b> 0.256445 0.206591 0.195637 0.189860 0.185815 0.1832638


CỰC ĐẠI 0.700365 0.299607 0.258137 0.223808 0.196672 x


CỰC TIỂU 0.085433 0.122222 0.139774 0.164847 0.175596 x


<b>G(REA) </b> 1.014782 1.024840 1.026818 1.027777 1.028437 1.0288323


CỰC ĐẠI 1.195100 1.100773 1.073327 1.050776 1.035373 x


CỰC TIỂU 0.894563 0.983102 1.008162 1.011196 1.012923 x


<b>LOẠI DANH MỤC 1</b> <b>4</b> <b>8</b> <b>16</b> <b>32 DM TT </b>


<b>RỦI RO </b> 0.256445 0.203409 0.193727 0.188609 0.185680 0.1832638


</div>
<span class='text_page_counter'>(46)</span><div class='page_container' data-page=46>

CỰC TIỂU 0.894563 0.980799 0.986674 1.006652 1.013461 x


<b>LOẠI DANH MỤC 1</b> <b>4</b> <b>8</b> <b>16</b> <b>32 DM TT </b>


<b>RỦI RO </b> 0.256445 0.204665 0.194769 0.188374 0.185853 0.1832638


CỰC ĐẠI 0.700365 0.325801 0.281298 0.225547 0.205525 x



CỰC TIỂU 0.085433 0.122932 0.141457 0.159611 0.158281 x


<b>G(REA) </b> 1.014782 1.025203 1.026944 1.027985 1.028402 1.0288323


CỰC ĐẠI 1.195100 1.106040 1.063201 1.053439 1.040545 x


CỰC TIỂU 0.894563 0.976442 0.992306 0.994714 1.017105 x


<b>LOẠI DANH MỤC 1</b> <b>4</b> <b>8</b> <b>16</b> <b>32 DM TT </b>


<b>RỦI RO </b> 0.256445 0.206854 0.195807 0.189060 0.186165 0.1832638


CỰC ĐẠI 0.700365 0.327099 0.258273 0.230948 0.216269 x


CỰC TIỂU 0.085433 0.130706 0.134967 0.151389 0.164732 x


<b>G(REA) </b> 1.014782 1.024890 1.026701 1.027815 1.028321 1.0288323


CỰC ĐẠI 1.195100 1.080430 1.064244 1.054270 1.047876 x


CỰC TIỂU 0.894563 0.965228 0.986169 0.997985 1.012277 x


<b>LOẠI DANH MỤC 1</b> <b>4</b> <b>8</b> <b>16</b> <b>32 DM TT </b>


<b>RỦI RO </b> 0.256445 0.205614 0.194254 0.188381 0.185563 0.1832638


CỰC ĐẠI 0.700365 0.337593 0.247261 0.221315 0.210002 x


CỰC TIỂU 0.085433 0.138275 0.133073 0.158733 0.165702 x



<b>G(REA) </b> 1.014782 1.024896 1.026965 1.027949 1.028408 1.0288323


CỰC ĐẠI 1.195100 1.100624 1.074009 1.047578 1.039147 x


CỰC TIỂU 0.894563 0.982580 0.991719 1.012452 1.023412 x


Thứ ba, danh mục toàn thị trường (DM TT) ở đây là danh mục 192 chứng
khoán (tỉ lệ bằng nhau) mà chúng ta xem xét như là một giải pháp thay thế cho
chỉ số thị trường. Chúng ta chọn danh mục 192 này vì bản thân của sự kết các
danh mục ở đây là do tổng hợp của cả hai sàn Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh. Do đó
nếu chọn một trong hai chỉ số thì sẽ khơng phản ánh được rủi ro và tỉ suất lợi
nhuận của các danh mục do 192 chứng khoán này tạo lên. Điều thứ hai khiến tôi
không chọn 1 trong 2 chỉ số này, cho dù nếu tất cả các chứng khoán được chọn
của cùng một thị trường đi chăng nữa là do bản thân của hai chỉ số này thật sự
cũng không phản ánh tốt diễn biến thị trường. Chúng ta đều biết rằng cách tính
Vn-Index và Hastc-Index dựa vào cơng thức.


0
<i>t</i> <i>t</i>
<i>P</i>
<i>t</i>
<i>Q</i> <i>P</i>
<i>I</i>
<i>Q</i> <i>P</i>
=



(14)


Với I là chỉ số thị trường.



Qt là khối lượng niêm yết của chứng khoán i ở thời điểm t.
Pt là giá chứng khoán i ở thời điểm t.


P0 là giá ở của chứng khoán i ở ngày thứ 2 sau khi lên sàn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(47)</span><div class='page_container' data-page=47>

khối lượng niệm yết hay giá quá cao, hoặc cả hai thì nó sẽ ảnh hưởng cực kì
mạnh mẽ đến chỉ số thị trường.


80


60 <sub>40</sub>


20


0


Other
PVS
PVI
KBC
ACB


CONG TY


<b>Biểu đồ 5.1: Tỉ trọng giá trị thị trường của các chứng khoán niêm yết </b>
<b>trên sàn Hà Nội </b>





Other
VPL
VNM
STB
PVD
PPC
FPT
DPM


</div>
<span class='text_page_counter'>(48)</span><div class='page_container' data-page=48>

Nhìn vào biểu đồ 5.1 ta có thể thấy là chỉ số Hastc-Index là chỉ số thị
trường phản ánh xu thế của 5 cổ phiếu là: ACB, KCB, PVI, PVS và cổ phiếu
OTHER là phần còn lại của thị trường. Một chỉ số thị trường mà 4 cổ phiếu phản
ánh hết 60 giá trị thị trường, còn 40 còn lại đại diện cho hơn 120 cổ phiếu thì
liệu nó có cịn phản ánh chính xác diễn biến của thị trường. Điều tương tự cũng
xảy ra ở sàn Thành phố Hồ Chí Minh với 7 cổ phiếu chiếm hết 47 giá trị thị
trường, còn 53 giá trị còn lại đại diện cho hơn 140 cổ phiếu, chỉ cần một sự thay
đổi về giá của các loại cổ phiếu chủ chốt trên cũng ảnh hưởng rất lơn tới chỉ số
thị trường. Do vậy, tôi cho rằng sử dụng tỉ lợi nhuận mong đợi của danh mục 192
chứng khoán (với tỉ lệ về giá trị giữa các cổ phiếu bằng nhau) làm danh mục thị
trường để phân tích độ lệch chuẩn sẽ phù hợp hơn.


<i> Hai biểu đồ trên chỉ có tác dụng tham khảo. Do giá gốc P0 được lấy vào </i>
<i>thời điểm lên sàn, nên mức độ tác động của 1 chứng khoán đến chỉ số thị trường </i>
<i>sẽ phụ thuộc vào sự khác biệt giữa giá lúc chứng khoán lên sàn và giá của chứng </i>
<i>khốn đó ở thời điểm t. Còn cách suy luận của chúng ta ở trên là dựa trên mệnh </i>
<i>giá. Tuy nhiên việc chỉ số thị trường của chứng khoán Việt Nam bị chi phối bởi </i>
<i>một vài cổ phiếu chủ chốt là không thể phủ nhận. </i>


<i> Thứ tư, thật ra chúng ta có thể hạ thấp tổng rủi ro của danh mục xuống thấp </i>



hơn cả rủi ro hệ thống, nếu chúng ta chọn được vào danh mục các cổ phiếu tương
quan nghịch với nhau, nghĩa là khi trong danh mục có các cổ phiếu sẽ tăng theo
chỉ số thị trường, và một số cổ phiếu khác sẽ giảm khi chỉ số thị trường tăng và
tăng khi chỉ số thị trường giảm. Tuy nhiên để chọn được những cổ phiếu như vậy
khơng phải dễ, vả lại mục đích chính của chúng ta là cố gắng giảm thiểu rủi ro
trong điều kiện thơng tin và chi phí hạn chế.


</div>
<span class='text_page_counter'>(49)</span><div class='page_container' data-page=49>

<b>CHƯƠNG 6 </b>


<b>KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ </b>


<b>6.1 KẾT LUẬN </b>


Việc đa dạng hóa thật sự mang lại tác dụng tích cực. Nếu bạn muốn chống
lại rủi ro thì có thể nói đây là cách khá tốt, bên cạnh việc phân tích các chỉ tiêu tài
chính khác của cơng ty mà bạn muốn đầu tư.


Mặc dù chưa tính đến các chi phí giao dịch, cũng như chi phí về việc tìm
kiếm và phân tích thơng tin khi đa dạng hóa. Nhưng với một danh mục 16 chứng
khốn (Bảng 4.4) bạn có thể giảm được gần 30% và nếu thuận lợi (Như ở T1)
thậm chí là 50% so với danh mục chỉ có một chứng khoán. Điều này thật sự rất
hấp dẫn cho dù có phải bỏ thêm chi phí cho việc phân phối lại cổ phiếu ở mỗi kỳ
bắt đầu.


Trong bài, mặc dù không đề cập đến việc đa dạng hóa giữa các ngành.
Nhưng theo kết quả thực nghiệm của Wagner và Lau thì lợi ích của việc đa dạng
hóa giữa các ngành cũng không khác lắm so với đa dạng hóa trong cùng ngành,
vì bản thân các ngành đều có những mối liên hệ chồng chéo phức tạp với nhau.
Chẳng hạn nếu ngành tài chính bị khủng hoảng thì các ngành khác như du lịch,
cơng nghiệp… cũng khơng thể tránh khỏi rơi vào suy thối. Tuy nhiên nếu phải


chọn lựa giữa hai chứng khoán mà chỉ các chỉ số cơ bản như tỉ suất lợi nhuận,
bêta hay mức độ rủi ro không khác nhau lắm, thì hai ngành khác nhau vẫn tốt
hơn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(50)</span><div class='page_container' data-page=50>

giảm bớt giá trị của luận văn này, mà ngược lại việc đầu tư với tỉ lệ cân bằng còn
gia tăng thêm tác dụng phòng ngừa rủi ro, bởi vì nếu như trong điều kiện thị
trường diễn biến phức tạp và bạn khơng có bất cứ một cơ sở vững chắc nào về
diễn biến tương lai của các cổ phiếu mà mình đã mua hay sẽ mua, thì việc trong
danh mục có một cổ phiếu nào đó chiếm tỉ trong lớn sẽ tạo ra nhiều rủi ro hơn là
các cổ phiếu có tỉ lệ bằng nhau.


Đối với câu trả lời cho câu hỏi “Việc đa dạng hóa ảnh hưởng như thế nào
đến lợi nhuận?” mà tôi đã đặt ra ở phần câu hỏi nghiên cứu thật khó trả lời, bởi vì
như chúng ta đã thấy, nó còn phụ thuộc vào việc chúng ta chọn phương pháp đầu
tư như thế nào và cách tính lợi nhuận của chùng ta ra sao? Nếu như chúng ta
phân phối lại danh mục đầu tư ở mỗi thời điểm bắt đầu của kì đầu tư (REA) thì
như bảng 4.7 và 5.1 cho ta thấy lợi nhuận không hề bị ảnh hưởng bởi kích cỡ
danh mục. Trong khi đó với việc tính tỉ suất lợi nhuận thì lợi nhuận của các danh
mục lại có khuynh hướng tập trung về phía tỉ suất lợi nhuận trung bình như biểu
đồ 4.8 đã cho ta thấy.


Đa dạng hóa chỉ có thể loại trừ được hoàn toàn rủi ro hệ thống, nghĩa là loại
trừ được một phần của tổng rủi ro, cịn việc nó loại trừ được ít hay nhiều thì cịn
phụ thuộc vào việc rủi ro phi hệ thống trong giai đoạn đó có chiếm tỉ trọng lớn
trong tổng rủi ro hay không. Như trong bảng 4.3 đã cho ta thấy với một danh
mục nhỏ khoảng chừng 4 đến 8 loại chứng khoán trong những trường hợp rủi ro
phi hệ thống chiếm tỉ trọng lớn nó có thể làm giảm tổng rủi ro xuống còn từ 63%
đến 53%, nhưng nếu trong trường hợp mà rủi ro phi hệ thống chiếm tỉ trọng lớn
thì với một danh mục chứa toàn bộ các cổ phiếu niêm yết trên thị trường thì tổng
rủi ro cũng chỉ có thể suy giảm được một khoảng không đáng kể là 8,4% xuống


còn 91,6%.


<b>6.2. ĐỀ XUẤT CHO CÁC NGHIÊN CỨU TIẾP THEO: </b>


<b> Luận văn này được thực hiện trong một khoảng thời gian ngắn và dựa trên </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(51)</span><div class='page_container' data-page=51>

cứu để hoàn thiện những kiến thức về việc đa dạng hóa danh mục đầu tư là điều
cần thiết:


- Do thị trường chứng khoán Việt Nam chưa cho phép bán khống cổ
phiếu (short sale), nên trong luận văn tôi cũng không đề cập tới vấn đề
này. Nhưng thực tế việc mua bán khống cổ phiếu nếu thực hiện đúng
cách có thể làm giảm rủi ro xuống thấp hơn cả rủi ro hệ thống. Do vậy
nếu trong tương lai nghiệp vụ này được phép thực hiện tại Việt Nam
chúng ta nên có những nghiên cứu về ảnh hưởng của vấn đề này tới việc
suy giảm rủi ro khi gia tăng kích cỡ danh mục.


- Như đã nói ở phần lý thuyết, rủi ro có thể suy giảm rất nhiều mà thậm
chí khơng cần mở rộng danh mục quá 2 cổ phiếu nếu chúng ta có thể tìm
được những cổ phiếu có tương quan nghịch với nhau. Tất nhiên điều
này là rất khó khăn nếu chúng ta khơng có những hiểu biết sâu rộng về
thị trường và cái cách mà những cổ phiếu đó phản ứng với những thay
đổi của thị trường. Những đề xuất trong luận văn của tôi chủ yếu sử
dụng trong trường hợp chúng ta bị hạn chế về thông tin về thị trường
nhất là khi nó diễn biến phức tạp, cũng như kiến thức và thơng tin của
nhà đầu tư có được là không chắc chắn. Nhưng nếu một nhà đầu tư có
nhiều hiểu biết và trong điều kiện thị trường ổn định thì việc tối đa hóa
lợi nhuận và tối thiểu hóa rủi ro bằng việc tìm kiếm các cổ phiếu có đặc
tính như trên khơng phải là công việc không nên làm.



- Vấn đề mỗi cổ phiếu trong danh mục nên có tỉ lệ bao nhiêu, áp dụng
chiến lược đầu tư nào trong từng hoàn cảnh thị trường cụ thể ra sao cũng
là một vấn đề cần phải giải quyết nếu có những nghiên cứu tiếp theo.
- Trong Luận văn chỉ đề cập đến danh mục với các chứng khoán là cổ


phiếu mà không quan tâm tới trái phiếu, do vậy việc hạ thấp rủi ro
xuống cũng bị ảnh hưởng bởi việc không kết hợp được danh mục bao
gồm cả trái phiếu và cổ phiếu.


</div>
<span class='text_page_counter'>(52)</span><div class='page_container' data-page=52>

đa dạng hóa tới sự suy giảm của rủi ro. Chẳng hạn như nghiên cứu của Peter J.
Byrme và Stephen Lee được đăng dưới tựa đề là “Risk Reduction and Real
Estate Portfolio Size” vào năm 2001, hai ông bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau
đã đưa ra nhận định với một danh mục có từ 200 loại tài sản trở lên thì rủi ro phi
hệ thống mới trở lên khơng đáng kể và có thể bỏ qua.


Đề cập tới vấn đề này để thấy rằng nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro
và kích cỡ danh mục vẫn là một vấn đề thú vị và còn nhiều thắc mắc gây tranh
<b>cãi, đáng để chúng ta nghiên cứu. </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(53)</span><div class='page_container' data-page=53>

<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO </b>


<b>Tiếng Việt: </b>


1. Thạc sĩ Hồ Việt Tiến (…). “Đo lường rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống
của thị trường cổ phiếu”….


2. TS. Lý Vinh Quang (2002). “Chứng khốn và phân tích đầu tư chứng khốn”.
NXB Thống Kê.


<b>Tiếng Anh: </b>



<i>3. Harry Markowitz (1952). “Portfolio Selection”, The Journal of Finance, Vol.7, </i>
No. 1. (Mar., 1952), pp. 77-91.


4. William F. Sharpe (1963). “A Simplified Model for Portfolio Analysis”,


<i>Management Science, Vol. 9, No. 2. (Jan., 1963), pp. 277-293. </i>


5. John L. Evans; Stephen H. Archer (1968). “Diversification and the Reduction
<i><b>of Dispersion: An Empirical Analysis”, The Journal of Finance, Vol. 23, No. 5. </b></i>
(Dec., 1968), pp. 761-767.


6. Henry A. Latané; William E. Young (1969). “Test of Portfolio Building
<i><b>Rules” The Journal of Finance, Vol. 24, No. 4. (Sep., 1969), pp. 595-612. </b></i>


7. Lawrence Fisher; James H. Lorie (1970). “Some Studies of Variability of
<i>Returns on Investments in Common Stocks”. The Journal of Finance, Vol. 24, </i>
No. 4. (Sep., 1969), pp. 595-612.


<i><b>8. W. H. Wagner and S. C. Lau (1971). “The Effect Of Diversification On Risk”, </b></i>


<i>Financial Analysts Journal (November-December 1971), pp. 48-53. </i>


<i>9. Bodie, Kane, Marcus, (2003). Finace, Volume 1, Investments, Fifth Edition, </i>


<i><b>McGrawHill /Irwin. </b></i>


<b>Trang Web tham khảo: </b>


Dữ liệu được sử dụng trong phân tích là file dữ liệu của phần mềm


MetaStock được lấy từ trang:


10. www.phantichchungkhoan.com.vn


</div>
<span class='text_page_counter'>(54)</span><div class='page_container' data-page=54>

<b>PHỤ LỤC 1 </b>


<b>DIỄN BIẾN TỈ SUẤT GIÁ CHỨNG KHỐN TÍNH THEO THÁNG </b>
<b>TỪ 01/01/2007 ĐẾN 31/03/2008 </b>


Dựa vào cách thức tính tỉ suất lợi nhuận mong đợi đã trình bày ở chương 2
chúng ta có được các kết quả sau, lưu ý rằng đây là tỉ suất lợi nhuận mong đợi
được tính theo tháng.


DATE ABT ACB AGF ALT BBC BBS BBT BCC


</div>
<span class='text_page_counter'>(55)</span><div class='page_container' data-page=55>

DATE BTS BVS CAN CIC CID CII CJC CLC
01/15/2007 1.6489 1.5349 1.0449 0.7826 1.0000 0.9868 1.0000 1.0101
02/15/2007 1.0782 1.1512 1.3125 1.2639 2.0769 1.0604 1.0310 1.1222
03/15/2007 1.2250 1.0026 1.2727 1.4945 1.9716 1.7342 1.4120 1.1071
04/16/2007 0.7959 0.8026 0.6738 0.9559 0.6061 0.5949 0.7447 0.8826
05/15/2007 1.0718 1.1180 1.0071 0.8269 1.0000 1.0123 0.7959 1.1075
06/15/2007 1.0598 1.1821 1.1193 1.1163 0.9062 1.1515 1.0128 0.9802
07/16/2007 1.0271 1.0494 0.8903 0.9583 0.9207 0.8579 0.8354 0.9556
08/15/2007 0.9604 0.9456 0.9225 0.9783 0.8989 0.9632 0.9697 0.9197
09/17/2007 0.9382 0.9575 1.0733 0.9714 1.0417 0.9809 0.9063 1.1264
10/15/2007 1.0854 1.3564 1.2101 1.2941 1.7480 1.2143 1.3793 1.0612
11/15/2007 0.9236 1.1357 0.8234 1.1932 1.4188 1.0321 1.2500 1.0385
12/17/2007 0.9489 1.0609 0.9455 0.9848 0.9194 0.9326 0.9620 0.9345
01/15/2008 0.6795 0.7604 0.9192 0.7447 0.9158 0.9333 0.8545 0.9736
02/15/2008 1.0566 0.9470 0.9456 0.9870 0.9291 1.0238 1.0949 1.1146


03/17/2008 0.8311 0.7100 0.8009 0.7211 0.8791 0.8140 0.9000 0.9196
CỰC ĐẠI <b>1.6489 1.5349</b> <b>1.3125</b> <b>1.4945</b> <b>2.0769</b> <b>1.7342 1.4120</b> <b>1.1264</b>
CỰC TIỂU <b>0.6795 0.7100</b> <b>0.6738</b> <b>0.7211</b> <b>0.6061</b> <b>0.5949 0.7447</b> <b>0.8826</b>
TRUNG BÌNH <b>1.0220 1.0476</b> <b>0.9974</b> <b>1.0182</b> <b>1.1488</b> <b>1.0195 1.0099</b> <b>1.0169</b>


DATE BHS BHV BMC BMI BMP BPC BT6 BTC


</div>
<span class='text_page_counter'>(56)</span><div class='page_container' data-page=56>



DATE CMC COM CTB CTN CYC DAC DAE DCT


01/15/2007 0.8100 0.9405 1.1905 1.0865 0.9868 0.9667 0.6913 1.0300
02/15/2007 1.6890 1.7468 1.0400 1.8615 1.0604 1.8000 1.4326 1.2364
03/15/2007 1.5935 1.1159 1.7615 1.1699 1.7342 1.6667 1.8279 1.4412
04/16/2007 0.7971 0.8377 0.7860 0.7179 0.5949 0.6345 0.7513 0.6761
05/15/2007 0.9091 1.0465 1.0583 0.9701 1.0123 0.9783 1.0449 1.0092
06/15/2007 0.8940 1.0370 0.9186 1.0256 1.1515 0.8519 1.3122 0.9909
07/16/2007 0.9396 0.9857 0.9143 0.8217 0.8579 0.8696 0.9279 0.9327
08/15/2007 0.9762 0.9783 0.9625 0.9128 0.9632 0.8500 0.8744 0.9541
09/17/2007 1.0610 1.0667 1.0390 0.9711 0.9809 1.1647 1.0497 1.0344
10/15/2007 1.8069 1.2500 1.3281 1.3616 1.2143 1.2626 1.3158 1.1513
11/15/2007 1.3384 0.9733 1.0894 0.8941 1.0321 1.2000 2.2200 0.9290
12/17/2007 0.9506 0.9431 0.8963 0.9605 0.9326 0.9333 0.9189 0.9653
01/15/2008 0.8400 0.8793 0.8916 0.7730 0.9333 0.9464 0.7059 0.8453
02/15/2008 1.4769 0.9804 1.0297 1.1899 1.0238 1.2264 1.1481 1.0681
03/17/2008 0.6380 0.8460 0.8749 0.7128 0.8140 0.7538 0.6988 0.7809
CỰC ĐẠI <b>1.8069 1.7468</b> <b>1.7615</b> <b>1.8615</b> <b>1.7342</b> <b>1.8000 2.2200</b> <b>1.4412</b>
CỰC TIỂU <b>0.6380 0.8377</b> <b>0.7860</b> <b>0.7128</b> <b>0.5949</b> <b>0.6345 0.6913</b> <b>0.6761</b>
TRUNG BÌNH <b>1.1147 1.0418</b> <b>1.0521</b> <b>1.0286</b> <b>1.0195</b> <b>1.0737 1.1280</b> <b>1.0030</b>



DATE DHA DHG DHI DIC DMC DNP DPC DRC


</div>
<span class='text_page_counter'>(57)</span><div class='page_container' data-page=57>

DATE DTC DTT EBD FMC FPC FPT GHA GIL
01/15/2007 1.0000 0.8149 1.0455 1.1598 1.0014 1.2523 1.2796 1.0459
02/15/2007 2.1706 1.2576 1.6667 0.9286 1.4113 1.1071 1.2222 1.5439
03/15/2007 1.4824 1.1048 1.1130 1.0275 1.2060 0.9041 1.8485 1.0966
04/16/2007 0.8885 0.8248 0.9844 0.7594 0.8208 0.9528 0.5754 0.6736
05/15/2007 0.6974 1.0000 1.0325 1.0563 1.1320 1.0476 1.0399 1.1923
06/15/2007 0.9692 1.1239 1.1499 1.0503 1.2556 0.8455 1.3562 1.0710
07/16/2007 0.9524 0.9646 0.8557 0.9051 0.9350 0.9355 0.8283 0.8981
08/15/2007 1.0333 1.0286 0.9381 0.8629 1.0420 0.8103 1.0000 0.9140
09/17/2007 0.9355 0.9972 1.1809 1.0093 0.9274 0.9574 1.0610 1.0941
10/15/2007 1.2931 1.1003 1.5946 1.2222 1.1130 1.2578 1.5839 1.2300
11/15/2007 1.2907 0.9114 1.1446 0.8409 0.8438 0.8869 1.3774 0.8211
12/17/2007 0.9504 0.9472 0.9526 0.9189 0.9630 0.8845 0.9673 0.9505
01/15/2008 0.8457 0.8651 0.7523 0.8922 0.8269 0.8694 0.7157 0.8896
02/15/2008 1.0874 0.8949 1.1328 1.0044 1.0000 0.9585 1.1111 0.9087
03/17/2008 0.9929 0.7197 0.8177 0.6346 0.7442 0.7405 0.6260 0.7655
CỰC ĐẠI <b>2.1706 1.2576</b> <b>1.6667</b> <b>1.2222</b> <b>1.4113</b> <b>1.2578 1.8485</b> <b>1.5439</b>
CỰC TIỂU <b>0.6974 0.7197</b> <b>0.7523</b> <b>0.6346</b> <b>0.7442</b> <b>0.7405 0.5754</b> <b>0.6736</b>
TRUNG BÌNH <b>1.1060 0.9703</b> <b>1.0907</b> <b>0.9515</b> <b>1.0148</b> <b>0.9607 1.1062</b> <b>1.0063</b>


DATE GMC GMD HAI HAP HAS HAX HBC HBD


</div>
<span class='text_page_counter'>(58)</span><div class='page_container' data-page=58>

DATE HJS HLY HMC HNM HPC HPS HRC HSC
01/15/2007 1.0714 0.9950 0.8971 1.2588 1.7718 0.9384 1.1884 1.0000
02/15/2007 1.1167 1.3200 1.1639 0.9268 1.1515 1.2263 1.9289 1.7480
03/15/2007 1.4567 2.4382 1.5070 1.0168 0.9408 2.4524 0.8553 0.8977
04/16/2007 0.7131 0.9662 0.7371 0.7388 1.0367 0.6437 1.0523 1.5984
05/15/2007 0.9195 0.9917 1.0517 0.9757 1.0252 1.0154 0.9632 0.8749


06/15/2007 0.8562 0.5714 1.2162 0.8803 1.0551 0.8175 0.9836 1.2239
07/16/2007 0.9343 0.7353 0.9232 0.9387 0.8366 0.9116 0.9667 1.8354
08/15/2007 0.8516 1.0360 0.9081 1.0284 0.8768 0.8929 0.9713 1.3686
09/17/2007 1.1101 1.0232 1.0386 0.9862 0.9935 1.1029 0.9645 1.0000
10/15/2007 1.3760 1.5094 1.1137 1.2633 1.9149 1.3368 1.1350 0.7933
11/15/2007 0.8649 1.1800 0.9958 0.9113 1.1829 1.2636 0.9838 1.2097
12/17/2007 0.9722 1.1208 0.8891 0.8637 1.0540 1.0092 0.9176 1.0267
01/15/2008 0.8393 0.7372 0.9388 0.8225 0.8053 0.7660 0.8802 0.8092
02/15/2008 1.1702 1.0846 0.9327 0.9932 1.0011 1.1508 0.9728 1.0000
03/17/2008 0.7418 0.7021 0.7250 0.7897 0.6481 0.8966 0.5699 1.0235
CỰC ĐẠI <b>1.4567 2.4382</b> <b>1.5070</b> <b>1.2633</b> <b>1.9149</b> <b>2.4524 1.9289</b> <b>1.8354</b>
CỰC TIỂU <b>0.7131 0.5714</b> <b>0.7250</b> <b>0.7388</b> <b>0.6481</b> <b>0.6437 0.5699</b> <b>0.7933</b>
TRUNG BÌNH <b>0.9996 1.0941</b> <b>1.0025</b> <b>0.9596</b> <b>1.0863</b> <b>1.0949 1.0222</b> <b>1.1606</b>


DATE HTP HTV IFS ILC IMP ITA KDC KHA


</div>
<span class='text_page_counter'>(59)</span><div class='page_container' data-page=59>

DATE LBM LGC LTC MCO MCP MCV MEC MHC


01/15/2007 0.8539 1.3889 0.9619 0.9444 0.9058 0.9684 0.9094 1.0345
02/15/2007 1.1751 1.0769 1.4667 1.7608 1.0092 1.0978 1.3265 1.5455
03/15/2007 1.3668 1.1000 1.7143 1.8085 1.2900 1.1818 2.1062 1.0882
04/16/2007 0.7514 0.9740 0.8985 0.8990 0.7399 0.7204 0.9041 0.7802
05/15/2007 1.1729 1.0400 0.9542 0.9630 0.9839 0.9769 0.9905 1.2587
06/15/2007 2.0353 1.3462 0.9600 1.0526 1.2295 0.9868 1.0783 0.9537
07/16/2007 0.9291 1.0762 1.0000 0.9703 0.9760 1.0080 0.9427 0.8935
08/15/2007 0.8898 0.8407 0.7604 0.9749 1.1475 0.8757 0.8377 0.9448
09/17/2007 1.7529 1.5251 1.0438 0.8367 1.2381 1.1480 1.0714 1.2523
10/15/2007 1.0625 1.1439 1.3648 1.3588 1.2115 1.2368 1.9500 1.0860
11/15/2007 0.8403 0.8616 1.2981 1.3689 0.9767 0.8723 1.1419 1.2104
12/17/2007 0.8300 0.9562 0.9570 1.0331 0.9700 0.9512 0.8757 0.9159


01/15/2008 0.7325 0.8626 0.8077 0.8654 0.8804 0.8063 0.7949 0.8306
02/15/2008 1.0822 0.9912 1.1413 1.0223 0.9133 1.0415 1.0538 0.9832
03/17/2008 0.6748 0.8911 0.6542 0.8156 0.7282 0.7681 0.7551 0.6657
CỰC ĐẠI <b>2.0353 1.5251</b> <b>1.7143</b> <b>1.8085</b> <b>1.2900</b> <b>1.2368 2.1062</b> <b>1.5455</b>
CỰC TIỂU <b>0.6748 0.8407</b> <b>0.6542</b> <b>0.8156</b> <b>0.7282</b> <b>0.7204 0.7551</b> <b>0.6657</b>
TRUNG BÌNH <b>1.0766 1.0716</b> <b>1.0655</b> <b>1.1116</b> <b>1.0133</b> <b>0.9760 1.1159</b> <b>1.0295</b>




DATE NAV NBC NHC NKD NLC NPS NSC NTP


</div>
<span class='text_page_counter'>(60)</span><div class='page_container' data-page=60>

DATE PAC <b>PAN </b> <b>PGC </b> <b>PJC </b> <b>PJC </b> <b>PJT </b> <b>PLC </b> <b>PLC </b>


01/15/2007 1.0208 1.6216 1.0957 0.8378 0.8378 0.8889 1.1667 1.1667
02/15/2007 1.1005 1.0500 1.2022 1.1936 1.1936 1.4611 1.0633 1.0633
03/15/2007 1.0094 1.0397 1.0845 1.6508 1.6508 1.3009 1.1172 1.1172
04/16/2007 0.8037 0.8397 0.7532 0.6795 0.6795 0.5959 0.7434 0.7434
05/15/2007 1.0000 1.2455 0.9655 0.9556 0.9556 1.1187 0.9589 0.9589
06/15/2007 0.9535 0.9173 1.0000 0.9302 0.9302 1.0510 0.9641 0.9641
07/16/2007 1.0268 0.9021 0.9911 0.8194 0.8194 0.9126 0.7836 0.7836
08/15/2007 0.9976 0.9767 0.8955 0.9390 0.9390 1.0638 1.0667 1.0667
09/17/2007 1.0381 1.0175 0.9980 1.0758 1.0758 1.1600 0.9821 0.9821
10/15/2007 1.3188 2.0780 1.3206 1.4195 1.4195 1.2931 1.2364 1.2364
11/15/2007 1.1391 1.4167 0.7786 1.1844 1.1844 1.0333 0.9118 0.9118
12/17/2007 0.9771 0.8373 0.9804 0.9581 0.9581 0.9484 0.9113 0.9113
01/15/2008 0.9688 0.8741 0.8500 0.8438 0.8438 0.7687 0.7965 0.7965
02/15/2008 1.2628 1.0138 1.0118 1.0346 1.0346 1.0905 1.0667 1.0667
03/17/2008 0.8043 0.5407 0.7093 0.6563 0.6563 0.6964 0.7500 0.7500
CỰC ĐẠI <b>1.3188 2.0780</b> <b>1.3206</b> <b>1.6508</b> <b>1.6508</b> <b>1.4611 1.2364</b> <b>1.2364</b>
CỰC TIỂU <b>0.8037 0.5407</b> <b>0.7093</b> <b>0.6563</b> <b>0.6563</b> <b>0.5959 0.7434</b> <b>0.7434</b>


TRUNG BÌNH <b>1.0281 1.0914</b> <b>0.9758</b> <b>1.0119</b> <b>1.0119</b> <b>1.0256 0.9679</b> <b>0.9679</b>


DATE <b>PMS </b> <b>PNC </b> <b>POT </b> <b>POT </b> <b>PPG </b> <b>PPG </b> <b>PSC </b> <b>PSC </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(61)</span><div class='page_container' data-page=61>

DATE <b>PTC </b> <b>PTC </b> <b>PTS </b> <b>PTS </b> <b>PVD </b> <b>RAL </b> <b>REE </b> <b>RHC </b>


01/15/2007 0.9895 0.9895 1.1290 1.1290 1.4922 1.0000 1.2429 1.0486
02/15/2007 1.7131 1.7131 1.4286 1.4286 1.1529 1.1081 1.5575 1.6076
03/15/2007 1.2615 1.2615 1.4625 1.4625 0.8883 1.0244 1.0332 1.1356
04/16/2007 0.6860 0.6860 0.8068 0.8068 0.9450 0.9404 0.8500 0.7612
05/15/2007 1.0290 1.0290 0.9304 0.9304 1.0582 1.1026 1.0840 1.0784
06/15/2007 1.0116 1.0116 1.0185 1.0185 1.0244 0.9690 0.9244 0.9428
07/16/2007 0.8596 0.8596 0.9318 0.9318 1.0123 0.9040 0.9182 0.9180
08/15/2007 0.9570 0.9570 0.9512 0.9512 0.9576 1.0000 0.8836 0.8606
09/17/2007 1.0065 1.0065 1.0462 1.0462 0.9873 0.9558 1.0388 1.1013
10/15/2007 1.5548 1.5548 1.5686 1.5686 1.1090 1.2075 1.1866 1.1264
11/15/2007 0.8686 0.8686 1.5336 1.5336 0.9075 0.8829 0.8931 0.9673
12/17/2007 0.9713 0.9713 0.9779 0.9779 0.9236 0.9388 0.9507 0.9810
01/15/2008 0.7377 0.7377 0.7547 0.7547 0.9517 0.8750 0.9407 0.8172
02/15/2008 1.0889 1.0889 1.6125 1.6125 1.0217 0.9627 0.9213 1.1579
03/17/2008 0.8061 0.8061 0.7132 0.7132 0.8652 0.6710 0.6068 0.8409
CỰC ĐẠI <b>1.7131 1.7131</b> <b>1.6125</b> <b>1.6125</b> <b>1.4922</b> <b>1.2075 1.5575</b> <b>1.6076</b>
CỰC TIỂU <b>0.6860 0.6860</b> <b>0.7132</b> <b>0.7132</b> <b>0.8652</b> <b>0.6710 0.6068</b> <b>0.7612</b>
TRUNG BÌNH <b>1.0361 1.0361</b> <b>1.1244</b> <b>1.1244</b> <b>1.0198</b> <b>0.9695 1.0021</b> <b>1.0230</b>


DATE <b>S55 </b> <b>S64 </b> <b>S91 </b> S99 SAF SAM SAP SAV


</div>
<span class='text_page_counter'>(62)</span><div class='page_container' data-page=62>

DATE SC5 SCC SCD SD3 SD5 SD6 SD7 SD9
01/15/2007 2.0306 1.0000 0.8522 0.9677 1.0896 0.9962 1.2730 1.1167
02/15/2007 0.7739 1.2440 1.3064 1.8458 1.8493 1.9923 2.1205 2.4119


03/15/2007 0.9610 1.5995 1.4809 1.4831 1.9615 1.5444 1.2975 1.2995
04/16/2007 0.9459 0.7365 0.6211 0.8752 0.7901 0.9062 1.2055 0.7114
05/15/2007 1.0000 0.9831 1.0100 0.9235 0.7060 0.7931 0.8964 0.9772
06/15/2007 0.9071 1.0057 0.9644 1.2053 1.3712 1.2839 1.3607 1.2036
07/16/2007 0.7953 0.8405 0.9138 0.7984 0.8511 0.8623 0.7470 0.9581
08/15/2007 1.1485 0.8508 0.8989 0.9198 1.0610 0.9879 1.0250 0.8671
09/17/2007 1.0862 1.1195 1.0500 1.1191 0.9535 1.0930 1.1330 1.1933
10/15/2007 0.9921 1.4947 1.1524 1.6635 2.6225 1.9310 2.3819 2.1438
11/15/2007 3.4080 1.2429 0.8988 2.3691 1.1016 1.1738 1.5467 1.0518
12/17/2007 0.8263 0.9962 0.9402 0.9906 0.9894 1.0345 0.9073 1.0168
01/15/2008 0.8864 0.7673 0.8093 0.7303 0.6602 0.7304 0.7510 0.7690
02/15/2008 1.0256 1.0401 0.9668 1.1385 1.0368 1.0510 1.2963 1.0787
03/17/2008 0.5594 0.7012 0.6750 0.6514 0.7348 0.6194 0.7286 0.7692
CỰC ĐẠI <b>3.4080 1.5995</b> <b>1.4809</b> <b>2.3691</b> <b>2.6225</b> <b>1.9923 2.3819</b> <b>2.4119</b>
CỰC TIỂU <b>0.5594 0.7012</b> <b>0.6211</b> <b>0.6514</b> <b>0.6602</b> <b>0.6194 0.7286</b> <b>0.7114</b>
TRUNG BÌNH <b>1.1564 1.0415</b> <b>0.9693</b> <b>1.1788</b> <b>1.1852</b> <b>1.1333 1.2447</b> <b>1.1712</b>


DATE SDA SDC SDN SDT SDY SFC SFI SFN


</div>
<span class='text_page_counter'>(63)</span><div class='page_container' data-page=63>

DATE SGC SGD SGH SHC SIC SJ1 SJD SJE
01/15/2007 1.0141 0.7193 1.3158 1.2069 0.7039 1.5211 1.0609 1.0872
02/15/2007 1.2243 1.4470 1.4026 1.0057 1.6724 0.9537 1.1809 1.7337
03/15/2007 1.2039 1.1982 0.8846 1.3097 1.2598 1.1262 1.1441 1.2909
04/16/2007 0.7290 0.9672 0.8424 0.7093 0.8020 0.7379 0.7717 0.8374
05/15/2007 1.0619 1.1171 1.5742 0.9786 0.9796 0.9696 1.1327 0.8957
06/15/2007 0.9792 1.0966 1.4918 1.1875 0.9583 1.1084 1.1360 1.1165
07/16/2007 0.9553 0.8491 0.7747 0.8684 0.8478 0.9348 0.9897 0.8882
08/15/2007 0.9465 0.8889 0.9343 1.0909 0.9359 0.9884 0.8354 0.8566
09/17/2007 1.0141 1.0250 1.1756 1.4722 1.0548 1.1125 1.0474 1.0800
10/15/2007 1.1253 1.5122 1.0584 1.0943 2.2466 1.1415 1.1310 1.8519


11/15/2007 1.2268 1.5081 0.8466 1.0259 1.3875 0.9188 0.8632 1.1200
12/17/2007 0.9748 0.8449 0.9275 0.8992 1.0553 0.8953 0.9561 0.9923
01/15/2008 0.9224 0.7241 0.8750 0.7196 0.7756 0.9065 0.8622 0.7879
02/15/2008 0.9533 0.9441 0.8750 0.9351 1.0692 1.0860 1.0799 1.0277
03/17/2008 0.7647 0.6111 0.8980 0.7944 0.6412 0.8047 0.7945 0.6778
CỰC ĐẠI <b>1.2268 1.5122</b> <b>1.5742</b> <b>1.4722</b> <b>2.2466</b> <b>1.5211 1.1809</b> <b>1.8519</b>
CỰC TIỂU <b>0.7290 0.6111</b> <b>0.7747</b> <b>0.7093</b> <b>0.6412</b> <b>0.7379 0.7717</b> <b>0.6778</b>
TRUNG BÌNH <b>1.0064 1.0302</b> <b>1.0584</b> <b>1.0198</b> <b>1.0927</b> <b>1.0137 0.9990</b> <b>1.0829</b>


DATE SJS SMC SNG SSC STB STC STP SVC


</div>
<span class='text_page_counter'>(64)</span><div class='page_container' data-page=64>

DATE TAC TBC TCR TCT TDH TKU TLC TLT
01/15/2007 0.9677 1.7117 0.7766 0.9328 1.0273 1.2000 1.1393 1.3694
02/15/2007 1.0000 1.1601 1.2105 1.3333 1.1730 1.5801 1.0573 1.4186
03/15/2007 1.1250 0.9677 1.2841 1.2635 0.9091 1.0741 1.0867 1.3541
04/16/2007 0.7937 0.7722 0.7223 0.9305 1.0500 0.5948 0.6874 1.2530
05/15/2007 1.0857 0.9592 1.0625 1.8621 0.9762 1.0580 1.0242 0.9058
06/15/2007 1.1579 0.9250 1.0147 2.2280 0.9512 0.9836 0.9307 1.1213
07/16/2007 1.5758 0.8108 0.9414 1.0172 1.0000 0.8273 0.8122 0.8549
08/15/2007 1.1538 0.9267 1.0000 0.7380 0.8872 0.8081 0.7917 0.8345
09/17/2007 1.0500 1.0144 1.0172 1.3735 0.9942 1.0417 1.1316 1.0350
10/15/2007 1.3254 1.1915 1.0678 1.1448 1.1570 1.3200 1.2349 2.8536
11/15/2007 0.8383 0.8869 1.0000 0.9878 0.9296 0.9242 0.8399 1.0848
12/17/2007 0.8857 0.9017 0.9048 0.8842 0.9459 0.9016 0.9753 0.9615
01/15/2008 0.9194 0.8415 0.9439 0.7549 0.9705 0.7964 0.7632 0.7733
02/15/2008 1.1491 1.0314 1.0112 1.0074 1.0075 1.1050 1.0241 1.1724
03/17/2008 0.9237 0.8870 0.7500 0.6374 0.7704 0.7603 0.6382 0.6250
CỰC ĐẠI <b>1.5758 1.7117</b> <b>1.2841</b> <b>2.2280</b> <b>1.1730</b> <b>1.5801 1.2349</b> <b>2.8536</b>
CỰC TIỂU <b>0.7937 0.7722</b> <b>0.7223</b> <b>0.6374</b> <b>0.7704</b> <b>0.5948 0.6382</b> <b>0.6250</b>
TRUNG BÌNH <b>1.0634 0.9992</b> <b>0.9805</b> <b>1.1397</b> <b>0.9833</b> <b>0.9983 0.9425</b> <b>1.1745</b>



DATE TMC TMS TNA TPH TRI TS4 TTC TTP


</div>
<span class='text_page_counter'>(65)</span><div class='page_container' data-page=65>

DATE TXM TYA UNI VBH VC2 VFC VFR VGP
01/15/2007 1.2051 1.1429 1.0089 1.3485 1.0681 1.0351 0.9722 0.9544
02/15/2007 1.4043 1.1429 1.1320 0.7865 2.4644 1.3998 1.0357 1.1779
03/15/2007 1.3788 0.9688 1.5160 1.4371 1.1951 1.4713 1.3517 1.2059
04/16/2007 0.8352 0.7661 0.8835 0.7702 0.6930 0.5814 0.7228 0.7350
05/15/2007 0.9211 0.8947 1.1209 0.7895 1.0148 1.1224 0.9529 0.9956
06/15/2007 1.0000 0.9435 1.5686 1.0000 1.0595 1.0779 0.9062 1.2667
07/16/2007 0.8571 0.9227 0.9688 0.9833 0.8145 0.9157 0.8583 0.9123
08/15/2007 0.8756 0.9459 0.9290 0.8814 0.9362 1.0053 0.8889 0.9615
09/17/2007 1.0465 1.0400 1.1944 1.0000 1.2159 1.1754 1.0536 1.1443
10/15/2007 1.7963 1.1538 1.4070 1.1115 1.6346 1.9710 1.2441 1.1262
11/15/2007 1.1613 0.8190 1.1570 1.1280 1.1435 0.8023 1.0845 0.9052
12/17/2007 1.0234 0.9593 0.9966 0.9202 0.9450 0.9577 1.0025 0.9371
01/15/2008 0.8071 0.8667 0.7672 0.8833 0.7617 0.7500 0.8246 0.9350
02/15/2008 1.0283 1.0524 1.1573 1.0943 1.3780 1.1176 1.0091 0.9261
03/17/2008 0.7339 0.6645 0.7961 0.7931 0.7184 0.8246 0.8133 0.7371
CỰC ĐẠI <b>1.7963 1.1538</b> <b>1.5686</b> <b>1.4371</b> <b>2.4644</b> <b>1.9710 1.3517</b> <b>1.2667</b>
CỰC TIỂU <b>0.7339 0.6645</b> <b>0.7672</b> <b>0.7702</b> <b>0.6930</b> <b>0.5814 0.7228</b> <b>0.7350</b>
TRUNG BÌNH <b>1.0716 0.9522</b> <b>1.1069</b> <b>0.9951</b> <b>1.1362</b> <b>1.0805 0.9814</b> <b>0.9947</b>


DATE VID VIP VIS VMC VNC VNM VNR VPK


</div>
<span class='text_page_counter'>(66)</span><div class='page_container' data-page=66></div>
<span class='text_page_counter'>(67)</span><div class='page_container' data-page=67>

<b>PHỤ LỤC 2 </b>


<b>BIỂU ĐỒ PHÂN BỐ TỈ SUẤT LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO </b>
<b>CỦA DANH MỤC MỘT CHỨNG KHOÁN Ở CÁC GIAI ĐOẠN</b>



Biểu đồ này là phần mở rộng của biểu đồ 4.3 đã trình bày ở trên. Ở đây thay
vì gộp chung lại thì chúng ta phân các giai đoạn ra rồi vẽ trên từng biểu đồ riêng,
điều này giúp cho việc đánh giá và so sánh tỉ suất lợi nhuận của từng chứng
khoán và rủi ro của chúng trong từng giai đoạn một cách rõ ràng hơn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(68)</span><div class='page_container' data-page=68>

<b>Biểu đồ : Phân bố độ lêch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận </b>
<b>của danh mục 1 chứng khoán trong giai đoạn 2</b>


<b>Biểu đồ : Phân bố độ lêch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận </b>
<b>của danh mục 1 chứng khoán trong giai đoạn 3 </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(69)</span><div class='page_container' data-page=69>

<b>Biểu đồ : Phân bố độ lêch chuẩn và tỉ suất lợi nhuận </b>
<b>của danh mục 1 chứng khoán trong giai đoạn 4</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(70)</span><div class='page_container' data-page=70>

<b>PHỤ LỤC 3 </b>


<b>BẢNG CÁC KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH </b>


Các kết quả kiểm định này được thực hiện bằng phần mềm SPSS 15.0 for
Windows Evaluation Version. Dữ liệu sử dụng trong luận văn đã được mã hóa lại
để phù hợp với yêu cầu của phần mềm. Sau đây là bảng kết quả cho phân tích
ANOVA 1 chiều và phân tích sâu ANOVA phương pháp Turkey:


DM 1 là danh mục có 1 chứng khốn
DM 2 là danh mục có 4 chứng khốn
DM 3 là danh mục có 8 chứng khốn
DM 4 là danh mục có 16 chứng khốn
DM 5 là danh mục có 32 chứng khốn


<b>Descriptives</b>



Do lech chuan


192 48 24 12 6 282


.2564452 .2109790 .2075188 .1946786 .1904597 .2405100
.11160596 .07451148 .07540852 .06876322 .05596105 .10324709
.00805447 .01075481 .01539270 .01985023 .02284600 .00614827
.2405581 .1893431 .1756766 .1509885 .1317322 .2284075
.2723324 .2326149 .2393610 .2383687 .2491873 .2526126
.08543 .10516 .13677 .13440 .13445 .08543
.70037 .43979 .40943 .37373 .27797 .70037
N


Mean
Std. Deviation
Std. Error


Lower Bound
Upper Bound
95% Confidence


Interval for Mean
Minimum
Maximum


DM 1 DM 2 DM 3 DM 4 DM 5 Total


<b>Test of Homogeneity of Variances</b>



Do lech chuan


3.980 4 277 .004
Levene


</div>
<span class='text_page_counter'>(71)</span><div class='page_container' data-page=71>

<b>Multiple Comparisons</b>


Dependent Variable: Do lech chuan
Tukey HSD


.04546623* .01633568 .045 .0006112 .0903212
.04892642 .02191661 .171 -.0112529 .1091057
.06176663 .03012150 .245 -.0209419 .1444752
.06598548 .04196711 .516 -.0492491 .1812201
-.04546623* .01633568 .045 -.0903212 -.0006112
.00346019 .02530712 1.000 -.0660289 .0729493
.01630040 .03267135 .987 -.0734096 .1060104
.02051925 .04383322 .990 -.0998394 .1408779
-.04892642 .02191661 .171 -.1091057 .0112529
-.00346019 .02530712 1.000 -.0729493 .0660289
.01284021 .03578967 .996 -.0854322 .1111126
.01705906 .04620427 .996 -.1098101 .1439282
-.06176663 .03012150 .245 -.1444752 .0209419
-.01630040 .03267135 .987 -.1060104 .0734096
-.01284021 .03578967 .996 -.1111126 .0854322
.00421885 .05061424 1.000 -.1347593 .1431970
-.06598548 .04196711 .516 -.1812201 .0492491
-.02051925 .04383322 .990 -.1408779 .0998394
-.01705906 .04620427 .996 -.1439282 .1098101
-.00421885 .05061424 1.000 -.1431970 .1347593


(J) Loai Danh Muc


DM 2
DM 3
DM 4
DM 5
DM 1
DM 3
DM 4
DM 5
DM 1
DM 2
DM 4
DM 5
DM 1
DM 2
DM 3
DM 5
DM 1
DM 2
DM 3
DM 4
(I) Loai Danh Muc
DM 1
DM 2
DM 3
DM 4
DM 5
Mean
Difference



(I-J) Std. Error Sig. Lower Bound Upper Bound
95% Confidence Interval


The mean difference is significant at the .05 level.
*.


<b>ANOVA</b>


Do lech chuan


.157 4 .039 3.830 .005
2.838 277 .010


2.995 281
Between Groups


Within Groups
Total


Sum of


</div>
<span class='text_page_counter'>(72)</span><div class='page_container' data-page=72>

<b>Do lech chuan</b>


Tukey HSDa,b


6 .1904597
12 .1946786
24 .2075188
48 .2109790


192 .2564452
.359
Loai Danh Muc


DM 5
DM 4
DM 3
DM 2
DM 1
Sig.


N 1


Subset
for alpha


= .05


Means for groups in homogeneous subsets are displayed.
Uses Harmonic Mean Sample Size = 15.738.
a.


The group sizes are unequal. The harmonic mean
of the group sizes is used. Type I error levels are
not guaranteed.


</div>

<!--links-->

×