Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

Tải Cảm nhận về quá trình thức tỉnh của nhân vật Mị liên hệ với Chí Phèo - 5 mẫu bài cảm nhận quá trình thức tỉnh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (162.93 KB, 18 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>Quá trình thức tỉnh của nhân vật Mị (</b>

<b> Vợ chồng A Phủ</b>

<b> ) </b>



Mời các em tham khảo


<b>Đề bài</b>

: Cảm nhận của anh/chị về quá trình thức tỉnh của nhân vật Mị trong cảnh đêm tình
mùa xn (Vợ chồng A Phủ - Tơ Hồi). Từ đó liên hệ với sự thức tỉnh của Chí Phèo
trong cảnh buổi sáng tỉnh rượu (Chí Phèo - Nam Cao) để nhận xét về cái nhìn nhân đạo của
mỗi nhà văn đối với người lao động nghèo trong xã hội cũ.


<b>Hướng dẫn lập dàn ý chi tiết:</b>



<b>Mẫu dàn ý 1</b>


<b>I. Mở bài</b>


- Giới thiệu nhân vật: Cả Nam Cao và Tơ Hồi trong tác phẩm của mình khơng chỉ xây dựng
được nội dung tác phẩm sâu sắc mà còn gặp gỡ trong tinh thần nhân đạo sâu sắc. Thơng qua
nhân vật Chí Phèo (Chí Phèo) và Mị (Vợ chồng A Phủ), hai nhà văn đã thể hiện tiếng nói
cảm thơng đối với những người nơng dân nghèo khổ, bất hạnh.


<b>II. Thân bài</b>


– Mị và Chí Phèo là những người có xuất thân nghèo khổ, bị cường quyền chèn ép, chà đạp đến
mức tê liệt, đánh mất khả năng phản kháng.


– Bên trong những con người bất hạnh ấy lại là sức sống tiềm tàng, mãnh liệt.


–> Họ không mãi cam chịu cuộc sống đen tối mà đã vươn lên vượt thốt ra khỏi bóng đen của
cường quyền, thức tỉnh để hồi sinh.


– Nhân vật Mị:



+ Mị là người con gái xinh đẹp, yêu đời với sức sống thanh xuân căng tràn nhưng buộc trở
thành con dâu trừ nợ cho gia đình thống lí.


+ Sống tại gia đình thống lí, Mị bị chà đạp cả về thể xác và tinh thần.


+ Mị bị tê liệt, đánh mất đi khả năng phản kháng trước thực trạng đau khổ trước mắt.


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

+ Giọt nước mắt của A Phủ đã khiến cho sức sống ấy bùng cháy dữ dội để thôi thúc Mị vùng
lên cứu sống A Phủ cũng là giải thốt cho cuộc sống của chính mình.


– Nhân vật Chí Phèo:


+ Chí Phèo vốn là một người nơng dân lương thiện, chân chất, vì sự ghen tng của Bá Kiến
mà bị đẩy vào tù một cách vô lí, oan uổng.


+ Chấp nhận làm tay sai cho Bá Kiến cũng là khi Chí Phèo bước vào con đường tội lỗi, trở
thành con quỷ dữ làng Vũ Đại.


+ Bát cháo hành của Thị Nở đã đánh thức phần nhân tính bên trong con người của Chí.
–> Chí khát khao muốn làm hòa với mọi người, muốn trở về với con đường lương thiện.


+ Khi biết mình mãi mãi không thể trở về cuộc đời lương thiện được nữa, Chí Phèo thà lựa
chọn cái kết bi thảm nhất cho mình chứ khơng chịu bắt tay với tội ác một lần nữa.


<b>III. Kết bài</b>


- Sự hồi sinh của Mị và Chí Phèo thể hiện sự trân trọng, niềm tin của hai nhà văn đối với những
giá trị nhân phẩm, sức sống tiềm tàng bên trong con người.



<b>Mẫu dàn ý 2:</b>


<b>I. Mở bài</b>


- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, đoạn trích:


+ Tơ Hồi là cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học Việt Nam hiện đại. Văn ơng hấp dẫn
bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người giàu vốn từ vựng, vốn sống, vốn hiểu biết sâu
<b>sắc; Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn đậm chất thơ, giàu tính tạo hình và gợi cảm; Cảnh đêm</b>
tình mùa xuân thể hiện rõ tài năng và cái nhìn nhân đạo của Tơ Hồi trong miêu tả, phân tích
q trình thức tỉnh của Mị.


+ Nam Cao là nhà văn xuất sắc, độc đáo của văn học hiện thực phê phán những năm
1930-1945, dù viết về đề tài nào, văn ông luôn trăn trở, đau đớn trước sự tha hóa của con người, sắc
sảo trong việc miêu tả, phân tích những biến đổi tâm lí phức tạp, những ranh giới mấp mé thiện
và ác, quỹ dữ và con người để từ đó khái quát được những hiện tượng có ý nghĩa xã hội, những
triết lí sâu sắc; Chí Phèo là tác phẩm kết tinh cho tài năng và tấm lòng nhân đạo của Nam Cao,
đặc biệt qua cảnh Chí Phèo buổi sáng tỉnh rượu.


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

<b>* Cảm nhận quá trình thức tỉnh của Mị trong đêm tình mùa xuân:</b>


- Về nội dung:


+ Nguyên cớ hồi sinh: Đất trời Hồng Ngài vào xuân, tiếng sáo rủ bạn yêu, hơi rượu là nguyên
cớ vừa trực tiếp vừa gián tiếp khơi dậy lòng ham sống ở Mị. Đặc biệt, ngun cớ từ bên trong...
lịng ham sống ln tiềm tàng, chưa lụi tắt trong Mị.


+ Quá trình thức tỉnh:


 Sự hồi sinh bắt đầu từ ý thức, cảm xúc, biết nhớ về quá khứ tươi đẹp, nhận ra thực tại khổ


đau, bùng lên khát vọng sống mãnh liệt, cháy bỏng cùng đồng thời xuất hiện suy nghĩ về
phản kháng tiêu cực thoát khỏi cuộc sống bể tắc;


 Từ ý thức đến những hành động quyết liệt khơng gì dập tắt, Mị thắp đèn, quấn tóc, mặc váy
hoa sửa soạn đi chơi. Những hành động liên tiếp chứng tỏ Mị đã sống dậy khao khát tự do,
khao khát hạnh phúc của tuổi thanh xuân, lòng ham sống trỗi dậy dẫn dắt Mị những phản
kháng tích cực;


 Thực tại bị trói đứng nhưng tâm hồn vẫn thăng hoa theo tiếng sáo, Mị chìm vào hạnh phúc
ảo giác, vùng bước theo tiếng sáo trong tâm tưởng cũng là lúc nhận ra thực tại trong nỗi đau
đớn, xót xa. Mị khơng nghe tiếng sáo nữa, chỉ nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách, Mị cay
đắng trở lại với sự liên tưởng về kiếp sống không bằng con ngựa;


 Sự thức tỉnh lần này không giúp Mị thay đổi kiếp sống nhưng hé mở được vẻ đẹp của lịng
ham sống ln tiềm tàng ở người lao động vùng cao Tây Bắc, nó là cơ sở để khi có cơ hội,
người lao động sẽ vùng lên giải thốt chính mình.


- Về nghệ thuật:


+ Ngơn ngữ giàu hình ảnh, câu văn vừa giàu chất hiện thực vừa quá đỗi chất thơ, hiểu biết
phong phú về phong tục vùng cao Tây Bắc;


+ Miêu tả, phân tích tâm lí một cách tài tình, biện chứng, đặc biệt việc chọn lựa chi tiết tiếng
sáo để biểu đạt thế giới nội tâm rất tinh tế;


+ Trần thuật linh hoạt, kết hợp kể gián tiếp và nửa trực tiếp...


<b>* Liên hệ với q trình thức tỉnh của Chí Phèo trong cảnh buổi sáng tỉnh rượu</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

+ Nguyên cớ hồi sinh: Trước tiên là ở sự xuất hiện của thị Nở - người đàn bà thơ nhám nhưng


có trái tim giàu yêu thương, nhân ái; sau nữa là Chí lần đầu tiên tỉnh rượu sau những cơn say
triền miên.


+ Quá trình thức tỉnh:


 Bắt đầu với sự trở về của ý thức: tỉnh rượu, tỉnh táo để nhận thức được khơng gian với
những thanh âm bình dị (tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo
đuổi cá, tiếng chim hót...), nhận thức được thời gian với q khứ xa xơi từng có niềm ao
ước về một gia đình nho nhỏ, ý thức được bi kịch hiện tại, nghĩ đến tương lai với tuổi già,
bệnh tật và cô độc;


 Những cung bậc cảm xúc sống lại để buồn bã, nuối tiếc giấc mơ trong quá khứ và ngạc
nhiên xúc động trước tấm chân tình của thị Nở với bát cháo hành;


 Đỉnh cao của sự thức tỉnh là suy nghĩ và khao khát hướng thiện, thèm lương thiện, muốn
làm hòa với mọi người, hi vọng mãnh liệt và sự mở đường của thị Nở;


 Tính người cũng trở về trong những hành động và lời nói rất người: Chí khơng cịn đập đầu,
rạch mặt, ăn vạ, ngược lại có khả năng điều chỉnh hành vi, thay đổi thói quen, cố uống thật
ít để được sống trong u thương...; Khơng cịn chửi vu vơ, phẫn uất cơ độc mà biết nói một
cách hiền lành, trân trọng và tình tứ của một người khi yêu “Giá cứ thế này thì thích nhỉ?”...
- Về nghệ thuật:


+ Ngơn ngữ vừa sống động, vừa điêu luyện lại vừa gần gũi, tự nhiên;
+ Nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lí tinh tế, sâu sắc, biện chứng;


+ Trần thuật linh hoạt, kết hợp hài hòa giữ đối thoại và độc thoại, giữa lời gián tiếp và nửa trực
tiếp;


+ Xây dựng được nhân vật điển hình...



<b>* Nhận xét cái nhìn nhân đạo của mỗi nhà văn:</b>


- Điểm tương đồng:


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

+ Thông cảm, đồng cảm với số phận bất hạnh của những người lao động nghèo, những con
người bị vùi dập, bị lăng nhục và xúc phạm;


+ Lên án, tổ cáo những thế lực gây ra số phận đau khổ cho người lao động;
+ Niềm tin vào nhân cách, phẩm chất của người lao động.


- Điểm khác biệt:


+ Nam Cao nhìn con người trong số phận bi kịch, nhân vật của ông chưa tìm được con đường
đi, con đường giải phóng cho chính mình. Vì thế kết thúc sự thức tỉnh của Chí Phèo là con
đường cùng, bế tắc.


+ Tơ Hồi nhìn con người trong sự vận động đến với cuộc sống tốt đẹp, tương lai tươi sáng. Vì
vậy kết thúc sự thức tỉnh của Mị trong đêm tình mùa xuân hứa hẹn một sự phản kháng quyết
liệt để giải thốt mình và những người cùng cảnh ngộ trong đêm mùa đông cuối truyện.


<b>III. Kết bài</b>


- Sự hồi sinh của Mị và Chí Phèo thể hiện sự trân trọng, niềm tin của hai nhà văn đối với những
giá trị nhân phẩm, sức sống tiềm tàng bên trong con người.


<b>Một số mẫu bài phân tích cảm nhận q trình thức tỉnh của nhân vật Mị liên</b>


<b>hệ với Chí Phèo</b>



<b>Bài mẫu số 1:</b>



Nam Cao và Tơ Hồi là hai cây bút xuất sắc trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Nếu như
Nam Cao đi vào khai thác đề tài người nông dân ở làng Đại Hồng – q hương của nhà văn,
thì Tơ Hồi lại rất thành cơng trong việc tìm đến người lao động miền núi Tây Bắc xa xôi để
xây dựng nên những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc. Đọc Chí Phèo của Nam Cao và Vợ chồng
A Phủ của Tô Hồi hẳn bạn đọc khơng thể qn được hai nhân vật Chí Phèo và Mị, nhất là sự
hồi sinh nhân tính của họ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

… Nếu như Trương Sinh thức tỉnh sau cái chết oan uổng của vợ, thì Hộ thức tỉnh sau khi đánh
đuổi vợ con vì gánh nặng cơm áo. Trương Sinh đã lập đàn giải oan cho vợ, Hộ đã khóc, giọt
nước mắt của Hộ chính là bằng chứng cho sự thức tỉnh, hồi sinh nhân tính. Cịn sự hồi sinh
nhân tính của Chí Phèo và Mị được Nam Cao, Tơ Hồi dẫn giải như thế nào?


Để lí giải sự hồi sinh nhân tính của hai nhân vật, Nam Cao và Tơ Hồi đều viện dẫn đến những
tác nhân tác động từ bên ngoài. Đúng vậy, phải có sự tác động thì con người ta mới có thể thức
tỉnh, cũng giống như con người khi chìm vào giấc ngủ say triền miên, phải có sự tác động thì ta
mới có thể tỉnh giấc. Cả Chí Phèo và Mị đều có tác nhân như vậy.


Chí hồi sinh nhân tính sau đêm gặp thị Nở. Tình người của thị Nở đã đánh thức tình người nơi
Chí và chỉ có tình người ấy mới khơi dậy sự hồi sinh của Chí. Cịn Mị lại thức tỉnh về nhân tính
trong đêm tình mùa xn. Nếu như Chí nhờ có tác động của con người, tình người thì Mị lại
nhờ sự tác động của cảnh vật, để hồi tỉnh lại nhân tính.


Trước khi hồi sinh nhân tính, cả Chí và Mị đều có những số phận và bi kịch đau đớn giống
nhau.


Chí Phèo vốn là người nơng dân hiền lành, chất phác, chăm chỉ, ở thuê cho nhà bá Kiến. Vì sự
ghen tng của bá Kiến mà Chí bị đẩy vào nhà tù thực dân. Nhà tù thực dân ấy, oan trái thay,
nó tiếp nhận con người khi người ta vô tội, lương thiện và trả người ta ra khi họ đã trở thành kẻ
tha hóa, mất đi cả nhân hình và nhân tính. Về nhân hình, Chí là một con vật lạ với khuôn mặt


“vằn dọc vằn ngang khơng biết bao nhiêu là sẹo”, về nhân tính, Chí là “con quỷ dữ của làng Vũ
Đại”, một kẻ chuyên rạch mặt ăn vạ và làm tay sai đòi nợ cho bá Kiến. Bi kịch đau đớn nhất
của Chí Phèo là “bị từ chối quyền làm người, cha mẹ từ chối Chí, dân làng cũng từ chối Chí”.
Chí rơi vào bi kịch khi khơng có ai đón nhận Chí trở về với cái xã hội bằng phẳng kia. Nếu như
là con người thì đâu ai dám vạch mặt mình như vậy, đâu ai dám sẵn sàng đâm thuê, chém
mướn, chỉ vì đồng tiền, đâu dám “đốt quán” của “bà bán rượu” nhưng Chí đã trở nên mất đi
“tính người”, mất đi “nhân tính” như vậy.


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

con quỷ dữ thì Mị lại mất đi nhân tính ở chỗ cơ không được coi là một con người. Sống ở nhà
thống lí Pá Tra, Mị như một “con trâu, con ngựa”. Bởi con trâu, con ngựa cịn có lúc nghỉ ngơi,
đằng này Mị phải làm quần quật suốt cả ngày. Chính vì cuộc sống như vậy mà Mị đã trở thành
một con người mất đi sức sống.


Tuy có những nét giống nhau về số phận và cuộc đời, song quá trình hồi sinh nhân tính của Chí
Phèo và Mị lại rất khác nhau.


Sự hồi sinh nhân tính của Chí là sau đêm gặp thị Nở, chính tình người của thị Nở đã đánh thức
“nhân tính” trong con quỷ dữ của làng Vũ Đại ấy. Thị là người đàn bà xấu ma chê quỷ hờn của
làng Vũ Đại. Thế nhưng, bên trong cái ngoại hình xấu xí và tính cách dở hơi của thị là một tấm
lòng rất bao dung và vị tha. Sau một đêm ăn nằm với nhau, sáng hôm sau tỉnh dậy, Chí lần đầu
tiên để tâm lắng tai nghe những âm thanh xung quanh mình, những âm thanh của cuộc sống và
cảm thấy cuộc sống cũng thật thú vị. Và Chí thèm được làm người lương thiện. Khát vọng
lương thiện ấy chính là bằng chứng cho sự hồi sinh nhân tính của Chí. Chí nhớ lại cuộc đời
mình trước khi bị đẩy vào nhà tù thực dân với những ước mơ hết sức bình dị. Chí nhận ra rằng
thị Nở cũng có duyên và muốn cùng thị chung sống. Chí đã mong muốn được làm người và thị
Nở chính là chiếc cầu nối đưa Chí trở về với con người lương thiện.


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

Chí Phèo và Mị đều được hồi sinh nhân tính. Sự hồi sinh ấy cho ta thấy cái nhìn nhân đạo của
Nam Cao và Tơ Hồi. Phải thực sự u thương cảm thơng với nhân vật của mình, hai nhà văn
mới có thể để cho họ hồi sinh nhân tính như vậy. Với Chí Phèo là trở về với cuộc sống lương


thiện, còn với Mị là được bộc lộ sức sống tiềm tàng của cơ. Cả Nam Cao và Tơ Hồi đều rất xót
thương, đồng cảm cho số phận của Chí Phèo và Mị, trân trọng những ước mơ bình dị của họ.
Mặt khác, từ sự hồi sinh về nhân tính của Chí Phèo và Mị, họ đã nói lên tiếng nói phê phán gay
gắt những thế lực chà đạp lên số phận của con người bất hạnh ấy. Cái xã hội với những tàn dư
phong kiến, bá Kiến đã đẩy Chí vào sự tha hóa. Và những hủ tục cổ hủ của miền núi với kẻ
thông trị gian ác, tham lam như thống lí Pá Tra đã cướp sạch, bào mịn sức sống của Mị.


Mặt dù, viết về những đề tài khác nhau, nhưng cuộc đời và số phận của các nhân vật đều là sự
trải nghiệm, dày cơng tìm tịi của các nhà văn. Thơng qua các nhân vật của mình nhà văn muốn
nói lên tiếng lịng, sự cảm thương cho số phận của họ. Đó chính là những giá trị nhân đạo của
tác phẩm.


Gấp lại hai truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao và Vợ chồng A Phủ của Tơ Hồi, ta có thể
nhận thấy sự hồi sinh nhân tính đưa hai nhân vật đến với những cuộc sống mới khác nhau
nhưng giá trị của sự hồi sinh ấy lại có một giá trị hết sức giống nhau, nó phản ánh tiếng lịng
của Nam Cao và Tơ Hồi dành cho nhân vật Chí Phèo và Mị, những con người có số phận rất
đáng thương xót.


<b>Bài mẫu số 2:</b>


Nam Cao và Tơ Hoài là hai gương mặt nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Bằng tài năng và tấm lòng nhân đạo sâu sắc, hai nhà văn đều dùng ngịi bút của mình hướng
đến phản ánh cuộc sống và số phận của những người nông dân nghèo khổ. Nếu như Nam Cao
đi sâu khai thác về bi kịch bị tha hóa của con người thơng qua nhân vật Chí Phèo trong truyện
ngắn cùng tên thì Tơ Hồi lại tìm đến những người nơng dân nghèo khổ, bị chà đạp về thể xác
<b>và tinh thần tại vùng núi Tây Bắc, điển hình có thể kể đến là Mị trong truyện ngắn “Vợ chồng</b>


<b>A Phủ”.</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

Mị và Chí Phèo là những người có xuất thân nghèo khổ, bị cường quyền chèn ép, chà đạp đến


mức tê liệt, đánh mất khả năng phản kháng, phải sống trong cuộc sống tăm tối, đánh mất chính
mình. Tuy nhiên, bên trong những con người bất hạnh ấy lại là sức sống tiềm tàng, mãnh liệt,
họ không mãi cam chịu cuộc sống đen tối mà đã vươn lên vượt thốt ra khỏi bóng đen của
cường quyền, thức tỉnh để hồi sinh quay trở lại với bản chất lương thiện của mình.


Chí Phèo vốn là một người nơng dân lương thiện, chân chất, vì sự ghen tuông của Bá Kiến mà
bị đẩy vào tù một cách vơ lí, oan uổng. Nhà tù thực dân đã biến Chí Phèo một người lương
thiện trở thành một tên lưu manh với vẻ ngoài ngang ngược, hống hách. Với lí lịch “đen” sau
khi ra tù, Chí Phèo khó có thể quay trở về với những cơng việc lương thiện như trước đây,
không ai muốn, cũng không ai dám th Chí. Để tiếp tục sống, Chí Phèo đã tìm đến chính kẻ
thù của mình, kẻ đã đẩy mình vào con đường tù tội – Bá Kiến. Từ khi chấp nhận làm tay sai
cho Bá Kiến cũng là khi Chí Phèo bước vào con đường tội lỗi, một tay Chí Phèo đã gây nên
bao tội ác, Chí dần bị tha hóa và trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại.


Cả làng Vũ Đại đều căm ghét, từ chối công nhận quyền làm người của Chí. Những tưởng Chí
sẽ mãi trượt dài trên con đường tha hóa, mãi là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nhưng bát cháo
hành của Thị Nở đã đánh thức phần nhân tính bên trong con người của Chí. Những ước mơ
bình dị thời trai trẻ bỗng sống dậy trong Chí, Chí khát khao muốn làm hòa với mọi người,
muốn trở về với con đường lương thiện.


Khi biết mình mãi mãi khơng thể trở về cuộc đời lương thiện được nữa, Chí Phèo thà lựa chọn
cái kết bi thảm nhất cho mình chứ khơng chịu bắt tay với tội ác một lần nữa. Cái chết của Chí
Phèo khơng chỉ lên án xã hội phong kiến thối nát mà còn thể hiện thái độ đồng cảm sâu sắc của
Nam Cao đối với số phận bi thảm của người nông dân.


Mị là người con gái xinh đẹp, yêu đời với sức sống thanh xuân căng tràn nhưng buộc trở thành
con dâu trừ nợ cho gia đình thống lí. Sống tại gia đình thống lí, Mị phải làm việc quần quật
ngày đêm, bị đối xử như con trâu, con ngựa, chà đạp cả về thể xác và tinh thần. Sống lâu trong
cái khổ, Mị từ một cô gái trẻ trung, yêu đời trở thành người đàn bà cam chịu, lầm lũi như con
rùa ni trong xó cửa. Mị bị tê liệt, đánh mất đi khả năng phản kháng trước thực trạng đau khổ


trước mắt. Trong đêm tình mùa xuân, sức sống bên trong Mị đã được đánh thức nhưng sau đó
lại bị thực tại tàn nhẫn đè nén để cô trở lại đối với cuộc sống cam chịu thường ngày.


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

Qua hai nhân vật Chí Phèo và Mị, hai nhà văn Nam Cao và Tơ Hồi đã thể hiện sự cảm thông
sâu sắc đối với những người nông dân nghèo bất hạnh. Sự hồi sinh của Chí Phèo và Mị thể hiện
sự trân trọng, niềm tin của hai nhà văn đối với những giá trị nhân phẩm, sức sống tiềm tàng bên
trong con người, đồng thời phê phán sâu sắc đối với xã hội đen tối đã đẩy con người đến con
đường tha hóa.


<b>Bài mẫu số 3:</b>


Tơ Hồi và Nam Cao được xem là hai cây bút xuất sắc trong nền văn học hiện đại Việt Nam.
Hai ơng có đặc điểm chung là ưa thích viết về những người nơng dân chịu thương chịu khó bị
áp bức bóc lột. Nếu như Nam Cao đi sâu khai thác hình ảnh người nơng dân ở làng Đại Hồng
– quê hương nhà văn tiêu biểu là nhân vật Chí Phèo. Thì Tơ Hồi lại tìm đến những người nơng
dân chịu thương chịu khó ở vùng núi Tây Bắc xa xôi tiêu biểu là nhân vật Mị. Hai nhân vật
khác nhau nhưng đều có điểm chung là sự hồi sinh thức tỉnh sau những ngày tháng dài sống
trong tăm tối. Nam Cao và Tơ Hồi được xem là có sự đồng điều tâm hồn, gặp gỡ về mặt tư
tưởng nhân đạo. Khi văn thơ của họ đều là tiếng nói yêu thương cảm thông sâu sắc với số phận
con người trong xã hội phong kiến phải chịu áp bức bóc lột đến tha hóa cả bản thân. Tuy nhiên,
nhân vật của họ khơng bị khuất phục trước bóng đen của quyền lực mà ngay cuối đường họ đã
được hồi sinh quay trở lại với bản ngã thiện lương.


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

tay. Vì thế mà lúc nào, mặt cơ cũng buồn rười rượi. Mị sống một cuộc sống không biết ngày
mai sống mà như đã chết.


Để lý giải cho sự hồi sinh của hai nhân vật Chí Phèo và Mị cả Nam Cao và Tơ Hồi đã xây
dựng những tình huống kịch tính thức tỉnh nhân vật có bước chuyển biến về suy nghĩ cũng như
hành động.



Ta thấy, ở nhân vật Chí Phèo sau những ngày dài chìm trong men rượu. Đêm hơm đấy Chí đã
gặp Thị Nở – người con gái xấu như ma chê quỷ hờn của làng Vũ Đại. Sau cái đêm tình trong
vườn chuối đó đã thực sự hồi sinh con người Chí. Hắn lại nghe thấy những tiếng động thân
thương của cuộc sống hàng ngày. Hắn cũng nhớ ra cũng đã có thời mình mơ ước được sống
một cuộc sống bình dị. Vợ chồng bảo nhau làm ăn, nuôi lợn, chăn gà xây dựng gia đình hạnh
phúc. Một ước mơ về cuộc sống bình thường như bao người khác nay lại được khơi gợi lên từ
khi gặp Thị Nở. Chí lại muốn làm người lương thiện. Hắn đến tìm Bá Kiến và kết thúc cuộc đời
đầy đau khổ của mình bằng câu hỏi “Ai cho tao lương thiện”. Mặc dù, Chí Phèo đã chết nhưng
trước khi chết hắn đã tìm lại được thiện lương trong con người.


Đối với nhân vật Mị sự thức tỉnh của Mị nằm ở hồn cảnh Mị trong cái đêm tình mùa xuân ấy
và khi nhìn thấy những giọt nước mắt lăn dài trên gò má của A Phủ. Lòng ham sống mãnh liệt
được đánh thức trong Mị. Mị nghe thấy tiếng áo gọi bạn tình và cơ lại muốn mặc váy, muốn
được sửa soạn đi chơi hội như ngày xưa. Những hành động đấy cho thấy chứng tỏ Mị đã đã
thức tỉnh. Sức sống tiềm tàng trong con người đã được đánh thức nhờ tiếng sáo. Rồi đến khi cô
chứng kiến A Phủ bị cha con nhà Thống Lí hành hạ trói ở cây cột ngồi sân. Cơ biết nếu khơng
chạy khỏi đây thì cũng chết dần chết mịn như những người con dâu sống trong nhà Thống Lí
trước đây. Nên cơ đã cởi trói cho A Phủ và cùng anh trốn đi tìm chân trời mới.


Cả Nam Cao và Tơ Hồi đều xót thương và đồng cảm cho nhân vật của mình. Sự hồi sinh về
nhân tính cũng như khát vọng sống mãnh liệt của Chí Phèo và Mị là tiếng nói phê phán gay gắt
xã hội phong kiến thối nát. Nơi mà con người ta đã dùng quyền lực để áp bức đẩy những người
nông dân hiền lành trở nên bị tha hóa mất hết ý thức sống.


Hai truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tơ Hồi và Chí Phèo của Nam Cao đã cho ta thấy mặc
dù viết về cuộc đời của hai nhân vật có số phận khác nhau. Nhưng điểm chung giữa nhân vật
Chí Phèo và Mị là đều có một cuộc đời bất hạnh. Trải qua nhiều đau khổ mất mát họ mới tìm
lại được con người trước đây của mình. Sự hồi sinh và thức tỉnh của họ chính là tiếng nói cảm
thương của tác giả và thể hiện được giá trị nhân văn sâu sắc trong hai tác phẩm.



</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Tác phẩm của ông
luôn thể hiện vốn hiểu biết sâu sắc, đặc biệt về những phong tục và sinh hoạt đời thường của
những vùng văn hóa khác nhau trên đất nước ta. Ơng thành cơng với những tác phẩm viết về
lồi vật và đặc biệt ấn tượng với những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống và con người Tây
Bắc. Nổi bật là truyện ngắn Vợ chồng A Phủ – bức tranh chân thực về cuộc sống dân nghèo
miền núi và sức sống tiềm tàng của họ.


Nam Cao là cây bút tiêu biểu của trào lưu văn học hiện thực phê phán trước Cách mạng. Ơng
ln ý thức sâu sắc về quan niệm nghệ thuật của mình, đồng thời yêu cầu nghệ thuật phải gắn
liền với cuộc sống, chạm thấu vào nỗi đau của con người để cất tiếng kêu giành lại hạnh phúc.
Chính vì thế, nhà văn phê phán khá tồn diện tư tưởng “nghệ thuật là ánh trăng lừa dối”, mang
tính thốt ly với cuộc đời. Để từ đó, ơng mang lại cho kho tàng văn học Việt Nam thiên truyện
Chí Phèo, vượt qua bao thời gian vẫn giữ nguyên giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc.


Khi so sánh nhân vật Mị và Chí Phèo, ta thấy được rằng cả hai tác giả đều hướng ngịi bút của
mình đến cuộc sống khốn khổ của những người nông dân Việt Nam bấy giờ.


Nếu như Nam Cao đi sâu khai thác hình ảnh con quỷ dữ Chí Phèo của làng Vũ Đại bằng tất cả
sự ghê sợ về nhân hình lẫn nhân tính thì Tơ Hồi lại ngược về vùng núi Tây Bắc để tìm kiếm
hình ảnh người con gái xinh đẹp chịu thương, chịu khó. Đọc hai tác phẩm trên hẳn ta khơng thể
qn được hình ảnh của hai nhân vật Mị và Chí Phèo, nhất là sự hồi sinh trỗi dậy trong họ.
Miêu tả nhân vật Mị, Tơ Hồi không khiêm tốn lời lẽ để ca ngợi về một cô gái tài sắc chẳng
kém cạnh ai. Người con gái vùng núi Tây Bắc vốn xinh đẹp, không những vậy cịn có tài thổi
sáo nên khơng ít chàng trai trong và ngồi làng ln khao khát có được nàng. Đặc biệt, khác
với số đông Mị là người yêu tự do và có lịng tự trọng, người con gái này khơng ngừng khát
vọng vươn lên trong cuộc sống bằng cách lao động.


Khơng những có tâm hồn lãng mạn mà bên trong Mị cịn tốt lên vẻ đẹp của lịng hiếu thảo và
bi kịch của cuộc đời người con gái này cũng bắt đầu từ đó. Ba tiếng “dâu gạt nợ” chính là cách
báo hiếu duy nhất của Mị khi muốn trả dứt món nợ của gia đình. Để từ đó, Mị trở thành nạn


nhân của nạn nhân của xã hội phong kiến đầy bóc lột và là nạn nhân của tập tục hơn nhân cổ hủ
bấy giờ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

Dưới ngịi bút kể của nhà văn Tơ Hồi, Mị hiện lên như một cơng cụ biết nói, để rồi đã hơn một
lần Mị thổn thức mình khơng bằng con trâu con ngựa. Cuộc sống của Mị đang dần bị vật hóa.
Bên cạnh đó, Mị cịn bị chính chồng của mình đánh đập và hành hạ một cách dã man đầy vô lý.
Khi so sánh nhân vật Mị và Chí Phèo, ta mới thấy Mị vốn đã tủi nhục rồi nhưng qua đó ta mới
càng thấy rõ hơn sự khốn nạn của cuộc đời Chí. Sự ra đời của hắn vốn đã là một sự bất hạnh,
với hình ảnh một đứa bé bị bỏ rơi ở một cái lò gạch cũ.


Nam Cao dường như để nhân vật của mình tự lớn lên và trưởng thành giữa tình thương của
những con người làng Vũ Đại, đó như một lời khẳng định rằng Chí Phèo vốn là một con người
có bản chất hiền lành và có suy nghĩ. Để rồi sau đó, nhà văn mới xốy ngịi bút của mình vào
sự tha hóa cũng như sự khốn cùng của cuộc đời nhân vật một cách tàn nhẫn nhất.


Nam Cao không ngại cho nhân vật của mình trở thành hình tượng một con quỷ dữ, khi mở đầu
thiên truyện là hình ảnh “hắn vừa đi vừa chửi…” và tiếp đó là khơng ít những hình ảnh rạch
mặt ăn vạ, vào ra tù khơng ít lần. Chính nhà tù thực dân đầy oan trái đã lấy đi ở Chí sự hiền
lành, lương thiện và trả lại một kẻ đã mất đi cả nhân hình lẫn nhân tính.


Sự sắc lạnh trong giọng kể của nhà văn chính là sự tường thuật chân thật về một xã hội phong
kiến thối nát bấy giờ, nơi mà chỉ có sự bóc lột và đẩy những con người lương thiện đến tận
cùng của sự thống khổ. Việc phân tích tâm trạng và diễn biến tâm lý của Chí giúp làm bật lên
sự so sánh nhận vật Mị và Chí Phèo.


Sự hồi sinh của nhân vật thơng qua tình huống truyện độc đáo.Khát vọng sống mãnh liệt của
Mị qua tâm trạng và hành động trong đêm tình mùa xuân. Hiện thực Mị đang sống là một hiện
thực tối tăm, ngột ngạt khiến cơ trở thành cái bóng lầm lũi, sống mà như chết. Nhưng một lần
nữa quá khứ gọi tìm đến khiến cô gái này rạo rực, náo nức với niềm hân hoan sống và khát
vọng tự do. Chất xúc tác khiến Mị sống trở lại đó là tiếng sáo, là chính hơi nồng của rượu và cả


chất tình của mùa xuân, “tiếng sáo gọi bạn yêu lơ lửng bay ngoài đường…”


Nhà văn đã dùng từ láy để miêu tả âm thanh tiếng sáo một cách đầy gọi mời, nó khiến Mị
khơng thể ngồi yên với quá khứ mà đánh thức sự thèm muốn đi chơi xn trong cơ. Mị đã có
những hành động táo bạo “Mị khơng nói, Mị đến góc nhà lấy ống mỡ xắn một miếng… Mị
quấn lại tóc, Mị với lấy cái váy hoa, Mị muốn đi chơi”.


</div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14>

Sự trỗi dậy của Mị một lần nữa được nhấn mạnh khi cơ bắt gặp hình ảnh A Phủ “một dòng
nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Tình yêu thương đồng loại trong Mị
trỗi dậy bắt nguồn từ sự đồng cảm và thương xót cho chính cuộc đời mình.


Nhà văn đã miêu tả hàng loạt hành động Mị cứu A Phủ từ nhẹ nhàng, cẩn trọng với câu thúc
giục “đi ngay” để A Phủ có thể chạy đi và sống. Sau đó, đỉnh điểm của sự trỗi dậy khát vọng
sống trọng Mị đó là tiếng nói trong sự phức tạp đầy sợ hãi của tâm lí “A Phủ cho tơi đi với…Ở
đây thì chết mất”


Từ sự rung cảm trước tiếng sáo của đêm tình mùa xn đến liều mình cắt dây trói cho A Phủ đã
cho thấy Mị đã can đảm tự giải thốt cuộc đời mình khỏi sự cường quyền. Bước chân của Mị
đã đạp đổ sự áp bức của chế độ bấy giờ và thể hiện sức sống tiềm tàng của bản thân. Tơ Hồi
đã ca ngợi vẻ đẹp phụ nữ Tây Bắc, đồng thời khẳng định khát vọng sống và khát vọng hạnh
phúc của con người dù trong tận cùng của bế tắc.


Sự tàn khốc của xã hội đã vùi dập một con người, thế nhưng chỉ cần những tác động nhỏ của
tình người thì bước chân của con quỷ dữ đã kịp dừng lại, đánh dấu sự trở lại của một kiếp
người.“Chưa bao giờ hắn tỉnh. Và chưa bao giờ hắn tỉnh táo để biết hắn có mặt trên đời này”.
Hai câu văn liên tiếp tưởng chừng như mang một ý nghĩa nhưng lại mở ra một bước ngoặt về
những “lần đầu tiên” của Chí từ ngày hắn tha hóa. Đây khơng chỉ là sự thức tỉnh của thể xác mà
còn là sự thức tỉnh của tâm hồn.


Lần đầu tiên hắn cảm nhận được hơi thở của cuộc sống và mông lung mơ về những ước mơ


trong quá khứ “Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ”. Chi tiết này như
nút thắt của thiên truyện và cũng chính là nút thắt của cuộc đời Chí, sự tự nhận thức và trỗi dậy
của nhân tính đã khiến hắn một lần nữa được sống và tỉnh táo nhìn nhận về cuộc đời chính
mình.


Khi so sánh nhân vật Mị và Chí Phèo, nếu như sự trỗi dậy của Mị xuất phát từ sự hoài niệm về
quá khứ tươi đẹp thì sự trỗi dậy của Chí là được đánh thức nhờ vào hơi ấm từ bát cháo hành của
Thị Nở. Bát cháo hành đại diện cho tình người – điều mà suốt cuộc đời này tưởng chừng như
hắn khơng bao giờ có được nữa. Sự chăm sóc từ đơi bàn tay người phụ nữ thật mới mẻ và ấm
áp đối với hắn để từ đó hắn tìm đường trở về với lương thiện.


</div>
<span class='text_page_counter'>(15)</span><div class='page_container' data-page=15>

rượu hắn hơi rùng mình”. Bởi cái hắn thèm giờ đây không phải là mùi cay nồng của rượu mà là
hương vị của sự lương thiện “Hắn thèm lương thiện”.


Khi so sánh nhân vật Mị và Chí Phèo, người đọc mới cảm nhận sâu sắc giá trị hiện thực và giá
trị nhân đạo trong hai tác phẩm Vợ chồng A Phủ và Chí Phèo. Qua đó. tác giả đã khái quát
được bộ mặt xã hội phong kiến tàn bạo. Đồng thời ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn và sự trổi dậy tìm
kiếm sự sống của những con người cùng khổ.


Khác với những nhà văn hiện thực phê phán đương thời, Nam Cao và Tơ Hồi khơng đi sâu
miêu tả q trình đói cơm rách áo của người nơng dân mặc dù đó là thực tế vơ cùng phổ biến.
Ơng u thương nhân vật bằng cách nêu cao giá trị hiện thực qua những bi kịch cuộc đời của
nhân vật. Để từ đó khi so sánh nhân vật Mị và Chí Phèo, người đọc mới thấu rõ nỗi đau đòi
quyền sống, quyền làm người và góp tiếng nói tố cáo xã hội bấy giờ.


Nếu khơng phải là một tấm lịng nhân đạo nhân đạo và tài năng xuất chúng thì cả hai nhà văn
đã không khiến người đọc rung cảm đến như vậy khi so sánh nhân vật Mị và Chí Phèo. Mỗi
nhà văn đều có cách sáng tạo riêng nhưng khi viết về người nông dân, họ luôn tập trung bút lực
của mình vào vẻ đẹp tiềm tàng của nhân vật.



<b>Bài mẫu số 5</b>


Trong nền văn học hiện thực Việt Nam, sự xuất hiện của một loạt các cây bút tài năng như
Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,... đã phản ánh một cách rất chân
thực số phận bi kịch của người nơng dân, trí thức nghèo trong xã hội cũ, cùng với những bất
công, sự tàn ác của chế độ thực dân nửa phong kiến đẩy con người ta vào đến bước đường
cùng. Trong đó với Chí Phèo của Nam Cao và Vợ chồng A Phủ của Tơ Hồi, ta đều nhận thấy
nội dung chính xuyên suốt tác phẩm ấy là sự thức tỉnh, trỗi dậy mạnh mẽ của nhân vật chính.
Tuy nhiên với bối cảnh ra đời và hướng đi khác nhau trong phong cách viết của mỗi tác giả thể
nên sự thức tỉnh của các nhân vật và cái kết của họ cũng phát triển theo những lối đi riêng, một
bên là bi kịch, một bên lại là con đường rực sáng đầy hy vọng.


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16>

khổ, nhưng nghĩ đến cha già Mị lại khơng đành lịng chết, chỉ đành cắn răng chịu đựng. Mãi rồi
"ở lâu trong cái khổ, Mị cũng quen khổ rồi. Bây giờ Mỵ tưởng mình cũng là con trâu, mình
cũng là con ngựa. Con ngựa chỉ biết ăn cỏ, biết đi làm mà thôi". Cô trở nên trơ lì, khơng cịn
thiết tha gì đến cuộc sống, khơng còn biết thế nào là đau đớn, khổ sở, tâm hồn Mị trở nên nguội
lạnh như tro tàn, cô thu mình vào một chiếc vỏ bọc cứng rắn bởi những nỗi đau quá sức chịu
đựng khi mà chính bản thân Mị cũng ý thức được rằng "Con ngựa, con trâu làm có lúc, đêm
cịn được đứng gãi chân, nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này vùi vào việc cả đêm cả ngày". Không
chỉ bị đày đọa về thể xác mà nỗi đau của Mị còn đến từ những hoạt cảnh tù túng trong tâm hồn,
khi mà lúc nào người ta cũng thấy Mị buồn rười rượi, đầu cúi xuống, khơng thiết tha nói năng,
tâm trí lúc nào cũng chỉ nghĩ đến việc đi làm. Căn buồng Mị ở chẳng khác nào một cái nhà tù
khi chỉ có một cái lỗ vuông bé bằng bàn tay "lúc nào trông ra cũng thấy một màu trăng trắng
không biết là sương hay là nắng", tối tăm chật hẹp, giam giữ cả tâm hồn và thể xác của Mị, mà
có lúc Mị đã nghĩ rằng cả cuộc đời này mình sẽ sống và chết ở cái căn buồng nhỏ bé này. Ngẫm
thật xót xa cho một kiếp người. Ngoài ra một nỗi đau khổ khác của Mị ấy là nỗi đau bị chia cắt
tình duyên và việc phải chung sống cả đời với người mà mình căm ghét - A Sử, một kẻ độc ác,
vũ phu, chỉ biết chơi bời, nó khơng coi Mị là vợ mà coi cô như một nô lệ trong nhà, mặc sức
đối xử tàn bạo. Một cuộc đời như như vậy sao không khiến người ta trở nên tuyệt vọng, chai lì,
lầm lũi như con rùa trong xó cửa cho được, nó có khác nào địa ngục trần gian, mà cái gian nhà


giàu ấy chính là cái nhà tù chung thân được canh giữ bởi thần quyền và cường quyền, nó đã chà
đạp, tàn phá tâm hồn và thể xác của những người đàn bà khốn khổ như Mị.


</div>
<span class='text_page_counter'>(17)</span><div class='page_container' data-page=17>

xem mình cịn sống hay đã chết. Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau từng mảnh thịt".
Sự đau đớn, nỗi sợ hãi chính là những minh chứng rõ ràng nhất cho sức sống tiềm tàng của Mị,
hóa ra Mị vẫn cịn ham sống, ham cuộc đời này lắm, Mị không muốn chết ngay tại đây, ngay
bây giờ, Mị vẫn còn khao khát những hạnh phúc thanh xuân, khao khát tự do mãnh liệt và
chúng đang bùng cháy trong trái tim người đàn bà trẻ, chỉ là chưa biết phải làm thế nào để đạt
được những ước vọng ấy. Đang trong lúc Mị bế tắc, thì sự xuất hiện tả tơi của A Phủ đã chỉ cho
Mị một lối thoát đầy hy vọng, cảnh chàng trai tưởng chừng lả đi vì bị đói, bị rét, nhưng khi
được Mị giải cứu đã dùng hết sức bình sinh để chạy, lăn xuống dưới sườn đồi, chứ quyết không
chịu ở lại đợi chết, đã làm tâm hồn Mị vỡ ra một chân lý: Mị đã giải thoát được cho người
khác, cớ sao lại khơng tự giải thốt cho bản thân mình được. Thế là Mị đã bất chấp liều mình
chạy theo A Phủ, tự trả lại tự do cho bản thân, hướng về một cuộc đời mới, thoát khỏi cái nhà
tù tàn ác, bế tắc ấy. Tất cả những biến đổi trong tâm lý của Mị, cũng như hành động táo bạo của
cô đều bộc lộ những vẻ đẹp tâm hồn đáng quý đó là sức sống tiềm tàng mãnh liệt, sự phản
kháng mạnh mẽ, khao khát tự do, hạnh phúc cháy bỏng trong tâm hồn. Tất cả đã trở thành động
lực khiến Mị tự giải phóng, cứu vớt bản thân và cả A Phủ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(18)</span><div class='page_container' data-page=18>

thân đã bước sang phía bên kia của cuộc đời, hắn đã già, cơ thể đã bắt đầu suy sụp, hắn không
sợ chết nhưng lại sợ sống một cuộc đời cô đơn, lay lắt, Rồi hắn nhớ lại những ước mơ thuở đơi
mươi, có một gia đình đầm ấm, chồng cày thuê vợ dệt vải, nuôi lợn, mua đất. Và hắn khao khát
được làm những việc ấy với thị Nở, hắn muốn xây dựng gia đình với thị và thị sẽ là cây cầu đưa
hắn về với thế giới loài người, để hắn hoàn lương và sống một cuộc đời mới. Thế nhưng thật
đớn đau thay, Chí Phèo chỉ vừa mới thoát ra khỏi cơn say dài được mấy ngày, mới có được
những niềm hy vọng niềm vui sống thì nó đã lập tức bị đạp đổ bởi định kiến gay gắt của xã hội
qua lời của bà cô Thị Nở "Đàn ông đã chết hết hay sao mà lại đâm đầu đi lấy một thằng không
cha. Ai lại đi lấy chồng chỉ có một nghề rạch mặt ăn vạ". Lời nói cay nghiệt ấy đã giáng một
địn chí mạng vào Chí Phèo, khiến hắn tỉnh mộng, ý thức thật rõ ràng về thân phận về cái số
kiếp chất chồng đầy bi kịch và tội lỗi của mình, hắn đã khơng cịn cơ hội quay trở về nữa rồi,


hắn muốn lương thiện, nhưng ai cho hắn cái lương thiện quý giá ấy đây. Đồng thời Chí Phèo
cũng nhận thức được kẻ thù của mình, kẻ đã gây ra cho hắn biết bao bi kịch chính là Bá Kiến.
Hắn cũng lựa chọn cách giải thoát cho bản thân như Mị, để giữ lại những thiên lương tốt đẹp
cịn sót lại trong người hắn. Thế nhưng khác so với Mị, kết thúc của q trình thức tỉnh của Chí
Phèo đó là một bi kịch. Hắn giết chết Bá Kiến, đồng thời tự tử để kết thúc một đời đầy bất hạnh
đau thương và đầy tội lỗi của mình. Đây có thể xem là cái kết hợp lý cho truyện ngắn, cũng
phản ánh một cách gay gắt sự bất công của xã hội cũ đã mang đến cho con người biết bao bi
kịch đau thương, khiến họ khơng cịn đường lùi, buộc phải chọn cách thức tiêu cực nhất để giải
thoát.


Chung quy lại, có thể thấy rõ ràng ở hai nhân vật Mị và Chí Phèo đều có những điểm chung ấy
là những vẻ đẹp tâm hồn đáng quý như tấm lòng ham sống, khao khát hạnh phúc, tình yêu
mãnh liệt. Tuy nhiên nếu như bản thân Mị chọn cách chôn giấu, bao bọc tâm hồn của mình
bằng lớp vỏ chai lì, khơ cứng, khơng cảm xúc, thì Chí Phèo lại chọn cách phó mặc cho số phận,
trượt dài theo con đường tội lỗi, chính vì thế đến tận cuối q trình thức tỉnh, hai nhân vật có
kết cục người tìm được tự do, hạnh phúc, người phải chịu bi kịch kết thúc cuộc đời, âu cũng là
một hướng phát triển cốt truyện hợp lý và phù hợp với hoàn cảnh cũng như những tư tưởng mà
hai tác giả muốn truyền tải cho người đọc.


</div>

<!--links-->

×