BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Đình Tuấn
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ, XÃ HỘI
QUẬN TÂN BÌNH (THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Đình Tuấn
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ, XÃ HỘI
QUẬN TÂN BÌNH (THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2013
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số:
60 22 03 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ VĂN ĐẠT
Thành phố Hồ Chí Minh - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được cơng bố
trong bất kỳ một cơng trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Đình Tuấn
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện, tơi đã hồn thành Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ với đề tài “Chuyển biến kinh tế, xã hội quận Tân Bình (thành phố
Hồ Chí Minh) từ năm 2003 đến năm 2013”. Nhân đây, tơi xin chân thành bày tỏ
lịng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Lê Văn Đạt đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tơi
trong q trình nghiên cứu.
Tơi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo bộ môn Lịch sử Việt Nam,
Khoa Lịch sử, Phòng Đào tạo Sau đại học – trường Đại học Sư phạm thành phố
Hồ Chí Minh, Quận ủy - UBND quận Tân Bình, các cơ quan ban ngành ở thành
phố Hồ Chí Minh,... đã giúp đỡ tơi trong suốt q trình sưu tầm tài liệu phục vụ
cho nghiên cứu.
Do khả năng và trình độ có hạn nên kết quả nghiên cứu của đề tài không
tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, bản thân tơi rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp, chỉ bảo của các Thầy, Cơ giáo và các Anh Chị đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 2 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Đình Tuấn
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU
......................................................................................................... 1
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ QUẬN TÂN BÌNH ĐẾN NĂM 2003 ............... 9
1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội quận tân Bình ............................................... 9
1.2. Tình hình kinh tế, xã hội của quận Tân Bình đến năm 2003 ................... 16
1.2.1. Về kinh tế .......................................................................................... 16
1.2.2. Về văn hóa – xã hội ........................................................................... 24
Chương 2.
CHUYỂN
BIẾN
KINH
TẾ
QUẬN
TÂN
BÌNH
TỪ 2003 ĐẾN 2013 ..................................................................... 31
2.1. Đường lối đổi mới kinh tế của Đảng........................................................ 31
2.1.1. Bối cảnh quốc tế ................................................................................ 31
2.1.2. Tình hình đất nước ............................................................................ 32
2.1.3. Quan điểm phát triển ......................................................................... 35
2.2. Kinh tế quận Tân Bình giai đoạn 2003 - 2005 ......................................... 38
2.2.1. Định hướng phát triển kinh tế, xã hội quận Tân Bình giai đoạn
2003 – 2005..................................................................................... 38
2.2.2. Những chuyển biến trong các ngành kinh tế .................................. 45
2.3. Kinh tế quận Tân Bình giai đoạn 2005 -2010 .......................................... 53
2.3.1. Định hướng phát triển kinh tế, xã hội quận Tân Bình giai đoạn
2005 – 2010..................................................................................... 53
2.3.2. Những chuyển biến trong các ngành kinh tế .................................. 60
2.4. Kinh tế quận Tân Bình giai đoạn 2010 - 2013 ......................................... 66
2.4.1. Định hướng phát triển kinh tế, xã hội quận Tân Bình giai đoạn
2010 – 2013 ....................................................................................... 66
2.4.2. Những chuyển biến trong các ngành kinh tế..................................... 70
2.5. Nhận xét – đánh giá.................................................................................. 78
Chương 3.
CHUYỂN BIẾN XÃ HỘI QUẬN TÂN BÌNH TỪ 2003
ĐẾN 2013 ..................................................................................... 83
3.1. Chủ trương đổi mới về văn hóa – xã hội của Đảng ................................. 83
3.2. Chuyển biến xã hội quận Tân Bình từ 2003 đến 2013 ............................ 92
3.2.1. Giai đoạn 2003 – 2005 ...................................................................... 92
3.2.2. Giai đoạn 2005 – 2010 ...................................................................... 95
3.2.3. Giai đoạn 2010 – 2013 .................................................................... 101
3.3. Nhận xét – đánh giá................................................................................ 106
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 118
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH:
Cơng nghiệp hóa
HĐH:
Hiện đại hóa
XĐGN:
Xóa đói giảm nghèo
HTX:
Hợp tác xã
TNHH:
Trách nhiệm hữu hạn
TNHH MTV:
Trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
UBND:
Ủy ban nhân dân
GCĐ.94:
Giá cố định năm 1994
VHTT – TDTT: Văn hóa thơng tin – Thể dục thể thao.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.
Hoạt động thương mại dịch vụ – sản xuất cơng nghiệp quận
Tân Bình giai đoạn 2006 – 2009..................................................... 64
Bảng 2.2.
Tốc độ phát triển 5 ngành hàng chủ yếu có giá trị lớn năm
2013................................................................................................. 75
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Giá trị sản xuất công nghiệp và thương mại, dịch vụ năm
2004 – 2005................................................................................... 47
Biểu đồ 2.3. Giá trị sản xuất công nghiệp và thương mại, dịch vụ năm
2006 – 2010................................................................................... 62
Biểu đồ 2.5. Cơ cấu phát triển sản xuất công nghiệp năm 2011 theo loại hình .... 74
Biểu đồ 3.1. Lực lượng lao động từ 2009 – 2013 ............................................ 100
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Tân Bình là một quận nội thành có vị trí chiến lược quan trọng của thành
phố Hồ Chí Minh, có bề dày lịch sử hình thành và phát triển khá phong phú, gắn
liền với các phong trào đấu tranh yêu nước, phong trào đấu tranh cách mạng của
nhân dân thành phố. Cuối năm 2003, thực hiện nghị định 130/2000/NĐ-CP,
ngày 5/11/2003 của Chính phủ, quận Tân Bình được điều chỉnh địa giới, tách ra
thành lập hai quận là quận Tân Bình và Tân Phú. Quận Tân Bình hiện có 15
phường.
Quận Tân Bình rất thuận lợi về địa lý kinh tế, về giao thông đường bộ
đường hàng không, về du lịch và các hoạt động thương mại dịch vụ, lại có lực
lượng sản xuất đông. Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển đơ thị ở quận
Tân Bình diễn ra rất nhanh, hầu như khơng cịn đất nơng nghiệp, kinh tế - xã hội
trong quận diễn ra sự chuyển biến mạnh mẽ theo những xu hướng tích cực: xu
hướng chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế từ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
sang thương mại - dịch vụ, xu hướng tiếp cận nhanh khoa học và công nghệ cao,
xu hướng đa dạng hóa cơ cấu kinh tế - xã hội...Trong quận đã từng hình thành
khu cơng nghiệp do thành phố quản lý là khu cơng nghiệp Tân Bình với quy mơ
hàng trăm hecta... Hiện tại, Tân Bình là một trong những quận có đóng góp rất
lớn cho sự phát triển về kinh tế, xã hội của thành phố.
Cùng với sự phát triển vượt bậc của quận về kinh tế thì các vấn đề xã hội
cũng nảy sinh. Đó là sự gia tăng dân số cơ học quá nhanh, nạn ô nhiễm môi
trường, các tệ nạn xã hội... đang trở nên phổ biến và có xu hướng ngày càng
tăng. Đây là những yêu cấp cấp bách cần phải giải quyết không chỉ đối với quận
Tân Bình mà cịn đối với các quận huyện khác, đặc biệt là các quận nội thành
thành phố Hồ Chí Minh đang trong q trình phát triển đơ thị.
Việc nghiên cứu sự chuyển biến kinh tế, xã hội của một địa phương đang
trong q trình phát triển nói chung và quận Tân Bình nói riêng là cần thiết.
2
Nghiên cứu để tìm hiểu nguyên nhân đi đến thành công, những nguyên nhân của
sự tồn tại, yếu kém. Từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục một cách có hiệu
quả nhất cho q trình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội.
Từ những lý do kể trên, người nghiên cứu vấn đề “Chuyển biến kinh tế, xã
hội quận Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh) từ năm 2003 đến năm 2013” với
mong muốn: từ việc nhận diện đầy đủ diện mạo quận Tân Bình từ 2003 đến nay
có thể tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm đưa kinh tế, xã hội quận Tân Bình
ngày càng phát triển bền vững.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Các vấn đề về thành phố Hồ Chí Minh nói chung, vùng đất thuộc quận Tân
Bình nói riêng từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm. Các tài liệu trước
năm 1975 có các tác phẩm “Đại Nam nhất thống chí – Lục tỉnh Nam Việt” của
Quốc sử quán triều Nguyễn, “Gia Định thành thơng chí” của Trịnh Hồi Đức,
“Địa phương chí tỉnh Gia Định” của Tịa hành chính Gia Định, “Gia Định xưa
và nay” của Huỳnh Minh, “Những điều cần biết về kế hoạch chủ yếu thiết kế đô
thị Sài Gịn” của Bơng Mai,... Các tác phẩm này tập trung chủ yếu vào việc miêu
tả lịch sử, kinh tế, văn hóa, dân cư,...vùng Sài Gịn – Gia Định. Các khu vực
thuộc quận Tân Bình bây giờ cũng được đề cập đến nhưng rất chung chung, chỉ
dừng lại ở mức độ khái quát.
Sau năm 1975, các tác phẩm, bài viết về vùng đất thuộc quận Tân Bình, về
quận Tân Bình ngày càng nhiều. Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh có các
cơng trình: Niên giám thống kê thành phố Hồ Chí Minh 1976 – 1981, Nhà xuất
bản Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1993; Số liệu dân số lao động văn
hóa và đời sống dân cư năm 1976 – 1994, Nhà xuất bản Thống kê Thành phố
Hồ Chí Minh, năm 1994; Số liệu kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh 1991 –
1993, 2003 – 2010..., cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1994, 2011...
Quận Tân Bình có tác phẩm: Tân Bình 30 năm xây dựng đổi mới và phát triển,
Phòng Thống kê, năm 2005; “Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của
3
Đảng bộ và nhân dân quận Tân Bình (1930 – 1975), Nhà xuất bản Tổng hợp
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005; “Lịch sử Đảng bộ quận Tân Bình (1975 –
2005), Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006;... Các tài
liệu này cung cấp tư liệu về các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc điểm dân cư, lao
động, điều kiện tự nhiên,... của quận Tân Bình qua các thời kỳ. Tuy vậy cũng
mới chỉ dừng lại ở mức khái quát và tập trung ở một vài lĩnh vực; song nó đã
giúp hình dung ra được phần nào diện mạo kinh tế, xã hội của vùng đất Tân
Bình xưa và nay. Và đây là những tư liệu cần thiết cho tác giả khi so sánh sự
chuyển biến kinh tế, xã hội của quận Tân Bình qua các thời kỳ.
Luận án Phó tiến sĩ “Sự chuyển biến kinh tế - xã hội của các quận ven
thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 đến 1993 nhìn từ quận Gò Vấp” của Lê Hồng
Liêm, năm 1995 cũng cung cấp những tư liệu có giá trị. Bên cạnh đó có một số
sách báo, trang Web, bài viết, cơng trình nghiên cứu nói về sự chuyển biến kinh
tế - xã hội, về q trình Đơ thị hóa, về việc giải quyết vấn đề gia tăng dân số cơ
học quá nhanh, ở một số quận huyện khác của thành phố được tác giả tham khảo
để so sánh, làm rõ hơn sự phát triển kinh tế, xã hội và rút ra được những nét đặc
thù, độc đáo trong quá trình phát triển của quận Tân Bình.
Các tài liệu địa phương như Nghị quyết đại hội Đảng bộ, các báo cáo tổng
kết hàng năm, các quyết định của UBND quận Tân Bình, của các phường trực
thuộc quận về phát triển kinh tế, xã hội, các số liệu thống kê của phòng thống kê
quận từ năm 2003 đến năm 2013,... là những tài liệu rất cần thiết đối với đề tài.
Tuy nhiên, đây chưa phải là những cơng trình khoa học nên chỉ có tính chất
cung cấp tư liệu, thơng tin cho đề tài.
Ngồi ra cịn có một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ và bài viết về quận
Tân Bình như: “ Hiện tượng ly hơn của người Việt nhìn từ góc độ văn hóa:
trường hợp của quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Văn
Vưỡng, năm 2006; “Q trình đơ thị hố ở thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 đến
1996 (Trường hợp các quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gị Vấp)” của Nguyễn
4
Thị Thúy, 2004; “Công tác tôn giáo của mặt trận tổ quốc Việt Nam quận Tân
Bình Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 1988 - 2004” của Phạm Thị
Thu, năm 2006; “Thực trạng quản lý công tác đào tạo giáo viên tiểu học quận
Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thị Hạnh, năm 2008...Các tác
phẩm này đề cập đến các vấn đề kinh tế, xã hội của quận Tân Bình dưới nhiều
khía cạnh khác nhau. Song đây cũng chỉ là những tư liệu đi sâu vào một vài lĩnh
vực nên thiếu sự phong phú và hệ thống.
Nhìn chung, cho tới nay đã có nhiều cơ quan chức năng, nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm tìm hiểu về vấn đề kinh tế, xã hội của quận Tân Bình song đây
chưa phải là những cơng trình nghiên cứu một cách có hệ thống và tổng thể q
trình phát triển kinh tế, xã hội của quận Tân Bình, đặc biệt là giai đoạn từ 2003
đến nay. Do đó địi hỏi phải nghiên cứu sâu hơn để phản ánh đầy đủ sự chuyển
biến kinh tế, xã hội của quận. Trên cơ sở kế thừa, tổng hợp các thành tựu của
các nhà nghiên cứu đi trước và trên cơ sở đi thực tế tại quận, tác giả chọn vấn đề
“Chuyển biến kinh tế, xã hội quận Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh) từ năm
2003 đến năm 2013”.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là kinh tế và xã hội quận Tân Bình
giai đoạn 2003 đến 2013 để làm rõ quá trình chuyển biến về kinh tế, xã hội quận
Tân Bình trong thời kỳ đổi mới.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: luận văn giới hạn nghiên cứu chủ yếu vùng đất hành chính
thuộc quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2003 đến nay với 15
phường.
- Thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu quá trình xây dựng và phát
triển kinh tế, xã hội của quận Tân Bình từ năm 2003 đến 2013.
5
Sở dĩ tác giả lấy năm 2003 làm mốc mở đầu cho cơng trình nghiên cứu vì
đây là năm quận Tân Bình được điều chỉnh địa giới theo Nghị định 130/2003/
NĐ – CP ngày 5 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ, tách ra để thành lập quận
Tân Phú.
4. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
+ Thơng qua nguồn tư liệu hiện có trình bày khái qt tình hình kinh tế, xã
hội quận Tân Bình từ sau ngày giải phóng (30/4/1975) đến năm 2003.
+ Làm rõ quá trình xây dựng và những thành tựu kinh tế, xã hội quận Tân
Bình từ năm 2003 đến năm 2013. Qua đó, khẳng đinh vai trị của qn Tân Bình
đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Trên cơ sở nghiên cứu tình hình kinh tế, xã hội quận Tân Bình từ năm
2003 đến năm 2013 tác giả làm rõ những thành công và hạn chế trong công tác
lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, xã hội của Đảng.
+ Bước đầu rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất, kiến nghị nhằm thúc đẩy
kinh tế, xã hội quận Tân Bình ngày càng phát triển.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Nguồn tài liệu nghiên cứu
- Để thực hiện đề tài, tác giả luận văn đã tham khảo và sử dụng những
nguồn tài liệu sau:
+ Văn kiện Đại hội Đảng tồn quốc, các chỉ thị, nghị quyết, chính sách của
Đảng và Nhà nước về kinh tế, xã hội.
+ Văn kiện, nghị quyết, báo cáo tổng kết của Đảng bộ, chính quyền thành
phố Hồ Chí Minh và của quận Tân Bình từ năm 2003 đến năm 2013.
+ Nguồn bảng biểu, thống kê của các Sở, Ban, Ngành, của các phịng chức
năng thành phố Hồ Chí Minh và quận Tân Bình.
+ Các bài viết đề cập đến tình hình kinh tế, xã hội của thành phố Hồ Chí
Minh và quận Tân Bình nói riêng từ năm 2003 đến nay.
- Ngồi ra, tác giả còn thực hiện khảo sát thực tế, hỏi các nhân chứng lịch
6
sử, ... để bổ sung, thẩm định tài liệu lưu trữ.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp luận
- Khi nghiên cứu về vấn đề chuyển biến kinh tế, trong luận văn này tác giả
tiếp cận theo học thuyết kinh tế chính trị Mác-Lênin. Trong đó khơng chỉ nghiên
cứu các biểu hiện bên ngồi của các q trình chuyển biến kinh tế mà còn liên
hệ chúng với biến đổi xã hội, sự tác động của kinh tế đối với xã hội và xã hội đối
với kinh tế trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
- Luận văn cũng được thực hiện dựa trên quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam đối với các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa (CNH, HĐH) ở Việt Nam.
5.2.2. Phương pháp nghiên cứu
Vì đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là về “chuyển biến kinh tế, xã
hội”, hay nói cách khác là nghiên cứu về lịch sử phát triển kinh tế, xã hội nên
luận văn sử dụng cả phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử, khoa học
kinh tế lẫn xã hội học. Hơn nữa, quá trình “chuyển biến kinh tế, xã hội” này lại
diễn ra trong một không gian cụ thể là quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí
Minh), một vùng kinh tế có vị trí địa lý rõ ràng, được chia ra dựa trên tiêu chí
địa lý kinh tế, nên luận án còn kết hợp sử dụng cả những phương pháp nghiên
cứu của địa lý kinh tế.
Như vậy, để giải quyết các vấn đề khoa học đặt ra của luận văn, tác giả cố
gắng áp dụng cách tiếp cận liên ngành lịch sử - kinh tế - xã hội học và địa lý
học. Tuy nhiên, vì là một luận văn chuyên ngành Lịch sử Việt Nam nên phương
pháp nền tảng, phương pháp chủ yếu nhất được sử dụng trong luận văn vẫn là
phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic.
Phương pháp lịch sử được sử dụng trong luận văn này với mục đích dùng
để xem xét và trình bày q trình phát triển các mặt của kinh tế, xã hội ở quận
Tân Bình (Thành phố Hồ Chí Minh) theo một trình tự liên tục từ năm 2003 -
7
2013. Quá trình phát triển liên tục này quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí Minh)
được đặt trong mối liên hệ với các yếu tố khác nhau như lịch sử, vị trí địa lý,
tiềm năng thiên nhiên, tiềm lực xã hội, chính sách vĩ mơ… Sử dụng chính
phương pháp lịch sử trong luận văn là để đảm bảo tính liên tục về thời gian của
các sự kiện; làm rõ điều kiện và đặc điểm phát sinh, phát triển và biểu hiện của
chúng, làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của chúng với các yếu tố liên quan.
Bên cạnh đó, để luận văn có tính lý luận và khoa học, tác giả cịn vận dụng
phương pháp lơgic và các phương pháp khác trong nghiên cứu lịch sử. Phương
pháp lôgic sử dụng trong luận văn là nhằm để xem xét, nghiên cứu các sự kiện,
kết quả… về kinh tế, xã hội diễn ra trong quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí
Minh) dưới dạng tổng quát, nhằm vạch ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy
luật vận động của lịch sử phát triển của địa phương. Hơn nữa, sử dụng phương
pháp lơgic ở đây cịn nhằm lý giải, khái qt, đánh giá và rút ra những kết luận
từ quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội ở quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí
Minh) trong giai đoạn từ năm 2003 - 2013.
Các phương pháp khác trong nghiên cứu lịch sử được tác giả sử dụng trong
luận văn là phương pháp phân tích so sánh (phương pháp này là sự hỗ trợ cần
thiết làm nổi bật tính thống nhất giữa lịch sử và lôgic trong luận văn), phương
pháp đồng đại (phương pháp này giúp luận án bao quát được toàn vẹn và đầy đủ
quá trình lịch sử; so sánh được diễn biến, kết quả diễn ra trong cùng một thời
gian ở các địa phương khác của Thành phố Hồ Chí Minh …).
Các phương pháp nghiên cứu kinh tế chủ yếu được sử dụng trong luận văn
là phương pháp thống kê kinh tế, phương pháp phân tích kinh tế và phương pháp
so sánh hệ thống kinh tế.
Trong phần nghiên cứu về chuyển biến xã hội, tác giả chủ yếu sử dụng các
nguồn tài liệu và số liệu điều tra trong các đề tài nghiên cứu trước có liên quan,
trong các báo cáo tổng kết hàng năm của UBND quận Tân Bình (Thành phố Hồ
Chí Minh), các Nghị quyết Đại hội Trung ương Đảng và của Đảng bộ địa
8
phương, đồng thời luận văn cũng dựa vào số liệu thống kê hàng năm của địa
phương để tính tốn, tổng hợp, xử lý và phân tích, đánh giá.
Vì vậy, phương pháp nghiên cứu xã hội học được sử dụng trong luận văn là
phương pháp thống kê xã hội học và phương pháp phân tích số liệu xã hội học.
Cịn phương pháp nghiên cứu địa lý kinh tế được sử dụng trong luận văn là
phương pháp địa lý kinh tế lịch sử. Phương pháp này dùng trong luận văn mục
đích để nghiên cứu lịch sử và sự phát triển khía cạnh khơng gian của cơ cấu kinh
tế trong q trình chuyển biến.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn phục dựng một cách hệ thống, khách quan tình hình kinh tế, xã
hội quận Tân Bình từ 2003 đến 2013.
- Luận văn có thể sử dụng vào mục đích tham khảo cho những bài báo cáo,
những cơng trình tổng kết, kỷ niệm những ngày truyền thống của địa phương.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy lịch sử
địa phương trong các nhà trường phổ thông ở quận Tân Bình (Thành phố Hồ
Chí Minh) nhằm giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào về những truyền thống tốt
đẹp của địa phương, giáo dục lòng yêu quê hương, xứ sở, ý thức bảo vệ những
truyền thống tốt đẹp, những giá trị văn hóa của quê hương.
- Đồng thời, luận văn cịn có thể dùng để làm phong phú thêm nguồn tài
liệu tuyên truyền trong quần chúng, động viên nhân dân thực hiện thắng lợi các
Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và của quận Tân Bình.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các
bảng biểu, danh mục chữ cái viết tắt, phụ lục, phần nội dung của luận văn được
chia thành 3 chương:
- Chương 1: Khái quát về quận Tân Bình đến năm 2003.
- Chương 2: Chuyển biến kinh tế quận Tân Bình từ 2003 đến 2013.
- Chương 3: Chuyển biến xã hội quận Tân Bình từ 2003 đến 2013.
9
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ QUẬN TÂN BÌNH ĐẾN NĂM 2003
1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội quận tân Bình
Theo sử sách để lại, địa danh Tân Bình xuất hiện vào năm 1698 với địa bàn
rất rộng thuộc phủ Gia Định. Cũng theo Đại nam Thực lục tiền biên thì “ Vào
năm 1698 Nguyễn Hữu Kỉnh (cịn gọi là Nguyễn Hữu Cảnh) đã lấy xứ Lộc Dã
(tức Đồng Nai) làm huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gịn là
huyện Tân Bình lập dinh Phiên Trấn. Mở rộng đất nước ngàn dặm được hơn bốn
vạn hộ, bèn chiêu mộ cư dân phiêu bạt từ châu Bố chính trở về Nam đến ở cho
đông, thiết lập xã thôn, phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương,
định lệ thuế tô dụng, làm sổ đinh điền”. Như vậy địa danh Tân Bình thời bấy giờ
là một đơn vị hành chính do nhà Nguyễn cai quản đều là một vùng đất rộng lớn
gồm Sài Gòn – Gia Định trong đó có cả Tân Bình ngày nay.
Dưới thời thực dân Pháp, sau khi chiếm được Sài Gòn – Gia Định vào năm
1861, thực dân Pháp cho thiết lập lại hệ thống cai trị của chúng trên vùng đất
này, huyện Tân Bình được đổi thành phủ Tân Bình thuộc tỉnh Gia Định.
Đến năm 1900, vùng đất Tân Bình hiện nay sáp nhập về quận Gị Vấp
thuộc tỉnh Gia Định gồm có một Tổng tên là Tổng Dương Hòa Thượng với các
xã: Chí Hịa, Phú Thọ Hịa, Phú Nhuận, Tân Sơn Nhì, Tân Sơn Nhất, Tân Thới
Hịa, Bình Hưng Đơng, Bình Hưng, Tân Trụ và Vinh Lộc. Dân số lúc bấy giờ có
khoảng 30.000 người.
Đến năm 1940, Tổng Dương Hịa Thượng có thay đổi một số xã (Nghị định
số 6406-GP do toàn quyền Đơng Dương ký ngày 1/1/1940), Tổng Dương Hịa
Thượng từ 9 xã cịn 5 xã là Phú Nhuận, Bình Hưng Hịa, Phú Thọ Hịa, Tân Sơn
Hịa, Tân Sơn Nhì.
Năm 1944, toàn quyền Pháp là Decoux ra quyết định thành lập tỉnh Tân
Bình lấy một phần đất đai của Gia Định và một phần của Chợ Lớn, bao gồm
luôn cả Thủ Thiêm – Nhà Bè, nhưng thực tế phần lãnh thổ Tân Bình ngày nay
10
nằm hồn tồn trong Tổng Dương Hịa Thượng thuộc quận Gị Vấp, tỉnh Gia
Định.
Đến tháng 3/1945, tỉnh Tân Bình giải thể, Tổng Dương Hòa Thượng được
tách ra khỏi quận Gò Vấp và được nâng lên thành quận Tân Bình. Nhưng cho
đến thời Ngơ Đình Diệm, quận Tân Bình mới chính thức được thành lập bằng
sắc lệnh của chính quyền Diệm vào năm 1959 và quận Tân Bình từ đó trực
thuộc tỉnh Gia Định bao gồm có 6 xã là Phú Nhuận, Tân Sơn Hịa, Tân Sơn Nhì,
Phú Thọ Hịa, Bình Hưng Hòa, Vĩnh Lộc (trước năm 1959 xã Vĩnh Lộc được
gọi là xã Vinh Lộc).
Từ năm 1963, Mỹ - Diệm cho di dân một cách ồ ạt từ các nơi khác về, nên
phải lập thêm xã mới là xã Tân Phú (trên cơ sở chia đơi xã Phú Thọ Hịa).
Như vậy, cho đến trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, quận Tân
Bình gồm có 7 xã với 57 ấp và số dân lúc bấy giờ là 478.161 người. Sau năm
1975, thành phố Sài Gòn và tỉnh Gia Định sáp nhập với nhau. Thành phố có sự
điều chỉnh về địa giới một số quận, trong quận Tân Bình cắt 2 xã Bình Hưng
Hịa, Vĩnh Lộc về huyện Bình Chánh, tách xã Phú Nhuận thành lập quận Phú
Nhuận. Quận Tân Bình mới có 26 phường mang tên từ phường 1 đến phường 26
và sau đó sáp nhập lại cịn 20 phường.
Ngày 30 tháng 04 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng , thống nhất
Tổ quốc; Đơ thành Sài Gịn - Chợ Lớn – Gia Định được mang tên thành phố Hồ
Chí Minh,Tân Bình là một quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh. Đơng
giáp Phú Nhuận, quận 3 và quận 10; Tây giáp huyện Bình Chánh; Nam giáp
quận 11, quận 6; Bắc giáp huyện Hóc Mơn, quận 12 và quận Gò Vấp.
+ Tọa độ địa lý:
Điểm cực Bắc : 100 49’ 90” độ vĩ Bắc;
Điểm cực Nam: 100 45’ 25” độ vĩ Bắc;
Điểm cực Đông : 100 40’26’ độ kinh Đông;
Điểm cực Tây : 100 36’47” độ kinh Đông.
11
Diện tích tự nhiên là 46,901km2 (trong đó, sân bay Tân Sơn Nhất chiếm
8,44km2).
Dân số là 754.690 người, mật độ bình quân 19.625 người/km2.
Đến năm 1988 theo Quyết định số 136/HĐBT ngày 27/08/1988 của Hội
đồng Bộ trưởng. Quận Tân Bình được điều chỉnh địa giới hành chính từ 26
phường sáp nhập lại còn 20 phường (từ phường 1 đến phường 20), cho đến
30/11/2003, thời gian được 15 năm.
Như vậy là các vùng đất thuộc Tân Bình ngày nay có lịch sử phát triển khá
lâu đời. Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nơi đây cũng đã trở thành địa
bàn căn cứ vủa nhiều cơ quan, đơn vị cách mạng và là địa bàn tập kết, đứng
chân chuẩn bị xuất phát tấn công nội đô của bộ đội chủ lực miền…
Do đặc điểm về điều kiện tự nhiên và cơ cấu kinh tế của quận Tân Bình, do
tốc độ đơ thị hóa, sự biến động dân số tác động khá lớn đến việc phát triển kinh
tế xã hội. Đến cuối năm 2003, thực hiện Nghị định 130/2003/ NĐ – CP ngày 5
tháng 11 năm 2003 của Chính phủ, quận Tân Bình được điều chỉnh địa giới, tách
ra thành lập quận Tân Phú.
QUẬN TÂN BÌNH (MỚI):
+ Diện tích 22,39 km2 , trong đó sân bay Tân Sơn Nhất 8,44 km2.
Đơng giáp quận Phú Nhuận, Q3, Q10.
Bắc giáp quận 12, quận Gò Vấp.
Tây giáp quận Tân Phú.
Nam giáp quận 11.
+ Có 15 phường trực thuộc Ủy ban nhân dân quận, mang số: từ phường 1
đến phường 15.
Tân Bình nằm trên vùng đất cao ráo, thuộc loại đất cát pha. Khí hậu có 2
mùa rõ rệt là mùa nắng và mùa mưa. Tuy là vùng đất cao, nhưng Tân Bình cũng
có một số kênh rạch tự nhiên như Tham Lương, Tân Hóa, Nhiêu Lộc… giúp cho
hệ thống tưới tiêu được thuận lợi, ít bị ảnh hưởng bão lụt.
12
Cũng như các quận huyện khác của thành phố Hồ Chí Minh, quận Tân
Bình có khí hậu của miền Đơng Nam Bộ, thuộc vùng nhiệt đới gió mùa cận xích
đạo, nhiệt độ có tính ổn định, có hai mùa rõ rệt (mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến
tháng 11, mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và là mùa nóng nhất
trong năm), tạo nên hệ sinh thái khá phong phú. Và hiện nay nơi đây vẫn giữ
được sự cân bằng sinh thái cho dù tốc độ Đơ thị hóa diễn ra rất nhanh chóng.
Quận Tân Bình có 2 cửa ngõ giao thơng quan trọng của cả nước; Cụm cảng
hàng không sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và quốc lộ 22 về hướng Tây Ninh,
Campuchia. Quận Tân Bình có địa lý bằng phẳng, cao trung bình là 4-5 m, cao
nhất là khu sân bay Tân Sơn Nhất khoảng 8-9 m.
Với vị trí địa lý – địa hình như vậy quận Tân Bình rất thuận lợi để hình
thành và phát triển một đơ thị mới, phát triển ngành giao thông vận tải, ngành
dịch vụ - thương mại… Trên địa bàn của quận lại có nhiều tuyến đường giao
thông quan trọng đi qua như đường Xuyên Á, tuyến đường “ngoại giao” Nguyễn
Văn Trỗi – Nam Kỳ Khởi Nghĩa nối sân bay Tân Sơn Nhất với thủ phủ Thành
phố Hồ Chí Minh, tuyến đường Trường Chinh nối liền nội đơ thành phố Hồ
Chí Minh với các quận ngoại thành phía Tây Bắc, là đầu mối giao thơng trung
chuyển hành khách, hàng hóa ở của ngõ Tây Bắc thành phố.
Là quận nội thành có cơ cấu kinh tế công – thương nghiệp, giao thông vận
tải, dịch vụ, du lịch… khá đầy đủ các ngành nghề; theo đặc điểm của từng giai
đoạn nên cơ cấu kinh tế được xác định:
Từ những năm đầu giải phóng đến các năm đầu thập niên 80 (1976 – 1985)
trong nền kinh tế với cơ chế tập trung kế hoạch hóa thì cơ cấu kinh tế Tân Bình
là: sản xuất tiểu thủ cơng nghiệp – nông nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp.
Những năm 1986 – 1990 nhà nước có chuyển đổi hướng mới nền kinh tế,
thì cơ cấu kinh tế Tân Bình được xác định là: công nghiệp – tiểu thủ công
nghiệp, thương nghiệp và nông nghiệp.
13
Những năm thập niên 90 do chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa bao
cấp sang nền kinh tế thị trường có sự chỉ đạo của nhà nước, cơ cấu kinh tế Tân
Bình được xác định cho đến khi tách quận (năm 2003) là: công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp,thương mại - dịch vụ. Giai đoạn này là giai đoạn phát triển mạnh
nhất, nhanh nhất kể cả về kinh tế, xây dựng phát triển đơ thị hóa và biến động
tăng dần số cơ học. Là quận có giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất thành phố,
chiếm tỷ trọng từ 15% đến 19% và có mức tăng bình qn hàng năm trên 15%.
Doanh thu thương mại dịch vụ mức tăng là 18 % năm [1; tr. 6].
Năm 2004 sau khi tách quận, hiện trạng phần lớn cơ sở hoạt động kinh
doanh thương mại dịch vụ nằm trên địa bàn Tân Bình, nên cơ cấu kinh tế quận
Tân Bình đã xác định chuyển đổi là : thương mại - dịch vụ, sản xuất công nghiệp
– tiểu thủ công nghiệp. Với trên 3.700 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và trên
23.700 cơ sở hộ cá thể hoạt động sản xuất kinh doanh. Cơ cấu ngành nghề:
thuơng mại chiếm 40%, dịch vụ 32%, công nghiệp 18% và hoạt động khác 10%
[1; tr. 9]
Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển kinh tế và đơ thị hóa của quận
Tân Bình diễn ra khá nhanh. Cơ cấu kinh tế của quận đã có sự chuyển dịch
mạnh mẽ theo xu hướng ngày càng tăng tỷ trọng khu vực thương mại – dịch vụ
và sản xuất cơng nghiệp – tiểu thủ cơng nghiệp.
Ngồi ra, quận cịn có một hệ thống các siêu thị lớn (Maximax, Coopmart,
Satra, Vinatex…) các trung tâm mua sắm, các tuyến phố mua sắm, các chợ
(trong đó có chợ Hồng Hoa Thám, chợ Phạm Văn Hai, chợ Tân Bình) …. Hệ
thống giao thơng của quận cũng khá thuận tiện, các tuyến đường được tráng
nhựa và mở rộng cùng hệ thống cầu vượt hiện đại, khoa học …Sân bay Tân Sơn
Nhất trên địa bàn quận mỗi năm đón nhận hơn 20 triệu hành khách và 408.005
tấn hàng hóa vận chuyển trong nước và quốc tế (số liệu Cục Hàng không Việt
Nam). …Tất cả đã tạo nên những thuận lợi về cơ sở hạ tầng cho sự phát triển
14
kinh tế của quận Tân Bình nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung, đặc
biệt là hoạt động thương mại - dịch vụ.
Về dân cư – lao động, văn hóa – xã hội, qn Tân Bình cũng có những
thuận lợi nhất định để phát triển. Người dân Tân Bình cũng như người dân Nam
Bộ xuất xứ là những lưu dân Việt có hồn cảnh khó khăn, phải rời bỏ phương
Bắc đi vào phương Nam sinh cơ lập nghiệp (thế kỷ XVI – XVII). Theo các tài
liệu lịch sử thì trước khi Nam Kỳ trở thành một bộ phận của Việt Nam thì những
nhóm người di cư (người Việt) đã đến ở đây khá lâu, lập những tổ chức, xây
dựng làng xóm hay tới ở chung với người Cao Miên. Năm 1620 vua Chân Lạp
là CheyChetta II cưới một công nương của chúa Nguyễn và năm 1623 theo yêu
cầu của chúa Nguyễn, triều đình Chân Lạp chấp thuận cho người Việt đến sinh
sống ở Prey Nokor (vùng Sài Gòn ngày nay). Đến cuối thế kỷ XVIII khi Nguyễn
Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đồng Nai – Gia Định thì dân số ở đây có hơn 40
vạn hộ với khoảng 200.000 người. Chính sách khẩn hoang của các chúa Nguyễn
sau đó đã khuyến khích nhân dân vào khai khẩn vùng đất mới, làm cho dân số
Nam Bộ ngày càng tăng lên. Khi đến vùng đất này vẫn cịn hoang hóa và vô
chủ, những lưu dân người Việt đã bỏ công khai phá, chinh phục thiên nhiên, lập
nên làng xóm, ruộng vườn. Hoạt động kinh tế ban đầu của họ là sản xuất nông
nghiệp, mà chủ yếu là làm lúa một vụ vào mùa mưa, ngồi ra cịn trồng thêm
hoa màu. Hoạt động thủ cơng nghiệp lúc này cịn hạn chế, nhiều địa phương
chưa có ngành nghề riêng biệt. Thương nghiệp – dịch vụ chỉ tập trung ở các thị
trấn. Tuy nhiên, đời sống văn hóa của cư dân đã khá đa dạng, nổi bật là “Văn
hóa làng xã” của người nơng dân trồng lúa nước. Đời sống tín ngưỡng dân gian
cũng khá phong phú, các tơn giáo và tín ngưỡng dân gian có sự đan xen, ảnh
hưởng qua lại.
Năm 2003, khi mới tách, quận Tân Bình có dân số là 430.559 người, đến
năm 2013 có 443.061 người. Cơ cấu dân số thành thị chiếm tỉ trọng 100%. Về
thành phần dân tộc, chủ yếu là người Kinh chiếm 93,33%; Hoa 6,38%; Khơme
15
0,11%; các dân tộc khác là Tày 0,05%, Thái 0,01%, Nùng 0,03%, Mường
0,02%, Chăm 0,02% và người nước ngoài . . . Phường có nhiều người Hoa là
phường 9, 10. Mật độ dân số bình quân của quận năm 2013 là 19.788
người/km2.
Tổng số lao động quận Tân Bình năm 2003 là 113.000 người, đến năm
2013 có 327.508 người. Cơ cấu lao động trong độ tuổi theo ngành nghề, chủ yếu
vẫn là cơng nghiệp chế biến, chế tạo.
Về tơn giáo, tín ngưỡng: đại đa số cư dân của Tân Bình khơng đi theo tơn
giáo nào, chỉ theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ơng bà. Số cịn lại theo Thiên chúa
giáo, Phật giáo và một số ít theo Tin Lành, Cao Đài, Hịa Hảo…, cụ thể, Phật
giáo chiếm 19,62%, Cơng giáo 22,9%, Tin lành 0,37%, Cao đài 0,4 %, Hoa hảo
0,01; Hồi giáo 0,02%, khơng có đạo chiếm 56,68% ( số liệu tổng điều tra dân số
2009). Tồn quận có 140 cơ sở tơn giáo trong đó, Phật giáo 74, Cơng giáo 60,
Tin lành 4, Cao đài 2…[6; tr. 10]
Là nơi hội tụ của nhiều thành phần cư dân từ nhiều miền đất nước đã tạo
cho văn hóa dân gian của Tân Bình mang nhiều sắc thái phong phú. Ở đây người
ta có thể gặp những người dân từ miền Bắc đến từ năm 1954, người miền Trung
đến trong những năm loạn lạc trước năm 1975, bà con người Hoa cũng đến đây
sinh sống từ khá sớm. Mỗi người một hoàn cảnh với thời gian sinh cơ lập nghiệp
trên đất Tân Bình khác nhau nhưng quan hệ đồn kết u thương, cần cù, yêu
nước. Phong tục tập quán của họ vừa có đặc điểm của người dân Nam Bộ vừa có
những tính cách của tầng lớp thị dân. Tuy nhiên trong sinh hoạt, giao tiếp hàng
ngày vẫn thể hiện sự chân chất, trọng lễ nghĩa, hiếu khách, yêu thương trẻ con,
tinh thần phóng khống, cởi mở.
Cộng đồng cư dân sinh sống trên mảnh đất Tân Bình từ bao đời nay dù có
đời sống tâm linh khác nhau nhưng đều đồn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau
những khi khó khăn, hoạn nạn và cùng nhau chung sức xây dựng cuộc sống nơi
mình cư trú.
16
Trên địa bàn quận cũng đã hình thành nhiều khu dân cư đô thị mới: Hệ
thống giáo dục và y tế của quận cũng đang ngày càng được cải thiện và nâng cao
chất lượng.
Quận Tân Bình rất thuận lợi về địa lý kinh tế, về giao thông đường bộ
đường hàng không, về du lịch và các hoạt động thương mại dịch vụ, lại có lực
lượng sản xuất đơng. Ln mở cửa rộng đón tiếp nhưng nhà doanh nhân, nhà du
lịch lữ hành và nhà đầu tư đến hoạt động trên địa bàn quận Tân Bình; làm giàu
cho dân, cho nước và cho mình, thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước “
Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Trong thời kỳ
đổi mới, phát triển đất nước, với sự kế thừa và sáng tạo khơng ngừng, Đảng bộ
và nhân dân quận Tân Bình tiếp tục viết nên những trang sử mới bằng chính
những thành tích ấn tượng trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phịng.
1.2. Tình hình kinh tế, xã hội của quận Tân Bình đến năm 2003
1.2.1. Về kinh tế
Là quận lớn nhất thành phố và giá trị sản xuất công nghiệp – TTCN, đứng
thứ 3 về thu ngân sách và đứng đầu về cơ sở sản xuất, kinh doanh các ngành
hiện đang đóng trong địa bàn.
Tính từ năm 2003 trước khi tách quận như sau:
Trung ương quản lý: 22 Doanh nghiệp nhà nước và 37 Doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngồi, với gần 25.000 lao động.
Thành phố quản lý: 23 Doanh nghiệp nhà nước, Liên doanh, Cổ phần hóa
với gần 14.000 lao động.
Quận quản lý: 8 Doanh nghiệp nhà nước &Cổ phần hóa, 4200 Doanh
nghiệp ngoài quốc doanh và trên 27.100 cơ sở, hộ cá thể, với gần 140 ngàn lao
động.
Tính đến 2005 sau khi tách quận như sau: