BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Ngọc Lân
CẢI CÁCH ĐIỀN ĐỊA
CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA
Ở MIỀN NAM VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1955 - 1963
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Ngọc Lân
CẢI CÁCH ĐIỀN ĐỊA
CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA
Ở MIỀN NAM VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1955 - 1963
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 03 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ HUỲNH HOA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2015
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Sư
phạm thành phố Hồ Chí Minh, phịng Sau Đại học, phịng Khoa học Cơng nghệ,
Thư viện và quý thầy cô khoa Lịch sử đã giúp đỡ tơi trong suốt q trình học tập
và hồn thành luận văn.
Đặc biệt, tôi xin dành phần trang trọng để bày tỏ lịng kính trọng và biết ơn
của tơi đối với TS. Lê Huỳnh Hoa - giảng viên khoa Lịch sử trường Đại học Sư
phạm thành phố Hồ Chí Minh. Cơ đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn cho tơi
trong suốt q trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu trường THCS Dương Bá Trạc và các
đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tơi hồn thành việc học tập và
nghiên cứu.
Tơi xin tỏ lịng biết ơn đối với gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên tơi
trong suốt q trình học tập và hồn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của bản thân tôi được thực
hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Huỳnh Hoa. Các số liệu, thống kê, kết quả
nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Ngồi ra, luận văn có sự kế thừa các cơng trình nghiên cứu của những
người đi trước và có sự bổ sung thêm những tài liệu mới.
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Lân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2
3. Lịch sử nghiên cứu đề tài ............................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu .................................................... 5
5. Đóng góp của luận văn .................................................................................. 6
6. Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của đề tài ............................................... 7
7. Bố cục của luận văn ....................................................................................... 7
Chương 1. ÂM MƯU, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẾ QUỐC MỸ VÀ CHÍNH
QUYỀN SÀI GỊN ĐỐI VỚI MIỀN NAM VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 1955 1963 ....................................................................................................................... 8
1.1. Âm mưu của Mỹ-Diệm đối với nông thôn miền Nam Việt Nam............... 8
1.1.1. Tình hình miền Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ ................................... 8
1.1.2. Âm mưu của Mỹ-Diệm đối với nông thôn miền Nam ....................... 10
1.2. Các chính sách của Mỹ-Diệm đối với nơng thơn miền Nam ................... 13
1.2.1. Chính sách “tố cộng”, “diệt cộng” ..................................................... 13
1.2.2. Quốc sách “dinh điền”, “khu trù mật”, “ấp chiến lược” .................... 19
1.2.3. Các tổ chức bóc lột nông dân ............................................................. 36
Chương 2. CẢI CÁCH ĐIỀN ĐỊA CỦA MỸ-DIỆM Ở MIỀN NAM VIỆT
NAM ................................................................................................................... 39
2.1. Vấn đề ruộng đất trong âm mưu của Mỹ-Diệm đối với nông thôn và nơng
dân miền Nam .................................................................................................. 39
2.2. Tình hình ruộng đất miền Nam trước “cải cách điền địa”........................ 41
2.3. Chính sách cải cách điền địa của Mỹ-Diệm ở miền Nam Việt Nam ....... 45
Chương 3. CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM CHỐNG
CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT CỦA MỸ-DIỆM ............................................ 66
3.1. Đời sống của nhân dân miền Nam dưới thời Mỹ-Diệm ........................... 66
3.1.1. Ở thành thị .......................................................................................... 66
3.1.2. Ở nông thôn ........................................................................................ 68
3.2. Sự ra đời Nghị quyết 15 (1959) và phong trào Đồng khởi ở miền Nam
Việt Nam .......................................................................................................... 72
3.2.1. Nghị quyết 15 và sự chuyển hướng phương thức đấu tranh cách mạng
ở miền Nam .................................................................................................. 72
3.2.2. Phong trào Đồng khởi (1959-1960) ................................................... 77
3.3. Thành quả đấu tranh giành và giữ ruộng đất của nhân dân miền Nam thời
Mỹ-Diệm .......................................................................................................... 81
3.3.1. Chính sách ruộng đất của Đảng ở miền Nam Việt Nam .................... 81
3.3.2. Thành quả cuộc đấu tranh giành và giữ ruộng đất của nhân dân miền
Nam .............................................................................................................. 85
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 97
PHỤ LỤC ......................................................................................................... 106
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề nông thôn và ruộng đất ở miền Nam cũng như vấn đề nơng thơn và
ruộng đất nói chung trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta được
Đảng hết sức quan tâm, xem đây là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược cần phải
luôn luôn quán triệt để củng cố khối liên minh công nông, bảo đảm lực lượng xã
hội chiếm số đông trong nhân dân miền Nam là quần chúng nhân dân lao động
tham gia kháng chiến chống ngoại xâm và xây dựng chế độ mới.
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nông dân miền Nam đã làm chủ
được một phần ruộng đất và nắm chính quyền ở nông thôn. Tuy nhiên sau Hiệp
định Giơ-ne-vơ, Mỹ đã thay chân Pháp và dựng lên chính quyền tay sai Ngơ
Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam. Trong suốt quá trình xâm lược miền Nam
nước ta, đế quốc Mỹ và tay sai luôn sử dụng con bài “cải cách điền địa”. Để đối
phó với tình hình miền Nam, Mỹ-ngụy đã không từ một thủ đoạn nào để đánh
phá phong trào cách mạng ở nông thôn, đàn áp, lôi kéo nông dân, giành giật
nông dân với cách mạng. Mỹ-ngụy luôn coi vấn đề nông thôn và nông dân là
những vấn đề hàng đầu phải giải quyết. Vì vậy, trong suốt hơn 20 năm can thiệp
và trực tiếp xâm lược miền Nam, đế quốc Mỹ thơng qua chính quyền Sài Gịn đã
tiến hành nhiều chính sách thâm độc, tàn bạo đối với nông thôn và nông dân
miền Nam Việt Nam. Một trong những chính sách đó là chính sách ruộng đất
hết sức phản động. Việc triển khai chính sách ruộng đất phản động của Mỹ-ngụy
cùng với chủ trương đánh phá nông thơn về qn sự và chính trị đã gây ra rất
nhiều khó khăn và tổn thất cho nhân dân miền Nam.
Do vậy, việc nghiên cứu chính sách cải cách điền địa của chính quyền Sài
Gịn ở miền Nam Việt Nam sẽ góp phần vạch rõ những âm mưu, thủ đoạn thâm
độc và hậu quả của nó đối với nơng thơn miền Nam là một việc làm cần thiết,
chẳng những có ý nghĩa về mặt khoa học mà cịn có ý nghĩa về mặt thực tiễn.
Bởi vì việc phát triển nơng thôn luôn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng,
2
đặc biệt trong thời kỳ cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Tình hình hiện
nay ở nơng thơn miền Nam vẫn cịn tồn tại những khó khăn. Đặc biệt, ở Đồng
bằng sơng Cửu Long vẫn cịn nhiều vấn đề như: trình độ dân trí thấp, tình trạng
nghèo nàn, lạc hậu trong nơng thơn cịn khá phổ biến. Qua đó cho thấy vấn đề
nông thôn ở thời kỳ nào cũng cần được coi trọng trong việc phát triển kinh tế
của cả nước.
Tuy nhiên đây là một vấn đề lớn và phức tạp, địi hỏi nhiều cơng phu
nghiên cứu, nhiều tư liệu chính xác về tình hình ruộng đất ở miền Nam trước
giải phóng. Do trình độ và tư liệu có hạn, chúng tơi chỉ xem đây là bước đầu tìm
hiểu vấn đề này.
2. Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ các lý do thực tiễn và khoa học nêu trên, đề tài “Cải cách điền
địa của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam, giai đoạn 19551963” mà chúng tơi nghiên cứu nhằm các mục đích sau đây:
- Làm rõ tính chất phản động của Mỹ-Diệm nhằm giành giật nông thôn và
nông dân với cách mạng miền Nam.
- Đánh giá đúng thực chất cái gọi là “cải cách điền địa” của Mỹ-Diệm để
rút ra những kết luận đúng đắn góp phần hiểu sâu sắc hơn cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước và là việc làm hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
3. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vấn đề ruộng đất ở nước ta và ở miền Nam từ lâu đã thu hút sự chú ý của
các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, cả về phía cách mạng cũng như phía
Mỹ và chính quyền Sài Gịn.
Các cơng trình nghiên cứu của phía cách mạng:
Trước năm 1975, hầu hết các cơng trình của giới nghiên cứu đều tập trung
nghiên cứu tình hình sở hữu ruộng đất và giai cấp ở nơng thơn miền Nam nói
chung, đương nhiên trong đó có đề cập đến vấn đề ruộng đất và giai cấp ở nông
3
thơn Nam Bộ. Tuy nhiên các cơng trình chỉ mới dừng lại ở thời điểm những năm
1960.
Trong các cơng trình hiện có, đáng chú ý là một số cơng trình chuyên khảo
của các nhà nghiên cứu như: Về cái gọi là cải cách điền địa ở miền Nam Việt
Nam – Tạp chí Nghiên cứu kinh tế các số 21, 22 và 24 – 1964, Nguyễn Phong –
Hoàng Linh; Vấn đề nông dân ở miền Nam Việt Nam – NXB Sự thật, H.1962,
Trần Hàm Luông; Những chuyển biến kinh tế của nền nơng nghiệp vùng giải
phóng miền Nam – Tạp chí NCKT, số 39 – 1967; Cách mạng ruộng đất ở Việt
Nam, Trần Phương (Chủ biên), NXB Khoa học xã hội, H.1968… Ngồi ra cịn
một số cơng trình nghiên cứu khác như ở bộ sách nhiều tập: Miền Nam giữ vững
Thành Đồng của Giáo sư Trần Văn Giàu (tập I, NXB Khoa học, H.1964), Một
vài nét về quá trình xâm nhập của đế quốc Mỹ vào Việt Nam của Phạm Thành
Vinh (NXB Sự thật, H.1958), Tình hình kinh tế miền Nam Việt Nam của Bộ
ngoại thương Việt Nam Dân chủ cộng hịa (Hà Nội, 1969).
Các cơng trình nói trên đều tập trung phê phán chính sách ruộng đất của
Ngơ Đình Diệm, đồng thời làm rõ sự đúng đắn của cách mạng ruộng đất dưới sự
lãnh đạo của Đảng ta từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến những năm
đầu của thập kỷ 60.
Sau năm 1975, đáng chú ý nhất là các cơng trình sau đây: Một số vấn đề
khoa học xã hội về Đồng bằng sông Cửu Long của Viện Khoa học xã hội tại
Thành phố Hồ Chí Minh (NXB Khoa học xã hội, H.1982); Cách mạng ruộng
đất ở miền Nam Việt Nam của Lâm Quang Huyên (NXB Khoa học xã hội,
H.1985); Vài nét về cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội ở nông thôn miền Nam trước
giải phóng của Cao Văn Lượng (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 2, 1981); Tầng
lớp trung nông ở đồng bằng Nam Bộ trước giải phóng của Nguyễn Văn Nhật
(Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 1 – 1981); Về tình hình sở hữu ruộng đất, máy
móc và cơ cấu các tầng lớp xã hội ở nông thôn Nam Bộ của Hồng Giao (Tạp chí
cộng sản, số 1, 1979); Những vấn đề công tác cải tạo và xây dựng nông nghiệp
4
ở các tỉnh phía Nam của Nguyễn Trần Trọng (NXB Nông nghiệp, H.1980); Chủ
nghĩa thực dân mới và vấn đề sở hữu ruộng đất ở đồng bằng sông Cửu Long của
Trần Thị Bích Ngọc (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 2 – 1986); Đồng bằng sông
Cửu Long của Phan Quang (NXB Văn hóa, H.1981); Đồng bằng sơng Cửu Long
40 năm của Trần Bạch Đằng (Báo Nhân dân, số ra từ ngày 9-9-1985 đến ngày
15-9-1985); Q trình trung nơng hóa nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long
của Trần Hữu Đính (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 4 – 1991). Gần đây cịn có
luận văn “Chính sách cải cách điền địa của chế độ Sài Gòn và hệ quả của nó
đối với xã hội miền Nam (1954-1975)” của ThS.Lê Thị Hồng – trường Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn, 2008.
Các cơng trình nghiên cứu đều đi sâu phân tích ngun nhân và q trình
biến đổi về sở hữu ruộng đất và cơ cấu giai cấp ở nông thôn đồng bằng sông
Cửu Long từ sau Cách mạng tháng Tám (1945) đến ngày miền Nam hồn tồn
giải phóng (1975), phê phán chính sách ruộng đất phản động của chính quyền
Sài Gịn, khẳng định kết quả của q trình thực hiện cách mạng ruộng đất của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Các cơng trình nghiên cứu của Mỹ và chính quyền Sài Gịn:
Có một số cơng trình đáng chú ý như:
- Nghiên cứu về những điều kiện sinh sống và nhu cầu của dân cư Việt
Nam, Nghiên cứu về khả năng và điều kiện phát triển của Việt Nam do Ngân
hàng Quốc gia xuất bản tại Sài Gòn, 1959 và Nghiên cứu một số yếu tố nhân văn
trong cuộc phát triển Việt Nam của Phái bộ “kinh tế học và chủ nghĩa nhân đạo”
(Mỹ) do Ngân hàng Quốc gia xuất bản tại Sài Gịn, 1959.
- Một số cơng trình nghiên cứu của Phái đoàn cố vấn Đại học tiểu bang
Michigan. Phái đoàn này hoạt động tại miền Nam trong 7 năm (1955-1962),
xuất bản tới 156 cơng trình, trong đó có những cơng trình đáng chú ý: Cuộc
nghiên cứu một cộng đồng thôn xã Việt Nam – Phần Xã hội học của Gerald
Hickey, Sài Gịn, 1960, Nghiên cứu một cộng đồng thơn xã Việt Nam – Phần
5
hoạt động hành chính của Lioyd W.Woodruff, Sài Gịn, 1960, Mỹ Thuận: Một
làng thuộc ĐBSCL ở miền Nam Việt Nam của John Donoghue, Sài Gịn, 1961,
Định cư tại nơng thơn Việt Nam – Một khu trù mật đang phát triển của Joneph
J.Zasloff, Sài Gịn, 1962. Cơng trình đáng chú ý nhất đó là: Triển vọng phát
triển kinh tế ở Việt Nam do một phái đoàn gồm 22 người thực hiện dưới danh
nghĩa Liên Hợp Quốc, đứng đầu là Carter Goodrich (Mỹ), xuất bản tại New
York, tháng 8-1956.
Hầu hết các công trình đều phê phán tính chất nửa vời và phản động của cái
gọi là “cải cách điền địa” của Ngô Đình Diệm.
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu thành công đề tài, luận văn được thực hiện trên cơ sở vận
dụng những quan điểm phương pháp luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh. Các phương pháp cụ thể là:
- Phương pháp lịch sử để liệt kê, hệ thống hóa các sự kiện, các chính sách
của chính quyền Việt Nam Cộng hịa thực hiện ở nơng thơn miền Nam giai đoạn
1955-1963.
- Phương pháp logic để phân tích, đánh giá làm rõ bản chất các chính sách
của Mỹ-Diệm thực hiện ở nơng thơn miền Nam.
Bên cạnh đó luận văn cịn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành
như: phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu… nhằm đạt được mục
tiêu nghiên cứu đề tài.
Nguồn tài liệu:
1) Sách:
- Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam (1997), Vấn đề ruộng đất ở
Việt Nam (2007) - tác giả Lâm Quang Huyên.
- Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam (1968) - tác giả Trần Phương làm chủ
biên.
6
- Vấn đề ruộng đất ở đồng bằng sông Cửu Long (2011) - tác giả Võ Văn
Sen.
- Kinh tế miền Nam Việt Nam thời kỳ 1955-1975 (2004) - tác giả Đặng
Phong…
2) Tài liệu lưu trữ của Mỹ và chính quyền Sài Gịn thuộc các phơng Phủ Tổng
thống Đệ nhất Cộng hòa, Phủ thủ tướng Việt Nam Cộng hòa tại Trung tâm lưu
trữ Quốc gia II.
Phơng Đệ nhất Cộng hịa:
- Hồ sơ về công tác cải cách điền địa năm 1951-1955.
- Hồ sơ nguyên tắc về việc cải cách điền địa năm 1953-1956.
- Hồ sơ về công tác cải cách điền địa tại các tỉnh Nam Việt năm 1957.
- Hồ sơ nguyên tắc về cải cách điền địa năm 1958.
- Hồ sơ nguyên tắc quy định về việc cải cách điền địa năm 1957.
- Hồ sơ nguyên tắc về cải cách điền địa năm 1959.
- Hồ sơ các phiên họp của Hội đồng cải cách điền địa năm 1958.
Phông Phủ thủ tướng Việt Nam Cộng hòa:
- Dụ, sắc lệnh và các văn bản tu chỉ về việc cải cách điền địa năm 19561965.
- Tập sắc lệnh, nghị định, thông tư của Phủ tổng thống, Bộ cải cách điền địa
về cơng tác quản lý ruộng đất năm 1953-1968.
Ngồi ra cịn có nhiều cơng trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học liên
quan đến chính sách cải cách điền địa của chính quyền Sài Gịn, cũng như một
số cơng trình luận văn, luận án và một số sách, báo, bài viết liên quan đến đề tài.
5. Đóng góp của luận văn
Qua việc lựa chọn, tổng hợp, phân tích một khối lượng lớn tài liệu xuất
phát từ nhiều nguồn khác nhau, luận văn có khả năng cung cấp những thơng tin
khoa học lịch sử có giá trị và đáng tin cậy cho việc nghiên cứu về chính sách cải
cách điền địa của chế độ Sài Gòn giai đoạn 1955-1963.
7
Luận văn cũng phác họa được toàn cảnh lịch sử của chính sách cải cách
điền địa của chính quyền Sài Gòn thời kỳ Mỹ-Diệm ở những nét cơ bản nhất.
Những phân tích, kiến giải của luận văn đều thể hiện tính nghiêm túc, khoa
học và do đó nó mang ý nghĩa nhất định về mặt khoa học và thực tiễn. Với
những phân tích và kiến giải đó, luận văn hy vọng sẽ đóng góp một phần nào đó
vào cơng cuộc nghiên cứu khoa học về “Cải cách điền địa của chính quyền Việt
Nam Cộng hịa ở miền Nam Việt Nam, giai đoạn 1955-1963”.
6. Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu trong không gian miền Nam Việt Nam trong khoảng thời
gian từ 1955 đến 1963.
Đối tượng nghiên cứu là các chính sách của Mỹ-Diệm thực hiện ở nông
thôn miền Nam, đặc biệt là chính sách “cải cách điền địa”.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhiệm vụ đề tài này cần giải quyết gồm:
- Xác định rõ chủ trương, chính sách và kế hoạch tiến hành của hoạt động
“cải cách điền địa” của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955-1963.
- Vạch rõ bản chất phản động, tính chất thực dân mới của chính sách ruộng
đất của Mỹ-Diệm qua hoạt động “cải cách điền địa” ở miền Nam Việt Nam giai
đoạn 1955-1963.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục luận văn
bao gồm 3 chương:
Chương 1: Âm mưu, chính sách của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gịn
đối với miền Nam Việt Nam, giai đoạn 1955-1963.
Chương 2: Cải cách điền địa của Mỹ-Diệm ở miền Nam Việt Nam.
Chương 3: Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chống chính sách ruộng
đất của Mỹ-Diệm.
8
Chương 1
ÂM MƯU, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẾ QUỐC MỸ VÀ CHÍNH QUYỀN SÀI
GỊN ĐỐI VỚI MIỀN NAM VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 1955 - 1963
1.1. Âm mưu của Mỹ-Diệm đối với nơng thơn miền Nam Việt Nam
1.1.1. Tình hình miền Nam sau Hiệp định Giơ-ne-vơ
Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7/1954), Việt Nam tạm thời bị chia làm
hai miền: miền Bắc hoàn tồn giải phóng, miền Nam cịn dưới ách thống trị của
đế quốc và tay sai. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đồng thời tiến hành hai
chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cách mạng dân
tộc dân chủ ở miền Nam, trong mục tiêu chung của thời đại là đấu tranh cho hồ
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết 13 ngày (7-7-1954), Mỹ đã đưa
Ngơ Đình Diệm (người được Mỹ ni dưỡng từ lâu) về nước làm thủ tướng bù
nhìn thay thế Bửu Lộc, thành lập nội các mới. Tháng 9-1954, Mỹ quyết định
chuyển thẳng viện trợ cho chính quyền Ngơ Đình Diệm. Ngoại trưởng Mỹ
Dulles cho rằng Mỹ đầu tư ở miền Nam Việt Nam là rất cần thiết và chính đáng.
Tháng 11-1954, Mỹ cử tướng Lawton Collins sang làm đại sứ ở Sài Gòn.
Collins đề ra kế hoạch sáu điểm để củng cố chính quyền Ngơ Đình Diệm nhằm
độc chiếm miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới.
Mỹ chủ trương “cần có một chính phủ dựa vào lực lượng cảnh sát mới có
hiệu lực loại trừ các phần tử gây rối” [27; tr.27], nên họ đã cung cấp vũ khí,
phương tiện chiến tranh, viện trợ thẳng cho quân đội và chính quyền Sài Gịn
khoảng 2 tỷ đơ la, trung bình mỗi năm 300 triệu đơ la. Mỹ chú trọng củng cố
xây dựng quân đội nguỵ Sài Gòn (lên tới 10 sư đoàn bộ binh vào năm 1955)
thành đội quân hoàn toàn do Mỹ chi phối. Với viện trợ, vũ khí đổ vào, Mỹ đã
giúp Diệm thiết lập chính quyền tay sai phục vụ cho chủ nghĩa thực dân mới có
tính chất điển hình ở miền Nam Việt Nam (1954-1963).
9
Dưới sức ép của Mỹ, ngày 13-12-1954, Pháp buộc phải ký với Mỹ hiệp ước
giao cho Mỹ trách nhiệm huấn luyện trang bị quân nguỵ ở miền Nam Việt Nam.
Quân đội Sài Gòn giờ đây do Mỹ thao túng và xây dựng lại thành công cụ chống
cộng hữu hiệu để phục vụ cho các mục tiêu của chủ nghĩa thự dân mới của Mỹ ở
miền Nam Việt Nam. Nắm được quân đội, cảnh sát, những công cụ thống trị chủ
yếu, theo lệnh Mỹ, Ngơ Đình Diệm tiến hành một bước mới xé bỏ Hiệp định
Giơ-ne-vơ 1954 về Việt Nam. Ngày 17-7-1955, Diệm tuyên bố từ chối hiệp
thương tổng tuyển cử tự do. Ngày 23-10-1955, Mỹ hậu thuẫn cho tay sai tổ chức
trò hề “trưng cầu dân ý”, phế chức Bảo Đại và đưa Ngơ Đình Diệm lên làm tổng
thống “Việt Nam cộng hoà” một cách “hợp pháp”.
Nhằm tạo dựng cho chính quyền tay sai một bộ mặt “hợp hiến, hợp pháp”,
Mỹ đã giật dây cho Ngơ Đình Diệm tổ chức bầu cử quốc hội riêng rẽ (4-3-1956)
và cho công bố “Hiến pháp Việt Nam cộng hoà” vào ngày 26-10-1956. Đây là
việc làm hoàn toàn bất hợp pháp, trái với quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ. Mỹ
đã thực hiện mọi thủ đoạn để biến miền Nam Việt Nam thành một quốc gia
riêng rẽ, hòng chia cắt Việt Nam lâu dài.
Mỹ đã dồn công sức, tiền của để củng cố và xây dựng qn đội Sài Gịn,
coi đó là một trong những biện pháp hiệu quả làm cho chính quyền tay sai mạnh
lên. Mỹ đã biến quân đội Sài Gòn thành đội quân thân Mỹ, hoàn toàn do Mỹ chi
phối về mặt tổ chức, trang bị, huấn luyện, tác chiến.
Cho tới tháng 6-1955, Mỹ đã xây dựng cho chính quyền Sài Gịn một đội
quân dưới quyền trực tiếp của các cố vấn Mỹ gồm 10 sư đoàn bộ binh, 17 tiểu
đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp và 54000 quân địa phương. Số cố
vấn Mỹ từ 35 người vào năm 1950 tăng lên 699 người vào năm 1956 và có mặt
đến tận cấp sư đồn. Mỹ lập ra Phái bộ tác chiến lục quân – CATO (Combat
Arms Training Organization) và Phái bộ trang bị cung cấp – TERM (Temporary
Equipment Recovery Mission) do Phái bộ viện trợ quân sự Mỹ - MAAG
(Military Assistance Advisory Group, thành lập tháng 9-1950 tại Việt Nam) chỉ
10
huy. Quân đội Sài Gòn được Mỹ trang bị tương đối hiện đại, được huấn luyện
theo chương trình do cố vấn Mỹ đặt ra. Mỹ đã tiến hành xây dựng hệ thống sân
bay, quân cảng, các đường giao thông chiến lược nhằm biến miền Nam Việt
Nam thành một căn cứ quân sự khổng lồ. Trong vòng chưa đầy 2 năm (từ 71954 đến 6-1956) Mỹ đã tác động làm thay đổi toàn bộ cơ cấu thống trị trước
đây của thực dân Pháp bằng chính quyền tay sai phục vụ cho sự thống trị của
chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam – Việt Nam Cộng hòa.
1.1.2. Âm mưu của Mỹ-Diệm đối với nông thôn miền Nam
Âm mưu chiến lược lâu dài của đế quốc Mỹ là tiêu diệt cách mạng miền
Nam Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ
quân sự của chúng, lấy đó làm bàn đạp để đánh chiếm miền Bắc xã hội chủ
nghĩa, ngăn chặn cách mạng xã hội chủ nghĩa lan xuống Đông Nam Á. Mỹ cịn
muốn lấy miền Nam Việt Nam làm nơi thí nghiệm các loại chiến lược, chiến
thuật và vũ khí mới để đàn áp phong trào cách mạng các nơi khác trên thế giới.
Nếu xét về mục tiêu kinh tế cũng như bản chất chính trị phản động thì chủ nghĩa
thực dân mới không khác chủ nghĩa thực dân cũ. Cái khác là chủ nghĩa thực dân
mới dùng các thủ đoạn chính trị và bóc lột một cách tinh vi, che đậy, khơng trực
tiếp cai trị dân bản xứ. Mỹ có thể ban bố “độc lập” giả hiệu cho các thuộc địa cũ
thơng qua bộ máy chính quyền người bản xứ do Mỹ dựng lên, do hệ thống cố
vấn thực dân mới khống chế và điều khiển. Thông qua hệ thống “viện trợ” kinh
tế, quân sự, Mỹ làm cho những thuộc địa kiểu mới phải phụ thuộc vào chúng về
tài chính, kỹ thuật, tiềm lực quân sự và thị trường.
Nhưng chủ nghĩa thực dân mới là sản phẩm của chủ nghĩa đế quốc cho nên
dù có đổi mới hình thức xâm lược, dù có ngụy trang phương pháp bóc lột nhằm
chiếm đoạt lợi nhuận độc quyền cao, bản chất của chủ nghĩa thực dân mới vẫn là
áp bức bóc lột nhân dân lao động các nước thuộc địa và phụ thuộc bằng cách nô
dịch các nước này về kinh tế và cả chính trị [32].
11
Như vậy, thực chất của chủ nghĩa thực dân mới là chủ nghĩa thực dân giấu
mặt, trá hình. Nó là chính sách của chủ nghĩa đế quốc nhằm cứu vãn chủ nghĩa
thực dân cũ đang sụp đổ, nhằm chống lại phong trào giải phóng dân tộc, phong
trào nơng dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, kìm hãm xu hướng tiến lên
chủ nghĩa xã hội của công nhân, nông dân ở các nước đó. Ở miền Nam Việt
Nam, từ sau 1954, mục tiêu và ý đồ của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ cũng
khơng ngồi mục đích chống lại thế tiến công của cách mạng miền Nam, chĩa
mũi nhọn vào phong trào giải phóng dân tộc, phong trào nơng dân, tìm cách áp
đặt ách thống trị thực dân mới lên đồng bào ta, kìm chế nhân dân miền Nam
trong quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản do đế quốc Mỹ đứng đầu.
Để thực hiên mục tiêu trên, bên cạnh mọi hình thức thủ đoạn lừa bịp mua
chuộc tinh vi, xảo trá, chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ với bản chất xâm lược,
gây chiến đã núp dưới chiêu bài “chống cộng”, “bảo vệ thế giới tự do”, tiến
hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới lâu dài, tàn bạo ở miền Nam Việt
Nam. Trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân mới, một
trong những âm mưu và hành động chủ yếu của đế quốc Mỹ và tay sai là nhằm
đối phó với phong trào nông dân và nông thôn miền Nam. Chúng xác định vấn
đề nông thôn và nông dân thành vấn đề khẩn thiết, cấp bách và cho rằng: “cứu
nông thôn tức là cứu chế độ” [49; tr.9-10].
Chúng ta đều biết địa bàn nơng thơn miền Nam có một vị trí chiến lược
quan trọng. Nơi đây không những là nguồn lực về sức người, sức của, mà cịn là
nơi có phong trào cách mạng mạnh mẽ của nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
của giai cấp công nhân. Thành bại của cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa
thực dân mới trước hết là phụ thuộc vào việc Mỹ và tay sai có thống trị, kìm
kẹp, khuất phục được người nơng dân miền Nam hay khơng. Do đó, để giành
thắng lợi cơ bản cho cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam, đế quốc
Mỹ và tay sai xác định phải giành cho được địa bàn nông thôn.
12
Tuy nhiên, khi can thiệp vào miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ vấp phải
một đối tượng mà chúng không thể coi thường. Đó là cả một dân tộc đã giành
thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám và chiến thắng thực dân Pháp. Đại đa số
con người của dân tộc ấy là nông dân, đã được hưởng quyền làm chủ ruộng đất,
làm chủ nơng thơn. Do đó mà trong suốt hơn 20 năm can thiệp và xâm lược
miền Nam, đế quốc Mỹ và tay sai ln ln thi hành chính sách “bình định nơng
thơn”. Đây là chính sách bao trùm lên các chính sách ở nơng thơn để chống lại
phong trào đấu tranh thống nhất đất nước, độc lập dân tộc và xu thế đi lên chủ
nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam. Đế quốc Mỹ coi chính sách “bình định
nơng thơn” là khâu mấu chốt để chống chiến tranh cách mạng, chống sự nổi dậy
của quần chúng. Theo chúng đây là biện pháp tổng hợp các mặt hoạt động qn
sự, chính trị, kinh tế, văn hóa… nhằm nhiều mục tiêu, chủ yếu là “tiêu diệt cơ sở
hạ tầng của cách mạng” mà chúng cho là đầu mối của mọi nguy cơ, để giành
dân và khống chế chặt chẽ nhân dân mà theo chúng là nguồn gốc của mọi thành
cơng.
Do vậy, “bình định nơng thơn” là biểu hiện tập trung của chích sách thực
dân mới, là một thủ đoạn chiến lược của Mỹ ở miền Nam nhằm đánh phá cách
mạng một cách tồn diện. Thực chất, đó là một cuộc chiến tranh xâm lược cực
kỳ tàn bạo của Mỹ ở nông thôn miền Nam.
Qua thực tế hơn 20 năm của chiến tranh Việt Nam, trong ba địa bàn hoạt
động ở miền Nam: thành thị, nông thôn và rừng núi, địa bàn mà chủ nghĩa thực
dân mới của Mỹ phải tập trung đối phó dai dẳng nhất, ác liệt nhất, khó khăn nhất
đó là nơng thơn. Để thực hiện biện pháp trên Mỹ đã phái những chuyên gia sừng
sỏ về cơng tác bình định như Lansdale, Ladejinsky, Komer, Thompson sang
miền Nam Việt Nam giúp cho chính quyền Sài Gịn thực hiện kế hoạch bình
định này.
Báo Cách mạng quốc gia (số 191 năm 1959) – cơ quan ngơn luận chính
thức của chính quyền Ngơ Đình Diệm, đã nhấn mạnh “an ninh nông thôn là vấn
13
đề sống chết của chế độ cộng hòa”, là “vấn đề khẩn thiết phải giải quyết gấp
đứng đầu các công cuộc khác”, “kiểm sốt được nơng thơn, ta sẽ chiến thắng
cuộc chiến tranh này. Mất nông thôn, ta sẽ mất tất cả. Nông thôn quyết định
chiến trường” [32; tr.29].
Thủ đoạn cơ bản của Mỹ-Ngụy để tiến hành “bình định nơng thôn” là sử
dụng bạo lực phản cách mạng. Bom đạn và chất khai quang của Mỹ được trút
xuống nông thôn miền Nam Việt Nam với mật độ dày đặc là những phương tiện
đã được dùng để phục vụ trực tiếp các chiến dịch “bình định”.
Mỹ-Diệm đã khơng từ một thủ đoạn thâm độc, tàn bạo nào nhằm đánh phá
phong trào cách mạng, triệt hạ cơ sở cách mạng ở nông thôn miền Nam, đàn áp,
lôi kéo, tranh giành nông dân với cách mạng. Chúng luôn luôn coi vấn đề nông
thôn, vấn đề nông dân là vấn đề hàng đầu phải giải quyết với phương châm:
“cứu nông thôn là cứu chế độ”.
Tuy nhiên, các chương trình “bình định nơng thơn” của Mỹ-Diệm, dù tàn
bạo và thâm độc đến đâu, vẫn bị quần chúng nhân dân, nhất là nông dân chống
đối hết sức quyết liệt. Nhận xét về kết quả “bình định nơng thơn”, Peter Ácnét,
phóng viên hãng AP của Mỹ đã vạch rõ: “Lịch sử bình định nơng thơn ở miền
Nam là một bảng kê những kế hoạch to lớn bị sụp đổ, những nghị lực vô hạn
của các cố vấn có tài năng tan thành mây khói…” [32; tr.31].
1.2. Các chính sách của Mỹ-Diệm đối với nơng thơn miền Nam
1.2.1. Chính sách “tố cộng”, “diệt cộng”
Với Mỹ-Diệm, lực lượng cách mạng của nhân dân miền Nam là mối hiểm
họa lớn nhất và cơ bản nhất đối với chế độ của chúng. Vì vậy, ngay khi vừa lên
cầm quyền ở miền Nam, Ngơ Đình Diệm đã cho tay chân tổ chức các cuộc vây
bắt, tàn sát, khủng bố hết sức ác liệt những người kháng chiến cũ, những người
đấu tranh đòi hiệp thương, tổng tuyển cử, thống nhất đất nước và cả những
người không ủng hộ Diệm.
14
Lợi dụng lúc Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện quy định của Hiệp
định Giơ-ne-vơ, rút khỏi các vị trí đóng qn, các vùng tự do cũ về nơi tập kết,
địch tiến hành đánh phá ngay, hịng gây khơng khí khủng khiếp trong nhân dân,
làm cho hàng ngũ đảng viên và quần chúng bị rối loạn. Với phương châm “Tiêu
diệt cộng sản không thương tiếc”, “tiêu diệt cộng sản tận gốc”, “thà giết lầm
hơn bỏ sót”,… Mỹ-Diệm đã gây ra hàng loạt vụ thảm sát bằng những hình thức
giết người man rợ thời trung cổ, kết hợp với những phương pháp tra tấn, cực
hình hiện đại, hịng bóp chết tinh thần yêu nước, tinh thần đấu tranh cách mạng
của nhân dân miền Nam. Cuối năm 1954, Mỹ-Diệm tiến hành thí điểm chiến
dịch “tố cộng, diệt cộng” đầu tiên ở Quảng Nam, lấy tên là “chiến dịch Phan
Chu Trinh”, đồng thời Diệm gấp rút lập Tổng ủy Công dân vụ, chuyên trách vấn
đề chuẩn bị, theo dõi các chiến dịch tố cộng. Bản thân Ngơ Đình Diệm đứng ra
làm chủ tịch danh dự Hội đồng nhân dân chỉ đạo tố cộng, tổ chức hơn 600 tên
tâm lý chiến, gần 4000 tên cán bộ ác ôn, hơn một vạn tên ác ôn, và hơn một vạn
cán bộ cơ sở ở huyện, xã để phục vụ công việc tố cộng.
Từ giữa năm 1955, Mỹ-Diệm bắt đầu tiến hành một cách có tổ chức chiến
dịch “tố cộng, diệt cộng” trên toàn miền Nam và coi đây là “quốc sách”. Mục
đích của chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ-Diệm là cốt nhằm “gây uất hận
trong dân chúng đối với Việt cộng:
a) Để cho nhân dân tố giác Việt cộng ở lại hoạt động.
b) Khủng bố tinh thần Việt cộng làm cho Việt cộng nghi ngờ quần chúng
mà không dám hoạt động nữa.
c) Đánh lệch tư tưởng các phần tử lừng chừng còn hướng về cộng sản phải
ngả hẳn về chính phủ quốc gia.
d) Thêm phương tiện để kiểm soát cán bộ cộng sản cịn ở lại hoạt động
trong vùng quốc gia kiểm sốt” [18; tr.56].
Thực hiện quốc sách “tố cộng, diệt cộng”, chính quyền Ngơ Đình Diệm
kiện tồn bộ máy tổ chức thực hiện. Tổng ủy Công dân vụ thành lập tháng 3-
15
1955, ngày càng được tăng cường và chuyên lo việc đàn áp chính trị với gần
4000 tên mật vụ, 9000 tên mật hộ viên, 12000 liên gia trưởng. Một hệ thống tổ
chức “tố cộng” từ trung ương xuống tận xã thơn. Ở Sài Gịn, lập “Hội đồng nhân
dân chỉ đạo tố cộng”, gồm tất cả các Bộ trưởng trong chính phủ do đích thân
Ngơ Đình Diệm làm chủ tịch danh dự và Trần Chánh Thành là chủ tịch hội
đồng. Hội đồng chỉ định ra Ủy ban chỉ đạo tố cộng trung ương, có ban thường
trực gồm đại diện của các Bộ Thơng tin, Quốc phịng. Nhiệm vụ của Ủy ban chỉ
đạo này là trực tiếp chỉ đạo phong trào tố cộng ở các tỉnh, các cơ quan, đào tạo
cán bộ phong trào. Ủy ban có nhiều ban giúp việc.
Mỗi tỉnh có một Ủy ban chỉ đạo tố cộng. Mỗi Bộ có một Ủy ban chỉ đạo
dọc xuống các cơ quan thuộc bộ mình. Thành phần ban chỉ đạo giống như ở
trung ương, cịn ở các cơ quan thì gồm đại biểu cơ quan và liên đồn cơng chức
của phong trào cách mạng quốc gia. Huyện, xã đều có Ủy ban chỉ đạo tố cộng
của huyện, của xã. Mỗi xã, thôn lại chia ra nhiều liên gia tố cộng.
Trong năm 1955, dưới nhãn hiệu “Phái bộ đại học đường Michigan”, các
cố vấn Mỹ đến miền Nam giúp Ngơ Đình Diệm xây dựng bộ máy cảnh sát, đào
tạo cán bộ, phổ biến kĩ thuật điều tra và tra tấn, thành lập một hệ thống điều tra
lí lịch tối tân.
Mặt khác, để có cơ sở pháp lí cho chính sách khủng bố, chính quyền Ngơ
Đình Diệm ban hành các luật lệ phát xít, trong đó có Dụ số 6 (11-1-1955) về
việc lập các trại tập trung, giam giữ những người gọi là “nguy hiểm cho quốc
phòng và an ninh”, Dụ số 13 (20-2-1956) bóp nghẹt quyền tự do báo chí [18;
tr.56].
Từ tháng 5-1955 đến tháng 6-1956, Mỹ-Diệm phát động “chiến dịch tố
cộng giai đoạn I” trên quy mơ lớn tồn miền Nam. Địch chia giai đoạn I tố cộng
ra làm 3 đợt:
- Đợt 1 từ 15-5 đến cuối tháng 8-1955, trọng điểm là các tỉnh miền Trung.
16
- Đợt 2 từ tháng 9 đến tháng 11-1955, trọng điểm tiến hành trong nội bộ các
cơ quan ngụy quyền.
- Đợt 3 từ 15-11-1955 đến tháng 5-1956 làm rộng rãi ở các tỉnh để triệt hạ
uy thế chính trị của cộng sản và thanh trừng số cán bộ cầu an của chúng ở xã.
Khi tiến hành, trong mỗi đợt gồm nhiều bước, có điều chỉnh rút kinh
nghiệm. Kế hoạch “tố cộng” của địch lúc đầu tiến hành trên diện rộng, sau đó
đánh vào chiều sâu, đánh cả nơng thơn và thành thị. Mục tiêu của chúng là tập
trung vào những nơi có phong trào cách mạng phát triển mạnh trong kháng
chiến chống Pháp. Thực hiện được như vậy, Mỹ-Diệm sẽ củng cố được thế lực,
đẩy mạnh những hoạt động phá hoại hịa bình, dập tắt được phong trào đấu tranh
của nhân dân đòi hiệp thương tổng tuyển cử.
Phương châm hoạt động của địch là: “Tất cả phục vụ cho chiến dịch tố
cộng”. Địch chia nhân dân ra làm ba loại: Loại cán bộ và đảng viên cộng sản,
loại gia đình có người đi tập kết, loại nhân dân nói chung. Tùy theo đối tượng
mà địch tổ chức “tố cộng” có mức độ khác nhau [18; tr.57].
Từ tháng 7-1956 trở đi, địch mở chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” giai đoạn
II, trọng điểm là đánh vào miền Đông Nam Bộ và các tỉnh đồng bằng sơng Cửu
Long. Để hợp pháp hóa chính sách “tố cộng, diệt cộng”, Điều 7 Hiến pháp (2610-1956) của Việt Nam Cộng hòa ghi: “Những hành vi có mục đích phổ biến
hoặc thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi
hình thức đều trái với nguyên tắc ghi trong hiến pháp”. Phương châm của “quốc
sách diệt cộng” là: “Tiêu diệt Việt cộng khơng thương tiếc… tiêu diệt như trong
tình trạng chiến tranh, thà giết lầm chứ khơng bỏ sót” [18; tr.57].
Ở giai đoạn này, địch điều tra rồi phân chia loại theo gia đình:
- Gia đình loại A là gia đình những người kháng chiến cũ, gia đình có
người tham gia tập kết, những người yêu nước, thiết tha với hòa bình, độc lập,
thống nhất mà địch gọi chung là “Việt cộng”. Địch coi đây là loại gia đình bất
hợp pháp.
17
- Loại B là những gia đình có bà con, họ hàng thân thuộc với loại A, cũng
được liệt vào danh sách gia đình bất hợp pháp.
- Loại C gồm những gia đình vây cánh hậu thuẫn cho chính quyền Ngơ
Đình Diệm, được ưu đãi về chính trị, kinh tế.
Những người thuộc gia đình loại A và B bị bắt tập trung học tập “tố cộng”.
Trước hết, địch bắt mọi người học tập chính trị và liên hệ nói xấu cách mạng,
nói xấu Việt cộng, coi Mỹ-Diệm là chính nghĩa, thừa nhận bọn phản quốc tay sai
Mỹ là chính nghĩa quốc gia. Địch bắt mỗi người phải tự khai nhận về hoạt động
của bản thân mình, tố giác các đồng chí, đồng bào và người thân của mình.
Những người bị tố giác, địch bắt phải tự nhận là “Việt cộng” được cài lại để phá
hoại. Những người không “nhận tội” sẽ bị tra tấn ngay tại chỗ, tại lớp học hay
trong các phịng thẩm vấn và có thể bị thủ tiêu. Cách thức tra tấn của Mỹ-Diệm
tàn ác không thua kém gì so với thời Trung cổ, như dùng đinh đóng vào các
khớp xương, treo người lên xà nhà, đổ nước xà phòng, tra điện… [18; tr.58].
Qua các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ-Diệm, hàng ngàn cán bộ,
đảng viên, đồng bào bị địch tra tấn, giết hại, thủ tiêu, tù đày. Tại nhà tù Côn
Đảo, với hệ thống “chuồng cọp”, người giam bị biệt lập hoàn toàn với bên
ngoài, thường xuyên bị đánh đập, tra tấn dã man. Chỉ trong ba năm từ 1957 đến
1959, đã có 3000/4000 người bị chết. Nhà lao Bến Tre không những chứa 1000
người như trước mà thường xuyên phải chứa 3000 người. Nhà lao Phú Lợi,
người bị giam trong hầm lộ thiên, sâu khoảng 3-4m, rộng 3m, trên mặt hầm rào
bằng dây thép gai, không lợp mái nên tù nhân phải chịu đựng phơi sương, nắng,
mưa suốt ngày đêm, tư thế luôn ln phải ngồi, đứng thì chạm đầu bị thép gai
đâm. Ngày 1-12-1958, tại đây, địch đầu độc một lúc 6000 người, làm 4000
người trúng độc, 1000 tù nhân chết tại chỗ. Số khác, địch dùng hình thức chuyển
vùng đưa đi quản thúc. Rất đông cán bộ, đảng viên từ Nam Bộ bị đưa lên Tây
Nguyên quản thúc, thực chất là lao dịch khổ sai.
18
Chính sách khủng bố điên cuồng của Mỹ-Diệm nói trên đã gây cho cách
mạng miền Nam nhiều tổn thất nghiêm trọng. Ở Quảng Trị cuối năm 1954, sau
khi thực hiện xong việc chuyển quân tập kết, số đảng viên còn lại là 8400 phân
bố khắp các địa phương trong tỉnh. Cuối năm 1957, chỉ còn 306 cán bộ, đảng
viên. Ở Thừa Thiên, sau khi chấn chỉnh tổ chức còn 300 đảng viên, đến 1957, ở
đồng bằng còn vài chi bộ, miền núi còn lại duy nhất một chi bộ. Ở Liên khu V,
số cán bộ, đảng viên còn lại sau tập kết bình quân mỗi tỉnh trên dưới 10 ngàn,
nhưng đến cuối 1956-đầu 1957, hầu hết các tổ chức đảng ở Liên khu V bị tan
vỡ: 70% số cấp ủy xã, 60% huyện ủy viên, 40% tỉnh ủy viên ở các tỉnh đồng
bằng bị bắt, bị giết, nhiều huyện, xã khơng cịn cán bộ lãnh đạo. Ở Đảng bộ
Quảng Nam-Đà Nẵng, hịa bình lập lại có 35.000 đảng viên, đến cuối 1958 cịn
dưới 100 đồng chí hoạt động đơn tuyến. Nếu tính cả miền núi và đồng bằng, thì
tỉnh khá nhất cũng chỉ còn 10 chi bộ, mỗi chi bộ có ba đảng viên, tỉnh yếu chỉ
cịn 2 đến 3 chi bộ.
Tại Nam Bộ, nhiều cơ sở bí mật ở địa phương bị thiệt hại nặng nề. Ở Trà
Vinh, địch bắt 42 người, giết chết 3 cán bộ cơ sở của ta. Ở An Giang, địch bắt
21 cán bộ ta, làm 13 chi bộ ở hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên bị tê liệt hoàn toàn.
Ở Kiến Tường, trong 6 tháng cuối năm 1958, địch đã bắt, thủ tiêu và mang đi
mất tích 132 cán bộ, đảng viên. Đặc biệt nghiêm trọng là Kiến Hòa và Định
Tường, ở hai tỉnh này, từ tháng 7 đến tháng 9-1958, địch đã bắt 95 người, trong
đó có 2 tỉnh ủy viên, 2 huyện ủy viên, 13 chi ủy viên, 20 cán bộ giao liên và 11
đảng viên cơ sở. Tính đến cuối năm 1958, trên toàn miền Nam, Mỹ-Diệm đã
giết hại khoảng 68.800 cán bộ, đảng viên, bắt giam 466.000 người và tra tấn
thành thương tật 680.000 người.
Ngày 23-3-1959, Diệm công khai tuyên bố tình trạng chiến tranh ở miền
Nam và lấy cớ đó để huy động tồn bộ qn đội, cảnh sát vào các cuộc hành
quân càn quét. Địch tập trung đánh vào các khu căn cứ của ta ở miền Đông Nam
Bộ, ở Đồng Tháp Mười và vùng U Minh. Trong năm 1959, địch mở 279 cuộc
19
hành quân càn quét, trong đó có 12 cuộc hành qn với quy mơ lớn từ cấp trung
đồn trở lên.
Ngày 6-5-1959, Ngơ Đình Diệm ban hành Luật 10/59, bước hồn chỉnh hệ
thống pháp luật chống cộng ở mức cao nhất, phát xít nhất. Ngay sau đó, để tăng
thêm mức độ tàn ác của Luật 10/59, ngày 4-7-1959, Luật số 21/59, sửa đổi điều
163 của Bộ quân luật được ban hành. Nội dung sửa đổi: tử hình tội phạm là
“thường nhân” bị Toà án quân sự đặc biệt tuyên bằng cách “đoạn đầu” – chém
đầu, thay vì “bị bắn” như điều 163 (gốc) của Bộ quân luật quy định. Hình thức
tử hình dùng máy chém có từ thời trung cổ được áp dụng phổ biến ở Miền Nam
khi thi hành Luật 10/59. Chính điều này biến máy chém thành biểu tượng của
chế độ Ngơ Đình Diệm tàn bạo [37]. Các Tịa án quân sự đặc biệt được thiết lập
ở Sài Gòn, Buôn Ma Thuột, Huế. Máy chém được đưa về địa phương để thi
hành ngay tại chỗ các bản án tử hình. Chỉ trong một thời gian ngắn cuối năm
1959, tịa án quân sự đặc biệt Sài Gòn lưu động trong 9 tỉnh Nam Bộ và tuyên
20 án tử hình, 27 án khổ sai chung thân. Địch hy vọng với các biện pháp “cứng
rắn” sẽ làm cho quần chúng nhân dân khiếp sợ, đem lại an ninh cho chế độ.
Song, chính những hành động tàn bạo đó lại kích động lịng căm thù của nhân
dân, khiến họ quyết đứng về phía cách mạng để chống lại Mỹ-Diệm [18], [49].
1.2.2. Quốc sách “dinh điền”, “khu trù mật”, “ấp chiến lược”
Dinh điền
Dinh điền là một loại đồn điền kiểu mới mang hai tính chất: cơ sở cho hậu
cần, hay nói đúng hơn, là hệ thống cứ điểm quân sự trá hình và đồng thời là cơ
sở sản xuất cây công nghiệp cao su, cà phê… Đó là nơi mà chủ nghĩa thực dân
mới của Mỹ xâm nhập vào nông thôn miền Nam và là nơi mà bọn tư bản Mỹ sẽ
bỏ vốn vào kinh doanh [64; tr.41].
Chính sách “dinh điền” được chính quyền Ngơ Đình Diệm tiến hành từ năm
1957. Tháng 4-1957, Diệm thành lập Phủ Tổng uỷ dinh điền, tổ chức như một
Bộ trực thuộc Phủ Tổng thống (Bùi Văn Lương làm Tổng uỷ trưởng, phụ tá là