Tải bản đầy đủ (.pdf) (139 trang)

Biện pháp phát huy khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi trong hoạt động vẽ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.57 MB, 139 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Huỳnh Ngọc Thủy

BIỆN PHÁP PHÁT HUY KHẢ NĂNG
SÁNG TẠO CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Huỳnh Ngọc Thủy

BIỆN PHÁP PHÁT HUY KHẢ NĂNG
SÁNG TẠO CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ

Chuyên ngành : Giáo dục mầm non
Mã số

: 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM THU HƯƠNG



Thành phố Hồ Chí Minh – 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan cơng trình nghiên cứu này là của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì cơng trình nào
khác.


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin bày tỏ lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cô TS. Phạm
Thu Hương - người đã ln tận tình góp ý và động viên chân thành cho em trong suốt
thời gian thực hiện nghiên cứu đề tài này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Sau Đại học, quý Thầy
Cơ khoa Giáo dục mầm non, phịng Quản lý khoa học, Thư viện trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu.
Xin tri ân Ban Giám Hiệu, tập thể các cô giáo cùng các cháu mẫu giáo các trường
mẫu giáo tỉnh An Giang: Trường Mẫu giáo Hướng Dương, trường mẫu giáo Mai Vàng,
trường mẫu giáo Hoa Lan và trường mẫu giáo An Châu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
giúp em tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm để hoàn thành luận văn.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã khuyến khích và
động viên em trong thời gian thực hiện luận văn.
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy Cô và đồng nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn !
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 09 năm 2015
Tác giả


Nguyễn Huỳnh Ngọc Thủy


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ cái viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÁT HUY KHẢ NĂNG
SÁNG TẠO CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG HOẠT
ĐỘNG VẼ THEO ĐỀ TÀI ..................................................................... 5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................... 5
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới ....................................................................... 5
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam ....................................................................... 7
1.2. Cơ sở lý luận về vấn đề sáng tạo .......................................................................... 8
1.2.1. Khái niệm chung về sáng tạo ...................................................................... 8
1.2.2. Những đặc điểm của sáng tạo ................................................................... 11
1.2.3. Cơ sở sinh lý và cơ chế tâm lý của sáng tạo ............................................. 12
1.3. Một số vấn đề về sáng tạo của trẻ mầm non ...................................................... 16
1.3.1. Vai trò của sáng tạo đối với sự phát triển tâm lý trẻ ................................ 16
1.3.2. Đặc điểm sáng tạo của trẻ mầm non. ........................................................ 17
1.3.3. Khả năng sáng tạo của trẻ mầm non ......................................................... 19
1.3.4. Các điều kiện phát huy những biểu hiện sáng tạo của trẻ mầm non ........ 20
1.4. Hoạt động vẽ ...................................................................................................... 21
1.4.1. Khái niệm hoạt động vẽ ............................................................................ 21
1.4.2. Bản chất hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo ................................................... 22

1.4.3. Ý nghĩa của vẽ đối với sự phát triển toàn diện trẻ mầm non .................... 22
1.4.4. Một số đặc điểm hoạt động vẽ và vẽ theo đề tài của trẻ mầm non........... 25
1.5. Những biểu hiện sáng tạo trong HĐVTĐT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi .............. 29


1.6. Biện pháp phát huy khả năng sáng tạo trong HĐVTĐT cho trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi ....................................................................................................... 30
1.6.1. Khái niệm về biện pháp phát huy khả năng sáng tạo trong HĐVTĐT
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ......................................................................... 30
1.6.2. Biện pháp phát huy khả năng sáng tạo trong HĐVTĐT cho trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi ............................................................................................. 31
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................................ 36
Chương 2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BIỆN PHÁP PHÁT HUY KHẢ
NĂNG SÁNG TẠO CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG
HOẠT ĐỘNG VẼ THEO ĐỀ TÀI Ở TRƯỜNG MẦM NON ......... 37
2.1. Tổ chức điều tra thực trạng ................................................................................ 37
2.1.1. Mục đích điều tra thực trạng..................................................................... 37
2.1.2. Đối tượng điều tra ..................................................................................... 37
2.1.3. Thời gian điều tra...................................................................................... 38
2.1.4. Nội dung điều tra ...................................................................................... 38
2.1.5. Phương pháp điều tra ................................................................................ 38
2.2. Phân tích kết quả điều tra thực trạng .................................................................. 45
2.2.1. Kết quả điều tra bằng phiếu ..................................................................... 45
2.2.2. Kết quả quan sát dự giờ ........................................................................... 56
2.2.3. Kết quả phân tích sản phẩm vẽ theo đề tài .............................................. 58
2.2.4. Khả năng sáng tạo của trẻ bằng test đo tiềm năng sáng tạo của
Klaus K.Urban ......................................................................................... 59
Tiểu kết chương 2 ........................................................................................................ 62
Chương 3. THỰC NGHIỆM BIỆN PHÁP PHÁT HUY KHẢ NĂNG
SÁNG TẠO CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG HOẠT

ĐỘNG VẼ THEO ĐỀ TÀI Ở TRƯỜNG MẦM NON ....................... 64
3.1. Xây dựng một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo ....... 64
3.1.1. Cơ sở định hướng cho việc đề xuất các biện pháp phát huy khả
năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong HĐVTĐT. .................... 64


3.1.2. Các nguyên tắc xây dựng các biện pháp phát huy khả năng sáng tạo
cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong HĐVTĐT. ........................................... 64
3.1.3. Một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6
tuổi trong HĐVTĐT. ............................................................................... 65
3.2. Tổ chức thực nghiệm các biện pháp .................................................................. 74
3.2.1. Mục đích thực nghiệm .............................................................................. 74
3.2.2. Nội dung thực nghiệm .............................................................................. 74
3.2.3. Đối tượng và thời gian thực nghiệm ......................................................... 74
3.2.4. Tiến trình thực nghiệm ............................................................................. 74
3.3. Phân tích kết quả thực nghiệm ........................................................................... 84
3.3.1. So sánh kết quả giữa nhóm TN và nhóm ĐC qua test TSD-Z (B) ở
trường MG Hướng Dương. ...................................................................... 84
3.3.2. So sánh kết quả của nhóm ĐC ở trường MG Hướng Dương trước và
sau TN. ..................................................................................................... 86
3.3.3. So sánh kết quả của nhóm TN ở trường MG Hướng Dương trước và
sau TN. ..................................................................................................... 87
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................................ 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................................... 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 93
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐC


Đối chứng

GV

Giáo viên

HĐVTĐT

Hoạt động vẽ theo đề tài

MG

Mẫu giáo

TN

Thực nghiệm


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.

Tiêu chí đánh giá mức độ sáng tạo của trẻ trong HĐVTĐT ...................39

Bảng 2.2.

Khảo sát mức độ nhận thức của GV về sáng tạo .....................................45

Bảng 2.3.


Khảo sát mức độ nhận thức của GVvề sáng tạo của trẻ mầm non. .........46

Bảng 2.4.

Khảo sát về biểu hiện sáng tạo của trẻ.....................................................47

Bảng 2.5.

Khảo sát nhận thức của GV về khả năng sáng tạo của trẻ trong
HĐVTĐT. ................................................................................................48

Bảng 2.6.

Khảo sát mức độ nhận thức của giáo viên về việc tổ chức cho trẻ
sáng tạo trong HĐVTĐT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. ...............................49

Bảng 2.7.

Khảo sát về tần suất tổ chức HĐVTĐT trong tháng ...............................50

Bảng 2.8.

Khảo sát tần suất tổ chức cho trẻ sáng tạo trong HĐVTĐT. ...................50

Bảng 2.9.

Khảo sát các biện pháp giúp trẻ phát huy khả năng sáng tạo trong
HĐVTĐT. ................................................................................................51


Bảng 2.10.

Những khó khăn giáo viên gặp khi giúp trẻ phát huy khả năng sáng
tạo trong HĐVTĐT. ................................................................................54

Bảng 2.11.

Những nguyện vọng để phát huy khả năng sáng tạo của trẻ trong
HĐVTĐT. ................................................................................................55

Bảng 2.12.

Bảng tổng hợp và đánh giá chung về khả năng sáng tạo của trẻ 5 - 6
tuổi trong HĐVTĐT. ...............................................................................58

Bảng 2.13.

Bảng tổng hợp và đánh giá chung về khả năng sáng tạo của trẻ 5 - 6
tuổi qua test TSD-Z (A). ..........................................................................60

Bảng 3.1.

Tổng hợp kết quả đầu vào của hai nhóm TN và ĐC bằng test TSDZ (A) tại trường MG Hướng Dương .......................................................75

Bảng 3.2.

Tổng hợp kết quả của hai nhóm TN và ĐC qua test TSD-Z (B) ở
trường MG Hướng Dương .......................................................................84

Bảng 3.3.


Tổng hợp kết quả của nhóm ĐC ở trường MG Hướng Dương trước
và sau TN .................................................................................................86

Bảng 3.4.

Tổng hợp kết quả của nhóm TN tại trường MG Hướng Dương
trước và sau TN .......................................................................................87


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. So sánh kết quả giữa nhóm TN và nhóm ĐC qua test TSD-Z (A)
của trường MG Hướng Dương ................................................................75
Biểu đồ 3.2. So sánh kết quả giữa nhóm TN và nhóm ĐC qua test TSD-Z (B)
của trường MG Hướng Dương ................................................................85
Biểu đồ 3.3. So sánh kết quả của nhóm ĐC tại trường MG Hướng Dương
trước và sau TN .......................................................................................86
Biểu đồ 3.4. So sánh kết quả của nhóm TN tại trường MG Hướng Dương
trước và sau TN .......................................................................................88


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em là tương lai của đất nước. Trẻ được giáo dục tốt là tiền đề để phát triển
một xã hội ngày càng văn minh và hiện đại. Giáo dục mầm non với tư cách là ngành
học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trị quan trọng là hình thành ở trẻ
những cơ sở ban đầu của nhân cách con người và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho
trẻ vào trường phổ thơng. Chính vì vậy bậc học mầm non đã đặt ra mục tiêu giáo dục

là phát triển toàn diện cho trẻ, bao gồm năm lĩnh vực: nhận thức, thể chất, ngơn ngữ,
thẩm mĩ, tình cảm và kỹ năng xã hội. Trong đó, vẽ là một trong những nội dung giáo
dục giúp cho trẻ phát triển thẩm mĩ và hoàn thiện nhân cách.
Hoạt động vẽ tạo cơ cơ hội cho trẻ được trải nghiệm những cảm xúc đa dạng,
được thể hiện các hình ảnh - hình tượng theo cảm xúc và ý tưởng riêng của mình một
cách linh hoạt, với sự thay đổi của sắc thái màu sắc, hay chỉ là những nét vẽ rất đơn
giản. Ngoài ra, nó cịn là nguồn sữa ngọt ngào để ni dưỡng tâm hồn và giúp khả
năng vận động của trẻ ngày càng khéo léo hơn.
Được biết sáng tạo là khả năng nhận biết và tạo ra cái mới, nó tiềm tàng trong
mỗi con người. Vậy lứa tuổi 5-6 có khả năng sáng tạo khơng? Điều đó hồn tồn có thể.
Đối với trẻ nhỏ, nhất là lứa 5-6 tuổi rất thích vẽ và được tự do sáng tạo là niềm hạnh
phúc để khẳng định năng lực của bản thân và hoàn thiện nhân cách. Vì vậy, vẽ được
xem là mảnh đất màu mỡ để trẻ thỏa sức sáng tạo. Khả năng sáng tạo của trẻ trong hoạt
động vẽ ở trường mầm non chủ yếu được thể hiện thông qua những bức tranh. Tranh
sáng tạo của trẻ có khi chỉ thêm vài chi tiết nhỏ trên nền tảng cái đã có hoặc hoàn toàn
tạo ra cái mới lạ. Đặc biệt, trẻ 5-6 tuổi đã có được vốn biểu tượng phong phú và kỹ
năng vẽ tương đối hồn thiện thì việc phát triển tính sáng tạo cho trẻ ở lứa tuổi này là
rất cần thiết.
Hiện nay, việc tổ chức hoạt động vẽ ở trường mầm non chủ yếu được thực hiện
trong tiết học với ba loại giờ (mẫu, đề tài, tùy thích) và chưa được quan tâm đúng mức.
Qua khảo sát các giờ học vẽ tại một số trường mầm non tỉnh An Giang cho thấy,
HĐVTĐT được tổ chức với nội dung chưa phong phú, bằng những phương pháp hình thức cịn mang tính áp đặt, trẻ thực hiện q trình tạo hình một cách thụ động


2
thiếu nguồn cảm hứng. Đa số GV chưa chú ý đến việc sử dụng các biện pháp bồi
dưỡng và tạo điều kiện cho trẻ sáng tạo, mà chỉ tập trung gợi ý để trẻ thực hiện theo
đúng mong muốn của bản thân, điều này làm cản trở sự phát triển nhận thức thẩm mỹ
và làm mai một khả năng sáng tạo của trẻ.
Có thể đây là nội dung khơng mới nhưng với đề tài “Biện pháp phát huy khả

năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động vẽ” sẽ khái quát phần nào
về lý luận của sự sáng tạo, khả năng sáng tạo và biện pháp phát huy khả năng sáng tạo
của trẻ mầm non trong HĐVTĐT.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo
của trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo đề tài.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
3.2. Khảo sát thực trạng biện pháp giáo dục khả năng sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi
trong hoạt động vẽ theo đề tài ở một số trường mầm non
3.3. Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp nhằm phát huy khả năng sáng tạo
của trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động vẽ theo đề tài ở tỉnh An Giang.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp phát huy khả năng sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động
vẽ theo đề tài.
4.2. Khách thể nghiên cứu:
Quá trình tổ chức HĐVTĐT cho trẻ 5-6 tuổi.
5. Giả thuyết khoa học

Khả năng sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐVTĐT ở tỉnh An Giang sẽ được
phát huy nếu áp dụng hợp lý một số biện pháp được đề xuất.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Nội dung nghiên cứu:
Nghiên cứu một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi
trong hoạt động vẽ theo đề tài.


3
6.2. Địa bàn nghiên cứu:

- Khảo sát thực trạng tại 4 trường mẫu giáo thuộc tỉnh An Giang: Mẫu giáo
Mai Vàng, mẫu giáo Hoa Lan, mẫu giáo An Châu và mẫu giáo Hướng Dương
- Thực nghiệm một số biện pháp tại trường mẫu giáo Hướng Dương thuộc
tỉnh An Giang
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu lý luận có liên
quan đến đề tài nghiên cứu.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm: dự giờ, quan sát hoạt động vẽ của trẻ
5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non ở tỉnh An Giang.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu (Anket): sử dụng phiếu điều tra để
thu thập ý kiến của giáo viên về thực trạng tổ chức HĐVTĐT.
7.2.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo các ý kiến chuyên gia,
giảng viên trong ngành mầm non về khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong
hoạt động HĐVTĐT.
7.2.4. Phương pháp phân tích sản phẩm vẽ theo đề tài: GV xây dựng tiêu
chí đánh giá mức độ sáng tạo của trẻ và tổ chức cho trẻ vẽ theo một đề tài cụ thể nhằm
tìm hiểu khả năng sáng tạo của trẻ trong HĐVTĐT theo các tiêu chí đưa ra.
7.2.5. Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm một số biện pháp đã đề xuất
nhằm kiểm chứng tính khả thi của chúng.
7.2.6. Phương pháp trắc nghiệm: Sử dụng Test sáng tạo TSD-Z của
Klaus.K.Urban để đánh giá khả năng sáng tạo của trẻ trước và sau khi thực nghiệm
7.3. Phương pháp thống kê toán học:
Sử dụng Microsoft Excel để xử lý các số liệu đã thu thập được trong q trình
điều tra.
8. Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về sáng tạo, sáng tạo của trẻ mầm non và sáng tạo
trong HĐVTĐT của trẻ mầm non.



4
- Thực trạng về khả năng sáng tạo và sáng tạo trong HĐVTĐT của trẻ 5 - 6
tuổi, đồng thời tìm hiểu thực trạng nhận thức của GV về sáng tạo của trẻ 5 - 6 ở một số
trường mầm non thuộc tỉnh An Giang.
- Xây dựng một số biện pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6
tuổi trong HĐVTĐT.


5

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÁT HUY
KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
TRONG HOẠT ĐỘNG VẼ THEO ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Khoa học sáng tạo xuất hiện từ rất xa xưa, khi con người bắt đầu xuất hiện thì
khoa học sáng tạo đã hiện hữu để phục vụ cho nhu cầu của con người. Từ việc tìm ra
phương thức săn bắt hái lượm, cho đến việc tận dụng tất cả những điều kiện xung
quanh để sống, tồn tại và phát triển là những minh chứng cho sự tồn tại của khoa học
sáng tạo dù đó chỉ là những mầm móng hay những biểu hiện ban đầu [46, tr.5].
Vào cuối thế kỷ thứ II, nhà toán học Papp người Hy Lạp, ở thành phố
Alexandria là người đã tiên phong khẳng định sự xuất hiện của khoa học sáng tạo
(Heuristics) tại thành phố Alexandria. Có thể nói, ơng là người đặt nền móng chính
thức cho khoa học sáng tạo.
Theo quan niệm lúc bấy giờ, Heuristics là khoa học về các phương pháp và qui
tắc sáng chế, phát minh trong mọi lĩnh vực như khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, văn
học, chính trị, triết học, tốn học… Cách đặt vấn đề khá rộng và trừu tượng này đã làm
nản chí những nhà nghiên cứu kế tiếp trong lĩnh vực tư duy, sáng tạo. Heuristics đã tồn
tại đến 17 thế kỉ, nhưng trên thực tế ít người biết đến nó. Mãi đến năm 1945, nhà tốn

học Mỹ (gốc Hungari) G. Polya viết về Heuristics như sau: “Đó là lĩnh vực nghiên cứu
khơng có hình dáng rõ ràng, nó thuộc về lơgic học, triết học, tâm lý học…Nó thường
được trình bày trên những nét chung, ít khi đi vào chi tiết và thực ra bị cố tình quên đi
trong thời gian hiện nay” [46, tr.6].
Thật ra thì động lực phát triển của bất cứ ngành khoa học nào cũng là những
yêu cầu phát triển của kinh tế xã hội. Chính vì thế mà sau chiến tranh thế giới lần thứ
hai, kinh tế - xã hội thế giới đứng trước một tình hình mới, tình thế cạnh tranh hịa
bình trên tồn cầu. Trong tình thế này cũng như mọi khoa học khác, tâm lý học sáng
tạo được phát triển vượt bậc, đặc biệt những nước tiên phong về khoa học kỹ thuật
cũng như kinh tế xã hội [26, tr.6].


6
Giữa thế kỷ XIX, các nhà xã hội đã khẳng định bản chất của tính tích cực sáng
tạo là hoạt động tưởng tượng, nhờ hoạt động tưởng tượng mà kích thích khả năng sáng
tạo. Quan điểm này gần với quan điểm của các nhà tâm lý học ngày nay.
Từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, ở một gốc nhìn khác, khoa học sáng tạo bắt
đầu phát triển dựa trên sự phát triển của cách mạng khoa học-kỹ thuật. Các nhà khoa
học Mỹ đã tuyên bố rằng, đối với Mỹ việc vạch ra và bồi dưỡng những nhân cách sáng
tạo là vấn đề có ý nghĩa quốc gia. Năm 1940, A.Osborn ở Mỹ đã cho ra đời quyển sách
đầu tiên về vấn đề sáng tạo. Theo kinh nghiệm bản thân, sự thành công của ông trong
lĩnh vực kinh doanh là nhờ vào sự phát minh ra phương pháp “Tập kích não”, đã gây
được sự chú ý đặc biệt đối với những người quan tâm về vấn đề sáng tạo, vì phương
pháp này dựa trên cơ sở của hoạt động sáng tạo.
Các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) cũng đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về
sáng tạo đóng góp cho xã hội, nổi bật như nhà nghiên cứu Genrich Sanfovich
Altshuller cùng với cộng sự đã xây dựng nên lý thuyết giải các bài toán sáng chế, được
gọi là Triz [46, tr.6].
Vấn đề sáng tạo được nghiên cứu hệ thống vào những năm 50 của thế kỷ XX, khi
chủ tịch hội tâm lý học Mỹ J.P Guilford, nguyên là giáo sư trường đại học tổng hợp ở

miền nam California. Ơng nhận xét: “Khơng có một hiện tượng tâm lý nào đã bị coi
thường trong suốt một thời gian dài và đồng thời lại được quan tâm trở lại một cách
bất ngờ như là hiện tượng sáng tạo” (J.P Guilford, 1967). Từ đây việc bồi dưỡng nhân
cách sáng tạo là vơ cùng cần thiết, “hoạt động sáng tạo có ảnh hưởng to lớn không chỉ
đến sự tiến bộ khoa học, mà cịn đến tồn bộ xã hội nói chung và dân tộc nào biết nhận
ra được những nhân cách sáng tạo một cách tốt nhất, biết phát triển họ và biết tạo ra
một cách tốt nhất cho họ những điều kiện thuận lợi nhất, thì dân tộc đó sẽ có được
những ưu thế lớn lao” (C. W Taylor, 1964) [53, tr.2].
Từ cuối những năm 60 và đầu những năm 70 không chỉ Mỹ, Liên Xô mà cả
Tây Âu, đặc biệt là Đức, do nhận ra ý nghĩa phát triển kinh tế, xã hội, khoa học kỹ
thuật cũng như ý nghĩa phát triển cá nhân sáng tạo mà vấn đề sáng tạo dưới góc nhìn
mới của tâm lý học, giáo dục học, xã hội học đã được quan tâm thích đáng. Nhất là
trong tâm lý học phát triển, tâm lý học nhân cách và sau đó là trong giáo dục học, lý


7
luận dạy học, phương pháp dạy học kỹ thuật, nghệ thuật quân sự, an ninh... [26, tr.7].
Ngày nay, tâm lý học đã hiểu được bản chất, cấu trúc cũng như vai trò của sáng
tạo trong sự phát triển của cá nhân và xã hội. Các nhà tâm lý học ngày càng có trong
tay những bộ trắc nghiệm có khả năng đo một cách chính xác về tiềm năng sáng tạo
của con người ở các độ tuổi khác nhau. Vì vậy, các nước trên thế giới đã và đang đầu
tư vào những cơng trình nghiên cứu về sự sáng tạo để ngày càng phát triển hơn về
tiềm năng sáng tạo của con người.
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Bên cạnh sự phát triển, nghiên cứu về vấn đề sáng tạo của các nước trên thế
giới, ở Việt Nam, vấn đề hoạt động sáng tạo và những tài năng sáng tạo rất được Đảng
và Nhà nước quan tâm. Nhiều hoạt động thể hiện sự chăm lo, bồi dưỡng, khuyến
khích những tài năng sáng tạo được tổ chức hàng năm: Hội thi sáng chế kỹ thuật, tổ
chức hỗ trợ sáng tạo khoa học và công nghệ Việt Nam thuộc Viện Khoa học Việt Nam
và Trung tâm sáng chế khoa học kỹ thuật thuộc ĐHQG TPHCM và nhiều hội thi tài

năng được tổ chức trong các trường học.
Năm 1990, Viện khoa học giáo dục thuộc Bộ giáo dục đào tạo là cơ quan khoa
học đầu tiên ở Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu khả năng sáng tạo của học sinh. Các
cơng trình nghiên cứu này quan tâm đến bản chất, cấu trúc tâm lý của sáng tạo,
phương pháp chẩn đoán, đánh giá khả năng sáng tạo và con đường giáo dục, phát huy
khả năng sáng tạo của người Việt Nam. Bên cạnh đó, một số các cơng trình nghiên
cứu về sáng tạo và biện pháp phát huy khả năng sáng tạo còn khá mới mẻ, với những
đóng góp của các Tiến sĩ, Thạc sĩ như sau:
- Luận án Tiến sĩ của Lê Thanh Thủy nghiên cứu về: “Ảnh hưởng của tri giác tới
tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ của trẻ 5 - 6 tuổi”.
- Luận án Tiến sĩ của Trương Bích Hà nghiên cứu về: “Tưởng tượng sáng tạo
hành động của sinh viên trường Đại học sân khấu điện ảnh”.
- Luận văn Thạc sĩ của Phạm Thu Hương nghiên cứu: “Tiềm năng sáng tạo và
biểu hiện của nó trong vận động theo nhạc của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi”.


8
- Luận văn Thạc sĩ của Vũ Thị Kiều Trang nghiên cứu về: “Phát huy tính sáng
tạo của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong trò chơi lắp ghép xây dựng từ các nguyên vật liệu
thiên nhiên và phế liệu”.
- Luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Hoàng Trang nghiên cứu về: “Một số biện pháp
phát huy khả năng sáng tạo của trẻ trong vận động theo nhạc”
- Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục của Nguyễn Thị Ngọc Kim nghiên cứu về:
“Một số biện pháp bồi dưỡng khả năng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thơng qua
hoạt động vẽ theo ý thích”.
- Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học của Ngô Thị Tuyết Mai nghiên cứu về: “Biện
pháp phát huy khả năng sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi đóng kịch”.
- Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học của Phạm Thị Nguyên Chi nghiên cứu về:
“Biện pháp giáo dục tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại góc tạo hình”.
- Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học của Lại Thị Kim Cúc về “Một số biện pháp phát

huy khả năng sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động ca hát ở trường mầm non”
Ngoài ra, một số tác giả về sách Tâm lý học sáng tạo, giáo trình Tâm lý học sáng
tạo cũng như các bài giảng về Tâm lý học sáng tạo như: PGS – TS. Nguyễn Huy Tú,
PGS – TS. Huỳnh Văn Sơn, TS. Nguyễn Đức Uy, TS. Trần Tuấn Lộ, TS. Vũ Kim
Thanh, Ths. Đinh Minh Châu, Ths. Trần Thị Nga, Ths. Lê Văn Huy… cũng đã góp
phần xây dựng hệ thống lý luận về sáng tạo một cách hoàn chỉnh hơn.
Trong giáo dục mầm non, nhất là ở độ 5 - 6 tuổi, việc phát huy khả năng sáng tạo
của trẻ thơng qua hoạt động tạo hình nói cung và HĐVTĐT nói riêng là vấn đề mang ý
nghĩa thực tiễn cao. Trẻ phải được sống trong môi trường lành mạnh, được hướng dẫn,
tổ chức các hoạt động và được thể hiện những ước mơ, suy nghĩ của mình một cách
sáng tạo. Đó cũng là một đóng góp nhỏ trong cơng cuộc góp phần xây dựng thế hệ
tương lai cho đất nước.
1.2. Cơ sở lý luận về vấn đề sáng tạo
1.2.1. Khái niệm chung về sáng tạo
Có nhiều quan điểm khác nhau về sáng tạo


9
Trước hết, hiểu theo nghĩa đơn giản theo từ điển Tiếng Việt thì sáng tạo được
hiểu là “tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, khơng bị gị bó, phụ thuộc vào cái đã có"
[43, tr.847].
Theo từ điển Triết học: "Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra
những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất. Các loại hình sáng tạo được xác định bởi
đặc trưng nghề nghiệp như khoa học kỹ thuật, tổ chức quân sự. Có thể nói sáng tạo có
mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh thần” [16, tr.7].
Theo nhà phân tâm học Freud- cha đẻ của Phân tâm học: “Sáng tạo cũng giống
như giấc mơ hiện hình, là sự tiếp tục và sự thay thế trị chơi trẻ con cũ”. Với khái
niệm này Sigmund Freud cũng nhìn sáng tạo dưới góc nhìn của vơ thức con người
trong trạng thái thăng hoa [46, tr.25]. Ơng nói: “Thay vì chơi, giờ đây nó tưởng tượng.
Nó xây dựng những tịa lâu đài trong khơng khí, tạo ra những cái mà người ta gọi là

những giấc mơ hiện hình” [66, tr.30].
E.P.Torrance (Mĩ): "Sáng tạo là quá trình xác định các giả thuyết nghiên cứu
chúng và tìm ra kết quả". Đây là quan niệm khá rộng về sáng tạo vì mọi quá trình giải
quyết vấn đề, giải quyết nhiệm vụ đều là hoạt động sáng tạo [46, tr.25].
J.P.Guilford (Mĩ): Tư duy sáng tạo là sự tìm kiếm và thể hiện những phương pháp
logic trong tình huống có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp khác nhau và mới của
việc giải quyết vấn đề, giải quyết nhiệm vụ. Quan niệm này của ông đã xem sáng tạo
như là một thuộc tính, là một phẩm chất của tư duy nên gọi là tư duy sáng tạo. Đặc trưng
của tư duy sáng tạo theo ông là sự tìm kiếm những phương pháp logic, những phương
pháp mới, những phương pháp khác nhau của việc giải quyết vấn đề [46, tr.25].
Nhà Tâm lý học Willson (Mĩ): "Sáng tạo là quá trình mà kết quả là tạo ra những
kết hợp mới cần thiết từ các ý tưởng dạng năng lượng, các đơn vị thông tin, các khách
thể hay tập hợp của hai ba yếu tố được nêu ra" [46, tr.25], [66, tr.18].
GS. Chu Quang Tiềm, Trường Đại học Bắc Kinh trong cuốn sách "Tâm Lí Văn
Nghệ", ơng cũng nói về sáng tạo gắn với cái mới: "Sáng tạo là căn cứ vào những ý
tưởng đã có sẵn làm tài liệu rồi cắt xén, gạt bỏ, chọn lọc tổng hợp để tạo thành một
hình tượng mới" [54, tr.295].


10
Theo L.X Vưgốtxki khẳng định: “Sự sáng tạo thật ra khơng chỉ có ở nơi nó tạo ra
những tác phẩm lịch sử vĩ đại, mà ở khắp nơi nào con người tưởng tượng, phối hợp,
biến đổi và tạo ra một cái gì mới cho dù cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi nữa so với
những sáng tạo của thiên tài” [69, tr.13]. Ơng cịn cho rằng: “Hoạt động sáng tạo là bất
cứ hoạt động nào của con người tạo ra được một cái gì mới, khơng kể rằng cái được
tạo ra ấy là một vật nào đó của thế giới bên ngồi hay một cấu tạo nào đó của trí tuệ
hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản thân con người” [69, tr.5].
X. L Rubinxtêin: “Sự sáng tạo là hoạt động của con người tạo ra những chất
liệu mới có ý nghĩa xã hội và những chất liệu mới ấy có thể là giá trị vật chất hoặc giá
trị tinh thần” [46, tr.25].

J.H.Lavsa (Tiệp Khắc cũ): “Sáng tạo là sự lựa chọn và sử dụng những phương
tiện mới, cách giải quyết mới” [46, tr.25].
L.Durich: “Sáng tạo với chức năng trội là tạo ra, làm xuất hiện cái mới” [46,
tr.26].
Ở Việt Nam, cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về sáng tạo. Điển hình như
Nhóm tác giả Trần Hiệp - Đỗ Long trong quyển "Sổ tay Tâm lí học": "Sáng tạo là
hoạt động tạo lập, phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần. Sáng tạo đòi hỏi cá
nhân phải phát huy năng lực, phải có động cơ tri thức, kĩ năng và với điều kiện như
vậy mới tạo nên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc” [46, tr.26].
Tác giả Nguyễn Đức Uy: “Sáng tạo đó là sự đột khởi thành hành động của một
sản phẩm liên hệ mới mẻ nảy sinh từ sự độc đáo của một cá nhân - một đằng là những
tư liệu biến cố, nhân sự hay những hoàn cảnh của đời người ấy - đằng khác” [65, tr.9].
PGS.TS. Nguyễn Huy Tú cho rằng: “Sáng tạo thể hiện khi con người đứng trước
hoàn cảnh có vấn đề. Q trình sáng tạo là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ
đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý
tưởng mới, độc đáo, hợp lí trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó, người sáng tạo
gạt bỏ những cái cũ và tìm được các giải pháp mới, độc đáo và thích hợp cho vấn đề
đặt ra” [61, tr.5].
Như vậy, mỗi quan niệm khác nhau có thể hướng đến một khái niệm sáng tạo
khác nhau. Tuy nhiên, không thể không ghi nhận điểm chung mà gần như tất cả các


11
khái niệm đều đồng tình là sáng tạo phải là quá trình tạo ra hay hướng đến “cái mới”,
dù rằng cái mới này được nhìn nhận ở góc độ nào hay đặt ở đâu.
1.2.2. Những đặc điểm của sáng tạo
Sáng tạo được bộc lộ ở ba tính chất hay ba thuộc tính cơ bản: tính mới mẻ,
tính độc lập và tính tối lợi [61, tr.3-4].
- Tính mới mẻ: bộc lộ ở tính mới mẻ trong sản phẩm của tư duy hay hành
động, tính mới mẻ này có thể là đối với cá nhân hoặc đối với xã hội. Khi đề cập

đến sự sáng tạo của người trưởng thành, của nhà khoa học, nhà phát minh sáng chế,
sáng tác…là nói đến tính mới mẻ trên bình diện xã hội.
Ở lứa tuổi học sinh, trong quá trình sáng tạo, cái mới được phát hiện khơng
nhất thiết phải có ý nghĩa tồn xã hội mà chỉ là đối với bản thân mình. Do đó sự
sáng tạo cuả học sinh thường khơng mang lại cái mới cho toàn xã hội nhưng hoạt
động sáng tạo này có ý nghĩa xã hội rất lớn vì ở đó nhân cách trẻ được rèn luyện để
trở thành những người sáng tạo sau này cho xã hội.
- Tính độc lập trong tư duy và hành động là đặc trưng thứ hai của sáng tạo.
Chính tư duy độc lập làm tiền đề nảy sinh những ý tưởng mới, phương pháp mới,
giải pháp mới. Người sáng tạo ln có khuynh hướng tránh lặp lại cách giải quyết
cũ, họ hoài nghi, muốn từ bỏ cách truyền thống, có khi từ bỏ cả mục đích truyền
thống. Họ cố gắng đưa ra các ý tưởng mới, cách thức mới để thực thi ý tưởng độc
đáo, khác lạ với thơng thường ấy của mình. Điều kiện quan trọng để phát triển tính
độc lập tư duy là việc đặt trẻ em và người lớn trước vấn đề mà họ phải đi đến đích
bằng con đường giải quyết vấn đề đó.
Theo Raja Roy Singh: “Nêu vấn đề và giải quyết vấn đề sẽ trở thành công
việc chuyển giao tẻ nhạt nếu như vấn đề đó được chuyển tới người học chứ không
phải người học phát hiện và nêu ra” [66, tr.16].
- Tính hiện thực được thể hiện trong giá trị sản phẩm mới. Quá trình sáng
tạo tạo ra sản phẩm mới ln có mối liên quan đến hiện thực. Sáng tạo không phải là
sự đoạn tuyệt của hiện thực mà là sự phản ánh của hiện thực tối đa nhưng trong tình
huống mới, chất lượng mới và mục đích mới.


12
Thông thường, người ta thường quan niệm rằng sáng tạo bao giờ cũng nhằm vươn
tới việc tạo ra cái mới, độc đáo, tốt hơn, có lợi hơn cho sự phát triển của xã hội. Điều
này có vẻ trái ngược khi người ta nghiên cứu các sản phẩm sáng tạo của trẻ: không độc
đáo hơn, không đẹp hơn, không lợi hơn nhưng ở đây chúng ta đã tập cho trẻ học cách
sáng tạo, để thể hiện nhu cầu tự nhiên, vốn có của trẻ khơng bị phụ thuộc vào một cơng

thức, một giải pháp, một đường mịn có sẵn. Chúng ta giúp trẻ trở thành người sáng tạo.
Như vậy, việc giúp cho trẻ trở thành người sáng tạo là việc có ý nghĩa xã hội to lớn mà
ngay chính đứa trẻ cũng chưa ý thức được, mà trẻ chỉ thấy sự thoải mái được thực hiện
những điều chúng tưởng tượng ra.
Tóm lại, xét trên bình diện tồn xã hội thì học tập là hoạt động tái tạo, nhưng
trên bình diện cá nhân thì hoạt động học tập là hoạt động sáng tạo, sáng tạo cho bản
thân mình, vì vậy được gọi là sáng tạo đặc biệt. Còn sáng tạo khoa học là sáng tạo
cho người khác.
1.2.3. Cơ sở sinh lý và cơ chế tâm lý của sáng tạo
1.2.3.1. Cơ sở sinh lý của sáng tạo
Theo giáo sư Trần Trọng Thủy giữa bán cầu não trái và bán cầu não phải có sự
khác biệt nhất định. Sự khác biệt về chức năng của hai bán cầu não được đánh giá bởi
các hoạt động của mỗi bán cầu não: bán cầu não trái là trung tâm điều khiển các chức
năng trí tuệ như trí nhớ, ngơn ngữ, logic, viết, sắp xếp, phân tích, phân loại, tư duy hội
tụ. Bán cầu não phải là trung tâm điều khiển các chức năng như trực giác, ngoại cảm,
thái độ, cảm xúc, các liên hệ thị giác – không gian, cảm nhận âm nhạc, nhịp điệu, vũ
điệu, các hoạt động và có sự phối hợp cơ thể, các quá trình tư duy phân kỳ. Tư duy của
não phải là tố chất của sự sáng tạo [25, tr.16].
Các chức năng của não trái có đặc điểm là tuần tự và hệ thống, trong khi não phải
có đặc điểm là ngẫu hứng và tản mạn. Não trái có thể ghép các mảnh rời rạc thành một
tổng thể có tổ chức, trong khi não phải theo bản năng nhìn thấy cái tổng thể trước, sau
đó mới đến từng phần nhỏ. Hai bán cầu não cần phải hoạt động cân bằng và phối hợp
với nhau để con người phát triển toàn diện, hài hòa và sức khỏe tinh thần cũng như thể
chất được cân bằng (A.W.Mubzert, 1994) [25, tr.16].
Chúng ta vốn coi trọng những người có tư duy não trái. Điều này thể hiện rõ nhất


13
trong trường học. Các trường học phần lớn có xu hướng khuyến khích và ca ngợi những
học sinh học thuộc bài và ln vâng lời thầy cơ. Vì vậy, những cá nhân có tư duy não

phải chiếm ưu thế trở nên lạc điệu so với tiếng trống chung của nhà trường. Điều này
không chỉ hạn chế các tài năng trẻ trong việc học, thể hiện bản thân qua những hoạt
động sáng tạo thuộc thị giác, không gian, thể chất và ngẫu hứng.
Tóm lại, để tạo điều kiện cho trẻ được sáng tạo thì cần phải làm cho não phải phát
triển. Vẫn biết các điều kiện bẩm sinh, di truyền có ảnh hưởng nhất định tới khả năng
sáng tạo của cá nhân. Tuy nhiên, môi trường sống mới là yếu tố quyết định mức độ sáng
tạo của mỗi người, đặc biệt là mơi trường giáo dục. Để có những cá nhân sáng tạo đáp
ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, hơn ai hết, các nhà giáo dục phải là những
người đầu tiên quan tâm tới việc cải cách nội dung, phương pháp giáo dục học sinh. Đặc
biệt là đối với trẻ mầm non đang ở giai đoạn bắt đầu thể hiện khả năng sáng tạo.
1.2.3.2. Cơ chế tâm lý của sáng tạo
Có thể nói, nguồn gốc của hoạt động sáng tạo là nhu cầu sáng tạo của xã hội, của
con người. Trong những hồn cảnh, tình huống khó khăn, con người có nhu cầu giải
quyết nhiệm vụ mới. Do đó, con người phải nổ lực, tìm kiếm, khám phá, phải nổ lực
vượt qua khó khăn để hồn thành nhiệm vụ đó. Chính vì vậy mà xuất hiện hoạt động
sáng tạo. Do nhu cầu phát triển của nền văn minh công nghiệp, của khoa học kỹ thuật,
của công nghệ thông tin… đã xuất hiện cụ thể như: máy hơi nước (James Walt), động
cơ Diesel (Diessel), ứng dụng phần mềm Microssoff trong tin học (Bill Gates)…
Quá trình sáng tạo diễn ra một cách có quy luật tức là tuân theo những thời kỳ,
những giai đoạn nhất định. Chẳng hạn như L.X.Xumbaev chia hoạt động sáng tạo làm
3 giai đoạn:
1. Hoạt động cảm hứng, tưởng tượng, ở giai đoạn này xuất hiện ý tưởng sáng tạo
2. Sắp đặt logic những suy nghĩ, tư tưởng nhờ các thao tác khái quát hóa, trừu
tượng hóa của tư duy.
3. Thực hiện ý tưởng ấy.
Năm 1926, Wallas đã mơ tả q trình sáng tạo gồm 4 giai đoạn kế tiếp nhau như
sau:
- Giai đoạn chuẩn bị (Preparation): Một người đang tìm kiếm cách giải quyết



14
sáng tạo đối với một vấn đề quan trọng thì nói chung phải tiêu tốn một thời gian dài
nung nấu với vấn đề đó, thu thập các tri thức có liên quan và nghiền ngẫm nó.
- Giai đoạn ấp ủ (Incubation): Những cách giải quyết sáng tạo thường nảy sinh
sau một thời gian ấp ủ - đó là khoảng thời gian mà trong đó con người ngừng suy nghĩ
tích cực về vấn đề cần giải quyết và chuyển sang những việc khác. Thời gian ấp ủ có
thể làm cho con người có cơ hội để phục hồi sau giai đoạn chuẩn bị căng thẳng, mệt
nhọc. trong giai đoạn ấp ủ, hoạt động bổ sung với vấn đề được quan tâm có thể diễn ra
thậm chí trong trạng thái vơ thức, ví dụ trong giấc ngủ.
- Giai đoạn chiếu sáng (Illumination): sáng tạo thường xuất hiện trong sự bừng
sáng bất ngờ (Insight). Tại thời điểm đó, con người đột nhiên nhìn thấy, dưới dạng
chưa hồn chỉnh, sự le lói ban đầu của giải pháp mà họ đang phải tìm kiếm trong hàng
tháng, thậm chí trong hàng năm trời.
- Giai đoạn xác minh (Verification): giai đoạn chiếu sáng chưa phải là giai đoạn
kết thúc q trình sáng tạo, thường phải có sự sàng lọc cẩn thận tiếp theo. Ý tưởng mới
mẻ phải được tơi luyện, phải được chuyển sang dạng có thể thử nghiệm được, rồi thử
nghiệm thực sự. Chỉ khi nào các chứng cứ chỉ ra rằng nó là đúng, thì giải pháp sáng
tạo mới được khẳng định.
Mơ hình 4 giai đoạn của Walles về quá trình sáng tạo cho chúng ta một cái khung
quan niệm (Conceptual framework) để phân tích sự sáng tạo một cách có hiệu quả.
Trong thực tế, q trình sáng tạo diễn ra rất linh hoạt. Khơng phải giai đoạn sau
bao giờ cũng được bắt đầu sau khi hoàn thành giai đoạn trước. Tuy rằng mỗi giai đoạn
là một thành phần trọn vẹn và cần thiết của quá trình sáng tạo nhưng chúng thường
đan xen vào nhau, có khi ở giai đoạn kết thúc cơng việc có thể lại có sự điều chỉnh ý
đồ ban đầu và khi có được kết quả ở một mức độ nào đó lại gây bất ngờ cho nhà sáng
tạo mà ta khơng nhìn thấy từ trước hoặc lường trước.
Kết quả của bất kỳ một hoạt động nào cũng đều tạo ra sản phẩm, chỉ khác nhau ở
chỗ sản phẩm sáng tạo hay không sáng tạo [12, tr.18].
1.2.4. Các cấp độ của sáng tạo
Theo nhà tâm lý học người Mỹ C.W.Taylor, sáng tạo có thể phân ra 5 cấp độ

khác nhau như sau:


15
Cấp độ 1: Sáng tạo biểu hiện là dạng cơ bản nhất của sáng tạo, khơng địi hỏi
tính độc đáo hay kỹ năng quan trọng nào. Đặc trưng của cấp độ sáng tạo này là tính
bộc phát “hứng khởi” và sự tự do khoáng đạt.
Cấp độ 2: Sáng tạo chế tạo là bậc cao hơn sáng tạo biểu hiện. Nó địi hỏi kỹ
năng nhất định (xử lý thơng tin hoặc kỹ năng kỹ thuật…) để thể hiện rõ ràng, chính
xác các ý kiến của cá nhân. Ở cấp độ này tính tự do, hứng khởi bộc phát đã nhường
bước cho các quy tắc trong khi thể hiện cái tôi của người sáng tạo.
Cấp độ 3: Sáng tạo phát kiến có đặc trưng là sự phát hiện hoặc “tìm ra” do
“nhìn thấy” các quan hệ mới giữa các thông tin trước đây. Đây chưa phải là cấp bậc
sáng tạo cao nhất mà chỉ là chế biến các thông tin cũ và sắp xếp lại chúng để đi đến
các quan hệ mới và đó chính là sự xuất hiện sáng kiến hay phát kiến.
Cấp độ 4: Sáng tạo cải tiến (đổi mới, cải cách) là cấp bậc sáng tạo cao. Nó
thể hiện sự am hiểu sâu sắc các kiến thức khoa học hoặc nghệ thuật, kỹ thuật hay
sản xuất, tức đòi hỏi một trình độ trí tuệ nhất định. Từ đó xây dựng được các ý
tưởng cải tạo, cải cách có ý nghĩa xã hội và khoa học kỹ thuật. Lackben cho rằng dự
án trong đầu càng xa với ban đầu bao nhiêu thì sự sáng tạo càng lớn bấy nhiêu
Cấp độ 5: Sáng tạo bậc cao, tột đỉnh của quá trình sáng tạo. Người ta đưa ra
những ý tưởng mới hoàn tồn, thậm chí nảy sinh những ngành nghề mới, trường
phái mới, chương trình mới… vượt qua trí tuệ đương thời. Đại diện cho những
người đạt cấp bậc này là Einstein trong vật lý học, Picasso trong hội họa, Chopin
trong âm nhạc, Darwin trong sinh vật học, K. Marx, Hồ Chí Minh trong xã hội và
khoa học chính trị [25, tr.21].
Sáng tạo của trẻ em thường ở cấp bậc thấp nhất là sáng tạo biểu hiện, đây
là bậc quan trọng nhất của sáng tạo, vì khơng có nó thì chẳng có một chút sáng tạo
nào cao hơn. Đặc trưng của cấp độ một là tính bộc phát, hứng khởi và tự do khống
đạt, nếu như hai đặc tính này bị hạn chế, bị gị ép vào khn phép ngay từ lúc nẩy

mầm thì rất có hại cho sự sáng tạo.
Hiện nay, trong hoạt động tạo hình giáo viên cũng đã quan tâm nhiều hơn trong
việc lựa chọn nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp và chuẩn bị nguyên vật liệu
phong phú hơn để giúp trẻ. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là trẻ cũng chỉ dừng lại ở mức


×