Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

(Luận văn thạc sĩ) pháp luật về bảo vệ người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.09 MB, 86 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN NGỌC BẢO TRÚC

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI GỬI
TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN TIỀN
GỬI CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN NGỌC BẢO TRÚC

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI GỬI
TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN TIỀN
GỬI CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018



LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Nguyễn Ngọc Bảo Trúc – mã số học viên 7701261175A, là học viên
Cao học Luật khóa 26, chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học
Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Pháp
luật về bảo vệ người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng”
(Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là
kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.Phạm
Duy Nghĩa. Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa
học của một số tác giả. Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính
xác và có thể kiểm chứng. Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là
hoàn toàn khách quan và trung thực.

Học viên thực hiện

Nguyễn Ngọc Bảo Trúc


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Phần mở đầu .............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1 BẢO VỆ NGƯỜI GỬI TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN
TIỀN GỬI CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG ................................................................ 5
1.1. Hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng ................................................ 5
1.1.1. Nhận tiền gửi là phương thức huy động tiền tiết kiệm trong dân cư
đáp ứng yêu cầu về vốn của nền kinh tế ................................................................... 5

1.1.2. Tình trạng thơng tin bất cân xứng và hiểu biết hạn chế về hoạt động
ngân hàng của người gửi tiền .................................................................................. 9
1.1.3. Tầm quan trọng của việc bảo vệ người gửi tiền trong hoạt động nhận
tiền gửi của các tổ chức tín dụng ............................................................................ 11
1.1.4. Các biện pháp bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận
tiền gửi của tổ chức tín dụng ................................................................................... 13
1.1.4.1. Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền bằng công cụ lãi suất nhận tiền
gửi.............................................................................................................................. 13
1.1.4.2. Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền thông qua quy định về dự trữ bắt
buộc ........................................................................................................................... 13
1.1.4.3. Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền thông qua các chế tài xử lý vi
phạm trong hoạt động nhận tiền gửi ......................................................................... 14
1.1.4.4. Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền thông qua quy định về bảo đảm
an toàn hoạt động ngân hàng.................................................................................... 15
1.2. Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của các tổ
chức tín dụng bằng pháp luật ................................................................................ 16
1.2.1. Bản chất của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt
động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng ............................................................... 16
1.2.2. Nội dung điều chỉnh bằng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi
tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng ...................................... 19


1.3. Các nhân tố tác động đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật về bảo vệ
quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng .. 25
1.3.1. Mức độ phát triển của thị trường ngân hàng ...................................... 25
1.3.2. Mức độ hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong
hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng........................................................ 26
1.3.3. Mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia ............................................. 27
1.3.4. Mức độ linh hoạt trong điều hành chính sách lãi suất huy động ....... 29
1.3.5. Tâm lí thói quen tiêu dùng, lợi ích của người gửi tiền ...................... 29

Kết luận chương 1 ................................................................................................... 31
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CÁC QUY ĐỊNH BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI
GỬI TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN TIỀN GỬI CỦA TỔ CHỨC TÍN
DỤNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM ............................................................. 32
2.1. Thực trạng quy định về điều kiện thành lập, điều kiện khai trương hoạt
động, mở chi nhánh, văn phịng đại diện của tổ chức tín dụng có liên quan đến
bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín
dụng .......................................................................................................................... 32
2.2. Thực trạng quy định trách nhiệm tham gia bảo hiểm tiền gửi của tổ chức
tín dụng như một trong các biện pháp bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ............ 36
2.3. Thực trạng quy định yêu cầu bảo đảm bí mật thơng tin khách hàng – một
biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ....................................... 39
2.4. Thực trạng các quy định về sự tham gia của người gửi tiền trong thủ tục
kiểm soát đặc biệt, thủ tục phá sản tổ chức tín dụng – cơ sở bảo vệ quyền lợi
của người gửi tiền khi tổ chức tín dụng bị mất khả năng thanh toán, mất khả
năng chi trả .............................................................................................................. 41
2.5. Thực trạng quy định về trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước trong thanh
tra, giám sát hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng ................................ 43
2.6. Bất cập trong thực tiễn thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người gửi tiền
trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng ............................................ 46
2.6.1. Việc mở rộng mạng lưới tổ chức tín dụng mới chỉ tập trung và phát
triển về quy mô, chưa chú trọng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động ngân
hàng cũng như bảo vệ người gửi tiền ..................................................................... 46
2.6.2. Pháp luật bảo hiểm tiền gửi còn nhiều bất cập trong bảo vệ quyền lợi
người gửi tiền .......................................................................................................... 48


2.6.3. Quy định u cầu bảo đảm bí mật thơng tin khách hàng chưa phát
huy được vai trò bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ................................................... 51
2.6.4. Bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát đặc biệt và

phá sản tổ chức tín dụng có ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền54
2.6.5. Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng chưa phát huy được vai trò
trong bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ..................................................................... 54
Kết luận chương 2 ................................................................................................... 57
Chương 3. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI GỬI TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN TIỀN GỬI
CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG ................................................................................. 58
3.1. Định hướng chính sách pháp luật nhằm bảo vệ hiệu quả hơn quyền lợi
người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng ................... 58
3.1.1. Phát huy vị trí, vai trị của tổ chức tín dụng trong việc cung ứng
nguồn vốn phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước ................................... 58
3.1.2. Đáp ứng yêu cầu xây dựng thị trường ngân hàng minh bạch, hiệu
quả ............................................................................................................................. 59
3.1.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức tín dụng trong nước
trong hoạt động nhận tiền gửi ................................................................................. 61
3.1.4. Bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của các thiết chế bảo vệ quyền lợi người
gửi tiền ...................................................................................................................... 62
3.1.5. Đáp ứng yêu cầu đổi mới hoạt động ngân hàng trong điều kiện hội
nhập quốc tế ............................................................................................................. 63
3.1.6. Xây dựng và bảo vệ niềm tin của công chúng, người gửi tiền vào hệ
thống tài chính ......................................................................................................... 64
3.2. Một số giải pháp góp phần hồn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi
ở Việt Nam hiện nay ................................................................................................ 65
3.2.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền
trong hoạt động nhận tiền gửi ................................................................................. 65
3.2.1.1. Sửa đổi, bổ sung các quy định về điều kiện thành lập, điều kiện
khai trương hoạt động, mở chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng
nhằm kiểm sốt sự gia tăng về số lượng tổ chức tín dụng ........................................ 65
3.2.1.2. Nâng hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi phù hợp với điều kiện

kinh tế xã hội hiện nay .............................................................................................. 67


3.2.1.3. Sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng cụ thể hóa trách nhiệm bảo
mật thơng tin tiền gửi của khách hàng ...................................................................... 68
3.2.1.4. Sửa đổi, bổ sung quy định về kiểm sốt đặc biệt, phá sản tổ chức
tín dụng của người gửi tiền ....................................................................................... 68
3.2.2. Các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về
bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ở Việt Nam hiện nay ............................................ 69
3.2.2.1. Bảo đảm khả năng thanh khoản của tổ chức tín dụng ................. 69
3.2.2.2. Nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về kiểm soát rủi ro hoạt động
của tổ chức tín dụng để bảo đảm khả năng thanh tốn cho tổ chức tín dụng .......... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
FDIC

Công ty Bảo hiểm tiền gửi liên bang Hoa Kỳ (Federal Deposit
Insurance Corporation)

ECHR

Công ước Châu Âu về nhân quyền (European Convention on
Human Rights)

DIA

Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Liên Bang Nga


WTO

Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)


1

Phần mở đầu
1. Đặt vấn đề
Trong thời gian vừa qua, ngành tài chính ngân hàng phát triển mạnh mẽ,
được xem là nhân tố cốt lõi của nền kinh tế. Nền kinh tế của một nước sẽ khó cân
bằng và hồi phục nếu lĩnh vực tài chính khơng giữ được sự ổn định. Một dẫn chứng,
kinh nghiệm thực tế tại Việt Nam trong những thập kỉ qua về việc bất ổn của hệ
thống tín dụng ngân hàng phải kể đến là sự đổ vỡ trên diện rộng của Quỹ tín dụng
nhân dân vào những năm 90 của hệ thống các hợp tác xã tín dụng trên cả nước. Hậu
quả của việc đổ vỡ này đã để lại cho nước ta nhiều bài học sâu sắc, đặc biệt là lòng
tin của người gửi tiền bị sụt giảm nghiêm trọng.
Tuy nhiên, nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng uy tín, sự vững
mạnh của hệ thống tài chính, tín dụng, Nhà nước đã tiến hành khắc phục những hậu
quả tồn đọng và lấy lại lòng tin từ nhân dân. Đây cũng là một trong những nội dung
trọng tâm để giữ vững sự tồn tại và phát triển năng lực cạnh tranh, chất lượng dịch
vụ là yếu tố chăm sóc, đảm bảo lợi ích khách hàng; điều này khơng những là tiêu
chí của riêng ngành tài chính ngân hàng mà cịn của tất cả các ngành kinh tế khác.
Vấn đề bảo vệ người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng có
vai trị hết sức quan trọng trong nền kinh tế nói chung, đặc biệt trong lĩnh vực tín
dụng nói riêng.
Để cất giữ tài sản, nơi người dân lựa chọn có thể là các tổ chức tín dụng. Tuy
nhiên, ở Việt Nam, khung pháp lý đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng chưa
nhiều và chưa bao quát lên toàn bộ các lĩnh vực mà người tiêu dùng sử dụng. Năm
2010, Quốc hội đã ban hành Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nhưng chủ yếu

tập trung trong việc xác định đối tượng bảo vệ là người tiêu dùng sử dụng dịch vụ
hàng hóa cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức đó. Việc
bảo vệ người gửi tiền hiện nay trong hệ thống pháp luật được sắp xếp rải rác, khơng
tập tung tại các luật chứng khốn, Luật bảo hiểm tiền gửi, …Thêm đó, từ ngày
15/1/2018, luật sửa đổi bổ sung Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành, quy
định về phá sản ngân hàng được áp dụng trên thực tế. Trường hợp này, người gửi
tiền có khả năng chỉ nhận được 75 triệu đồng từ khoản tiền bảo hiểm. Chỉ trong thời
gian ngắn vừa qua, quy định này đã gây nhiều ý kiến trái chiều trong dư luận, khiến
lòng tin của người dân đối với hệ thống các tổ chức tín dụng bị ảnh hưởng nghiêm
trọng.


2

Thêm vào đó, trong khoản thời gian gần đây có rất nhiều vụ đại án liên quan
đến ngành ngân hàng như các vụ án trọng điểm: Huyền Như – liên quan đến ngân
hàng Vietinbank, bầu Kiên – liên quan đến ngân hàng ACB, Ngân hàng Đại tín và
mới đây nhất là vụ án một khách hàng mất 245 tỷ tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng
Eximbank. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết các vụ án, việc xem xét để bảo vệ
quyền lợi của người gửi tiền vào ngân hàng hầu như rất ít được đề cập hoặc hồn
tồn khơng được đề cập đến. Trong khi một trong những nguồn thu chính của các
hoạt động của ngân hàng là từ tiền gửi của người dân. Việc không bảo vệ hoặc bảo
vệ không tốt quyền lợi của người gửi tiền vào ngân hàng không những gây thiệt hại
trực tiếp cho người dân gửi tiền vào ngân hàng mà còn ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình hoạt động và phát triển của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
Với mong muốn nghiên cứu chi tiết và cụ thể hóa các quy định hiện nay của
pháp luật Việt Nam trong vấn đế bảo vệ người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng, rủi
ro, vướng mắc khi áp dụng các quy định này trong thực tế, tôi thực hiện đề tài
“Pháp luật về bảo vệ người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức
tín dụng” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm phân tích thực trạng và vai trị của pháp luật trong
bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và đưa ra các giải pháp nhằm góp phần hồn thiện
pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ
chức tín dụng
3. Câu hỏi nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi:
- Người gửi tiền có thể gặp phải những nguy cơ bị xâm phạm quyền lợi như
thế nào?
- Pháp luật cần quy định những công cụ, biện pháp nào để bảo vệ quyền lợi
người gửi tiền.
-

Pháp luật Việt Nam hiện hành có thể bảo vệ tốt quyền lợi người gửi tiền
không?
Trong tương lai, các quy định này có cần thiết phải sửa đổi, bổ sung gì để
bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền.


3

4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định hiện hành của pháp luật về
bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và thực tiễn bảo vệ quyền lợi người gửi tiền theo
pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
5. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong đề tài này
nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền lợi của người gửi tiền
trong hoạt động nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng.
Phương pháp phân tích logic quy phạm được sử dụng để phân tích quy định

pháp luật Việt Nam ở Chương 2 và kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật ở
Chương 3. Phương pháp này giúp nhận diện, đánh giá những bất cập, hạn chế cũng
như tính khả thi trong quy định hiện hành
Phương pháp so sánh cũng được sử dụng trong đề tài thông qua việc so sánh
các quy định pháp luật về các hoạt động gửi tiền của một số quốc gia trên thế giới
để làm rõ điểm giống và khác nhau giữa quy định của pháp luật Việt Nam so với
các nước, đồng thời nhận diện xu hướng bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trên thế
giới làm cơ sở cho các kiến nghị, đề xuất.
6. Kết cấu dự kiến:
Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương:
- Chương 1: Bảo vệ người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức
tín dụng.
- Chương 2: Đánh giá các quy định bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong
hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam
- Chương 3: Một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người
gửi tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng
7. Các nghiên cứu trước đây
Đã có rất nhiều bài viết đăng trên các sách, báo, tạp chí trong nước xung
quanh các vấn đề bảo vệ quyền lợi người gửi tiền như:
- Cuốn chuyên khảo của Lê Thị Thu Thủy “Pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi tại
Việt Nam” (2008), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Chuyên khảo đã
đề cập một cách khái quát về sự hình thành của Bảo hiểm tiền gửi trên thế
giới; ở Việt Nam; một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiểm tiền gửi (khái
niệm, đặc trưng, hạn chế của bảo hiểm tiền gửi); nội dung pháp luật về bảo
hiểm tiền gửi và đề xuất một số phương hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về


4

bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam. Thế nhưng, chuyên khảo còn bỏ ngỏ nhiều

ván đề khác như: chưa xây dựng được hệ thống lý luận pháp luật về hoạt
động bảo hiểm tiền gửi; chưa có những đánh giá về bản chất pháp lý của
hoạt động bảo hiểm tiền gửi; chưa khảo sát toàn diện thực trạng pháp luật về
hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam …. Tuy nhiên, cuốn Chuyên khảo này
cũng đã trở thành tiền đề để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu các góc độ
-

pháp lý của hoạt động bảo hiểm tiền gửi.
Đào Trí Úc, Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền theo pháp luật về bảo hiểm
tiền gửi tại Việt Nam thực trạng và phương hướng hồn thiện” (2007), được
đăng trên Thơng tin Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, số 3, năm 2007. Bài viết đề
cập đến các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam trong

-

vấn đề bảo vệ người gửi tiền; đánh giá các yếu tố kinh tế, xã hội tác động
đến việc hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ người gửi
tiền tại các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
Bùi Hữu Toàn, “Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong điều kiện
hội nhập quốc tế” (2012) luận án Tiến sĩ được bảo vệ thành công tại Học
viện Khoa học xã hội vào tháng 8 năm 2012, đã phân tích khái quát các vấn
đề lý luận về bảo hiểm tiền gửi, ảnh hưởng của hội nhập quốc tế đến pháp

luật về bảo hiểm tiền gửi và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về
bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Ngồi ra, cịn nhiều bài báo của các chuyên gia pháp lý đăng tải trên các tạp
chí chuyên ngành như: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Dân chủ và pháp
luật…
Từ đó cho thấy, trên phương diện nghiên cứu và phạm vi luận văn nói riêng,
hiện nay vẫn chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề “bảo vệ quyền lợi người gửi

tiền trong hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng”. Thêm vào đó, trong bối
cảnh nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng đang gặp nhiều khó
khăn và thách thức, và việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền hiện đang được dư luận
quan tâm khá nhiều, nhất là khi Luật của các tổ chức tín dụng bổ sung sửa đổi vừa
được Quốc hội thơng qua


5

Chương 1
BẢO VỆ NGƯỜI GỬI TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN
TIỀN GỬI CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1.1. Hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng
1.1.1. Nhận tiền gửi là phương thức huy động tiền tiết kiệm trong dân cư
đáp ứng yêu cầu về vốn của nền kinh tế
Tổ chức tín dụng là trung gian tài chính thực hiện chức năng luân chuyển
nguồn vốn từ những người thừa vốn sang những người thiếu vốn. Để đáp ứng nhu
cầu vốn của người thiếu vốn, tổ chức tín dụng sử dụng vốn của mình hoặc những
nguồn vốn khác. Hoạt động cơ bản mang tính chức năng của tổ chức tín dụng là huy
động vốn để cấp tín dụng, nói cách khác là đi vay để cho vay lại. Thực tế, hầu như
các tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh là nhờ vào nguồn vốn huy động, đặc biệt
là vốn huy động dưới hình thức nhận tiền gửi từ các thành phần kinh tế chiếm tỉ lệ
lớn. Như vậy, tổ chức tín dụng có thực hiện tốt vai trị trung gian tín dụng hay
không phụ thuộc rất lớn vào số tiền gửi mà tổ chức tín dụng huy động được. Tuy
nhiên, vốn thuộc sở hữu của tổ chức tín dụng là rất hạn chế, trong khi đó, nguồn
vốn dư thừa trong dân cư là rất lớn cần phải được tập trung lại để cung cấp nguồn
vốn phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Người gửi tiền là đối tượng cung cấp nguồn
vốn tiết kiệm dưới các hình thức tiền gửi để tổ chức tín dụng sử dụng khoản tiền đó
để cấp tín dụng cho khách hàng.
Dưới góc độ kinh tế, hoạt động nhận tiền gửi được nhìn nhận như là một

nghiệp vụ kinh doanh của tổ chức tín dụng với nội dung chủ yếu là tiếp nhận các
khoản tiền gửi (ký thác) của khách hàng thông qua việc mở các tài khoản cho khách
hàng như tài khoản tiền gửi định kỳ (tiền gửi có kỳ hạn), tài khoản tiền gửi hoạt kỳ
(tiền gửi không kỳ hạn) và tài khoản tiền gửi tiết kiệm.
Dưới góc độ pháp lý, giao dịch nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng được hiểu là
sự thỏa thuận song phương giữa tổ chức tín dụng và khách hàng gửi tiền, thông qua
việc giao kết hợp đồng tài khoản tiền gửi. Lúc ban đầu, giao dịch nhận tiền gửi cũng
chỉ là quan hệ gửi giữ tài sản để hưởng thù lao. Về sau, giao dịch nhận tiền gửi cịn
cho phép tổ chức tín dụng được sử dụng khoản tiền đó để cấp tín dụng. Có thể nói,
sự kiện này phản ánh q trình chuyển hóa một cách tự nhiên từ dạng hợp đồng gửi
giữ tài sản sang hình thức hợp đồng lưỡng tính (vừa có tính chất của hợp đồng gửi


6

giữ, vừa có tính chất của hợp đồng vay tài sản) và cuối cùng là chuyển hẳn thành
hợp đồng vay tài sản1.
Trong phần 3 Luật bảo hiểm tiền gửi của Mỹ quy định: tiền gửi được hiểu là
số dư tiền hoặc giá trị tương đương chưa được thanh toán đã được nhận hoặc giữ tại
một ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm trong hoạt động kinh doanh thông thường và
từ đó nó cấp hoặc có nghĩa vụ cấp tín dụng, dù là có điều kiện hay khơng điều kiện,
cho một tài khoản thương mại, séc, tiết kiệm, không kỳ hạn hoặc được chứng minh
bằng giấy chứng nhận tiền gửi, chứng nhận tiết kiệm, chứng nhận đầu tư, chứng
nhận nợ, hoặc những tên tương tự hoặc séc, hay hối phiếu rút ra từ tài khoản tiền
gửi và được chứng nhận bởi ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm, hoặc thư tín dụng
hoặc séc du lịch mà ngân hàng hay hiệp hội tiết kiệm có nghĩa vụ đầu tiên.
Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam quy định: Nhận tiền gửi là hoạt động
nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi khơng kỳ hạn, tiền gửi có kỳ
hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình
thức nhận tiền gửi khác theo ngun tắc có hồn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người

gửi tiền theo thỏa thuận2. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào
tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo
quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm tiền gửi3. Kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu
(sau đây gọi là giấy tờ có giá) là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành với người mua giấy tờ có giá
trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác4.

1

Nguyễn Văn Tuyến, Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường ở

Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr.73.
2
3

Khoản 13 Điều 4 Luật Tổ chức tín dụng 2010
Khoản 1 Điều 6 Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13 tháng 9 năm 2004 của Thống đốc Ngân

hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế tiền gửi tiết kiệm.
4
Khoản 1 Điều 2 Văn bản hợp nhất số 14/VBHN-NHNN ngày 13 tháng 01 năm 2016 quy định việc phát
hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng
nước ngồi (Văn bản hợp nhất Thơng tư số 34/2013/TT-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu
trong nước của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi và Thơng tư số 29/2015/TTNHNN ngày 22 tháng 12 năm 2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số
văn bản quy phạm pháp luật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về thành phần hồ sơ có bản sao
chứng thực giấy tờ, văn bản).



7

Từ quy định của pháp luật cho thấy, giao dịch nhận tiền gửi là giao dịch kinh
doanh phát sinh giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, theo đó, tổ chức, cá nhân giao
khoản tiền của mình cho tổ chức tín dụng sử dụng trong một khoảng thời gian nhất
định để được hưởng lãi suất. Về bản chất, giao dịch nhận tiền gửi là giao dịch vay
tài sản có đối tượng là tiền giữa tổ chức tín dụng với khách hàng trong một thời hạn
nhất định và dựa trên nguyên tắc hồn trả cả gốc lẫn lãi5. Hình thức xác định giao
dịch nhận tiền gửi có nhiều tên gọi khác nhau như thẻ tiết kiệm, giấy tờ có giá…
Thẻ tiết kiệm là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm
hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm về khoản tiền đã gửi tại tổ chức nhận tiền
gửi tiết kiệm.
Hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng có những đặc điểm sau đây:
Một là, hoạt động nhận tiền gửi là một trong các nghiệp vụ ngân hàng, là hoạt
động kinh doanh của tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng theo pháp luật hiện hành là
doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Phạm vi
hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng là khác nhau. Ngân hàng thương mại
được nhận tiền gửi khơng kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại
tiền gửi khác; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy
động vốn trong nước và nước ngồi. Cơng ty tài chính được Nhận tiền gửi của tổ
chức; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn
của tổ chức. Đối với quỹ tín dụng nhân dân được nhận tiền gửi của thành viên. Khi
nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân không phải là thành viên phải thực hiện theo
quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Hai là, các loại tiền gửi đa dạng và đáp ứng nhiều mục đích khác nhau của
người gửi tiền. Về cơ bản có thể xác định tiền gửi bao gồm: tiền gửi khơng kỳ hạn,
tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm6. Các xác định này dựa trên khoảng thời
gian kể từ ngày người gửi tiền bắt đầu gửi tiền vào tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm
đến ngày tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm cam kết trả hết tiền gốc và lãi tiền gửi tiết
kiệm. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể

rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ
chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm, trong

5

Nguyễn Văn Tuyến, Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường ở
Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr.73.
6

Nguyễn Văn Tuyến, Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường ở
Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr.73-74.


8

đó người gửi tiền thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm về kỳ hạn gửi nhất
định.
Giao dịch nhận tiền gửi khơng kỳ hạn có đặc trưng là tổ chức tín dụng cam kết
để cho người gửi tiền có quyền rút tiền ra khỏi ngân hàng bất kỳ thời điểm nào theo
ý muốn của họ bằng cách phát hành séc. Vì vậy, giao dịch này cịn gọi là giao dịch
tài khoản séc hay tài khoản có thể phát hành séc. Đối với giao dịch này, tổ chức tín
dụng ln phải đối phó với tình huống khách hàng bất ngờ rút tiền ồ ạt ra khỏi ngân
hàng. Điều này có thể dẫn đến tình trạng ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả
năng thanh khoản. Để khắc phục nhược điểm này, các tổ chức tín dụng thường quy
định mức lãi suất thấp hơn so với các giao dịch tiền gửi khác.
Đối với giao dịch tiền gửi có kỳ hạn, cịn gọi là ký thác định kỳ có đặc trưng
cơ bản là người gửi tiền cam kết chỉ rút tiền khỏi tài khoản khi thời hạn gửi tiền đã
hết. Do đó, tổ chức tín dụng nhận loại tiền gửi này có thể yên tâm sử dụng s chất lượng của những khoản vay; ii) Rủi ro hối đoán
là khả năng thiệt hại/tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu do sự biến động giá cả
tiền tệ thế giới; iii) Rủi ro thanh khoản. Loại rủi ro này chỉ xảy ra khi cung về tiền ít

hơn về cầu tiền. Rủi ro thanh khoản liên quan đến khả năng chuyển các tài sản
chính thành tiền một cách nhanh chóng mà khơng chịu thất thốt về giá cả. Nói
cách khác, rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không đủ tiền đáp ứng các
khoản phải trả khi đến hạn thanh toán hoặc vì một biến cố nào đó mà khách hàng
rút tiền ào ạt; iv) Rủi ro thị trường, là loại rủi ro tổn thất tài sản xảy ra khi có sự
thay đổi của các điều kiện thị trường hay những biến động của thị trường làm ảnh
hưởng đến lãi suất, tỷ giá ngoại hối, giá chứng khoán mà ngân hàng đầu tư...; v) Rủi
ro hoạt động hay rủi ro tác nghiệp là tổn thất do các quá trình, con người và các hệ
thống nội bộ không đáp ứng yêu cầu hoặc do các yếu tố bên ngoài tác động; vi) Rủi
ro hoạt động bao gồm rủi ro pháp lý không bao gồm rủi ro danh tiếng và rủi ro
chiến lược. Để phong ngừa rủi ro ngân hàng hiệu quả, các tổ chức tín dụng phải tạo
lập và duy trì được niềm tin của người gửi tiền. Niềm tin là một điều kiện quan
trọng đối với đời sống nói chung và có ý nghĩa đặc biệt đối với sự ổn định và phát
triển của thị trường tài chính. Hầu như tất cả các hoạt động bảo hiểm đều xuất phát
từ nhu cầu xây dựng và bảo vệ niềm tin. Ngay trong bảo hiểm thương mại, người
mua bảo hiểm không mong sự kiện bảo hiểm xẩy ra mà chỉ mong tạo ra sự yên tâm,
nếu không may sự kiện bảo hiểm xảy ra thì hồn cảnh của họ khơng bị thay đổi
nhiều.

80

Văn phòng Quốc hội, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2008), Vai trò của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo an sinh xã hội, Chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu, Hà Nội tháng
12/2008, tr.36-37


65

Nhiều chuyên gia của Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển Châu á đã

phát biểu tại các diễn đàn của Việt Nam đại ý rằng: khi người dân mang tiền đến
gửi tại các tổ chức tín dụng, họ thường hình thành một niềm tin vào hệ thống tài
chính, vì cho rằng có sự bảo đảm của Chính phủ đằng sau các tổ chức tín dụng, mặc
dù các tổ chức tín dụng hoạt động độc lập và tự chịu trách nhiệm.
3.2. Một số giải pháp góp phần hồn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong hoạt động nhận tiền
gửi ở Việt Nam hiện nay
3.2.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền
trong hoạt động nhận tiền gửi
3.2.1.1. Sửa đổi, bổ sung các quy định về điều kiện thành lập, điều kiện khai
trương hoạt động, mở chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nhằm
kiểm sốt sự gia tăng về số lượng tổ chức tín dụng
Trước hết, tăng mức vốn pháp định thành lập tổ chức tín dụng. Pháp luật hiện
hành quy định mức vốn pháp định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng. Mức vốn
pháp định thành lập tổ chức tín dụng nhìn chung là thấp. Ở nước ta, thời gian qua đã
chứng kiến sự bùng nổ của hệ thống ngân hàng với sự tăng mạnh về con số ngân
hàng và chi nhánh được thành lập cũng như về tốc độ tăng trưởng tín dụng bắt
nguồn từ tăng trưởng cao của cung tiền là hậu quả của chính sách tiền tệ nới lỏng.
Đến lượt mình, gia tăng tăng trưởng tín dụng lại dẫn đến tăng trưởng kinh tế nóng
và tăng áp lực lạm phát. Điều đáng nói là sự mở rộng nhanh chóng của hệ thống
ngân hàng không đồng hành với sự cải thiện đáng kể trong cơng tác phịng ngừa rủi
ro (như khơng áp dụng các chuẩn mực quốc tế về phân loại vốn vay, trích lập dự
phịng, và cơng bố thơng tin) cũng như việc giám sát, thanh tra và xử phạt của ngân
hàng Nhà nước, lại còn bị tác động bởi nạn tham nhũng, can thiệp bởi chính quyền
và các nhóm lợi ích. Cơng tác quản trị yếu kém ngồi lý do xem nhẹ tầm quan trong
của nó trước áp lực mở rộng về lượng cịn do bởi việc khơng có hoặc không hoạt
động hiệu quả của các cơ quan thanh tra, giám sát của ngân hàng Nhà nước cũng
như của các tổ chức xếp hạng rủi ro tín dụng.
Mặc dù số lượng ngân hàng đã tăng lên nhanh chóng gần đây, có thể nói hệ
thống ngân hàng Việt Nam vẫn bị chi phối bởi một số “ông lớn” ngân hàng thương

mại nhà nước vốn chiếm thị phần đa số trong thị trường ngân hàng. Các ngân hàng
thương mại nhà nước vẫn đang giữ vị trí chi phối thị trường tiền tệ, do đó, để bảo
đảm thực thi tốt pháp luật cạnh tranh đối với hoạt động ngân hàng, cần xem xét đến


66

việc xác định vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của những ngân hàng này trên thị
trường cũng như tiêu chí để xác định các hành vi này. Khơng những thế, theo thời
gian, thực tế này sẽ thay đổi, thậm chí là một số ngân hàng thương mại có năng lực
vốn thấp liên kết với nhau để cạnh tranh với các đối thủ khác. Vì vậy, nếu các quy
định về vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền nếu không được quy định cụ thể sẽ là kẽ
hở cho những hành vi bất hợp pháp. Trong thực tiễn tái cơ cấu hệ thống các tổ chức
tín dụng thời gian qua cho thấy, các ngân hàng thương mại so Nhà nước sở hữu
hoặc Nhà nước giữa cổ phần chi phối phải đóng vai trị như một cơng cụ trong tay
Nhà nước để tái cơ cấu, nghĩa là phải hợp nhất, sáp nhập hoặc mua lại tổ chức tín
dụng yếu kém.
Về quy mơ vốn của các tổ chức tín dụng Việt Nam cũng ở dạng vừa và nhỏ so
với trong khu vực. Yêu cầu về tăng vốn pháp định của tổ chức tín dụng cần xác
định lộ trình và kiên quyết nói khơng gia hạn với các tổ chức tín dụng khơng tăng
vốn đúng hạn. Nhìn chung, sau hợp nhất, sáp nhập, mua lại tổ chức tín dụng Việt
Nam thời gian qua, vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, nhất là các ngân hàng thương
mại đã tăng lên đáng kể. Vì vậy, chúng tơi kiến nghị mức vốn pháp định thành lập
tổ chức tín dụng ở Việt Nam như sau:
- Ngân hàng thương mại: 10.000 tỷ đồng
- Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương: 5000 tỷ đồng
- Ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách: 5000 tỷ đồng
- Chi nhánh ngân hàng nước ngồi: 15 triệu USD.
- Cơng ty tài chính: 1000 tỷ đồng
- Cơng ty cho th tài chính: 500 tỷ đồng.

- Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở: 1 tỷ đồng.
Thứ hai, mặc dù pháp luật cũng quy định kiểm soát ngân hàng thương mại về
số lượng chi nhánh81, số lượng văn phòng giao dịch82, mở chi nhánh ở nước ngoài,
thành lập ngân hàng 100% ở nước ngoài83; điều kiện thành lập văn phịng đại diện,

81

Điều 7 Thơng tư số 21/2013/TT-NHNN ngày 9/9/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về

mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại.
82

Điều 11 Thông tư số 21/2013/TT-NHNN ngày 9/9/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về
mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại.
83

Điều 9 Thông tư số 21/2013/TT-NHNN ngày 9/9/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về
mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại.


67

đơn vị sự nghiệp ở trong nước và văn phòng đại diện ở nước ngồi84, song tình
trạng các tổ chức tín dụng đua nhau thành lập chi nhánh đã dẫn đến tình trạng cạnh
tranh khơng lành mạnh trong hoạt động nhận tiền gửi. Điều này làm ảnh hưởng rất
lớn đến niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
Vì vậy, chúng tơi kiến nghị Ngân hàng Nhà nước cần tăng cường công tác giám sát
việc thành lập chi nhánh và tiến hành thanh tra thường xun các tổ chức tín dụng
có mạng lưới rộng để bảo đảm khơng để xảy ra tình trạng cạnh tranh không lành
mạnh, xâm phạm quyền lợi người gửi tiền.

3.2.1.2. Nâng hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi phù hợp với điều kiện kinh tế
xã hội hiện nay
Hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi được hiểu là giới hạn chi trả bảo hiểm tiền
gửi tối đa mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm chi trả cho người giửi tiền
có khoản tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị đóng cửa
hay bị phá sản. Đây là vấn đề nhạy cảm đối với mỗi hệ thống bảo hiểm tiền gửi, nó
được hình thành để đáp ứng mục tiêu giữa một bên là sự ổn định của hệ thống tài
chính, ngân hàng và điều tiết hành vi của người gửi tiền cũng như cơng chúng có
liên quan85. Theo thơng lệ quốc tế, hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm dao
động từ 1 đến 9 lần GDP/người. Ở Châu Á mức chi trả bình quân là 4 lần thu nhập
quốc nội bình quân đầu người một năm86. Nghiên cứu hạn mức chi trả bảo hiểm
tiền gửi của các nước cho thấy, khơng có sự đồng nhất trong hạn mức chi trả của
các quốc gia. Chẳng hạn, hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi của Thái là 709.220
USD, Indonesia 153.257 USD, Malaysia 59.666 USD và Hoa Kỳ 250.000 USD,
Singapore 35.971 USD 87. Như vậy, việc khi quy định hạn mức chi trả bảo hiểm
tiền gửi, Nhà nước cần căn cứ vào các yếu tố sau đây:
- Tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người;
- Khả năng xảy ra rủi ro đạo đức của người gửi tiền;

84

Điều 8 Thông tư số 21/2013/TT-NHNN ngày 9-9-2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về
mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại.
85

Đào Văn Tuấn (2006), Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Ngân hàng, tr.37-38
86

Văn phòng Quốc hội, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2008), Vai trò của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam


trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo an sinh xã hội, Chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu, Hà Nội tháng
12/2008, tr.41
87

, truy cập
ngày 10/8/2018


68

- Mức độ an toàn, lành mạnh của hệ thống tổ chức nhận tiền gửi;
- Mức độ biến động của nền kinh tế…
Từ những phân tích trên, chúng tơi kiến nghị nâng hạn mức chi trả bảo hiểm
tiền gửi từ 70.000.000 đồng lên khoảng từ 350.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng
hoặc theo phương án phân chia tỷ lệ như sau:
Dưới 2 tỷ
Tỷ lệ chi trả bảo hiểm tiền gửi

15%

Từ 2 tỷ đến 10 tỷ
10%

Trên 10 tỷ
7%

3.2.1.3. Sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng cụ thể hóa trách nhiệm bảo mật
thơng tin tiền gửi của khách hàng
- Cần xem xét, quy định rõ và đầy đủ hơn phạm vi thông tin khách hàng cần

được đảm bảo bí mật. Đối với thơng tin khách hàng gửi tiền, những thông tin sau
phải được giữ bí mật: Thơng tin về nhân thân người gửi tiền; thông tin về số dư tài
khoản và diễn biến khoản tiền gửi.
- Bổ sung quy định rõ và đầy đủ hơn phạm vi thông tin khách hàng cần được
đảm bảo bí mật. Thực tế cho thấy, tổ chức tín dụng không chỉ xác lập giao dịch với
người gửi tiền mà cịn cả với những chủ thể khác. Do đó, trong quá trình xác lập
giao dịch, vì lý do chủ quan, khách quan, tổ chức tín dụng vơ tình tiết lộ hoặc khách
hàng thứ ba biết được thông tin thi chủ thể này cũng phải có trách nhiệm bảo mật
thơng tin tiền gửi cho người gửi tiền.
- Hoàn thiện các chế tài liên quan đến hoạt động đảm bảo bí mật thông tin của
khách hàng trong hoạt động ngân hàng; đồng thời pháp luật cần quy định cơ chế xác
định thiệt hại làm cơ sở cho các cơ quan tiến hành tố tụng xác định thiệt hại mà chủ
thể vi phạm phải bồi thường cho khách hàng bị vi phạm. Ngoài ra, Luật Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước phải bổ sung quy định về việc bồi thường
thiệt hại cho khách hàng do hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo mật thông tin do công
chức, viên chức Nhà nước ngành Ngân hàng gây ra.
3.2.1.4. Sửa đổi, bổ sung quy định về kiểm soát đặc biệt, phá sản tổ chức tín
dụng của người gửi tiền
Pháp luật kiểm sốt đặc biệt hiện hành không cho phép người gửi tiền tham
gia vào thủ tục kiểm sốt đặc biệt. Những thơng tin về kiểm sốt đặc biệt người gửi
tiền và cơng chúng chỉ có thể biết được thơng qua các phương tiện thông tin đại
chúng. Do vậy, để bảo đảm nắm bắt thông tin và biết được thời điểm Ngân hàng
Nhà nước ngừng áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt và tổ chức tín dụng khơng


69

khơi phục được khả năng thanh tốn để nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chúng
tôi kiến nghị:
- Bổ sung quy định nghĩa vụ cập nhật thông tin kiểm soát đặc biệt, kết quả

kiểm soát đặc biệt tổ chức tín dụng lên các phương tiện thơng tin đại chúng để
người gửi tiền và công chúng biết để kiểm soát.
- Bổ sung quy định xác định bước chuyển từ kiểm sốt đặc biệt sang phá sản
tổ chức tín dụng để người gửi tiền biết và nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tổ
chức tín dụng.
3.2.2. Các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo
vệ quyền lợi người gửi tiền ở Việt Nam hiện nay
3.2.2.1. Bảo đảm khả năng thanh khoản của tổ chức tín dụng
Bảo vệ người gửi tiền, tổ chức tín dụng phải tính tốn đến khả năng sinh lời,
những chi phí bỏ ra để bảo vệ quyền lợi người gửi tiền cũng như những chế tài có
thể bị áp dụng nếu vi phạm pháp luật về nhận tiền gửi. Để thực hiện tốt giải pháp
này, các tổ chức tín dụng cần tập trung các biện pháp nhằm nâng cao khả năng tài
chính, chủ động trong việc huy động nguồn lực và kiểm soát khả năng thanh khoản
của tổ chức tín dụng. Tính thanh khoản của ngân hàng thương mại được xem như
khả năng tức thời (the short-run ability) để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân
các khoản tín dụng đã cam kết. Như vậy, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân
hàng khơng có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản
tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao. Nói cách khác, đây là loại rủi ro
xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi
kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của
các hợp đồng thanh toán. Khi bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, tổ
chức tín dụng buộc phải chạy đua huy động vốn dẫn đến lãi suất huy động cao và
không đáp ứng được nhu cầu rút tiền dẫn đến mất niềm tin của Người gửi tiền (kể
cả các giao dịch liên ngân hàng) cũng như không đáp ứng nhu cầu giải ngân cho các
khoản cấp tín dụng.
Để chống lại rủi ro thanh khoản, góp phàn bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, tổ
chức tín dụng phải nâng nhận thức về việc tuân thủ các quy định của Ngân hàng nhà
nước đối với việc tuân thủ các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của Tổ chức
tín dụng; tuân thủ quy tắc đạo đức trong kinh doanh, tránh chạy theo lợi nhuận bất
chấp rủi ro. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước sẽ tăng cường quản lý và sẵn sàng hỗ



70

trợ thanh khoản khi các tổ chức tín dụng gặp khó khăn, đảm bảo quyền lợi của
người gửi tiền, an tồn của từng tổ chức tín dụng cũng như của cả hệ thống.
3.2.2.2. Nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về kiểm soát rủi ro hoạt động của
tổ chức tín dụng để bảo đảm khả năng thanh tốn cho tổ chức tín dụng
Rủi ro tín dụng hiểu theo nghĩa rộng là tất cả khả năng mà theo đó, tổ chức tín
dụng sẽ khơng thu hồi đầy đủ và đúng hạn các khoản tín dụng đã cấp88. Nguyên
nhân của rủi ro tín dụng có thể là do tổ chức tín dụng, cũng có thể là do khách
hàng89. Về lý luận, rủi ro tín dụng được xem như là khả năng khách hàng không trả
được nợ vay và lãi sử dụng khoản tiền đã được cấp tín dụng90.
Dưới góc độ pháp lý hiện tại chưa có quy định về rủi ro tín dụng mà chỉ có
khái niệm rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Theo đó, rủi ro trong hoạt động ngân
hàng của tổ chức tín dụng được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động
ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng khơng thực hiện hoặc khơng có khả
năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết91.
Để khắc phục rủi ro tín dụng địi hỏi cần phải có cả một hệ thống các biện
pháp “không đơn thuần là “cuộc đấu tranh” nhằm khắc phục tổn thất phát sinh
trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng mà là hoạt động nhằm xây dựng
một hệ thống, trong đó có cả các yếu tố đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm của
cán bộ ngân hàng với mục tiêu đảm bảo được quyền lợi của ngân hàng cho vay
cũng như khách hàng vay vốn”92. Các quy định pháp luật về kiểm sốt, phịng ngừa
rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng bao gồm:
- Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm tốn nội bộ của tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Các quy định về kiểm soát nội bộ hướng tới
88
89


Trần Vũ Hải: Những vấn đề pháp lý về kiểm sốt rủi ro tín dụng, Tạp chí Luật học số 12/2007, tr.20.
Lê Thị Thu Thủy (Chủ biên), Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của tổ chức tín dụng, sách

chuyên khảo, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr.25.
90
91

Phan Văn Tính: Rủi ro tín dụng – cách nhìn nhận mới, Tạp chí Ngân hàng số 23, tháng 11/2007.
Hiện tại, khái niệm rủi ro trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng được quy định tại:

- Khoản 1 Điều 2 Quyết định 493/2008/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban
hành Quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng của tổ chức tín dụng.
- Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21-1-2013 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về
phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi
ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi (Thơng tư này đã được sửa đổi, bổ
sung bởi Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày 18-3-2014, nhưng khái niệm rủi ro trong hoạt động ngân
hàng của tổ chức tín dụng vẫn được giữ nguyên).
92
Phan Văn Tính: Rủi ro tín dụng – cách nhìn nhận mới, Tạp chí Ngân hàng số 23, tháng 11/2007.


71

mục đích nhằm bảo đảm phịng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được
yêu cầu đề ra. Các quy định về kiểm toán nội bộ hướng tới việc rà soát, đánh giá
độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính
thích hợp và tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết
lập trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; đưa ra kiến nghị nhằm
nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổ chức

tín dụng hoạt động an tồn, hiệu quả, đúng pháp luật93.
- Quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro94.
- Quy định về bảo đảm an tồn hoạt động của tổ chức tín dụng95.
- Quy định về giám sát ngân hàng96.

93

Xem cụ thể tại: Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 của Ngân hàng Nhà nước quy định về
hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm tốn nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
94

Xem thêm:
- Quyết định 493/2008/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy định
về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phịng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ
chức tín dụng.
- Thơng tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về phân loại tài sản
có, mức trích, phương pháp trích lập dự phịng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt
động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi.
- Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày
21/1/2013 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự
phịng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngồi.
- Thơng tư số 14/2014/TT-NHNN ngày 20/5/2014 của Ngân hàng Nhà nước sửa đổi, bổ sung một số điều
của Quyết định 493/2008/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy
định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
của tổ chức tín dụng.
95
Xem Thơng tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của Ngân hàng Nhà nước Quy định các giới hạn,
tỷ lệ bảo đảm an tồn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi. Thơng tư này
thay thế cho tác Thông tư:

- Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về các tỷ lệ bảo đảm
an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng
- Thơng tư số 19/2010/TT-NHNN ngày 27/9/2010 của Ngân hàng Nhà nước sửa đổi, bổ sung Thông tư số
13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong
hoạt động của tổ chức tín dụng.
- Thơng tư số 33/2011/TT-NHNN ngày 08/10/2011 của Ngân hàng Nhà nước Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động
của tổ chức tín dụng và quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết
định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/ 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
96
Xem cụ thể tại:


72

- Quy định về bảo đảm tín dụng97.
Vấn đề chính yếu ở Việt Nam hiện nay không phải là tập trung vào các giải
pháp hoàn thiện pháp luật mà cần tập trung để nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về
phịng ngừa rủi ro tín dụng có như vậy mới có thể phịng ngừa và khắc phục được
tình trạng mất khả năng thanh khoản. Nói khác đi, tuân thủ pháp luật về phòng ngừa
rủi ro hoạt động giúp tổ chức tín dụng ln bảo đảm được khả năng thanh tốn, từ
đó bảo vệ được quyền lợi của người gửi tiền.

- Quyết định số 35/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Nghị định số 26/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra giám sát
ngân hàng.
- Thông tư số 10/2012/TT-NHNN ngày 16/4/2012 của Ngân hàng Nhà nước quy định về xử lý sau thanh tra,
giám sát đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
- Đoàn Đức Lương, Viên Thế Giang (Đồng chủ biên), Pháp luật về giám sát tài chính ở Việt Nam một số vấn

đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013.
97

Xem thêm:

- Viên Thế Giang, Các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động cấp tín dụng, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật số 2/2015.
- Viên Thế Giang, Tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thực trạng pháp luật và định hướng sửa đổi,
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4(324)/2015, tr.33-39.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
(Chỉ bao gồm những tài liệu được trích dẫn trong Luận Văn này)
1. Chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu, Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt
Nam trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo an sinh xã hội, truy cập
ngày 10/06/2018,
/>198&mid=554
2. Chi trả 75 triệu đồng có đủ bảo vệ người gửi tiền?, truy cập ngày 10/8/2018 ,
/>3. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam triển khai nhiệm vụ năm 2018, truy cập ngày
17/6/2018,
/>dDocName=SBV323587&p=4&_afrLoop=90972204776312#%40%3F_afrL
oop%3D90972204776312%26centerWidth%3D80%2525%26dDocName%3
DSBV323587%26leftWidth%3D20%2525%26p%3D4%26rightWidth%3D0
%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrlstate%3Df0fpha3fg_4
4. Đào Trí Úc, Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền theo pháp luật về bảo hiểm
tiền gửi tại Việt Nam- Thực trạng và phương hướng hoàn, (2007), Thông tin
Bảo hiểm tiền gửi số 3 tháng 4 năm 2007
5. Đoàn Đức Lương, Viên Thế Giang (Đồng chủ biên), Pháp luật về giám sát tài
chính ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2013

6. Đào Văn Tuấn, Giải pháp hồn thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án tiến sĩ kinh tế, (2006), Học
viện Ngân hàng, tr.37-38
7. Đoàn Đức Lương, Viên Thế Giang (Đồng chủ biên), Pháp luật về giám sát tài
chính một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tái bản, có sửa chữa bổ sung, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015.
8. Lê Thị Thu Thủy (Chủ biên), Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của
tổ chức tín dụng, sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2006,
tr.25


×