BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Hương Giang
XÂY DỰNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Hương Giang
XÂY DỰNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số
: 8140101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ LY KHA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Thị Hương Giang, là học viên cao học chuyên ngành Giáo
dục Mầm non, Khóa 28 Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Tơi
xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả
nghiên cứu là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một cơng trình
nào khác.
Người viết cam đoan
Nguyễn Thị Hương Giang
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn: “Xây dựng một số trò chơi học tập nhằm phát triển
vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh”, tơi xin bày tỏ
lịng biết ơn chân thành đến:
PGS-TS Nguyễn Thị Ly Kha, người hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều
công sức và thời gian để hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Quý thầy cơ trong Hội đồng bảo vệ đề cương đã có những góp ý sâu sát, cụ
thể giúp tơi định hướng được vấn đề nghiên cứu.
Quý thầy cô trong Ban giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Khoa Giáo dục mầm
non Trường Đại học Sư phạm TP. HCM đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện
để tôi được học tập, nghiên cứu trong suốt khóa học 2017-2019.
Q Thầy cơ Ban giám hiệu và giáo viên lớp 3 - 4 tuổi tại các trường Mầm
non trên địa bàn TP HCM đã nhiệt tình giúp đỡ tơi nghiên cứu thực trạng cũng
như hồn thành phần thực nghiệm với các biện pháp đề xuất.
Xin chân thành cảm ơn!
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hương Giang
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TRỊ CHƠI HỌC TẬP
VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO
3 – 4 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.............................. 7
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... 7
1.1.1. Ở nước ngồi ............................................................................................ 7
1.1.2. Ở Việt Nam............................................................................................. 12
1.2. Cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu ............................................................... 17
1.2.1. Một số khái niệm công cụ của đề tài ..................................................... 17
1.2.2. Đặc điểm hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ MG 3-4 tuổi ............ 25
1.2.3. Đặc điểm tâm lý liên quan đến việc hình thành và phát triển vốn
từ của trẻ MG 3-4 tuổi ........................................................................... 25
1.2.4. Xây dựng trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu
giáo 3-4 tuổi .......................................................................................... 33
Tiểu kết chương 1 ..................................................................................................... 34
Chương 2. THỰC TRẠNG VỀ TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM PHÁT
TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MG 3 – 4 TUỔI Ở MỘT SỐ
TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH........ 35
2.1. Tổ chức khảo sát thực trạng........................................................................... 35
2.1.1. Mục đích khảo sát................................................................................... 35
2.1.2. Đối tượng khảo sát ................................................................................. 35
2.1.3. Địa bàn khảo sát ..................................................................................... 35
2.1.4. Nội dung khảo sát ................................................................................... 35
2.1.5. Phương pháp khảo sát............................................................................. 36
2.2. Kết quả khảo sát thực trạng và phân tích....................................................... 37
2.3. Thực trạng Vốn từ của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi tại một số trường mầm
non cơng lập Thành phố Hồ Chí Minh ........................................................ 48
2.3.1. Tổ chức điều tra ...................................................................................... 48
2.2.2. Kết quả điều tra và phân tích kết quả ..................................................... 50
2.3. Một số nhận xét về nội dung PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi trong chương
trình chăm sóc giáo dục trẻ 3-4 tuổi .............................................................. 53
2.4. Nguyên nhân .................................................................................................. 54
2.5. Nguyên nhân .................................................................................................. 54
Tiểu kết chương 2 ..................................................................................................... 56
Chương 3. XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM MỘT SỐ TRÒ
CHƠI HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ
MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ....... 58
3.1. Xây dựng trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo
3 – 4 tuổi ........................................................................................................ 58
3.1.1. Cơ sở định hướng để xây dựng các trò chơi học tập nhằm phát triển
vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ........................................................... 58
3.1.2. Những nguyên tắc để xây dựng các trò chơi học tập nhằm phát
triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi .................................................. 58
3.1.3. Tiến trình xây dựng ................................................................................ 60
3.1.4. Khái quát một số trò chơi học tập đã xây dựng. ..................................... 63
3.2. Thử nghiệm sư phạm về một số trò chơi học tập đã xây dựng nhằm
phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi (tại Thành phố Hồ Chí
Minh) ........................................................................................................... 73
3.2.1. Mục đích thử nghiệm (TN)..................................................................... 73
3.2.2. Nội dung thử nghiệm .............................................................................. 73
3.2.3. Đối tượng thử nghiệm ............................................................................ 73
3.2.4. Thời gian thử nghiệm ............................................................................. 73
3.2.5. Điều kiện TN .......................................................................................... 74
3.2.6. Tiến hành TN .......................................................................................... 74
3.2.7. Cách đánh giá kết quả TN ...................................................................... 75
3.2.8. Kết quả thử nghiệm và phân tích............................................................ 75
Tiểu kết chương 3 ..................................................................................................... 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 87
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.
Trình độ chun mơn - kinh nghiệm của GV ....................................... 37
Bảng 2.2.
Nhận thức của GVMN về tầm quan trọng của TCHT với việc
PTVT của trẻ MG 3-4 tuổi ................................................................... 38
Bảng 2.3.
Thực trạng về nguồn TCHT nhằm PTVT mà GVMN đã sử dụng ....... 39
Bảng 2.4.
Thống kê việc GV sử dụng các nguồn tài liệu ở các dạng TCHT
nhằm PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi .......................................................... 40
Bảng 2.5.
Thực trạng nhận thức của GV trong việc lựa chọn các biện pháp
xây dựng TCHT .................................................................................... 42
Bảng 2.6.
Mức độ xây dựng và sử dụng các dạng TCHT nhằm PTVT cho trẻ
MG 3-4 tuổi ........................................................................................... 43
Bảng 2.7.
Ưu điểm của việc sử dụng trò chơi học tập (TCHT) nhằm PTVT ....... 45
Bảng 2.8.
Những khó khăn GV gặp phải trong việc xây dựng TCHT .................. 46
Bảng 2.9.
Mức độ sử dụng TCHT nhằm PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi trong
các hoạt động hằng ngày ở trường MN................................................. 46
Bảng 2.10. Mức độ khó khăn mà GVMN gặp phải khi sử dụngvà xây dựng
TCHT nhằm PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi .............................................. 47
Bảng 2.11. Kết quả mức độ về số lượng từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi ở Thành
phố Hồ Chí Minh ( n =108 trẻ) ............................................................. 50
Bảng 2.12. Kết quả khảo sát Mức độ cần thiết của việc xây dựng TCHT giúp
trẻ MG 3-4 tuổi PTVT .......................................................................... 51
Bảng 2.13. Kết quả khảo sát Mức độ sử dụng từ trong câu và trong giao tiếp
(n=108) .................................................................................................. 51
Bảng 2.14. TCHT giúp trẻ kỹ năng ngôn ngữ ......................................................... 52
Bảng 3.1.
Mức độ vốn từ ở trẻ MG 3 – 4 tuổi của trẻ nhóm TN và nhóm ĐC
trước khi tiến hành TN .......................................................................... 75
Bảng 3.2.
Kết quả khảo sát mức độ vốn từ ở trẻ MG 3 – 4 tuổi của trẻ nhóm
TN TRƯỚC và SAU sau khi tiến hành thử nghiệm ............................ 77
Bảng 3.3.
Kết quả thực hiện TCHT nhằm PTVT của nhóm TN với từng TC ..... 78
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Biểu đồ thể hiện mức độ vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi
trước TN.......................................................................................... 76
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ thể hiện mức độ vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi của
nhóm ĐC TRƯỚC và SAU khi tiến hành TN................................ 77
Biểu đồ 3.3. Mức độ vốn từ ở trẻ MG 3 – 4 tuổi của trẻ nhóm TN TRƯỚC
và SAU khi tiến hành TN ............................................................... 78
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nhờ có ngơn ngữ, con người
mới có phương tiện để nhận thức, trao đổi, truyền đạt những hiểu biết, kinh nghiệm
cũng như những ước muốn, nguyện vọng của mình với những người xung quanh.
“Việc lĩnh hội ngôn ngữ bao gồm sự lĩnh hội ba khía cạnh cơ bản sau của ngơn
ngữ: nội dung (vốn từ và nghĩa của từ), hình thái hay cấu trúc (ngữ pháp và cú
pháp) và chức năng của ngôn ngữ”, (Nguyễn Thị Kim Anh, Trần Nguyễn Nguyên
Hân, 2016).
Hiện nay phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng
ở trường mầm non, bởi hoạt động này khơng chỉ hình thành và phát triển các năng
lực ngơn ngữ ở trẻ, mà còn là chiếc cầu nối giúp trẻ bước vào thế giới lung linh,
huyền ảo, rực rỡ sắc màu của xã hội loài người (Module MN 3, 2013). Để hình
thành và phát triển ngơn ngữ nói chung, mỗi cá nhân phải trải qua một quá trình lâu
dài, vì thế cần tạo mơi trường ngơn ngữ, cũng như cần có những nội dung, phương
pháp, biện pháp, hình thức giáo dục ngôn ngữ phù hợp cho từng độ tuổi, ứng với
từng kỹ năng ngôn ngữ cho trẻ.
“Vốn từ vựng là cơ sở đầu tiên trong lời nói của trẻ. Ngơn ngữ của trẻ có
phong phú, chính xác, mạch lạc hay không phần lớn là do vốn từ quyết định. Vì vậy,
phát triển vốn từ vựng là cơng việc đầu tiên và vô cùng quan trọng” (Module MN
23, 2014). Thế nên, trong 120 chỉ số đánh giá trẻ 5 tuổi có 30 chỉ số thuộc 06 chuẩn
về ngơn ngữ do Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành năm 2010, trong đó có 10 chỉ
số liên quan đến vốn từ, được thể hiện qua nghe, hiểu và sử dụng lời nói (Bộ chuẩn
trẻ 5 tuổi, 2010). Có thể nói, đây là chỉ số rất quan trọng đối với trẻ bởi vốn từ
không chỉ giúp trẻ tri nhận về sự vật, hiện tượng xung quanh mà còn giúp trẻ “củng
cố những khái niệm thu lượm được bằng con đường cảm thụ” (Nguyễn Thị Trà My,
2017). Bên cạnh đó, việc trẻ hiểu nghĩa của từ và sử dụng từ đúng trong câu, trong
tình huống cụ thể, sẽ giúp trẻ dễ dàng hơn học tập cũng như giao tiếp với những
người xung quanh.
2
Trẻ 3 – 4 tuổi là bước chuyển từ lứa tuổi nhà trẻ lên lứa tuổi mẫu giáo, thay
thế hoạt động chủ đạo từ hoạt động với đồ vật sang hoạt động vui chơi. So với trẻ
24 – 36 tháng thì trẻ 3 – 4tuổi đã phát triển hơn một số kỹ năng về ngôn ngữ nhất
định, song vẫn thường gặp phải một số hạn chế ngôn ngữ như: về mặt phát âm cịn
ngọng những âm khó, bỏ bớt âm, thay thế âm dễ thành âm khó, v.v.; về từ: sử dụng
từ chưa chính xác, chưa biểu cảm, trật tự của từ trong câu còn lộn xộn, chưa đúng
thứ tự, v.v.; về sử dụng câu: câu cụt, câu thiếu thành phần, câu đơn điệu, không
logic, v.v... (Nguyễn Thị Phương Nga, 2012). Mặt khác, trẻ lứa tuổi này hoạt động
vui chơi là chính, bởi trẻ học thơng qua chơi, khi chơi trẻ được phát triển các chức
năng tâm lí: nhận thức, ngơn ngữ, tình cảm, ý chí, v.v... Bản thân trị chơi luôn chứa
đựng nhiều yếu tố bất ngờ, vui vẻ, thi đua và hấp dẫn trẻ.
Trường mầm non Việt Nam đang thực hiện chương trình đổi mới các hoạt
động chăm sóc giáo dục trẻ theo hướng tích hợp, dạy học lấy trẻ làm trung tâm, phát
huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của trẻ. Trong đó, phát triển ngơn ngữ cho trẻ
cũng được Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm và triển khai thực hiện trong nội dung
Chương trình Giáo dục mầm non. Giáo viên mầm non (GVMN) sẽ lồng ghép một
số nội dung giáo dục ngôn ngữ, các kỹ năng về ngôn ngữ cần đạt ở trẻ vào các trị
chơi, trong đó có trị chơi học tập. Bởi “Trò chơi học tập tạo khả năng thực hiện
nhiệm vụ giáo dục và dạy học qua hình thức hoạt động vừa sức và hấp dẫn đối với
trẻ” (Trần Thị Ngọc Trâm, 2002). Vậy trong thực tế khi phát triển vốn từ cho trẻ 3
– 4 tuổi, GVMN có thường sử dụng trị chơi học tập hay khơng? Việc áp dụng các
dạng trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi tại các trường mầm
non có tính hệ thống và đạt hiệu quả cao hay thấp? Nguyên nhân, cách khắc phục?
Hoặc nếu chưa có một hệ thống cụ thể về trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ
cho trẻ 3 – 4 tuổi nào, hay đã có nhưng vẫn cịn rời rạc, đơn lẻ, chưa có tính hệ
thống, chưa phong phú. Nên chăng cần xây dựng, bổ sung thêm một số trò chơi học
tập nhằm giúp trẻ 3 – 4 tuổi phát triển vốn từ? Đó cũng chính là lí do mà người
nghiên cứu lựa chọn đề tài “Xây dựng một số trò chơi học tập phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh”.
3
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng một số TCHT nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi và tổ chức chúng
tại trường mầm non Thực hành trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: q trình phát triển ngơn ngữ và hoạt động vui chơi của
trẻ MG 3 – 4 tuổi tại trường mầm non.
Đối tượng nghiên cứu: TCHT và cách sử dụng trị chơi đó vào việc PTVT cho
trẻ MG 3- 4 tuổi.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu xây dựng được một số TCHT phù hợp thì sẽ đạt được hiệu quả cao trong
việc PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu: Một số khái niệm cơ bản;
đặc điểm phát triển nhận thức, đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 3 – 4
tuổi; các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển vốn từ của trẻ; vai trò của vốn từ
đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi.
- Hệ thống hóa các khái niệm về chơi, hoạt động vui chơi, TCHT dành cho trẻ
MG 3 – 4 tuổi.
- Hệ thống, bổ sung một số TCHT nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi.
- Nghiên cứu thực trạng TCHT PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi.
- Xây dựng một số trò TCHT nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi và tiến hành
thử nghiệm ở trường mầm non Thực Hành, quận 10, Tp.HCM.
6. Phạm vi nghiêm cứu
Đề tài chỉ khảo sát thực trạng về vốn từ của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi tại một số
trường mầm non ở quận 9, quận 10, quận 3, quận Gò Vấp trong thành phố Hồ Chí
Minh (Tp.HCM ) và tiến hành thử nghiệm TCHT PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi tại
trường mầm non Thực hành, quận 10, Tp.HCM.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: Xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu: các khái niệm,
4
nội dung liên quan đến đề tài.
Đối tượng và nội dung nghiên cứu: vấn đề phát triển ngôn ngữ, lý thuyết phát
triển ngôn ngữ, đặc điểm tâm sinh lý nhận thức với việc phát triển ngôn ngữ của trẻ,
tài liệu, dữ liệu về chương trình GDMN, Thơng tư 28/2016/TT-BGDDT sửa đổi, bổ
sung một số nội dung của Chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo
Thơng tư 17/2009/BGDĐT có hiệu lực ngày 15/02/2017 các giai đoạn phát triển
ngôn ngữ ở trẻ mầm non; nội dung giáo dục ngôn ngữ và PTVT cho trẻ MG 3 – 4
tuổi.
Cách thức thực hiện:
Thu thập tài liệu để phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa những
vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan như: quan điểm dạy học tích hợp, quan
điểm dạy học lấy trẻ làm trung tâm, mục tiêu, nội dung, phương pháp, biện pháp,
hình thức dạy học PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi.
Thu thập tài liệu liên quan về đặc điểm tâm sinh lý, nhận thức, TCHT, vốn từ,
từ trong câu của trẻ MG 3 – 4 tuổi.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Mục đích: nhằm tìm hiểu và đánh giá thực trạng về vốn từ của trẻ MG 3 – 4
tuổi tại một số trường mầm non ở Tp.HCM, những nguyên nhân, ảnh hưởng, hạn
chế lên vốn từ trong các hoạt động vui chơi của trẻ; Trình độ chuyên môn, năng lực
tổ chức, phương pháp, cách thức tổ chức các TCHT nhằm PTVT cho trẻ.
Đối tượng: trẻ MG 3 – 4 tuổi và GVMN.
Nội dung: quan sát trẻ MG 3 – 4 tuổi nói chuyện trong giờ chơi, giờ học. Quan
cách GVMN tổ chức các hoạt động có chủ đích: giờ học, giờ chơi để PTVT cho trẻ.
Cách thực hiện: quan sát trực tiếp, ghi âm, quay phim, ghi chép để phân tích
kết quả thực trạng và thử nghiệm.
7.2.2. Phương pháp điều tra
Mục đích: điều tra về vốn từ của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi trước khi tiến hành
thực nghiệm bằng test 57 hình ảnh và một số câu hỏi bổ sung, tìm hiểu nguyên nhân
dẫn đến những hạn chế trong vốn từ của trẻ nhằm thu thập cứ liệu để tổ chức TCHT
5
PTV cho trẻ; xin ý kiến về cách thức hệ thống TCHT nhằm PTVT cho trẻ MG 3 –
4 tuổi; xin ý kiến chuyên gia nhằm làm sáng tỏ hệ thống lý luận và thực tiễn về vấn
đề nghiên cứu.
Cách thức thực hiện: trao đổi trực tiếp hoặc qua thư điện tử, điện thoại, phiếu
thăm dò, bảng hỏi.
Đối tượng điều tra: GVMN, Ban Giám hiệu, phụ huynh – người trực tiếp
nuôi dạy trẻ 3 – 4 tuổi tại một số trường mầm non ở Tp.HCM, chuyên gia về lĩnh
vực mà đề tài nghiên cứu.
Nội dung điều tra: số lượng từ của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi, những yếu tố ảnh
hưởng đến vốn từ của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi.
Các bước thực hiện: Qui trình điều tra gồm 2 bước
- Bước 1: Xây dựng phiếu thăm dò ý kiến, câu hỏi phỏng vấn về nội dung đề
tài nghiên cứu.
- Bước 2: Phát phiếu thăm dò, phỏng vấn và tổng hợp ý kiến.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: Thu thập thông tin về vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi, làm rõ thêm
những ý kiến của giáo viên; Xác định thực trạng vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi làm
cơ sở đề xuất một số biện pháp giáo dục, cách tổ chức trò chơi có luật phát triển vốn
từ cho trẻ MG 3 – 4 tuổi.
Nội dung: Những biểu hiện về ngôn ngữ, vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi.
Đối tượng: Giáo viên mầm non, chuyên gia nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ.
Cách thức: Phỏng vấn trực tiếp, thu âm, ghi chép.
7.3. Phương pháp thử nghiệm
Mục đích thử nghiệm nhằm kiểm chứng tính đúng đắn, phù hợp của một số
TCHT PTVT cho trẻ 3 – 4 tuổi tại trường MN Thực Hành, quận 10, Tp.HCM.
Đối tượng thử nghiệm: trẻ 3 – 4 tuổi tại trường MN Thực Hành, quận 10,
Tp.HCM. Nội dung: thử nghiệm TCHT PTVT trẻ MG 3 – 4 tuổi tại trường mầm
non Thực Hành, quận 10, Tp.HCM.
Cách thực hiện: Xây dựng kế hoạch và tiến hành tổ chức một số TCHT PTVT
cho trẻ MG 3 – 4 tuổi, có điều chỉnh kế hoạch thực hiện theo thực tiễn (nếu có),
6
đồng thời dánh giá kết quả thực hiện.
7.4. Phương pháp thống kê toán học
Mục tiêu: Để tổng hợp và phân tích các dữ liệu đã thu thập được nhằm đánh
giá về mặt định lượng
Nội dung: đánh giá về thực trạng vốn từ của trẻ, thực trạng về nhận thức và
cách tổ chức TCHT PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi của GVMN.
Cách thực hiện: Tính phần trăm trong phương pháp điều bằng phiếu anket,
phương pháp quan sát và phương pháp thử nghiệm, sử dụng phần mềm Excel.
8. Đóng góp của đề tài nghiên cứu
Đề tài xác định và hệ thống hoá cơ sở lý luận về vốn từ của trẻ 3 – 4 tuổi và
làm rõ thực trạng phát triển ngôn ngữ về mặt vốn từ ở trẻ MG 3 – 4 tuổi tại trường
MN Thực hành, quận 10, Tp.HCM.
Bên cạnh đó, tác giả hệ thống lại và bổ sung một số TCHT nhằm PTVT cho
trẻ MG 3 – 4 tuổi, giúp giáo viên có thêm tư liệu nhằm giúp trẻ MG 3 – 4 tuổi
PTVT.
7
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TRỊ CHƠI HỌC TẬP
VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở nước ngồi
Ngơn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng trong q trình hình thành và
phát triển của lồi người. Ngơn ngữ giúp cho con người lưu giữ lại những kinh
nghiệm sống, truyền thụ cho các đời sau kế thừa và phát triển. Nhờ có ngơn ngữ,
con người có thể giao tiếp với nhau, chia sẻ những hiểu biết, tình cảm, ước muốn
của bản thân với mọi người xung quanh. Chính vì lẽ đó, ngơn ngữ đóng vai trị quan
trọng đối với cuộc sống của mỗi người, trong đó có trẻ em lứa tuổi mầm non. Trên
thế giới đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về lĩnh vực ngôn ngữ, họ tìm hiểu về các
khía cạnh của ngơn ngữ nói chung và ngơn ngữ của từng dân tộc nói riêng, tìm ra
các quy luật vận hành và phát triển của ngôn ngữ như âm ngữ, vốn từ và ngữ pháp.
Khi nghiên cứu về ngôn ngữ dành cho trẻ em lứa tuổi mầm non, hầu hết các tác giả
quan tâm nghiên cứu đến đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ ở từng lứa tuổi, các
hình thức phát triển ngơn ngữ cũng như những phương pháp, biện pháp sư phạm
nhằm thúc đẩy sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ tốt hơn.
Các nhà tâm lý học đã nghiên cứu được rằng, ngôn ngữ có quan hệ với các q
trình tâm lý của trẻ là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Họ đã đưa ra các lý
thuyết liên quan đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non. Có thể kể
đến các thuyết như thuyết chủ nghĩa hành vi (Behaviorism theory), thuyết chủ nghĩa
tự nhiên (Naturalism theory), thuyết chủ nghĩa tương tác (Interationism theory) (dẫn
theo Trần Nguyễn Nguyên Hân, 2017).
Theo Skinner (1957) cho rằng ngôn ngữ được coi như một loại hành động
được hình thành nhờ thói quen được lặp đi lặp lại một cách máy móc, chính vì thế
ngơn ngữ là kết quả của q trình trẻ nhận tác động từ người lớn và phản ứng với
hành động của người lớn bằng cách bắt chước, qua đó người lớn giúp trẻ củng cố lại
hành vi ngơn ngữ. Cùng với Skinner thì tác giả Watson và Bandura cũng được xem
là các nhà nghiên cứu tiêu biểu của thuyết chủ nghĩa hành vi. Họ đưa ra nhận định
8
là bộ não của trẻ khi mới sinh ra giống như một tờ giấy trắng và ngôn ngữ của trẻ
được hình thành thơng qua sự tích lũy hàng ngày từ môi trường là những người lớn
xung quanh trẻ. (dẫn theo Trần Nguyễn Nguyên Hân, 2017).
Chomsky (1985) là người đại diện cho thuyết chủ nghĩa tự nhiên, ông cho
rằng trẻ nhỏ lĩnh hội ngôn ngữ dựa trên một cơ chế bẩm sinh (LAD: Language
Acquisition Device). Nên dù trẻ không được sự hướng dẫn có hệ thống của người
lớn nhưng nhờ có cơ chế lĩnh hội ngôn ngữ bẩm sinh này mà trẻ vẫn có thể lĩnh hội
ngơn ngữ dễ dàng, sử dụng câu đúng ngữ pháp. Với học thuyết này Chomsky xem
ngơn ngữ là hiện tượng có cơ sở sinh học, là thành tựu chỉ có ở con người.
Ủng hộ quan điểm với Chomsky là nhà nghiên cứu Lenneberg. Ông đã dựa
trên nền tảng của Chomsky và phát triển nghiên cứu về cơ sở sinh vật học của sự
lĩnh hội ngôn ngữ và nhận định rằng ngôn ngữ là hiện tượng có bản chất, di truyền,
ngơn ngữ khơng được học tập theo kinh nghiệm và mơi trường. Ơng khẳng định yếu
tố sinh học và triệt tiêu yếu tố ảnh hưởng đến ngơn ngữ của trẻ là gia đình và mơi
trường. Ngồi ra, Lenneberg còn đưa ra nhận định rằng trẻ trong độ tuổi từ 2 – 3
tuổi là thời kỳ rất quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ, và càng về sau nhất là
sau lứa tuổi dậy thì việc học ngơn ngữ mới sẽ gặp khó khăn vì ở thời kỳ này não bộ
đã phát triển hoàn thiện (Chomsky, 1965).
Khi xét về thuyết chủ nghĩa tương tác, Jean Piaget được xem là đại diện cho
thuyết chủ nghĩa tương tác trí tuệ và L.X.Vygotsky (1962) là người đại diện cho
thuyết tương tác xã hội. Cụ thể như sau, thuyết tương tác trí tuệ xem ngơn ngữ là
một trong số nhiều năng lực được lĩnh hội do kết quả của sự phát triển trí tuệ hơn là
đặc trưng di truyền hay ảnh hưởng bởi mơi trường. Theo đó, sự phát triển trí tuệ trở
thành động lực thúc đẩy sự phát triển ngôn ngữ, các giai đoạn phát triển ngôn ngữ
bị các giai đoạn phát triển trí tuệ chi phối và quyết định. Theo Jean Piaget trẻ từ 0 –
2 tuổi là thời kỳ cảm giác vận động (Sensorimotor) và trẻ từ 2 – 7 tuổi là thời kỳ
tiền thao tác (Pre-operation), trong hai giai đoạn này trẻ phát triển ngôn ngữ nhanh
chóng (Petty,W.T, D.C & Becking, M.F, 1981). Bên cạnh đó, Jean Piaget cịn cho
rằng ngơn ngữ gồm có hai hình thức là ngôn ngữ tự trị (được xem là đặc trưng của
tư duy trong thời kỳ tiền thao tác) và ngơn ngữ được xã hội hóa tức là trẻ khoảng 7
9
– 8 tuổi có thể sử dụng ngơn ngữ ở nghĩa thực thụ, thoát ra khỏi tư duy tự trị trước
đó (Petty, W.T., & Jensen, J.M., 1980).
L.X.Vygotsky (1962) là người đại diện cho thuyết tương tác xã hội. Ông cho
rằng ngơn ngữ của trẻ được hình thành và phát triển dựa trên quá trình tương tác
liên tục và phức tạp của môi trường xã hội với các yếu tố bẩm sinh của trẻ. Bên
cạnh đó ơng cịn khẳng định rằng hoạt động tinh thần của con người nói chung là
kết quả của hoạt động học tập có tính chất xã hội chứ khơng phải là hoạt động học
tập mang tính chất cá nhân. Theo Vygotsky, ngôn ngữ trước tiên là công cụ để thực
hiện tương tác xã hội và sau đó mới được biến đổi thành cơng cụ mang yếu tố cá
nhân. Bên cạnh đó Vygotsky cịn quan tâm đến sự phát triển ngơn ngữ nói và ngơn
ngữ viết. Ơng cho rằng học ngơn ngữ nói dễ hơn học ngơn ngữ viết và đối với trẻ
mầm non, không cần dạy trẻ viết đúng mà cần tạo cho trẻ động cơ, hứng thú với
hoạt động viết điều này mới mang ý nghĩa đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ nói
riêng và sự phát triển tồn diện của trẻ nói chung.
Jerome Seymour Bruner (1978) cũng đồng tình với quan điểm của
L.X.Vygotsky. Ơng nhận định rằng ngơn ngữ được phát triển thông qua tương tác
xã hội và đưa ra hệ thống hỗ trợ sự lĩnh hội ngôn ngữ (LASS: Language Acquisition
Support System). Q trình học ngơn ngữ của trẻ thơng qua mơi trường sống, có sự
hướng dẫn của người lớn và cả cơ chế lĩnh hội ngôn ngữ bẩm sinh. Sự tương tác của
người lớn có sự ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trong giai
đoạn đầu đời.
Tác giả Wasik & Newman (2009) cũng nghiên cứu về ngôn ngữ và đề cập gần
hơn với các khả năng của ngôn ngữ như khả năng đọc, khả năng thấu hiểu từ vựng.
Trong đó tác giả cho rằng từ vựng (hay cịn gọi là vốn từ) khơng chỉ đề cập đến số
lượng từ mà còn cần phải nhấn mạnh đến việc hiểu nghĩa của từ vựng, cách biểu đạt
từ vựng đúng với tình huống cụ thể, đồng thời cần biết đặt các từ với nhau để tạo
thành các cụm từ và thành câu phù hợp theo cấu trúc ngữ pháp, và kết hợp các từ lại
với nhau theo những cách có ý nghĩa.
Morris, A., & Heyman, K. (1989) lại quan tâm đến việc ngôn ngữ và từ vựng
phát triển như thế nào? Họ cho ra đời sản phẩm là tài liệu tham khảo dành cho trẻ
10
nhỏ với cái tên“big5-big-picture-oral-language-vocabulary-eng”. Các tác giả cho
rằng trẻ nhỏ phát triển các kỹ năng ngôn ngữ từ rất sớm, khi chúng xử lý (các) ngôn
ngữ của môi trường, phân biệt các mẫu âm thanh và lưu trữ âm thanh riêng lẻ trong
trí nhớ. Là trẻ sơ sinh, chúng học về ngôn ngữ xã hội chủ yếu thông qua tương tác
với người khác – bằng cách nghe người lớn và trẻ lớn nói chuyện với họ và bằng
cách sử dụng ngơn ngữ để đáp ứng. Bên cạnh đó, các tác giả này cũng đưa ra một số
cách giúp trẻ phát triển từ vựng hiệu quả như tương tác hàng ngày qua các hoạt
động cung cấp các từ mới, gần gũi thân thuộc cho trẻ. Đối với những từ ngữ ít gặp,
ít có cơ hội tiếp cận thì người lớn chú ý dùng sách, truyện, hình ảnh minh họa giúp
trẻ hiểu được nghĩa của từ tốt hơn và tạo cơ hội cho trẻ vận dụng vào cuộc sống.
Các nhà nghiên cứu khác (Craig, Connor, & Washington, 2003; Dickinson &
Tabors, 2001; Roth và cộng sự, 2002) trình bày bằng chứng tương phản rằng các kỹ
năng liên quan đến ý nghĩa, đặc biệt là từ vựng và kỹ năng học ngoại ngữ sớm. Ở
đây các tác giả đề cập nhiều đến trình độ học vấn.
Dickinson & Tabors, 2001; Missall, Reschly, & Betts, 2007; Poe, Burchinal,
& Roberts, 2004; Roth, Speece, & Cooper, 2002 cho rằng “Cả hai ngơn ngữ nói và
các kỹ năng đọc viết nổi lên phát triển trong những năm mẫu giáo là nền tảng quan
trọng cho việc đọc viết sau này”. Tuy nhiên, có nhiều tranh cãi về tầm quan trọng
tương đối của Whitehurst và Lonigan (1998, 2001) đã gọi là kỹ năng bên ngoài –
các kỹ năng liên quan đến xây dựng ý nghĩa – và các kỹ năng từ bên trong – các kỹ
năng liên quan đến giải mã nghĩa của từ – dự đoán ban đầu về phát triển văn hóa.
Schatschneider, Francis, Carlson, Fletcher và Foorman (2004) đã lập luận rằng các
kỹ năng liên quan đến mã ngôn ngữ, đặc biệt là kỹ năng ngữ âm và tốc độ đặt tên, là
những yếu tố quan trọng hơn của thành tích đọc đầu tiên và lớp hai.
Walston & West (2004) tiến hành một cuộc khảo sát các chương trình mẫu
giáo trên toàn quốc đã xác định các kỹ năng viết chữ và từ vựng là trọng tâm chính
của việc dạy đọc viết sớm. Các nghiên cứu thực nghiệm gần đây, mặt khác, nhấn
mạnh rằng một loạt các kỹ năng ngôn ngữ và ngôn ngữ sớm sau này đọc thành
công, bao gồm kỹ năng diễn đạt bằng lời nói, khả năng cú pháp và kiến thức từ
vựng (DeJong & Van Ler Leij, 2002; Dickinson, McCabe), Anastasopoulos,
11
Peisner-Feinberg, & Poe, 2003; Poe và cộng sự, 2004; Senechal & LeFevre, 2002).
Do đó, cần có sự kiểm tra chặt chẽ hơn về sự phát triển các thành phần của việc đọc
viết sớm theo thời gian ở trẻ, đặc biệt là ở những trẻ thuộc nhóm có nguy cơ cao,
tập trung vào nhiều kỹ năng ngôn ngữ và đọc viết hỗ trợ phát triển các buổi biểu
diễn đọc tích hợp.
Hiểu được nghĩa của từ và làm quen với các ký hiệu của chữ viết giúp cho
việc hiểu và truyền đạt ý nghĩa tốt hơn (Ravid & Tolchinsky, 2002). Trước khi trẻ
bắt đầu đọc viết chính thức, trẻ được làm quen với các ký tự (chữ viết, trong đó tác
giả đề cập đến tên và âm của chữ cái) thông qua tranh, sách, truyện trẻ được tiếp
cận với chữ viết, hiểu được nghĩa của từ vựng, cấu trúc ngữ pháp và khả năng diễn
đạt liên quan đến hiểu văn bản (Morris, Bloodgood, & Perney, 2003; Snow &
Dickinson, 1991). Những kỹ năng cơ bản như nghe, hiểu lời nói này phát triển lý
tưởng trong mơi trường gia đình và nhà trường. Trẻ được trực tiếp tham gia vào
hoạt động tương tác, giao tiếp một cách thường xuyên giúp khả năng nghe, nói và
phản xạ ngôn ngữ của trẻ phát triển. Đồng thời người lớn xây dựng môi trường chữ
viết xung quanh trẻ như thông qua sách truyện, chú ý đến tên các đồ vật, sự vật hiện
tượng xung quanh trẻ, tạo cơ hội cho trẻ trực tiếp tham gia trải nghiệm trong mơi
trường chữ viết đó giúp trẻ sớm nắm được ngơn ngữ viết (Craig và cộng sự, 2003;
Dickinson & Tabors, 2001; Farver, Xu, & Eppe, 2006; Hoff, 2006).
Bronfenbrenner (1995) nghiên cứu các mối quan hệ giữa các yếu tố quá trình
cá nhân, theo ngữ cảnh và gần nhau liên quan đến phát triển vốn từ vựng của trẻ. Về
mặt logic, trẻ cần biết và hiểu các từ (các từ đơn, từ ghép, cụm từ) tạo nên các văn
bản. Càng học lên các cấp trên, trẻ càng tiếp cận nhiều các từ mới, dẫn đến nhu cầu
tìm hiểu, học từ vựng của chính bản thân trẻ cũng tăng lên.
Nhìn chung các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ đều nhận định rằng ngôn ngữ rất
quan trọng đối với con người chúng ta, nó được phát triển theo một quy luật cụ thể
và phát triển nhanh nhất trong những năm đầu của một đời người. Cần quan tâm
phát triển vốn từ cho trẻ, nhất là trẻ em lứa tuổi mầm non không chỉ quan tâm về
việc phát triển về số lượng từ mà cần giúp trẻ hiểu nghĩa của từ, sử dụng từ trong
câu đúng, linh hoạt và phù hợp với tình huống cụ thể, giúp trẻ có được nền tảng
12
vững chắc để trẻ có thể tự mình tìm hiểu lĩnh hội tri thức từ môi trường xung quanh,
sách truyện và trường học.
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở trong nước cũng có rất nhiều cơng trình nghiên cứu về sự phát triển ngôn
ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non.
Các tác giả Dương Diệu Hoa (1985), Nguyễn Minh Huệ (1989), Hồ Minh
Tâm (1989) đều nghiên cứu về vốn từ, khả năng hiểu từ, cấu trúc ngữ pháp của trẻ ở
các độ tuổi khác nhau.
Giáo trình “Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ” do các tác giả Bùi Kim
Tuyến, Hồ Lam Hồng, Đặng Thu Quỳnh biên soạn sách dùng để bồi dưỡng chuẩn
hoá giáo viên trung học sư phạm mầm non hệ 9+1 và 12+1 (1998) ở những thời kì
đầu mới phát triển của ngành học Giáo dục mầm non đã đưa ra những nội dung,
phương pháp, hình thức phát triển lời nói cho trẻ một các khái quát nhất.
Kế đến là giáo trình đào tạo giáo viên THSP mầm non hệ 12+2 (1998) “Tiếng
việt và Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em” của các tác giả Nguyễn Quang
Ninh, Bùi Kim Tuyến, Lưu Thị Lan, Nguyễn Thanh Hồng đã làm rõ mối quan hệ
giữa sự phát triển tâm lí và sự phát triển lời nói của trẻ. Các tác giả đưa ra nhận định
về việc tiếp thu ngôn ngữ của trẻ phụ thuộc vào đặc điểm sinh lí tức dựa vào sự
nhanh nhạy của hệ thần kinh và ý chí của trẻ.
Đến những năm sau này nhiều tác giả tập trung nghiên cứu về sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ một cách hồn thiện hơn, có thể kể đến là Tác giả Nguyễn Huy
Cẩn (2001) có “Từ hoạt động đến ngôn ngữ trẻ em” đi sâu nghiên cứu về cơ chế
bên trong và đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ qua từng độ tuổi. Bên cạnh đó
ơng cịn đề cập đến vấn đề mà hiện nay vẫn còn tranh cãi đó là “nên hay khơng nên
cho trẻ học tiếng nước ngồi”?
Tác giả Nguyễn Xn Khoa (2004) có đề cập đầy đủ các mặt phát triển của
ngôn ngữ và ông cũng có chung nhận định với các nhà tâm lý học đó là: ngơn ngữ
có quan hệ với các q trình tâm lý của trẻ (quá trình nhận thức cảm tính và nhận
thức lý tính). Cuốn giáo trình “Phương pháp phát triển ngơn ngữ cho trẻ mẫu giáo”
có nêu lên mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ. Trong đó ngơn ngữ được xem là
13
hình thức tồn tại, là phương tiện vật chất để thể hiện tư duy. Tức là ta có thể xem
ngơn ngữ là cái biểu hiện và tư duy là cái được biểu hiện. Mối quan hệ giữa chúng
được tác giả ví như “hai mặt của một tờ giấy” đã có mặt này ắt phải có mặt kia. Vốn
ngơn ngữ của một người càng dồi dào thì tư duy của người đó càng phong phú,
càng sâu sắc, càng dễ dàng truyển đạt nội dung của chủ thể một cách chính xác
nhất. Tác giả cũng cho rằng ngôn ngữ giúp con người lưu truyền lại những kinh
nghiệm sống, văn hóa, tri thức cho thế hệ sau.
Tác giả Đinh Hồng Thái, Trần Thị Mai có biên soạn cuốn giáo trình “Phương
pháp phát triển ngơn ngữ cho trẻ mầm non”. Cuốn giáo trình này hướng dẫn các
phương pháp, biện pháp cụ thể nhằm giúp trẻ em lứa tuổi mầm non phát triển ngôn
ngữ . Đồng thời hai tác giả đề cập đến các nhiệm vụ cụ thể của người GVMN cần
thực hiện là giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt, hình thành và phát triển vốn từ
cho trẻ, dạy trẻ mẫu câu tiếng Việt, dạy trẻ nói mạch lạc, dạy trẻ làm quen với tác
phẩm văn học và chuẩn bị cơ sở cho trẻ làm quen với các kỹ năng đọc viết để chuẩn
bị cho trẻ vào lớp một.
Tác giả Nguyễn Thị Phương Nga cũng biên soạn cuốn giáo trình “Phương
pháp phát triển ngơn ngữ cho trẻ mầm non” (2009), có chỉnh sửa và bổ sung thêm
một số nội dung vào năm 2012. Trong cuốn giáo trình này về nội dung và nhiệm vụ
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non tác giả Nguyễn Thị Phương Nga cùng chung
quan điểm với tác giả Nguyễn Xuân Khoa, duy chỉ khác một chút trong nội dung
phát triển vốn từ cho trẻ tác giả có đề cập đến một khía cạnh khác dựa trên một
nghiên cứu về ngơn ngữ của V.I.Lơginơva đó là đưa ra ngun tắc khi dạy vốn từ
cho trẻ: dạy từ dễ đến khó, từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, từ việc dạy trẻ
biết sử dụng từ đúng đến biết dùng từ mang tính biểu cảm. Tác giả cịn nhấn mạnh
việc dạy từ cho trẻ không nên chỉ chú trọng đến việc cung cấp số lượng từ cho trẻ
mà còn cần quan tâm đến khả năng hiểu nghĩa của từ và sử dụng từ đúng trong câu,
dùng từ phù hợp với tình huống cụ thể.
Lưu Thị Lan (1996) có cơng trình nghiên cứu “Những bước phát triển ngơn
ngữ trẻ em 1 – 6 tuổi” đã chỉ rõ các bước phát triển về ngữ âm của trẻ em Việt Nam
bắt đầu từ giai đoạn tiền ngôn ngữ (0 – 1 tuổi) giai đoạn ngôn ngữ (1– 6 tuổi), về
14
mặt ngữ âm có những bước tiến dài đặc biệt là giai đoạn 4 – 6 tuổi. Các bước phát
triển về từ vựng được tác giả thống kê từng lứa tuổi với số lượng từ tối thiểu và số
lượng từ tối đa. Từ 18 tháng tuổi trở đi trẻ có sự nhảy vọt về số lượng từ và yếu tố
văn hóa, xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển vốn từ của trẻ. Các bước phát
triển về ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam được tác giả nghiên cứu rất
cụ thể từng lứa tuổi với loại câu đơn, câu phức, các loại câu phức như câu phức
chính phụ, câu phức đẳng lập. Tác giả cho rằng ở trẻ mầm non câu phức chính phụ
xuất hiện muộn và có số lượng ít hơn so với câu đơn.
Phạm Kim (1997) Cho trẻ nghe thơ, truyện, chơi một số trị chơi như đốn vật
qua tiếng kêu, kể tên các con vật em biết, trị chơi nối từ, nói từ tiếp theo, chơi đóng
vai theo chủ đề, kể chuyện theo tranh. Tác giả cũng đã nêu các biện pháp sửa ngọng
cho trẻ rất đơn giản chỉ cần luyện tập một số buổi là trẻ có thể nhận thức được cách
phát âm đúng, cần căn cứ vào thời gian ngọng để định hình lại cách phát âm chuẩn
địi hỏi ngắn hay dài và sự có mặt của cha mẹ trẻ trong các buổi tập là cần thiết để
từ đó họ có thể hướng dẫn cho trẻ luyện tập phát âm khi trẻ ở nhà.
Trong cuốn giáo trình của Đại học Huế do tác giả Trịnh Thị Hà Bắc (2013)
“Những nội dung cơ bản của mơn học lí luận và phương pháp phát triển ngơn ngữ
cho trẻ em” có nêu lên quan điểm: “thơng qua ngơn ngữ, qua lời nói của người lớn,
trẻ làm quen với các sự vật hiện tượng và hiểu những đặc điểm, tính chất, cấu tạo,
cơng dụng, chức năng của chúng và trẻ học được từ tương ứng. Ngôn ngữ giúp trẻ
mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh. Từ ngữ giúp cho việc củng cố những biểu
tượng đã được hình thành”. Qua đó trẻ khơng chỉ đơn thuần là phát triển về mặt
ngôn ngữ mà nhận thức của trẻ cũng vì thế mà phát triển hơn so với trước.
Lã Thị Bắc Lý (2017) có nghiên cứu Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo thông
qua hoạt động trải nghiệm có viết “phát triển vốn từ là một trong những nhiệm vụ
quan trọng ở trường mầm non, bởi đây chính là nền tảng của phát triển ngơn ngữ,
giúp trẻ phát triển tồn diện nhân cách”. Trong nghiên cứu này, tác giả đề cập
nhiều tới hoạt động trải nghiệm kích thích sự hứng thú tị mị của đứa trẻ. Trẻ trực
tiếp trải nghiệm, được tận mắt chứng kiến sự vật hiện tượng trong thế giới tự nhiên,
15
xã hội; được sờ, được ngửi, được giao tiếp trực tiếp với mọi người xung quanh qua
đó vốn từ của trẻ được phát triển.
Lưu Thị Thanh Hường (2017) cũng có nghiên cứu về “Biện pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ 3 tuổi trong gia đình”. Tác giả nhận định phát triển ngôn ngữ xảy
ra mạnh nhất trong 6 năm đầu đời, và đặc biệt phát triển nhanh trong giai đoạn 2-3
tuổi. Gia đình chính là mơi trường lý tưởng và thuận lợi nhất cho việc chăm sóc và
giáo dục trẻ nhất là trong q trình phát triển ngơn ngữ.
Tác giả Nguyễn Hồng Phương (2010) cũng có một nghiên cứu về ngôn ngữ
nhưng thiên về giới từ “Chức năng của giới từ tiếng Việt xét trên bình diện ngữ
pháp và ngữ nghĩa”. Tác giả cho rằng giới từ là một loại từ quan trọng và được
thống nhất về quan điểm trong ngơn ngữ học đại cương, nhưng nó lại chưa được
nhìn nhận và đánh giá đúng vị trí vai trị vốn có của nó. Nghiên cứu chỉ ra những
điểm khác biệt giữa giới từ và liên từ, nhấn mạnh chức năng của giới từ trên cả hai
bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa trong đó đặc biệt kharao sát sự thể hiện đa dạng và
linh hoạt của giới từ với tư cách là phương tiện đánh dấu các vai nghĩa trong nội
dung sự tình mà câu biểu hiện.
Tác giả Trần Nguyễn Nguyên Hân (2011) cũng có nghiên cứu một đề tài liên
quan đến phát triển ngôn ngữ là “Tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mầm non theo hướng học với động cơ chơi”. Ở bài viết này tác giả giới thiệu một số
hình thức tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ theo hướng “học với động cơ chơi”
như sử dụng đồ dùng dạy học, sử dụng lời nói, sử dụng mơi trường lớp học, sử dụng
những ấn phẩm, ứng dụng công nghệ thông tin vào nhằm giúp trẻ lứa tuổi mầm non
phát triển ngôn ngữ tốt hơn. Tuy nhiên, đề tài lại khơng dừng lại để nói về cụ thể
hoạt động chơi dành cho một lứa tuổi, mà đề cập chung cho toàn lứa tuổi trẻ mầm
non nói chung.
Nguyễn Thị Trà My (2017) có đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ trẻ em từ 2 đến 5
tuổi xét trên bình diện từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ pháp khảo sát trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên”. Trong nghiên cứu này tác giả cũng nhấn mạnh vai trị của ngơn ngữ
đối với trẻ mầm non, đồng thời đưa ra nhận định về sự tạo thành và tiếp thu ngôn
ngữ ở con người là một quá trình lâu dài, phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn từ 2
16
đến 5 tuổi nhưng sự phát triển không đồng đều theo từng độ tuổi. Tác giả cũng
khẳng định nhiệm vụ của người lớn cần giúp trẻ nắm được ngôn ngữ ở mọi phương
diện như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, hiểu được nghĩa của từ và sử dụng chúng
thạo trong hoạt động ngơn ngữ nói, nghe, đọc, viết là một nhiệm vụ quan trọng
giúp trẻ điều chỉnh hành vi, định hình tính cách trong tương lai và hình thành nên
những giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực của xã hội. Bên cạnh đó tác giả lại cho
rằng số lượng cơng trình nghiên cứu về ngơn ngữ trẻ em đặc biệt là ngơn ngữ của
trẻ 2 đến 5 tuổi nói chung, ngơn ngữ trẻ em nhìn từ bình diện ngơn ngữ gắn với từng
giai đoạn của trẻ nói riêng hiện nay còn rất hạn chế, cần được bổ sung nghiên cứu
về ngơn ngữ trẻ em.
Khóa luận tốt nghiệp của Phạm Thụy Kim Châu (2013) với đề tài “Thiết kế
một số trò chơi học tập phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi”. Trong đề tài
tác giả cũng nhấn mạnh vai trị của ngơn ngữ và cho rằng “khi trẻ có vốn từ vựng
phong phú thì trẻ sẽ nói tốt hơn so với những đứa trẻ cùng lứa có vốn từ hạn hẹp”.
Đặc biệt trong khóa luận tốt nghiệp này tác giả đề cập nhiều tới hoạt động vui chơi
của trẻ mẫu giáo và cho rằng đây là hoạt động trí tuệ, là một nhân tố quan trọng đối
với sự phát triển trí tuệ của trẻ, tạo ra sự thích nghi của trẻ với mơi trường. Tác giả
cũng nhận định về thực trạng việc sử dụng trò chơi đa phần chỉ phục vụ cho hoạt
động học như làm quen môi trường xung quanh, hoạt động làm quen với các biểu
tượng tốn ban đầu, hoạt động tạo hình, làm quen tác phẩm văn học,.. còn ở hoạt
động phát triển ngơn ngữ lại ít được chú trọng sử dụng. Trong khóa luận có sử dụng
13 trị chơi nhằm giúp trẻ 4 đến 5 tuổi phát triển vốn từ, tuy nhiên những trò chơi
được thể hiện dưới dạng liệt kê, dàn trải, chưa thấy được sự phân nhóm, chưa thấy
rõ các bước thực hiện cũng như sắp xếp trò chơi theo trình tự nhằm thúc đẩy sự phát
triển vốn từ cho trẻ.
Nhìn chung vấn đề ngơn ngữ trẻ em được các nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu ở nhiều mặt, nhiều lứa tuổi khác nhau. Có nghiên cứu về cấu trúc đặc biệt của
ngơn ngữ, có nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tác động đến quá trình hình thành và
phát triển ngôn ngữ, một số nghiên cứu khác lại nghiên cứu biện pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ… Tuy nhiên, ở Việt Nam các cơng trình nghiên cứu mới tập trung