1
2
PHẦN MỞ ĐẦU
MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN để tìm ra những rào cản ảnh hưởng
đến MQH buộc Nhà nước phải can thiệp, thúc đẩy phát triển MQH.
1. Lý do lựa chọn đề tài
Tăng cường sự gắn kết giữa trường đại học (ĐH) với doanh nghiệp (DN) trong
nghiên cứu-chuyển giao công nghệ (NC&CGCN) đã trở thành giải pháp ưu tiên hàng
đầu và có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển thịnh vượng của các quốc gia. Hoạt
động NC&CGCN mang lại lợi ích kép, vì: (i) xét từ góc độ trường ĐH, hoạt động
NC&CGCN giúp nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và tăng
nguồn thu để đầu tư phát triển nhà trường; (ii) xét từ góc độ DN, hoạt động
NC&CGCN góp phần tăng năng suất lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh; (iii)
xét từ góc độ Nhà nước, hoạt động NC&CGCN góp phần kích thích hoạt động sáng
tạo và mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế.
Chính vì vậy, để tồn tại và phát triển, cả trường ĐH và DN phải tự tìm đến
những đối tác mang lại lợi ích cho mình và sự hợp tác giữa trường ĐH và DN mang
tính tất yếu. Trên thực tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau khiến sự gắn kết giữa
trường ĐH và DN không thực hiện được hoặc thực hiện không đạt hiệu quả như
mong muốn, nếu chỉ dựa vào sự “tìm đến nhau” một cách tự nhiên giữa hai chủ thể.
Do đó, Nhà nước phải đóng vai trị quan trọng làm cầu nối và thúc đẩy sự gắn kết
giữa các bên với nhau để tăng cường mối quan hệ (MQH) này trong NC&CGCN .
Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn chủ đề nghiên cứu: Vai trò của
Nhà nước nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa trường Đại học - Doanh nghiệp
trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ để làm rõ các cách thức và các chính
sách Nhà nước cần phải thực hiện để thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN trong
NC&CGCN ở Việt Nam trong bối cảnh mới.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát: Xây dựng cơ sở lý luận về vai trò của Nhà nước nhằm
thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN, làm rõ những rào cản chính
trong MQH này và sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước, từ đó đối chiếu
với thực trạng tại Việt Nam để đề xuất những nhóm giải pháp hồn thiện chính sách
từ phía Nhà nước nhằm thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN để tăng cường hoạt động
NC&CGCN trong bối cảnh mới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
(i) Xây dựng khung nghiên cứu về vai trò của Nhà nước nhằm thúc đẩy MQH
giữa trường ĐH - DN trong hoạt động NC&CGCN thơng qua việc luận giải bản chất
(ii) Phân tích thực trạng MQH giữa ĐH - DN trong NC&CGCN, các rào cản của
MQH và thực trạng vai trò của Nhà nước nhằm thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN.
(iii) Đề xuất các giải pháp để Nhà nước đóng vai trị tích cực hơn nhằm thúc
đẩy và phát triển MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN tại Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là vai trò của Nhà nước nhằm thúc đẩy MQH giữa
trường ĐH - DN trong NC&CGCN.
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu, luận giải vai trị của Nhà
nước thơng qua việc đánh giá các cơ chế, chính sách Nhà nước để thúc đẩy MQH hợp
tác trường ĐH - DN trong NC&CGCN.
Phạm vi không gian: Luận án tập trung nghiên cứu tại các trường ĐH công lập,
tư thục, đại diện các DN (không phân biệt DN nhà nước, DN tư nhân trong nước).
Vai trò của Nhà nước được đề cập với quan niệm Nhà nước có vai trị quan trọng để
khắc phục các thất bại của thị trường trong NC&CGCN, không nhằm nghiên cứu cụ
thể chức năng của một cơ quan quản lý Nhà nước chuyên biệt nào trong lĩnh vực này.
- Phạm vi thời gian: Luận án phân tích thực trạng vai trị của nhà nước trong
MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm
2019, đề xuất giải pháp cho giai đoạn đến năm 2030.
4. Những đóng góp mới của luận án
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
Thứ nhất, luận án xác định 5 rào cản (sở hữu trí tuệ, thơng tin, rủi ro, lợi ích và
tài chính) cản trở mối quan hệ giữa trường Đại học - Doanh nghiệp và chỉ ra vai trị
quan trọng của Nhà nước trong việc tạo mơi trường để thúc đẩy mối quan hệ giữa
trường Đại học - Doanh nghiệp trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
(NC&CGCN).
Thứ hai, luận án xác định có bốn hình thức của mối quan hệ giữa trường Đại
học - Doanh nghiệp trong NC&CGCN, bao gồm Cộng tác, Tương tác, Hợp tác và
Liên kết. Dựa trên tác động của các rào cản tới các hình thức của mối quan hệ giữa
trường Đại học - Doanh nghiệp, luận án khẳng định lý do Nhà nước cần can thiệp
nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa trường Đại học - Doanh nghiệp.
3
4
Thứ ba, luận án đề xuất khung lý thuyết về vai trò của Nhà nước nhằm thúc
đẩy mối quan hệ giữa trường Đại học - Doanh nghiệp thông qua công cụ chính sách,
bao gồm chính sách tạo mơi trường thể chế và chính sách hỗ trợ tài chính để làm hạn
chế các rào cản trong mối quan hệ giữa trường Đại học - Doanh nghiệp trong
NC&CGCN.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Phần tổng quan các cơng trình nghiên cứu của luận án chia thành hai nhóm chủ
đề chính: (i) MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN; (ii) Vai trò của Nhà
nước nhằm thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN.
Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của
luận án
1.1. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa trường đại học - doanh nghiệp
trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ
Thứ nhất, năm rào cản về sở hữu trí tuệ, thơng tin, rủi ro, lợi ích và tài chính
cản trở mối quan hệ giữa trường Đại học - Doanh nghiệp trong NC&CGCN, theo bất
cứ hình thức quan hệ nào. Gỡ bỏ rào cản này sẽ giúp mối quan hệ giữa trường Đại
học - Doanh nghiệp trong NC&CGCN phát triển.
Thứ hai, mối quan hệ giữa trường Đại học - Doanh nghiệp trong NC&CGCN
tại Việt Nam đang diễn ra ở mức đơn giản, manh mún, phát triển chưa có tính hệ
thống bởi vì sự tồn tại của 5 loại rào cản là khách quan và cần có sự can thiệp của
Nhà nước.
Thứ ba, vai trò của Nhà nước nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa trường Đại
học - Doanh nghiệp trong NC&CGCN mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng chính sách,
cịn việc triển khai thực hiện đưa chính sách vào cuộc sống cịn hạn chế. Điều này
khiến cho các rào cản vẫn đang thách thức mối quan hệ giữa trường Đại học - Doanh
nghiệp trong NC&CGCN ở Việt Nam.
Thứ tư, giải pháp dỡ bỏ 5 nhóm rào cản sở hữu trí tuệ, thơng tin, rủi ro, lợi ích
và tài chính được đề xuất theo cách tiếp cận cơng cụ chính sách và phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh của Việt Nam. Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, những đề
xuất này góp phần thúc đẩy mối quan hệ giữa trường Đại học - Doanh nghiệp trong
NC&CGCN.
5. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục tiêu, quy trình, phương pháp nghiên cứu,
các phụ lục, các tài liệu tham khảo. Luận án chia thành 5 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý luận về vai trò của Nhà nước nhằm thúc đẩy MQH giữa
trường ĐH - DN trong NC&CGCN
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Thực trạng vai trò Nhà nước nhằm thúc đẩy MQH giữa trường ĐH
- DN trong NC&CGCN.
Chương 5: Tăng cường vai trò của Nhà nước nhằm thúc đẩy MQH giữa trường
ĐH - DN trong NC&CGCN
Các nghiên cứu về MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN được tiếp
cận dưới các góc độ khác nhau nhưng đều thống nhất cho rằng MQH giữa trường ĐH
- DN trong NC&CGCN là rất cần thiết, mang lại rất nhiều lợi ích cho trường ĐH, DN
và xã hội. Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu đều đứng từ góc nhìn riêng biệt của DN
để xem xét nhu cầu của họ đối với các dịch vụ NC&CGCN của trường ĐH, hoặc từ
phía trường ĐH để xem xét nhu cầu được DN hỗ trợ, hợp tác. Các nghiên cứu mới
chỉ xem xét đến các rào cản xuất phát từ bên trong như nhận thức, địa lý, văn hóa,
năng lực... mà chưa nghiên cứu các rào cản xuất phát từ bên ngoài các chủ thể mà
chính các chủ thể này khơng thể hoặc không muốn giải quyết để thúc đẩy MQH này.
Các nghiên cứu trên chưa trả lời được câu hỏi là chủ thể nào sẽ đứng ra để khắc phục
những rào cản khách quan khi hai bên trường ĐH, DN không thể giải quyết được. Vì
vậy, cần phải có một nghiên cứu cụ thể để chỉ ra vì sao trường ĐH, DN đều thấy
được lợi ích của MQH nhưng MQH này vẫn không phát triển? MQH này bị hạn chế
bởi rào cản nào, những rào cản nào mà hai bên không thể giải quyết được, chủ thể
nào sẽ đứng ra khắc phục rào cản đó? Từ đó, luận giải để khẳng định vai trò của Nhà
nước đối với MQH giữa trường ĐH - DN.
1.2. Các nghiên cứu về vai trò nhà nước nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa
trường đại học - doanh nghiệp trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
Khi xem xét đến vai trò của Nhà nước, các nghiên cứu mới chỉ xem xét Nhà
nước với chức năng đã được pháp luật qui định và tìm cách tăng cường vai trị pháp
lý đó của Nhà nước, hoặc ngầm định Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện tất cả
các giải pháp để tháo gỡ khó khăn trong MQH giữa trường ĐH - DN trong
NC&CGCN. Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra lý do Nhà nước cần phải can thiệp
vào MQH giữa trường ĐH - DN là do đặc tính của NC&CGCN, nhưng chưa có
nghiên cứu nào xuất phát từ vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường để luận
giải và phân định rõ vướng mắc nào thuộc về giao dịch thị trường thuần túy và phải
do trường ĐH và DN tự giải quyết; vướng mắc nào liên quan đến thất bại thị trường
NC&CGCN và cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước. Với vai trị của mình,
Nhà nước cần phải làm gì và làm như thế nào để thúc đẩy MQH giữa trường ĐH và
5
6
DN trong NC&CGCN theo hướng phát triển hiệu quả, bền vững với bối cảnh phát
triển của Việt Nam. Đây là vấn đề mà Luận án đi sâu nghiên cứu và làm rõ cả về mặt
lý luận và thực tiễn.
cực, vừa có tính sở hữu cá nhân vừa có tính chất “hàng hóa cơng”, có tính khơng
đồng nhất và độc quyền. Bên cạnh đó, việc xác định giá trị của sản phẩm
NC&CGCN rất khó khăn.
CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC NHẰM THÚC ĐẨY MỐI
QUAN HỆ GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC – DOANH NGHIỆP TRONG
NGHIÊN CỨU, CHUYỂN GIAO CƠNG NGHỆ
Từ những đặc tính trên cho thấy, sản phẩm NC&CGCN mang nhiều tính chất
hàng hố cơng cộng: rất dễ bị đánh cắp, bắt chước, sao chụp, cá nhân không sẵn sàng
chi trả để được sử dụng trừ các tổ chức, cá nhân mua cho mục đích sản xuất tạo ra
các sản phẩm, dịch vụ nhằm thu lợi. Các DN chỉ chạy theo lợi nhuận ngắn hạn sẽ
khơng sẵn lịng đổi mới và phát triển sản phẩm NC&CGCN. Từ đặc tính của sản
phẩm NC&CGCN cho thấy quyền sở hữu chính là cơ sở nền tảng cho việc chuyển
giao sản phẩm NC&CGCN từ bên đang sở hữu cho người có nhu cầu mua và có khả
năng chi trả.
2.1. Mối quan hệ giữa trường đại học - doanh nghiệp trong nghiên cứu,
chuyển giao công nghệ.
2.1.1. Khái niệm về NC&CGCN: NC&CGCN là một khâu của vận động cơng
nghệ trong chuỗi quy trình từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng đến đánh
giá kết quả nghiên cứu đến sản xuất thử, thử nghiệm đến đưa ra thị trường đến hỗ trợ
và kết thúc quy trình (Goyal,2006). Như vậy, bản chất của quá trình NC&CGCN địi
hỏi phải hình thành và duy trì mang tính tự thân MQH giữa trường ĐH - DN trong
NC&CGCN.
2.1.2. Bản chất MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN: Trong Luận án
này, MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN được hiểu là những giao dịch
mua bán theo một cơ chế hợp tác để tạo ra, phổ biến và/hoặc thương mại hóa sản
phẩm NC&CGCN nhằm mang lại lợi ích cho cả hai bên.
2.1.3. Động lực thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN: Tổng
quan chia làm 3 nhóm sau: (i) Từ nhận thức mang lại lợi ích cho cả hai bên (MoraValentin, 2000); (ii) Từ nhu cầu tồn tại và phát triển của trường ĐH và DN; (iii) Từ
tác động của mơi trường bên ngồi MQH giữa trường ĐH - DN như chính sách, cơ
chế của cơ quan quản lý các cấp.
Trên thực tế, động lực thúc đẩy MQH trường ĐH - DN có thể thay đổi theo
tính đặc thù riêng của từng tổ chức, từng hình thức hợp tác và trong từng giai đoạn
hay bối cảnh phát triển của một quốc gia nhưng chủ yếu xoay quanh ba nhóm động
lực thúc đẩy trên.
2.1.4. Đặc điểm giao dịch giữa trường đại học - doanh nghiệp tại thị trường
nghiên cứu, chuyển giao công nghệ
- Đặc điểm của sản phẩm NC&CGCN: Sản phẩm NC&CGCN lưu thơng trên
thị trường có tính đặc thù cao gồm các loại hàng hố phi vật thể, khó giám định, vịng
đời ngắn, nhanh lạc hậu, dễ lộ bí quyết, mang tính chất ngoại ứng (externality) tích
- Đặc điểm của các giao dịch tại thị trường NC&CGCN: Từ đặc tính của sản
phẩm NC&CGCN làm cho thị trường NC&CGCN rất kén người mua và người bán,
chủng loại hàng hóa thay thế khơng phong phú, ln tồn tại một vị thế độc quyền của
các nhà nghiên cứu, trường ĐH. Các rào cản về SHTT, thông tin, rủi ro luôn tồn tại
trong giao dịch sản phẩm NC&CGCN.
Bên cung - các trường ĐH xuất phát từ ý tưởng sáng tạo cá nhân nên ít quan
tâm đến việc ai sẽ mua sản phẩm NC&CGCN của mình.
Bên cầu - các DN muốn có những giải pháp cơng nghệ rất đặc thù để giải quyết
nhu cầu cụ thể của mình nhưng khơng tìm được hoặc khơng muốn mua do muốn thụ
hưởng sẵn. Tính chất không loại trừ của sản phẩm NC&CGCN làm cho cung và cầu
rất khó gặp nhau. Xét về lý thuyết và thực tiễn thì trên thị trường này thường xuyên
mất cân bằng cung - cầu.
- Đặc điểm và năng lực của trường ĐH với tư cách là bên cung sản phẩm
NC&CGCN: Chức năng chính của trường đại học là truyền bá và mở rộng tri thức. Vì
vậy, hầu hết các trường ĐH chỉ tập trung nghiên cứu khoa học tìm ra những điểm
mới mà không gắn với ứng dụng thực tiễn và nhu cầu thị trường.
Với tư cách là bên cung trên thị trường KHCN, các trường ĐH phải đáp ứng
các yêu cầu sau: Hội tụ đông đảo các nhà khoa học lớn về các lĩnh vực; phải tư duy,
thích ứng, chuyển đổi theo hướng thị trường; phải đảm bảo mục tiêu phát triển kinh
tế được tích hợp cùng với mục tiêu phát triển tri thức khoa học, hướng tới và tạo ra
một giá trị cộng hưởng thiết thực, hiệu quả cho tổ chức của mình và cho xã hội.
- Đặc điểm của DN với tư cách là bên cầu sản phẩm NC&CGCN: Chức năng
chính của DN là sản xuất và kinh doanh nhằm thực hiện một, một số hoặc tất cả cơng
đoạn của q trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ
nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thơng qua đó để tối đa hố lợi nhuận
7
8
trên cơ sở tôn trọng luật pháp của Nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu
dùng. Mục tiêu chính của các DN là lợi nhuận
Với tư cách là bên cầu trên thị trường KHCN, các DN phải đáp ứng các yêu
cầu sau: Phải có năng lực tiếp nhận NC&CGCN, năng lực tài chính, năng lực huy
động vốn để tiếp nhận sản phẩm NC&CGCN.
nước và thị trường công nghệ thơng qua: việc bảo đảm hài hịa lợi ích giữa các chủ thể
trong MQH; không can thiệp khi MQH giữa trường ĐH - DN hoạt động hiệu quả, chỉ
làm những gì mà hai bên khơng thể làm hoặc làm khơng hiệu quả, đồng thời phải xử lý
mối quan hệ giữa Nhà nước - DN - trường ĐH phù hợp với từng giai đoạn phát triển
của nền kinh tế.
2.1.5. Phân loại các hình thức MQH: Căn cứ vào mục đích của việc hợp tác sẽ
phân chia thành các hình thức khác nhau để đảm bảo việc xác lập hoặc điều chỉnh các
2.2.3. Vai trò của nhà nước nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa trường đại hoc doanh nghiệp trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ
quan hệ xã hội phát sinh trong q trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các bên
với nhau trong thị trường NC&CGCN. Trong các cách phân loại hình thức được tổng
hợp trong Luận án, cách phân loại hình thức theo các cấp độ giao dịch, tần suất giao
dịch là rõ ràng và phù hợp hơn theo những nguyên tắc trao đổi trên thị trường
NC&CGCN. Luận án thực hiện phân loại thành 4 nhóm dựa trên cấp độ, tần suất giao
dịch từ thấp đến cao, từ cộng tác, tương tác, hợp tác đến liên kết để xem xét mức độ
gắn kết của từng nhóm giao dịch trong MQH giữa ĐH - DN.
Từ những lập luận trên, xuất phát từ vai trò Nhà nước trong việc định hướng,
tạo tiền đề, điều tiết các hoạt động NC&CGCN, đảm bảo hạ tầng và tạo môi trường
pháp lý, cũng như khuyến khích phát triển, phổ biến sản phẩm NC&CGCN, nâng cao
năng lực nghiên cứu, sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; đồng thời điều
chỉnh và giải quyết khiếm khuyết thị trường, Nhà nước sử dụng hai nhóm chính sách
chủ yếu, đó là: (i) chính sách tạo mơi trường thể chế, (ii) chính sách hỗ trợ tài chính.
Các chính sách này sẽ được nhìn nhận theo 5 rào cản khách quan cản trở MQH giữa
trường ĐH - DN: (1) Về quyền SHTT; (2) chính sách thơng tin; (3) chia sẻ lợi ích;
(4) chia sẻ rủi ro; (5) chính sách hỗ trợ tài chính.
2.1.6. Các rào cản đối với việc hình thành và thúc đẩy mối quan hệ giữa đại
học và doanh nghiệp trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ
Qua tổng quan các nghiên cứu, Luận án đã chỉ ra có rất nhiều rào cản cản trở
việc hình thành và thúc đẩy MQH giữa trường ĐH và DN trong NC&CGCN mà bản
thân các chủ thể này không thể tự giải quyết được như: rào cản về SHTT, chia sẻ lợi
ích, chia sẻ rủi ro, thơng tin bất đối xứng hay đảm bảo điều kiện về tài chính vì vậy
rất cần Nhà nước đứng ra làm trọng tài, điều phối, hỗ trợ hạn chế các rào cản này để
thúc đẩy MQH giữa trường ĐH và DN trong NC&CGCN.
2.2. Vai trò của nhà nước nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa trường đại học
- doanh nghiệp trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
Tác giả đưa ra khung nghiên cứu về vai trò của Nhà nước đối với MQH giữa
ĐH - DN trong NC&CGCN như sau:
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
HỖ TRỢ TÀI
CHÍNH
TẠO MƠI TRƯỜNG
THỂ CHẾ
2.2.1. Vai trị của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Vai trò của Nhà nước đã được các nghiên cứu kinh điển khái quát đó là: khắc
phục thất bại thị trường, bảo vệ sở hữu tư nhân và cơng bằng trong xã hội.
Vai trị quan trọng của Nhà nước trong việc thúc đẩy MQH giữa trường ĐH DN trong NC&CGCN đó là điều chỉnh thất bại của thị trường giao dịch sản phẩm
NC&CGCN, thúc đẩy tiến bộ công nghệ để tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội.
2.2.2. Nguyên tắc của Nhà nước nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa trường đại
học - doanh nghiệp trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ
Luận án đã chỉ ra, để phát triển MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN,
Nhà nước phải giải quyết tốt MQH ba bên Nhà nước - ĐH - DN và MQH giữa Nhà
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẠI HỌC DOANH NGHIỆP
- Rào cản về SHTT
- Rào cản về chia sẻ lợi ích
- Rào cản về chia sẻ rủi ro
- Rào cản về chia sẻ thơng tin
- Rào cản về tài chính
9
10
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) để giúp tập
trung nghiên cứu một vài đặc điểm lớn đặc trưng (hội tụ) thay vì nghiên cứu vài chục
đặc điểm nhỏ của một thang đo. Mỗi đặc điểm lớn này gồm các đặc điểm nhỏ có sự
tương quan lẫn nhau. Điều này làm cho những nhận định về bản chất các tiêu chí có ý
nghĩa hơn mà vẫn chứa đựng hầu hết nội dung thông tin của lượng biến ban đầu.
Luận án sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu là nghiên cứu định
tính và nghiên cứu định lượng.
Phương pháp định tính được thực hiện khi nghiên cứu sơ bộ để phát hiện,
điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát để đo lường các khái niệm. Nghiên cứu
định tính được thực hiện thông qua kỹ thuật phỏng vấn sâu.
Nghiên cứu định lượng được tác giả thực hiện nhằm đánh giá các tác động
của rào cản đến hình thức các MQH theo mơ hình sau:
Rào cản SHTT
-
Rào cản chia sẻ thơng tin
Rào cản chia sẻ rủi ro
Rào cản chia sẻ lợi ích
Mối quan hệ giữa
ĐH-DN
- Cộng tác
- Tương tác
- Hợp tác
- Liên kết
Nhân tố kiểm sốt
- Trường ĐH cơng lập
- Trường ĐH có bộ
phận NC&CGCN
Hình 3.1: Mơ hình mối tương quan giữa hình thức mối quan hệ giữa trường ĐH
- DN và rào cản tại trường đại học
Rào cản chia sẻ thông
tin
Rào cản chia sẻ rủi ro
Rào cản chia sẻ lợi ích
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của NCS
-
Mối quan hệ giữa
ĐH-DN
- Cộng tác
- Tương tác
- Hợp tác
- Liên kết
Yi= α + β1 x RC1 + β2 x RC2 + β3 x RC3 + β4 x RC4 + β5 x RC5 + ¥1 x
ĐĐ1 + ¥2 x ĐĐ2
* Đối với nhân tố kiểm sốt trong nghiêm cứu mơ hình của nhóm khảo sát các
trường ĐH, gồm:
+ ĐĐ1: nhóm yếu tố loại hình trường ĐH (biến giả nhận giá trị 0-1), trong đó, i
nhận giá trị 1 nếu là trường ĐH thuộc loại hình trường cơng lập và 0 nếu là trường
ĐH thuộc loại hình trường ngồi cơng lập.
+ ĐĐ2: nhóm yếu tố loại hình trường ĐH (biến giả nhận giá trị 0-1), trong đó,
ii nhận giá trị 1 nếu là trường ĐH có bộ phận chuyển giao cơng nghệ và 0 nếu là
trường ĐH khơng có bộ phận chuyển giao cơng nghệ.
Rào cản về tài chính
Rào cản SHTT
Để đánh giá mức độ cản trở của các rào cản đến mức độ gắn kết của các hình
thức MQH từ phía các trường ĐH, Luận án sử dụng mơ hình hồi quy với biến phụ
thuộc Yi là mức độ gắn kết giữa hình thức các MQH và RCi là mức độ cản trở của
các rào cản. Mơ hình đề xuất là mơ hình tuyến tính:
Nhân tố kiểm sốt
- Doanh nghiệp Nhà nước
- Doanh nghiệp có bộ
phận NC&CGCN
Rào cản về tài chính
Hình 3.2: Mơ hình mối tương quan giữa hình thức mối quan hệ giữa trường ĐH
- DN và rào cản tại doanh nghiệp
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của NCS
* Đối với nhân tố kiểm sốt trong nghiêm cứu mơ hình của nhóm khảo sát các
DN, gồm:
+ ĐĐ1: nhóm yếu tố loại hình DN (biến giả nhận giá trị 0-1), trong đó, i nhận
giá trị 1 nếu là DN Nhà nước và 0 nếu là DN thuộc loại hình khác.
+ ĐĐ2: nhóm yếu tố loại hình DN (biến giả nhận giá trị 0-1), trong đó, ii nhận
giá trị 1 nếu là DN có bộ phận chuyển giao công nghệ và 0 nếu là DN không có bộ
phận chuyển giao cơng nghệ.
11
12
CHƯƠNG 4
THỰC TRẠNG VAI TRÒ NHÀ NƯỚC NHẰM THÚC ĐẨY
MỐI QUAN HỆ GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ DOANH NGHIỆP
TRONG NGHIÊN CỨU VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
Bảng 4.1. Kết quả ước lượng mơ hình đánh giá mức độ cản trở của các rào cản đến
mức độ gắn kết của các hình thức mối quan hệ tại các trường ĐH
Y1: Cộng tác
Y2: Tương tác Y3: Hợp tác Y4:Liên Kết
Sở hữu trí tuệ
-,235***
-,438***
-,209***
-,356***
Chia sẻ thông tin
-,647***
-,423***
-,594***
-,175***
-,177***
4.1. Thực trạng mối quan hệ giữa trường đại học - doanh nghiệp trong
nghiên cứu, chuyển giao công nghệ
Chia sẻ rủi ro
-,283***
-,255***
-,196***
Chia sẻ lợi ích
-,245***
-,114**
-,575***
-,549***
Qua phân tích định tính số liệu thứ cấp từ nhiều nguồn khác nhau và số liệu
điều tra sơ cấp. Luận án rút ra một số kết luận cơ bản về thực trạng MQH giữa trường
ĐH-DN trong NC&CGCN tại Việt Nam như sau:
Tài chính
-,345***
-,472***
-,394***
-,518***
-,187**
-,263*
-,298***
Thứ nhất: Về phía bên cung là các trường ĐH có tiềm lực nghiên cứu mạnh
nhất so với các tổ chức khoa học nhưng số lượng nghiên cứu khoa học còn ít, chất
lượng không cao, đặc biệt các nghiên cứu mang tính ứng dụng chưa nhiều.
Constant
Thứ hai: Về phía bên cầu đa số là DN nhỏ và vừa khơng có khả năng tự phát
triển nghiên cứu nên rất mong muốn tạo MQH với các tổ chức khoa học để phát triển
nhưng trên thực tế họ chưa biết cách hoặc chưa có tiềm lực để triển khai MQH. Một
số DN hoặc tập đồn lớn có bộ phận R&D và tự triển khai các nghiên cứu riêng nên
rất ít hoạt động hợp tác với các trường ĐH.
Thứ ba: Khảo sát thực trạng MQH giữa trường ĐH - DN cho thấy, khi phát
sinh nhu cầu đổi mới, các DN đã có xu hướng quan tâm đến việc gắn kết với các
trường ĐH thay vì các tổ chức khoa học khác. Tuy nhiên, MQH này chưa có mạng
lưới thơng tin để kết nối mà chủ yếu dựa vào quan hệ giữa cá nhân của hai tổ chức
với nhau (chiếm 56%). Các hình thức MQH mới chỉ ở cấp thấp, đơn giản, manh
mún theo vụ việc. Các loại hình thức triển khai MQH địi hỏi tính hệ thống diễn ra
ít và tần suất thấp.
Luận án sử dụng các mơ hình kinh tế lượng để kiểm định mức độ cản trở
mạnh, yếu của các loại rào cản tới từng hình thức MQH giữa ĐH và DN. Kết quả
kiểm định này sẽ xác định những rào cản ảnh hưởng đến hình thức MQH và làm cơ
sở để đề xuất những giải pháp từ phía Nhà nước nhằm tháo gỡ những rào cản thúc
đẩy các hình thức MQH lên mức độ gắn kết cao hơn.
- Kết quả kiểm định ảnh hưởng của rào cản tới mối quan hệ giữa trường đại
học - doanh nghiệp
+ Kết quả ước lượng mô hình đánh giá mức độ cản trở của các rào cản đến
mức độ gắn kết của các hình thức mối quan hệ tại các trường ĐH
ĐĐ1
,196
,395***
ĐĐ2
,284*
-,093*
-,134*
,125*
167
167
167
167
Sig.
<0,05
<0,05
<0,05
<0,01
Adj.R2
0,849
0,805
0,787
0,787
n
,125*
(***: mức ý nghĩa tương ứng với 1%; **: mức ý nghĩa tương ứng với 5%; *: mức ý nghĩa tương ứng với 10%)
Nguồn: Kết quả kiểm định từ dữ liệu khảo sát của NCS
Từ kết quả trên có thể rút ra các kết luận sau:
Thứ nhất, theo khảo sát tại các trường ĐH, 05 rào cản (SHTT, chia sẻ thơng
tin, chia sẻ lợi ích, chia sẻ rủi ro, tài chính) đều có tác động tiêu cực đến mức độ gắn
kết của các hình thức MQH giữa trường ĐH và DN (các hệ số đều nhỏ hơn 0). Kết
quả này phù hợp với giả thiết và lý thuyết thực tế. Nói cách khác, dù MQH giữa ĐH DN tại các trường ĐH đang phát triển ở hình thức nào cũng đang bị tác động bởi 5
rào cản và cần có các chính sách làm hạn chế các rào cản trên.
Thứ hai, khi MQH giữa trường ĐH - DN còn ở cấp độ thấp (như cộng tác hay
tương tác) thì rào cảo thơng tin, rào cản chia sẻ rủi ro có ảnh hưởng nhiều nhất. Song,
khi chuyển lên MQH ở cấp độ cao hơn như hợp tác, liên kết thì rào cản lợi ích có xu
hướng tác động nhiều hơn. Từ đó cho thấy, trước mắt Nhà nước cần quan tâm đến
các chính sách để hai bên khắc phục tình trạng thơng tin bất đối xứng, chính sách
đảm bảo việc chia sẻ rủi ro giữa hai bên để đảm bảo phù hợp, rõ ràng và minh bạch.
Với mục tiêu thúc đẩy MQH này lên những cấp độ cao thì các chính sách ưu tiên phải
khắc phục tác động của các rào cản SHTT, tài chính và chia sẻ lợi ích.
Ngồi ra, tác giả cũng tiến hành kiểm định để xem xét yếu tố đại diện sở hữu
(cơng lập hay ngồi cơng lập) của các trường ĐH, và việc các trường thành lập bộ
phận NC&CGCN có ảnh hưởng như thế nào đến MQH này ở các cấp độ phát triển
khác nhau hay không, kết quả như sau: Ở hình thức cộng tác, nhân tố đại diện sở hữu
đều đang phản ứng tích cực thơng qua hệ số hồi quy ĐĐ1 tương quan dương. Ở hình
thức tương tác, hợp tác và hình thức liên kết, nhân tố này đều đang phản ánh hệ số
13
14
hồi quy ĐĐ1 tương quan âm. Điều này có nghĩa là, mức độ gắn kết ở các hình thức
cộng tác, tương tác tại các trường ĐH công lập tốt hơn các trường ĐH ngồi cơng lập
nhưng mức độ gắn kết tại hai hình thức hợp tác, liên kết thì tại các trường ĐH ngồi
cơng lập tốt hơn. Như vậy, khi MQH ở cấp độ thấp đơn thuần, các trường ĐH công lập
thực hiện MQH với DN tốt hơn các trường ĐH ngồi cơng lập, trong khi MQH phát
triển ở cấp độ cao hơn, các trường ĐH ngồi cơng lập lại thực hiện MQH với DN tốt
hơn. Từ kết quả này cho thấy thủ tục hành chính cịn đang khá cồng kềnh tại các
trường ĐH công lập nên khi thị trường NC&CGCN phát triển mạnh, nếu khơng có
những cải tổ sâu sắc thì các trường cơng lập sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh so với trường
ĐH ngồi cơng lập.
Nhân tố ĐĐ2 là nhân tố liên quan đến loại trường ĐH có bộ phận NC&CGCN
và trường khơng có bộ phận NC&CGCN. Ở hình thức tương tác, liên kết các trường
ĐH có bộ phận NC&CGCN có MQH với DN tốt hơn nhiều so với trường ĐH khơng
có bộ phận NC&CGCN. Hai hình thức thấp hơn là hợp tác và cộng tác thì việc phát
triển MQH với DN từ các trường ĐH không có sự khác biệt. Điều này chỉ ra rằng,
việc thành lập bộ phận NC&CGCN ở các trường ĐH là nhân tố quan trọng để thúc
đẩy MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN.
+ Kết quả ước lượng mơ hình đánh giá mức độ cản trở của các rào cản đến
mức độ gắn kết của các hình thức mối quan hệ tại các trường ĐH
Thứ nhất, theo khảo sát tại các DN, 05 rào cản (SHTT, chia sẻ thông tin, chia
sẻ lợi ích, chia sẻ rủi ro, tài chính) đều có tác động tiêu cực đến mức độ gắn kết của
các hình thức MQH giữa trường ĐH và DN (các hệ số đều nhỏ hơn 0). Kết quả này
phù hợp với giả thiết và lý thuyết thực tế. Nói cách khác, dù MQH giữa ĐH - DN tại
các DN đang phát triển ở hình thức nào cũng đang bị tác động bởi 5 rào cản và cần có
các chính sách làm hạn chế các rào cản trên. Kết quả này cũng giống với kết quả
khảo sát tại các trường ĐH.
Bảng 4.2. Kết quả ước lượng mơ hình đánh giá mức độ cản trở của các rào cản đến
mức độ gắn kết của các hình thức mối quan hệ tại các doanh nghiệp
Y1: Cộng tác
Y2: Tương tác
Y3: Hợp tác
Sở hữu trí tuệ
-,392***
-,106***
-,596***
-,321***
Chia sẻ thơng tin
-,491***
-,447***
-,101***
-,095***
Chia sẻ rủi ro
-,120***
-,505***
-,224***
-,094***
Chia sẻ lợi ích
-,107***
-,510***
-,185***
-,170***
Tài chính
-,145***
-,102***
-,210***
-,071***
,170***
1,095***
ĐĐ1
Y4:Liên Kết
,122***
ĐĐ2
Constant
0
-,134***
-0,081***
-0,521***
324
324
324
324
Sig.
<0.05
<0.1
<0.05
<0.05
Adj.R2
0,431
0,774
0,543
0,634
n
(***: mức ý nghĩa tương ứng với 1%; **: mức ý nghĩa tương ứng với 5%; *: mức ý nghĩa tương ứng với 10%)
Nguồn: Kết quả kiểm định từ dữ liệu khảo sát của NCS
Từ kết quả trên có thể rút ra các kết luận sau:
Thứ hai, các hệ số cũng phản ánh, rào cản SHTT gây hạn chế nhiều nhất đến
các hình thức phát triển ở mức độ cộng tác, hợp tác, liên kết khi DN thực hiện MQH
với trường ĐH. Điều này cho thấy, khác với trường ĐH, các DN sẽ quan tâm nhiều
nhất đến vấn đề SHTT khi tham gia hợp tác. Trong khi đó, ở hình thức gắn kết càng
thấp thì rào cản thơng tin, tài chính ảnh hưởng nhiều nhất đến MQH với trường ĐH.
Đối với rào cản về tài chính có tác động âm đến hình thức các MQH nhưng so với các
rào cản khác, vấn đề về tài chính khơng phải là vấn đề quan tâm nhiều đối với DN.
Ngoài ra, Luận án cũng tiến hành kiểm định để xem xét liệu yếu tố sở hữu (DN
nhà nước hay ngoài nhà nước) và việc các DN có thành lập bộ phận NC&CGCN có
ảnh hưởng gì đến MQH này ở các cấp độ phát triển khác nhau hay không, kết quả
cho thấy: ở mức độ gắn kết ở hình thức tương tác tại các DN Nhà nước có MQH với
trường ĐH tốt hơn đối với các DN không thuộc khu vực Nhà nước nhưng tại mức độ
gắn kết ở ba hình thức cộng tác, hợp tác, liên kết thì tại DN khác nhau khơng có sự
khác biệt nhiều. Điều này cho thấy, các DN thuộc các loại hình khác nhau đều có cơ
hội cơng bằng như nhau khi thực hiện gắn kết với các trường ĐH.
Xét nhân tố ĐĐ2 là nhân tố liên quan đến loại DN có và khơng có bộ phận
NC&CGCN, kết quả cho thấy: Ở hình thức hợp tác, liên kết các DN có bộ phận
NC&CGCN có MQH với trường ĐH tốt hơn nhiều so với DN khơng có bộ phận
NC&CGCN. Điều này cũng cho thấy để đẩy mạnh sự gắn kết giữa hai bên, nên có các
chính sách khuyến khích các DN thành lập bộ phận NC&CGCN.
4.2. Thực trạng vai trò nhà nước để thúc đẩy mối quan hệ giữa trường đại
học - doanh nghiệp trong nghiên cứu, chuyển giao cơng nghệ tại Việt Nam
4.2.1. Thực trạng các chính sách của nhà nước để thúc đẩy mối quan hệ giữa
trường đại học - doanh nghiệp trong nghiên cứu, chuyển giao cơng nghệ
Nhận thức rõ vai trị của Nhà nước trong việc thúc đẩy MQH giữa trường ĐH DN trong NC&CGCN, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tập trung vào các nội
dung chính sau:
(i) Tạo mơi trường pháp lý thuận lợi cho các bên tham gia MQH như: ban hành
các chính sách về trao quyền tự chủ (trao quyền tự chủ cho các tổ chức nghiên cứu
15
16
khoa học và DN khoa học công nghệ; trao quyền đăng ký sáng chế, quản lý, khai thác
sáng chế cho tổ chức chủ trì dự án nghiên cứu); chính sách phân chia quyền, lợi ích
trong hợp tác nghiên cứu cơng - tư; chính sách khuyến khích khai thác sáng chế tạo ra
từ nguồn kinh phí của Nhà nước; chính sách hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ, chính
sách SHTT để thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN.
Thứ ba, xác lập quyền sở hữu công nghiệp chậm, thời gian xử lý đơn kéo dài,
chưa bảo đảm đúng thời hạn luật định. Quá trình xử lý đơn chưa thật sự công khai, minh
bạch khiến cho người nộp đơn và công chúng tiếp cận thông tin chưa được dễ dàng.
(ii) Bắt buộc trường ĐH, DN nâng cao tiềm lực KHCN của bản thân, tăng
cường đầu tư trang thiết bị, cơ sở thực hành nghiên cứu, chế độ cho những người làm
công tác NCKH trong đó có đội ngũ giảng viên có môi trường để thực hiện NCKH và
phát huy khả năng đóng góp tri thức cho cơng cuộc phát triển của đất nước.
Thứ năm, nhận thức của các tổ chức, DN, trường ĐH, người dân về bảo hộ và
bảo vệ quyền SHTT chưa cao, chưa có ý thức chủ động tự bảo vệ quyền của mình
cũng như tơn trọng quyền SHTT của người khác.
(iii) Hỗ trợ các bên dưới dạng hỗ trợ về thuế, tín dụng, hỗ trợ trực tiếp trong
quá trình tiếp nhận máy móc, thực hiện hoạt động NC&CGCN, tạo điều kiện về thủ
tục hành chính để thúc đẩy MQH giữa ĐH- DN.
Thứ nhất, chưa có cơ chế liên kết bảo đảm chia sẻ thông tin. Cơ sở dữ liệu về
bảo vệ quyền SHTT chưa đảm bảo kịp thời, thông suốt. Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị
đầu tư cho các hoạt động thông tin sở hữu công nghiệp cịn chưa đầy đủ.
(iv) Khuyến khích trường ĐH nghiên cứu KH, DN đổi mới cơng nghệ, khuyến
khích các bên tạo các mơ hình liên kết mới để thúc đẩy NC&CGCN.
Thứ hai, cơ sở cung cấp sản phẩm NC&CGCN chưa cung cấp thông tin để đáp
ứng được nhu cầu của các DN, chưa triển khai đầy đủ dịch vụ cung cấp gói thơng tin
theo u cầu của xã hội để phục vụ hoạt động nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh.
4.2.2. Vai trị của Nhà nước dưới góc nhìn của các bên liên quan trong mối
quan hệ giữa trường đại học - doanh nghiệp
Kết quả khảo sát của các bên liên quan trong MQH giữa trường ĐH - DN cho
thấy, thông qua việc ban hành các chính sách, Nhà nước có vai trò quan trọng trong
việc hạn chế các rào cản để thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN.
Chính sách của Nhà nước có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến từng rào cản
hoặc lồng ghép để tác động đến hai, ba rào cản cùng lúc. Phân tích thực trạng của
từng chính sách trong 5 rào cản và ý kiến chuyên gia cho thấy: tại Việt Nam đã xây
dựng được hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về chính sách SHTT, chính sách
chia sẻ thơng tin, chia sẻ lợi ích, chính sách thuế, chính sách tín dụng. Một số chính
sách đã tiếp cận và tương đồng với các quy định của các nước trên thế giới. Tuy
nhiên, còn một số hạn chế đã được các bên liên quan đánh giá như sau:
+ Chính sách về sở hữu trí tuệ
Thứ nhất, chưa cụ thể và rõ ràng, rất khó áp dụng trong thực tế dẫn đến những
phát sinh tranh chấp giữa các bên. Luật CGCN chưa quy định chuyển quyền sở hữu
kết quả nghiên cứu.
Thứ hai, chưa có cơ quan đầu mối phụ trách về SHTT. Hiện có ba cơ quan phụ
trách ba lĩnh vực khác nhau về SHTT dẫn đến quản lý không tập trung, liên kết rời
rạc, khơng có tính hệ thống, cơ chế phối hợp liên ngành cịn yếu, khơng chặt chẽ,
phạm vi thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan cịn có sự trùng lặp, hoạt động
cập nhật, trao đổi thông tin giữa các bộ, ngành, địa phương chưa kịp thời dẫn đến sự
phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa phát huy được hiệu quả.
Thứ tư, hệ thống tòa án chưa đủ nhân lực được đào tạo và có kinh nghiệm để
giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các vụ, việc phức tạp các vấn đề liên quan đến SHTT.
+ Chính sách chia sẻ thơng tin
Thứ ba, mạng lưới các tổ chức tư vấn, đào tạo, cung cấp thông tin về cơng
nghệ cịn chưa phát triển.
+ Chính sách về chia sẻ lợi ích
Chính sách chia sẻ lợi ích giữa các bên trong NC&CGCN còn một số bất
cập sau:
Thứ nhất, hiện nay chính sách chia sẻ lợi ích đã được quy định của Luật
KHCN 2013. Tuy nhiên, các bên liên quan đều cho rằng mức chia sẻ này chỉ phù hợp
với việc triển khai thực tế một số lĩnh vực, chỉ nên quy định mức sàn tối thiểu chi trả
thủ lao cho nhà khoa học tối thiểu 15%, mức khen thưởng, khích lệ về vật chất chưa
thỏa đáng đối với các nhà khoa học.
Thứ hai, thiếu chính sách quy định đến trách nhiệm của các bên liên quan đến
lợi ích cộng đồng.
Thứ ba, chưa có cơ chế giá dịch vụ làm cơ sở cho việc triển khai các hoạt động
cung cấp dịch vụ thông tin sở hữu công nghiệp cho xã hội; chưa có cơ chế giám sát,
đánh giá các DN được hưởng sau ưu đãi, đồng thời chưa ban hành được các văn bản
qui phạm pháp luật thống nhất về đánh giá trình độ cơng nghệ. Các chính sách kinh tế
nói chung chưa đủ mạnh để thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN.
+ Chính sách về chia sẻ rủi ro
Thứ nhất, thiếu quy định về trách nhiệm từ phía Nhà nước về chính sách chia
sẻ rủi ro mà trên thực thế có rất nhiều rủi ro khách quan tác động đến quá trình hợp
17
18
tác giữa các bên xuất phát từ nhưng các quyết định hành chính của phía nhà nước
(quyết định điều chỉnh quy hoạch, cơ chế giá, phí, chính sách ngoại tệ…làm ảnh
hưởng không nhỏ đến kết quả hợp tác).
CHƯƠNG 5
TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC NHẰM THÚC ĐẨY
MỐI QUAN HỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ DOANH NGHIỆP TRONG
NGHIÊN CỨUVÀ CHUYỂN GIAO CƠNG NGHỆ
+ Chính sách tài chính
Nhà nước đã ban hành nhiều ưu đãi về thuế, tín dụng, hỗ trợ trực tiếp nhằm
thúc đẩy MQH. Các ưu đãi về thuế, tín dụng, hỗ trợ trực tiếp được ban hành dưới
hình thức Luật, pháp lệnh nên đã tạo cơ sở pháp lý đảm bảo các chính sách kinh tế có
thể đi vào cuộc sống, tạo điều kiện cho việc hợp tác thành công, đồng thời phù hợp
với nền kinh tế thị trường và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Mặc dù có nhiều văn bản pháp luật liên quan tới ưu đãi thuế, tín dụng nhằm
khuyến khích các trường ĐH, các DN triển khai hoạt động NC&CGCN nhưng đến
nay chưa có một cơ quan quản lý nhà nước nào công bố số liệu thống kê về số tiền đã
ưu đãi hàng năm là bao nhiêu và kết quả từ việc ưu đãi đã mang lại hiệu quả cho hoạt
động của trường ĐH, DN và xã hội như thế nào. Hầu như các chính sách mới chỉ
dừng lại ở việc ban hành mà chưa thực hiện đánh giá tác động của các chính sách đó.
Bên cạnh đó, để được hưởng hỗ trợ trực tiếp từ phía Nhà nước, các trường ĐH, DN
phải trải qua qui trình xét duyệt kéo dài (khoảng 1năm) và sau khi DN hồn thành đề
án thì mới được cấp kinh phí triển khai. Q trình này sẽ tạo ra độ trễ chính sách nhất
định so với nhu cầu hợp tác của các bên làm ảnh hưởng không nhỏ đến động lực thúc
đẩy MQH giữa hai bên.
Bên cạnh những tồn tại của 5 nhóm chính sách, trong thời gian qua thực trạng
phát triển kinh tế còn hạn chế, tỷ lệ chi ngân sách của Nhà nước cho KHCN nói
chung, NC&CGCN nói riêng cịn thấp so với các nước trên thế giới; năng lực hoạch
định chính sách của các cơ quan quản lý Nhà nước còn hạn chế; năng lực thực thi
chính sách cịn chưa nghiêm minh, thiếu các chế tài xử phạt hành chính; quy trình
xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có xin ý kiến, tiếp thu ý kiến của các bên
nhưng chỉ mang tính hình thức cũng là những tồn tại hạn chế vai trò Nhà nước trong
thúc đẩy hoạt động NC&CGCN.
5.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế tác động đến mối quan hệ giữa trường
đại học và doanh nghiệp trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
5.1.1. Cơ hội và thách thức
Luận án đã phân tích những cơ hội và thách thức trong bối cảnh hiện nay như:
Tốc độ phát triển nhanh của KHCN, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là cơ hội để
phát triển MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN. Tuy nhiên, bối cảnh trên cũng
làm gia tăng bức xúc xã hội do sự thâm nhập của công nghệ kỹ thuật số và chia sẻ xã hội
tạo ra các mặt trái trong xã hội như: giải quyết việc làm, ô nhiễm môi trường, đạo đức xã
hội, rủi ro công nghệ; nguy cơ tụt hậu hơn nữa trong phát triển so với thế giới và rơi vào
thế bị động trong đối phó với những mặt trái của cuộc cách mạng này.
Bối cảnh trong nước: Việt Nam là thành viên của WTO, hội nhập vào khu vực
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
(TPP)... đây là cơ hội để tiếp thu các tri thức công nghệ mới của thế giới, nhưng cũng
là thách thức trong việc thu hẹp khoảng cách với công nghệ của các nước trên thế
giới. Tuy nhiên, Nhà nước tiếp tục khẳng định KHCN giữ vai trò then chốt để tạo
bước đột phá về lực lượng sản xuất và đổi mới mơ hình tăng trưởng.
Từ bối cảnh thực tế trên, để tồn tại và phát triển trên thị trường Việt Nam, các
trường ĐH, DN cần một cuộc cách mạng thay đổi lớn về tư duy trong quản lý, quản
trị và cần xem tính cạnh tranh là động lực thúc đẩy phát triển.
5.1.2. Định hướng tăng cường vai trò của nhà nước
Xuất phát từ vai trò của MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN, Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội đã coi chính sách phát triển ứng dụng khoa học, cơng
nghệ là giải pháp đột phá trong chính sách phát triển kinh tế xã hội, là động lực quan
trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng
suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Vì vậy, vai trị của Nhà
nước cần được hồn thiện theo hướng như sau: Bảo đảm môi trường thuận lợi, bình
đẳng giữa các chủ thể trong MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN; Bảo
đảm song hành quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể và các bên liên quan trong
MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN; Hạn chế các rào cản khách quan để
thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN.
19
20
5.2. Một số giải pháp tăng cường vai trò của nhà nước nhằm thúc đẩy mối
quan hệ giữa trường đại học - doanh nghiệp trong nghiên cứu và chuyển giao
công nghệ
Thứ tư, thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm
tạo DN KHCN đã được quy định tại các chương trình KHCN quốc gia. Khuyến khích,
hỗ trợ tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng và hoạt
động tại các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo DN KHCN, DN cơng nghệ cao.
5.2.1. Nhóm giải pháp cho chính sách sở hữu trí tuệ
Thứ nhất, hồn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm thực
thi quyền SHTT, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia thị trường
NC&CGCN, cải thiện hiệu lực bảo hộ độc quyền sáng chế; xây dựng khung pháp lý
cho việc định giá tài sản trí tuệ để hướng dẫn và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân trong việc
định giá tài sản trí tuệ; nâng cao hiệu lực bảo hộ độc quyền SHTT nhằm bảo đảm môi
trường phát triển MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN. Các nội dung trên
cần hoàn thiện và được thể hiện trong Chiến lược quốc gia về SHTT đến năm 2030.
Thứ hai, cần thành lập một cơ quan độc lập về SHTT tại Bộ KHCN thay vì
chia ra cho 3 bộ phụ trách như hiện nay, đồng thời thống nhất xây dựng chế tài xử lý
nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch
vụ khoa học và công nghệ, vi phạm quyền SHTT.
Thứ ba, hỗ trợ tr ường ĐH, DN xây dựng thương hiệu s ẽ góp phần nâng cao
việc thực thi quyền SHTT, nâng cao khả năng cạnh tranh của các bên và cả nền
kinh tế nói chung.
Thứ tư, đẩy mạnh tuyên truyền đến người dân, cộng đồng, trường ĐH, DN về
quyền SHTT và bảo vệ, thực thi quyền SHTT, hình thành văn hóa SHTT để các bên
có ý thức tơn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ góp phần xây dựng một xã hội
trung thực, văn minh, thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN phát triển.
5.2.2. Nhóm giải pháp về chính sách chia sẻ thơng tin
Thứ nhất, cần tạo lập thêm nhiều không gian, diễn đàn chính thức và thường
xuyên để các trường ĐH, DN có điều kiện chia sẻ, cung cấp thơng tin về sản phẩm
NC&CGCN; tạo lập kênh giao tiếp hay mạng lưới liên kết giữa các DN và các trường
ĐH với vai trò thu thập, cập nhật dữ liệu, tư vấn và cung cấp các thơng tin.
Thứ hai, đổi mới quy trình, thủ tục đăng ký thành lập và hoạt động, thực thi cơ
chế ưu đãi ở mức cao nhất theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức dịch vụ
khoa học và công nghệ, sàn giao dịch khoa học và công nghệ, chợ công nghệ và thiết
bị thuộc mọi thành phần kinh tế nhằm tăng nhanh số lượng, năng lực các tổ chức này,
góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển của thị trường khoa học và công nghệ so
với các loại thị trường khác.
Thứ ba, hỗ trợ thành lập các công ty đánh giá, định giá công nghệ, xuất nhập
khẩu công nghệ, các tổ chức chuyển giao công nghệ trong các trường ĐH và viện
nghiên cứu công lập. Khuyến khích, hỗ trợ phát triển tổ chức thuộc khu vực tư nhân
thực hiện dịch vụ kỹ thuật, môi giới, tư vấn đánh giá, định giá, giám định công nghệ.
Thứ năm, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin về công nghệ, thị trường
khoa học và công nghệ để xúc tiến hoạt động tìm kiếm, đổi mới cơng nghệ của DN,
đặc biệt là các DNNVV.
Thứ sáu, cần xây dựng và hướng dẫn các tổ chức TTO/TLO tại trường ĐH và
các cơ sở nghiên cứu thực hiện quy trình chuyển giao và thương mại hố cơng nghệ
một cách bài bản và chuyên nghiệp.
5.2.3. Nhóm giải pháp chia sẻ lợi ích
Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế, chính sách tạo động lực cho nhà khoa học, bảo
đảm rằng nhà khoa học có cơ hội được nhận thù lao tương xứng với đóng góp trí tuệ
của mình, thơng qua cơ chế chia sẻ lợi ích và thù lao dành cho nhà khoa học một cách
minh bạch, thỏa đáng từ kết quả của hoạt động thương mại hóa khoa học.
Thứ hai, tăng cường tuyên truyền đối với các DN, trường ĐH về nghĩa vụ và
lợi ích của việc thực hiện trách nhiệm xã hội. Ban hành bộ quy tắc ứng xử, các tiêu
chuẩn trách nhiệm xã hội liên quan phải được phổ biến đầy đủ và rõ ràng đến các
DN, trường ĐH.
5.2.4. Nhóm giải pháp về chia sẻ rủi ro
Việc thành lập các quỹ “đầu tư mồi” - seed capital, quỹ đầu tư mạo hiểm venture capital là cần thiết để hỗ trợ kịp thời những thành quả nghiên cứu tiềm năng
thương mại hóa rộng rãi.
Bên cạnh việc đa dạng hóa các nguồn quỹ cho NCKH thì đồng thời phải có cơ
chế, chế tài về việc sử dụng hiệu quả các nguồn quỹ đó, tối đa hóa năng suất và cơng
suất NC&CGCN và các hoạt động R&D nói chung.
Hình thành các nghiệp vụ bảo hiểm rủi ro cho hoạt động NC&CGCN. Đối
tượng được bảo hiểm bao gồm: Các nhà đầu tư, DN, người sử dụng….
5.2.5. Nhóm giải pháp về chính sách tài chính
* Về cơ chế, chính sách phân bổ ngân sách nhà nước: Phân bổ ngân sách nhà
nước dành cho NC&CGCN cần phải được đổi mới theo nguyên tắc phân bổ có trọng
tâm, trọng điểm, đặc biệt là trong việc phân bổ ngân sách nên tập trung về một cơ
quan đầu mối độc lập.
* Về chính sách thuế
Thứ nhất, thiết lập kênh thông tin hai chiều thường xuyên về thuế giữa NN ĐH, NN - DN, đồng thời NN cần xác định thước đo hiệu quả các các chính sách thuế.
21
22
Thứ hai, thực hiện chính sách ưu đãi thuế linh hoạt để thúc đẩy sự phát của thị
trường NC&CGCN, như: miễn giảm thuế để khuyến khích các DN đầu tư vào các
hoạt động đổi mới công nghệ như sản xuất thử nghiệm, sản xuất sản phẩm mới,
nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ; miễn thuế cho các hoạt động trung
gian, môi giới trên thị trường NC&CGCN; miễn giảm tiền thuê đất để làm nơi nghiên
cứu, sản xuất sản phẩm mới cho các DN và tổ chức KH&CN; cho phép để lại phần
lãi thu nhập trước thuế của DN để đầu tư vào các dự án phát triển công nghệ được cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt.
KẾT LUẬN
Về chính sách tín dụng
Thứ nhất, tạo thuận lợi, bảo đảm bình đẳng, cơng khai, minh bạch trong tiếp cận tín
dụng theo cơ chế thị trường giữa các DN, tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế.
Thứ hai, xây dựng quy trình thực hiện chính sách tài chính, chính sách tín dụng
thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN phải thiết kế theo hướng đơn giản, dễ áp dụng,
phù hợp với quy mơ, loại hình, năng lực của các chủ thể và khơng làm tăng các chi
phí cho trường ĐH, DN từ việc thụ hưởng chính sách.
5.2.6. Một số giải pháp khác
(i) Tạo cơ chế huy động, giám sát các nguồn lực tài chính cho hoạt động khoa
học cơng nghệ.
(ii) Đẩy mạnh hoạt động của các Quỹ KHCN theo hướng nguồn lực NSNN đầu
tư cho các Quỹ chỉ là vốn mồi để thu hút được sự đầu tư từ nguồn vốn khác không
thuộc khu vực Nhà nước.
(iii) Đầu tư trọng điểm cho một số trường ĐH, Viện nghiên cứu thực hiện
những nghiên cứu, R&D mũi nhọn, tạo những sản phẩm KHCN đỉnh cao, đột phá đạt
trình độ quốc tế.
(iv) Phải quy định NCKH và CGCN là nhiệm vụ bắt buộc đối với trường ĐH.
Cần có quy định bắt buộc về nhiệm vụ NCKH của các giảng viên ĐH.
(v) Ban hành cơ chế tài chính riêng, phù hợp với các DN khởi nghiệp và vườn
ươm công nghệ trong trường ĐH.
(vi) Tạo môi trường thúc đẩy thông qua hệ thống luật pháp và “luật chơi” kinh
tế; xóa bỏ các lợi thế được ưu tiên trong cung ứng sản phẩm NC&CGCN; bổ sung
vào Luật Cạnh tranh về trách nhiệm của Nhà nước trong việc ban hành cơ chế, chính
sách thúc đẩy và bảo vệ môi trường cạnh tranh hiệu quả nhằm làm cho các bên có sân
chơi thực sự để tăng cường năng lực cạnh tranh, thúc đẩy nhu cầu sáng tạo, tạo môi
trường lành mạnh trong thị trường NC&CGCN để thúc đẩy MQH giữa các bên.
(vii) Xây dựng mơ hình mới lồng ghép mơ hình trường DDH - DN với nhau hoặc
phát triển đa dạng các hình thức hợp tác, liên kết để tạo cầu nối giữa trường ĐH - DN.
Trong những năm qua MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN đã mang
lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả trường ĐH, DN và Nhà nước. Tuy nhiên, MQH hợp
tác giữa trường ĐH - DN vẫn chưa thực sự gắn kết và nhiều bất cập do những rào cản
khách quan và chủ quan. Việc hồn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy MQH giữa
trường ĐH - DN trong NC&CGCN là hết sức cần thiết nhằm thúc đẩy các bên phát
triển, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và xây dựng một nền kinh tế phát triển bền
vững dựa trên nền tảng tri thức.
Luận án “Vai trò của Nhà nước nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa trường Đại
học - Doanh nghiệp trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ” đã thực hiện được
mục tiêu nghiên cứu, thông qua việc luận giải rõ đặc tính của sản phẩm NC&CGCN
là một hàng hóa đặc biệt, mang lại lợi ích “kép” cho các bên liên quan trong MQH
giữa trường ĐH, DN, đồng thời tác động, kích thích mạnh mẽ đến sự phát triển của
nền kinh tế.
Luận án đã tiếp cận lý luận vai trò của NN trong việc thúc đẩy MQH hợp tác
giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN trên cơ sở nền tảng lý thuyết: vai trò của NN
đối với nền kinh tế thị trường để khắc phục những rào cản do đặc tính khác biệt của
sản phẩm NC&CGCN và thị trường NC&CGCN phát sinh mà hai bên không thể tự
giải quyết được khiến MQH giữa trường ĐH, DN trong NC&CGCN diễn ra không
hiệu quả như mong muốn khi khơng có vai trị của NN trong việc tạo mơi trường, cơ
chế, chính sách thúc đẩy.
Luận án đã xây dựng được mơ hình đánh giá mức độ cản trở của các rào cản
đến mức độ gắn kết của các hình thức mối quan hệ tại các DN và tại các trường ĐH.
Kết quả cho thấy 5 rào cản đều có tác động tiêu cực đến mức độ gắn kết MQH giữa
trường ĐH và DN dù ở bất kỳ hình thức quan hệ nào. Ngồi ra, tác giả cũng tiến hành
kiểm định để xem xét liệu yếu tố đại diện sở hữu (cơng lập hay ngồi cơng lập) của
các trường ĐH, và việc các trường có thành lập bộ phận NC&CGCN có ảnh hưởng gì
đến MQH. Nghiên cứu cho kết quả: mức độ gắn kết ở các hình thức cộng tác, tương
tác tại các trường ĐH cơng lập tốt hơn các trường ĐH ngồi cơng lập nhưng mức độ
gắn kết tại hai hình thức hợp tác, liên kết thì tại các trường ĐH ngồi cơng lập tốt
hơn. Ở hình thức tương tác, liên kết các trường ĐH có bộ phận NC&CGCN có MQH
với DN tốt hơn nhiều so với trường ĐH khơng có bộ phận NC&CGCN. Hai hình
thức thấp hơn là hợp tác và cộng tác thì việc phát triển MQH với DN từ các trường
ĐH khơng có sự khác biệt. Đối với phía DN, kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ
23
24
gắn kết ở hình thức tương tác với trường ĐH tại các DN nhà nước tốt hơn đối với các
DN không thuộc khu vực Nhà nước nhưng mức độ gắn kết tại ba hình thức cộng tác,
hợp tác, liên kết thì tại DN khác nhau khơng có sự khác biệt nhiều. Ở hình thức hợp
tác, liên kết các DN có bộ phận NC&CGCN có MQH với trường ĐH tốt hơn nhiều so
với DN khơng có bộ phận NC&CGCN.
R&D, kế hoạch phát triển của DN trong tương lai dẫn đến nghiên cứu chưa toàn diện.
Để tiếp tục thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN, các hướng
nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào một số nội dung chính sau:
Luận án đã phân tích thực trạng vai trò của Nhà nước trong việc thúc đẩy
MQH giữa trường ĐH - DN, làm rõ thực trạng và những rào cản đang tồn tại trong
MQH, kiểm định tác động của rào cản đến hình thức các MQH, phân tích thực trạng
vai trò Nhà nước và quan điểm của các bên về vai trò của Nhà nước so với khung lý
thuyết từ đó tìm ra những hạn chế trong các chính sách thúc đẩy MQH của Nhà nước.
Căn cứ vào nguyên nhân của các rào cản trong MQH giữa trường ĐH - DN,
những bất cập trong cơ chế, chính sách của Nhà nước và những kinh nghiệm quốc tế
trong việc xây dựng các chính sách, cơ chế thúc đẩy MQH giữa ĐH - DN ở một số
nước trên thế giới, Luận án đã đề xuất 6 nhóm giải pháp để hồn thiện các chính sách
thúc đẩy MQH này bao gồm: (1) Nhóm giải pháp về chính sách sở hữu trí tuệ; (2)
Nhóm giải pháp về chính sách chia sẻ lợi ích; (3) Nhóm giải pháp về chính sách chia
sẻ rủi ro; (4) Nhóm giải pháp về chính sách thơng tin; (5) Nhóm giải pháp về chính
sách tài chính; (6) Các giải pháp hỗ trợ khác.
Kết quả nghiên cứu của Luận án cho thấy, Nhà nước có vai trị quan trọng
trong việc thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN. Chỉ có Nhà nước
mới khắc phục được các rào cản phát sinh từ những thất bại của thị trường, bảo hộ
SHTT và đảm bảo công bằng cho các bên trong q trình nghiên cứu, chuyển giao
cơng nghệ. Tác giả hy vọng rằng những nội dung và vấn đề phân tích trong Luận án
sẽ góp phần vào việc đổi mới tư duy của các nhà quản trị trong việc hoạch định chính
sách xây dựng và phát triển trường ĐH, DN và hoạt động KHCN đồng thời bổ sung
bổ sung thêm luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển nhằm thực
hiện mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế bền vững.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng trong quá trình nghiên cứu tác giả đã gặp
phải một số khó khăn trong việc thu thập dữ liệu trong và sau khi phỏng vấn do điều
kiện khách quan từ người được phỏng vấn, chẳng hạn, người trả lời không bao quát
được các kế hoạch, thiếu thông tin để đánh giá các văn bản luật, các yếu tố tác động
tới MQH giữa ĐH - DN trong NC&CGCN; cơ quan QLNN về KHCN, GDĐT không
sẵn sàng cung cấp những thông tin nhạy cảm như điểm yếu trong hoạt động QLNN
về hoạt động hợp tác trong NC&CGCN, các chính sách có thể được ban hành trong
tương lai; hay các DN không sẵn sàng cung cấp thông tin về doanh thu, đầu tư cho
- Thứ nhất, nghiên cứu vai trò của Nhà nướctrong việc thúc đẩy MQH giữa ĐH
- DN trong một ngành nghề cụ thể hoặc theo loại hình sở hữu, hoặc từng vùng miền
hay chỉ nghiên cứu sâu một trong năm rào cản chính.
- Thứ hai, nghiên cứu tác động của các hình thức MQH tới nguồn thu của
trường ĐH hoặc doanh thu của DN, phân tích chéo các yếu tố và kiểm định thống kê.
Như vậy, để MQH giữa ĐH - DN trong NC&CGCN được thúc đẩy mạnh hơn
nữa trong thời gian tới, Nhà nước cần phải thực hiện đồng bộ, nhất quán các giải
pháp nêu trên một cách khoa học. Để các cơ chế, chính sách của Nhà nước có thể
đi vào cuộc sống nhanh, hiệu quả, thì trong q trình xây dựng, ban hành, thực thi
chính sách Nhà nước cần phải có sự đối thoại nhất định đối với các bên ĐH, DN là
những đối tượng được thụ hưởng, đối tượng được phục vụ, đối tượng trung tâm
của chính sách đồng thời phải có các cơ chế giám sát việc thực thi chính sách của
các bên liên quan.