Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

Sáng kiến kinh nghiệm, SKKN - Rèn kỹ năng đọc đúng cho học sinh lớp 1A1 trường Tiểu học Tô Hiệu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (175.51 KB, 15 trang )

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập để đưa đất nước thốt khỏi tình trạng
kém phát triển thì giáo dục và đào tạo phải gánh vác một trách nhiệm vô cùng to lớn
đó là phải đào tạo cho đất nước một đội ngũ nhân lực có chất lượng để đáp ứng nhu
cầu phát triển và hội nhập… Đó là điều mà tất cả những người làm công tác trong
ngành giáo dục nói chung và bản thân tơi nói riêng cũng rất trăn trở và suy nghĩ làm
thế nào để nâng cao chất lượng học sinh, giúp các em nắm được kiến thức cơ bản
ngay từ đầu lớp Một, giúp các em học tốt và thích học nhất là giúp các em có một nền
móng vững chắc trong học tập, bởi lớp Một là nền móng cho sự phát triển của các em
sau này ở các lớp kế tiếp, mà người ta thường nói “ Cấp một là nền, lớp một là móng”
vì thế móng có chắc thì nền mới vững.
Ở lớp Một các em học sinh bắt đầu làm quen với: Nghe, nói, đọc,viết . Kỹ năng
đọc rất quan trọng, nếu kỹ năng đọc được rèn luyện tốt, hình thành tốt ở các em nó sẽ
giúp các em đọc tốt suốt cả cuộc đời, giúp các em phát triển tư duy, cảm nhận cái hay,
cái đẹp trong mỗi bài học, hiểu được nghĩa của tiếng, từ mình vừa đọc, hiểu được các
lệnh các yêu cầu trong các môn học khác. Mặt khác ở lớp Một các em được tập đọc
thành thạo, đọc đúng, đọc trơi chảy thì khi lên các lớp trên các em sẽ học vững vàng,
học tốt hơn. Và các em sẽ ham học, tích cực trong học tập hơn nếu kết quả học tập
của các em đạt tốt. Chính vì những lý do trên mà tơi chọn đề tài “ Rèn kỹ năng đọc
đúng cho học sinh lớp 1A1 trường Tiểu học Tô Hiệu ” để nghiên cứu, tìm tịi nhằm
góp một phần nào cho việc rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh lớp Một.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu qua quá trình thực tế đối với học sinh 1A1 trường Tiểu học Tơ Hiệu
nhằm mục đích tìm ra phương pháp và hướng đi giúp học sinh học tốt. Qua đó từng
bước nâng cao năng lực đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm của mỗi học sinh.
Về đọc đúng: Học sinh đọc đúng các phụ âm đầu vần, thanh, đọc đúng tiếng từ,
câu, đoạn văn, bài văn, bài thơ.
Đọc hay, đọc diễn cảm: Học sinh khi đọc bài thơ, bài văn, bài thơ phải biết ngắt
nghỉ đúng các dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm cảm. Khi đọc biết lên giọng, hạ giọng ở
những câu văn, bài thơ, hơn nữa là đọc phân vai.


Học sinh hiểu được nội dung văn bản và thể loại (văn xi hay thơ), từ đó học
sinh có thái độ, tình cảm đúng trong cuộc sống.

1


Thơng qua dạy học giúp các em có điều kiện tiếp cận và nắm bắt các môn học,
hiểu các văn bản, tiếp thu và chiếm lĩnh được tri thức, tự tin khi giao tiếp nhằm góp
phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại, phát triển toàn diện về mọi
mặt Đức – Trí – Thể - Mĩ cho học sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học để học sinh tích cực, chủ động trong học tập.
3. Đối tượng nghiên cứu
Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng đọc đúng cho học sinh lớp 1 của bản thân sau
nhiều năm giảng dạy mà tôi rút kinh nghiệm được.
Các phương pháp dạy học môn Tiếng Việt 1; tổ chức dạy rèn kỹ năng đọc đúng
cho học sinh lớp 1A1 trường Tiểu học Tô Hiệu.
Các bài học trong sách Tiếng Việt lớp 1(tập 1 và tập 2) của nhà xuất bản giáo
dục Việt Nam.
Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học của Nhà
xuất bản giáo dục
Học sinh lớp 1A1 trường Tô Hiệu – Thị Xã Buôn Hồ - Đắk Lắk.
4. Giới hạn của đề tài
Nội dung kiến thức chương trình Tiếng Việt lớp 1.
Học sinh lớp 1A1 trường Tô Hiệu – Thị Xã Buôn Hồ - Đắk Lắk.
Các phương pháp nâng cao rèn kỹ năng đọc đúng cho học sinh lớp 1A1 trường
Tiểu học Tô Hiệu
5. Phương pháp nghiên cứu
Tổng hợp lý luận thông qua các tài liệu, sách giáo khoa và thực tiễn dạy học
của lớp 1A1- Trường Tiểu học Tô Hiệu. Đánh giá quá trình dạy. Tiến hành khảo sát
chất lượng học sinh. Đúc rút kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu.

II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
Kỹ năng đọc cho học sinh lớp Một rất quan trọng, đó cũng là sự phản hồi của
kết quả tiếp thu sau một quá trình học tập của các em. Nó thể hiện kết quả nhận biết
các con chữ, các vần, và khả năng ghép chữ cái với nhau thành vần, ghép chữ cái với
vần thành tiếng, và khả năng đọc từ, đọc câu sau cùng là đọc được một bài văn ngắn,
một đoạn thơ ngắn .
Học sinh đã nhận được mặt chữ, biết ghép vần, ghép tiếng, ghép từ, đọc câu
còn yêu cầu các em phải đọc đúng, đọc chuẩn, đọc chính xác. Vì nếu các em phát âm
chuẩn đọc đúng các em sẽ viết đúng, bài chính tả sai ít lỗi, và các em sẽ hiểu được ý
của tiếng, từ, câu mà các em viết.
2


2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Giáo viên có thuận lợi: Được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo
về chuyên môn. Tổ chức bồi dưỡng giáo viên, tổ chức những buổi học chuẩn kiến
thức kỹ năng cho học sinh tiểu học vv… cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên
cứu, học hỏi, giảng dạy. Được sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu trường: tổ chức thao
giảng, dự giờ hàng tháng, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn
để rút ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng
dạy. Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững lâu năm trong cơng tác, có nhiều kinh
nghiệm, có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và sẵn sàng giúp đỡ đồng
nghiệp về chun mơn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khó khăn hay xử lý các
trường hợp học sinh cá biệt về học tập cũng như hạnh kiểm.
Học sinh có thuận lợi: Ở độ tuổi 6 – 7 của học sinh lớp 1. Các em đa số còn rất
ngoan, dễ vâng lời, nghe lời cơ giáo, thích học tập và thi đua với các bạn, dễ khích lệ
động viên khen thưởng vv….Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình
của một số phụ huynh có ý thức trách nhiệm khơng khốn trắng cho nhà trường cho
giáo viên, và tích cực tiếp tay với giáo viên trong việc học tập của con em mình như:

Chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập,thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốt
cho con em mình đến lớp cũng như học tập ở nhà.
Giáo viên gặp khó khăn: Tranh ảnh minh họa có sẵn cho mơn Tiếng Việt cịn
hạn chế. Giáo viên còn tự làm thêm đồ dùng dạy học để tạo sinh động cho tiết dạy,
nên còn mất thời gian đầu tư.
Học sinh gặp khó khăn: Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều. Bên cạnh
những em phát triển, học tốt, tiếp thu nhanh vẫn còn một số em yếu về thể chất, bé
nhỏ hơn so với các bạn bình thường kèm theo phát triển chậm về trí nhớ, học trước
qn sau, chậm tiến. Cịn một số phụ huynh chưa có ý thức trách nhiệm khốn trắng
cho nhà trường, cho giáo viên, chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập của con em
mình, chưa tạo điều kiện tốt để con em mình đến lớp cũng như nhắc nhở các em học
bài, đọc bài ở nhà.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp
Tìm hiểu để biết rõ số học sinh trong lớp đi học Mẫu Giáo và số học sinh không
đi học Mẫu Giáo, hoặc đi học khơng đều. Tìm hiểu ngun nhân, lý do vì sao học sinh
đó khơng đi học Mẫu Giáo…
Kiểm tra sự nắm bắt, nhận diện chữ cái các em đã học ở Mẫu Giáo và kết quả
điều tra năm 2019– 2020 thu được như sau:
3


Tình hình học sinh:
Lớp 1A1 sĩ số: 21 học sinh
+ Học sinh đi học Mẫu Giáo: 20 em
+ Kết quả khảo sát nhận diện đúng chữ cái: 16 em
+ Biết 5, 6 chữ cái : 5 em
Như vậy tỉ lệ học sinh nhận diện một cách chắc chắn chính xác bảng chữ cái
còn thấp dẫn đến kết quả học tập còn chưa cao. Một trong những lý do dễ thấy là vì
các em cịn q nhỏ, chưa ý thức tự giác, cố gắng trong học tập. Vì vậy giáo viên

chúng ta phải biết được đặc điểm tình hình của từng đối tượng, khả năng tiếp thu của
từng em để phát huy tính tích cực ham học cho học sinh. Tổ chức tiết dạy sao cho các
em luôn cảm thấy nhẹ nhàng, vui tươi và các em sẽ thích học.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
* Biệp pháp tác động giáo dục:
Từ thực trạng trên tôi đã tiến hành họp phụ huynh học sinh đầu năm học: Đề
nghị và yêu cầu thống nhất trang bị đầy đủ sách vở, đồ dùng cần thiết phục vụ cho
môn học.
Yêu cầu phụ huynh thường xuyên nhắc nhở việc học bài đọc bài ở nhà của con
em mình, đồng thời hướng dẫn phụ huynh cơ bản về cách đọc, các phát âm chữ cái,
cách đánh vần vần, đánh vần tiếng …để phụ huynh nắm rõ cách dạy học hỗ trợ giáo
viên kèm cặp con em mình ở nhà.
Tham mưu với nhà trường để giáo viên có đủ tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy
học, tự làm thêm tranh ảnh mơ hình, sưu tầm thêm những mơ hình vật thật để tiết dạy
vui, sinh động. Đồng thời mượn đồ dùng học tập, sách giáo khoa cho học sinh có
hồn cảnh khó khăn.
Xây dựng đơi bạn cùng tiến kèm cặp nhau.
Giáo viên có thể cho học sinh học yếu, đọc yếu để ngồi gần với nột học sinh
đọc tốt. Bạn học tốt sẽ giúp bạn yếu khi chỉ chữ đọc bài, giúp bạn đánh vần, đọc tiếng
và giúp bạn trong thao tác cài chữ để ghép vần, ghép tiếng.
Bồi dưỡng, luyện tập cho học sinh sau khi phân loại học sinh ngay từ đầu năm
giáo viên nên nắm vững trình độ học sinh trong lớp mình. Đối với các học sinh chưa
nhìn được mặt chữ cái hoặc chưa biết đủ 29 chữ cái đơn giản, giáo viên nên dành
nhiều thời gian để bồi dưỡng cho đối tượng này, ôn và dạy lại 29 chữ cái cơ bản cho
các em bắt đầu học lại những nét cơ bản.
Phần học các nét cơ bản:
4


Giáo viên nên dạy thật kỹ, thật tỷ mỉ tên gọi và cách viết các nét cơ bản. Để cho

học sinh dễ hiểu, dễ nhớ những nét chữ này tôi phân theo cấu tạo các nét có tên gọi và
cấu tạo gần giống nhau thành từng nhóm để học sinh dễ nhận biết và so sánh. Dựa vào
các nét cơ bản này mà học sinh phân biệt được chữ cái, kể cả những chữ cái có hình
dáng cấu tạo giống nhau.
Ví dụ : Các nét chữ cơ bản và tên gọi:
Nét sổ thẳng
Nét ngang
+ Nhóm 1: Nét xiên : \ Nét xiên phải ; / Nét xiên trái
+ Nhóm 2: Nét móc : Nét móc trên ; Nét móc dưới ; Nét móc hai đầu
+ Nhóm 3: Nét cong : Nét cong phải ; Nét cong trái ; Nét cong trịn
+ Nhóm 4: Nét khuyết : Nét khuyết trên; Nét khuyết dưới ; Nét thắt
Phần học âm:
Sau khi cho học sinh học thật thuộc tên gọi và cấu tạo các nét chữ cơ bản một
cách vững vàng thì tiếp theo là phần học chữ cái.
Giai đoạn này vô cùng quan trọng. Trẻ có nắm chắc từng chữ cái thì mới có thể
ghép các được các chữ cái với nhau để tạo thành vần, thành tiếng, ghép các tiếng đơn
lại với nhau tạo thành từ, thành câu. Lúc này tôi dạy cho các em nhận diện, phân tích
từng nét trong từng con chữ cái và nếu chữ cái đó có cùng tên mà lại có nhiều kiểu
viết – kiểu in khác nhau hay gặp trong sách báo như chữ a, chữ g thi tơi phân tích cho
học sinh hiểu và nhận biết đó cũng là chữ a hay chữ g để khi gặp kiểu chữ đó được in
trong sách báo trẻ dễ hiểu, dễ đọc khơng bị lúng túng.
Ví dụ :
+ Âm g gồm 2 nét: Nét tròn nằm bên trái và nét khuyết dưới nằm bên phải.
+ Âm a cũng có 2 nét : Nét trịn bên trái và nét móc dưới bên phải.
Từ việc học kỹ cấu tạo âm bởi những nét chữ cơ bản thật kỹ và tỉ mỉ như trên
sẽ giúp trẻ phân biệt được sự khác nhau cả về cất tạo và tên gọi của 4 âm sau:
Ví dụ :
+ Âm d gồm 2 nét: Nét tròn nằm ở bên trái và nét sổ thẳng ở bên phải. Đọc là
“ dờ ” .
+ Âm b gồm 2 nét: Nét tròn nằm ở bên phải, nét sổ thẳng nằm ở bên trái .Đọc

là: “ bờ ”.
Sang phần âm ghép (chữ có hai âm ghép lại với nhau). Tơi cho học sinh sắp
xếp các âm có âm h đứng sau thành một nhóm để thấy được sự giống nhau và khác
nhau của các âm đó.
5


Ví dụ:
+ Các âm ghép: ch - c ;
nh - n
th - t ;
kh - k
gh - g ;
ph - p
ngh - ng
+ Còn lại các âm: gi ,tr, qu, ng tôi cho học kỹ về cấu tạo
+ Phân từng cặp: ch - tr , ng - ngh, c - k, g – gh để học sinh phát âm chính
xác và viết chính tả.
Trong từng tiết học, từng bài ơn tơi ln tìm đủ cách để kiểm tra phát hiện sự
tiến bộ của trẻ thông qua các bài đọc, các giờ chơi, giờ nghỉ….. từ đó củng cố thêm
kiến thức cho học sinh.
Phần học vần :
Sang giai đoạn học vần học sinh đã nắm vững các âm, các em còn được làm
quen với các kiểu chữ hoa: chữ viết hoa, chữ in hoa nên tôi tập cho học sinh nhận biết
các kiểu chữ hoa một cách chính xác để các em đọc đúng. Để giúp trẻ học tốt phần
vần, tôi tập cho học sinh thói quen:nhận diện, phân tích cấu tạo của vần, nhận biết vị
trí các âm trong vần để các em học vững.
Ví dụ : Học vần âm :
+ Cho học sinh nhận diện về cấu tạo vần ăm: vần ăm gồm 2 âm: âm ă và âm
m. Vị trí âm trong vần: âm ă đứng trước, âm m đứng sau.

+ Đánh vần vần ăm:
Hướng dẫn học sinh: ă - mờ - ăm. Đọc trơn vần : ăm
+ Kết hợp dùng bộ chữ học vần tiếng vần dành cho học sinh để ghép vần
Yêu cầu các em: chọn đúng hai con chữ: ă và m.Ghép đúng vị trí: ă trước m
sau
Nếu các em đã ghép đúng giáo viên hướng dẫn cách đánh vần và đọc trơn vần
như trên các em sẽ nhận biết và đọc được vần ăm.
Với cách dạy phân tích, nhận diện và ghép vần vào bảng cài học sinh như thế,
nếu được áp dụng thường xuyên cho mỗi tiết học vần chúng ta sẽ tạo cho các em kỹ
năng phân tích, nhận diện và ghép vần dẫn đến đánh vần, đọc trơn vần một cách dễ
dàng và thành thạo giúp các em học phần vần đạt hiệu quả tốt. Trong các bài dạy vần,
sách giáo khoa tiếng việt 1 có kèm theo các từ khóa, từ ứng dụng và các câu thơ, câu
văn ngắn để học sinh luyện đọc. Muốn cho học sinh đọc được các từ và câu ứng dụng
trong bài giáo viên cho học sinh nắm chắc các vần sau đó cho các em ghép chữ cái
đầu với vần vừa học để đọc tiếng, đọc từ của bài.
6


Ví dụ: dạy vần ăm có từ con tằm.
Sau khi học sinh nắm vững vần ăm, nhìn và đọc được vần ăm một cách chắc
chắn. Giáo viên đưa ra từ con tằm và giúp học sinh nhận biết: Âm gì đứng trước vần
ăm (âm t) dấu thanh gì ở trên vần ăm (dấu huyền) vậy ta có thể ghép và đánh vần: tờ
- ăm – tăm- huyền – tằm, đọc trơn: tằm, ghép từ: con tằm .
Giáo viên có thể sử dụng tranh minh họa để cho học sinh hứng thú được nhìn
vào tranh ảnh sinh động hoặc mẫu vật thật để gợi trí tị mị, ham học hỏi của học sinh
giúp các em chủ động trong giờ học.
Phần tập đọc:
Đây là giai đoạn khó khăn đối với học sinh. Nhất là đối tượng học sinh tiếp thu
bài chưa tốt. Học sinh tiếp thu bài tốt đã vững phần chữ cái, nắm vững phần vần chỉ
nhìn vào bài là các em đọc được ngay tiếng, từ hoặc câu khá nhanh vì khả năng nhận

biết tốt. Cịn học sinh tiếp thu bài chưa tốt các em nhận biết còn chậm, chưa nhìn
chính xác vần nên ghép tiếng rất chậm, ghép tiếng chậm dẫn đến đọc từ chậm và đọc
câu rất khó khăn. Vì thế đối với các học sinh này, sang phần tập đọc giáo viên cần hết
sức kiên nhẫn, giành nhiều cơ hội tập đọc cho các em giúp các em đọc bài từ dễ đến
khó, từ ít đến nhiều. giáo viên tránh nóng vội để đọc trước cho các em đọc lại dẫn đến
tình trạng đọc vẹt và tính ỷ lại thụ động của học sinh.Giáo viên nên cho học sinh
nhẩm đánh vần lại từng tiếng trong câu, đánh vần xong đọc trơn lại tiếng đó nhiều lần
để nhớ sau đó nhẩm đánh vần tiếng kế tiếp lại đọc trơn tiếng vừa đánh vần rồi đọc lại
từng cụm từ.
Ví dụ: Dạy bài tập đọc Trường Em (sách giáo khoa Tiếng Việt 1 Tập II )
+ Học sinh chưa đọc được tiếng trường, giáo viên nên cho các em đánh vần
tiếng trường bằng cách phân tích như sau:
GV: Tiếng trường gồm có âm gì và ghép với vần gì ? Có dấu thanh gì?
HS: Tiếng trường gồm có âm tr ghép với vần ương và dấu thanh huyền.
GV: Vậy đánh vần tiếng trường thế nào?
HS: trờ - ương – trương – huyền – trường.
GV: Đọc trơn tiếng này thế nào?
HS: Trường.
Rồi cho học sinh đọc nối tiếp: trường em.
Học sinh không đọc được tiếng trường , Giáo viên nên cho học sinh ôn lại cấu
tạo vần ương trong tiếng trường.
GV: Vần ương gồm có mấy âm?
HS: Vần ương gồm có 2 âm. Âm đôi ươ và âm ng.
7


GV: Vị trí các âm trong vần thế nào?
HS: Âm đôi ươ đứng trước, âm ng đứng sau.
GV: Đánh vần và đọc trơn vần ương.
HS: ươ- ng- ương, ương

GV: Thêm âm tr vào trước vần ương và dấu huyền trên vần ương.Ta đánh vần,
đọc trơn tiếng thế nào?
HS: Trờ - ương – trương- huyền – trường, trường
và sau mỗi lần đánh vần, cho học sinh đọc trơn lại tiếng vừa đánh vần nhiều lần để
khắc sâu vào trí nhớ học sinh.
* Những phương tiện dạy học:
Trong từng tiết dạy môn Tiếng việt, để giúp học sinh tích cực và ham học giáo
viên cần sử dụng linh hoạt và phù hợp các phương tiện hỗ trợ tiết dạy như sau:
Sử dụng tranh ảnh trong sách giáo khoa là chủ yếu.
Tận dụng những vật thật, tranh ảnh có sẵn trong thực tế để các em quan sát tìm
hiểu.
Sưu tầm thêm một số tranh ảnh, mẫu vật có liên quan đến bài dạy.
* Phương pháp và hình thức tổ chức dạy:
Phương pháp đàm thoại, vấn đáp:
Giáo viên đưa ra nhiều câu hỏi để học sinh trả lời nhằm phát hiện sự hiểu biết
của các em hoặc để gợi mở giúp các em phát hiện cách đọc.
Ví dụ : - Chữ này là chữ gì? ( chữ a, o,b,c, d….)
+ Âm ch đứng trước, vần anh đứng sau, em đánh vần thế nào?( chờ- anhchanh) .
Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên nên dùng ngôn ngữ dễ nghe, nhẹ
nhàng, tránh cáu gắt khi các em chậm nhớ, chậm hiểu. Hãy ôn tồn dẫn dắt học sinh
từng bước một để dạy các em đọc từng chữ, từng tiếng, từng câu trong mỗi ngày.
Phương pháp quan sát, động viên khen thưởng học sinh:
Trong tiết dạy tơi thường chú ý đến học sinh ít nói, thụ động, học sinh đọc
chậm, đọc yếu để gọi các em thường xuyên đọc bài. Đối với học sinhhọc tốt tôi
thường khích lệ, khen ngợi để các em phấn khởi hơn. Cịn đối với học sinh học chưa
tốt tơi nhẹ nhàng an ủi động viên: “ Cố lên, rồi các em sẽ đọc tốt như các bạn nếu các
em cố gắng đọc bài nhiều ở lớp cũng như ở nhà.” Trong tiết dạy tập đọc, sau khi cho
cả lớp đọc xong, tơi mời các em đọc đọc cịn chậm lên bàn giáo viên để cùng đọc bài
với cô.Tôi giành nhiều thời gian cho đối tượng này hơn. Cùng đọc bài với các em
trong giờ ra chơi ( nhưng vẫn để cho các em có thời gian thư giãn, nghỉ ngơi). Khi các

8


em có biểu hiện tiến bộ tơi thường khen thưởng các em bằng những phần quà nhỏ như
cuốn vở, viên phấn màu, cây bút đẹp vv… để các em thích thú và cố gắng hơn.
Phương pháp học nhóm:
Như đã nói ở trên, tôi cho học sinh học tốt kèm học sinh học chưa tốt để giúp
bạn học tâp ở lớp. Cịn khi về nhà tơi phân cơng và giao nhiệm vụ cho em đọc còn
chậm đem sách đến để cùng học, cùng đọc bài với bạn học tốt gần nhà nhất và cho
bạn học tốt báo cáo với cô: chiều hơm qua bạn A có đến để học bài với em hay
khơng? Nếu có sẽ được cơ khen bạn A ngoan, nếu không cô sẽ giữ bạn A lại để học
với cô trong giờ ra chơi hoặc về muộn hơn so với các bạn để học bù lại.
Phương pháp tổ chức các trị chơi:
Trong giờ học vần, tơi hay lồng ghép các trò chơi nhỏ để cả lớp cùng tham gia.
VD trò chơi “Ai nhanh – Ai đúng” . Giáo viên ghi một số từ vào các mảnh bìa và đưa
ra cho học sinh đọc. Bạn nào đọc nhanh, đọc đúng 3 từ liên tiếp sẽ được cả lớp khen
là giỏi và tôi thường hay chọn các học sinh đọc còn chậm để đọc nhiều hơn nhằm
giúp các em cố gắng đọc để thi đua và tạo cho các em khả năng đọc nhanh, đọc đúng.
Phương pháp nhận xét nêu gương:
Để nâng dần chất lượng học sinh trong lớp, muốn cho trình độ học sinh đồng
đều vào cuối năm học, tơi thường trị chuyện với học sinh đọc cịn chậm để dẫn dắt
các em cố gắng hơn cho kịp bằng các bạn. Tôi cho các em nhận xét các bạnhọc tốt
trong lớp.
VD: Bạn Huy, bạn Ngọc đọc giỏi, học giỏi vì các bạn ấy rất chăm chỉ đọc bài
và đọc rất nhiều ở nhà. Ở lớp các bạn cũng rất cố gắng đọc bài và luyện tập thêm để
ngày càng đọc tốt đọc hay hơn. Các bạn luôn thi đua với nhau xem ai đọc nhiều hơn,
ai đọc đúng hơn và ai đọc hay hơn. Các em cũng sẽ đọc giỏi như các bạn ấy nếu có cố
gắng đọc nhiều, như các bạn: đọc chưa thơng, đọc chưa nhanh thì đánh vần, đọc nhẩm
nhẩm xong đọc to lên và cứ thế mà đọc mãi, đọc đi đọc lại, đọc đến khi nào nhìn vào
chữ là đọc được ngay mới thơi.

c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các biện pháp trên đều có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, do vậy
cần được phối kết hợp sử dụng thì mới nâng cao được chất lượng, hiệu quả cơng tác
giảng dạy
Để có một kế hoạch bài học tốt, người giáo viên tự tin, chủ động trên bục giảng,
hướng dẫn, tổ chức tốt các hoạt động làm bài tập người giáo viên cần :
Nghiên cứu nắm vững mục tiêu của môn học, mục tiêu cần đạt trong từng tiết,
trong từng bài học. Đây là việc cơ bản phải làm.
9


Khi xác định mục tiêu của từng bài dạy giáo viên cần căn cứ vào tài liệu chuẩn
kiến thức, kĩ năng; tài liệu hướng dẫn tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, thực tế
lớp học để xác định đúng mục tiêu cần đạt.
Trong dạy học, tạo hứng thú cho học sinh là rất quan trọng. Nó gần như quyết
định hiệu quả của việc dạy học. Vì vậy tạo hứng thú cho học sinh lại càng quan trọng.
Khi học sinh có hứng thú, các em sẽ tự giác, chủ động học tập thì giờ dạy mới diễn ra
nhẹ nhàng, học sinh chủ động nắm được kĩ năng, kiến thức.
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi
và hiệu quả ứng dụng
Trong quá trình áp dụng các biện pháp, phương pháp trên để rèn kỹ năng đọc
cho học sinh lớp 1. Tôi đã thu nhặt được những kết quả đáng khích lệ sau:
Năm học
2018 – 2019
2019 – 2020

Sĩ số học sinh
25
21


Số học sinh đọc chưa tốt
Đầu năm
Cuối kỳ I
12
4
10
3

Đây là một kết quả rất đáng mừng, bù đắp cho công sức và sự kiên nhẫn của
giáo viên đứng lớp.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Rèn kỹ năng đọc cho học sinh là đọc đúng âm, vần, tiếng, từ, câu, đoạn, bài
vv… Đọc còn yêu cầu học sinh biết ngắt nghỉ đúng ở dấu phẩy, dấu chấm, đọc còn
yêu cầu các em phát âm chuẩn, chính xác các con chữ… để khi viết các em khơng
nhầm lẫn dẫn đến sai lỗi chính tả. Vì thế để phân môn tập đọc của học sinh lớp 1 có
kết quả cao. Giáo viên chủ nhiệm lớp phải nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của học
sinh, phải u học sinh như chính con mình, biết rõ mặt mạnh, mặt yếu của học sinh
để bồi dưỡng, luyện tập.
Trong từng tiết dạy giáo viên phải xác định khối lượng kiến thức cần truyền thụ
cho học sinh thông qua mục đích, yêu cầu của bài dạy. Khi giảng dạy cần lựa chọn
nhiều phương pháp phù hợp, vận dụng việc đổi mới phương pháp trong giảng dạy đó
là lấy học sinh làm trung tâm, phải khơi gợi cho học sinh tính chủ động, ham thích
học, đọc bài. Việc chuẩn bị đồ dùng dạy học cũng được coi trọng hàng đầu và nên
thường xuyên sử dụng thiết bị dạy học.

10


Giáo viên cần dẫn dắt học sinh đọc một cách nhẹ nhàng, dí dỏm, tạo cho các em

sự tin cậy, yêu mến cô giáo, tinh thần vui vẻ, hồn nhiên để học tập. Khi đọc mẫu giáo
viên nên phát âm chuẩn xác để học sinh bắt chước và vững vàng trong cách đọc tránh
đọc sai để ảnh hưởng đến học sinh.
2. Kiến nghị
Với lịng u trẻ, sự kiên trì, nhẫn nại và ý thức trách nhiệm của một người thầy
giáo, cô giáo trực tiếp gần gũi các em hàng ngày. Chúng ta ln ý thức trách nhiệm
của mình dạy học sinh phải tiến bộ, sau 1 năm học các em phải đọc được và đạt được
mức chuẩn đến trên chuẩn. Muốn đạt được mục đích này người giáo viên lập kế
hoạch cho mình ngay từ đầu, quyết tâm giữ vững tinh thần tránh nhiệm của mình với
học sinh. Hãy cùng học, cùng đọc với các bạn nhỏ này ở mọi lúc mọi nơi, mọi môn
học, không nên hời hợt, cho qua khi các em đọc sai lỗi, với học sinh lớp 1 cần tập cho
các em thói quen tốt: đọc đúng, nhìn kỹ, cố gắng, nhẫn nại, chịu khó v.v… để tập cho
các em nề nếp tốt trong học tập ở hôm nay và mai sau.
Kinh nghiệm rèn kỹ năng đọc đúng cho học sinh lớp 1 chắc chắn sẽ khơng tránh
khỏi những thiếu sót nhất định . Rất mong sự đóng góp chân thành của Hội đồng khoa
học để đề tài này được hoàn chỉnh hơn .
Xin chân thành cảm ơn!
Ea Siên, tháng 4 năm 2020
Người viết
Nông Thị Ngọc Hương

11


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt 1(tập 1 và tập 2) của Nhà xuất bản giáo dục Việt
Nam
2. Sách giáo viên Tiếng Việt 1(tập 1 và tập 2) của Nhà xuất bản giáo dục Việt
Nam
3. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học của

Nhà xuất bản giáo dục
4. Tiếng Việt nâng cao 1/ Lê phương Nga, Trần Thị Minh Phương, Lê Hữu
Tỉnh, năm 2011
5. Tiếng Việt cơ bản 1/ Nguyễn Trí, Trần Hiền Lương, Giang Khắc Bình, năm
2011.

12


MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài …………………………………………………………....1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài …………………………………………........1
3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………….................2
4. Giới hạn của đề tài.......................................................................................... 2
5. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................2
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận ……………………...………………………………………....2
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu……………………...……………………3
3. Nội dung và hình thức của giải pháp thuận lợi, khó khăn…………………..3
a. Mục tiêu của giải pháp ……………………………………………….3
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp …………………………..4
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp ………………………....9
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi
và hiệu quả ứng dụng................................................................................……….......10
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận…………………………………………………..………………...10
2. Kiến nghị…………………………………………………….......................11

13



NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

Buôn Hồ, ngày … tháng … năm 2020
T/M HỘI ĐỒNG

NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP THỊ XÃ

Buôn Hồ, ngày … tháng … năm 2020
T/M HỘI ĐỒNG

14


15



×