Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

Tải Phân tích vẻ đẹp tình người và niềm hy vọng vào cuộc sống ở các nhân vật trong truyện ngắn Vợ nhặt - Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Văn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (151.99 KB, 20 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>Phân tích vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng vào cuộc sống ở các nhân vật trong</b>
<b>truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân) - Ngữ văn 12</b>


<b>Dàn ý:</b>


<b>1. Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm:</b>


a. Kim Lân là một cây bút đặc sắc của văn học Việt Nam hiện đại với đề tài: đời sống
làng q. Ơng đã có nhiều đóng góp cho thể loại truyện ngắn viết về đề tài này. Đó là sự
hiểu biết sâu sắc về nỗi thống khổ của người nông dân và sự đổi đời của họ.


b. Truyện ngắn "Vợ nhặt" thực ra là một chương trong tiểu thuyết "Xóm ngụ cư" (1946).
Tác phẩm được viết ngay sau CMT8 1945 nhưng còn dang dở và mất bản thảo. Sau ngày
hòa bình 1954, Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện cũ và viết tiếp truyện ngắn này.
c. "Vợ nhặt" là một truyện ngắn xuất sắc không chỉ của Kim Lân mà cịn là một kiệt tác
của văn xi Việt Nam hiện đại. Thơng qua tình huống nhặt vợ trớ trêu của Tràng, tác
phẩm đã thể hiện sâu sắc vẻ đẹp của tình người và niềm hy vọng của cuộc sống của
những người nơng dân xóm ngự cư, cụ thể là ở các nhân vật: Tràng, người vợ nhặt và bà
cụ Tứ.


<b>2. Phân tích: có thể phân tích từng nhân vật để làm rõ vẻ đẹp của tình người và niềm hy</b>
vọng vào cuộc sống của những người dân ngụ cư ngay trong hồn cảnh khốn cùng. Cũng
có thể phân tích theo 2 luận điểm của đề, trong đó lần lượt chứng minh qua các nhân vật.
<b>Dù phân tích theo hướng nào cũng phải làm nổi bật các ý sau:</b>


a. "Sự túng đói quay quắt", "hồn cảnh khốn khổ" khơng làm những người dân ngụ cư từ
bỏ lòng nhân ái. Họ vẫn vượt lên trên cái chết, cái thảm đạm để sống với nhau bằng tình
người đẹp đẽ.


- Vẻ đẹp tiềm ẩn trong tâm hồn Tràng.



+ Hào hiệp, thương người khi chia sẻ miếng ăn với người đàn bà xa lạ đang đói khát; khi
cưu mang thị dù mình cũng đang khốn khổ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

+ Thái độ tình nghĩa và trách nhiệm: xót xa thương cảm khi nhìn vẻ buồn bã của vợ; trân
trọng thương yêu mà không hề rẻ rúng; mong muốn "dự phần tu sửa lại căn nhà"- nơi
Tràng sẽ sống với những người mà anh yêu thương…


- Vẻ đẹp trong tâm hồn người "vợ nhặt":


+ Lúc đầu đi theo Tràng chỉ vì miếng ăn mong chạy trốn cái đói, thị đã thất vọng khi
chứng kiến hồn cảnh khốn khổ của Tràng nhưng thị vẫn ở lại ngôi nhà ấy vì thị hiểu
mình đã tìm thấy những điều cịn q giá hơn cả miếng ăn, đó là tình người cao đẹp, đó là
tấm lịng nhân hậu của những con người sẵn sàng cưu mang, yêu thương thị khi chính họ
đang đói khát.


+ Người vợ nhặt đã biến đổi sâu sắc sau khi theo Tràng về nhà: vẻ chao chát, chỏng lỏn
đã thay bằng sự hiền hậu đúng mực, mau mắn trong việc làm, ý tứ trong cư xử.


- Vẻ đẹp trong tâm hồn bà cụ Tứ:


Việc con "nhặt vợ" giữa lúc túng đói quay quắt đã khiến bà bất ngờ, ngạc nhiên, nhưng
khi đã "hiểu ra bao nhiêu là cơ sự", trong lịng bà chỉ tràn ngập tình thương: thương con,
thơng cảm với nàng dâu, trăn trở xót xa về bổn phận làm mẹ. Cố tạo niềm vui cho các con
ngay trong bữa cơm ngày đói thê thảm khiến cho món ăn của lồi vật lại thắm đẫm tình
người…


b. "Sự túng đói quay quắt", "hồn cảnh khốn khổ" khơng ngăn cản được những người dân
xóm ngụ cư hy vọng vào cuộc sống- niềm hy vọng đã tạo nên vẻ đẹp rạng rỡ trong tâm
hồn họ.



Nhân vật Tràng: sau cảm giác "chợn" "sờ sợ" khi "thóc gạo này đến cái thân mình cũng
chưa biết có ni nổi khơng lại còn đèo bòng", Tràng tặc lưỡi, liều lĩnh và từ lúc đó,
Tràng cảm nhận hạnh phúc đang và sẽ đến với cuộc đời mình. Việc mua hai hào dầu thắp,
cảm giác êm ái lửng lơ như trong giấc mơ đi ra, dự liệu về một tương lai khi hắn sẽ cùng
vợ mình sinh con đẻ cái ở đây"… Đặc biệt hình ảnh lá cờ đỏ phấp phới trong đầu Tràng
đều là biểu hiện của niềm hy vọng mong manh mà vững chắc về tương lai.


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

- Bà cụ Tứ: là người thể hiện rõ nhất niềm hy vọng vào một cuộc sống tốt đẹp hơn: bà cắt
đặt lo toan cơng việc, bàn về việc đan phên ngăn phịng, việc nuôi gà, động viên các con
bằng cả triết lý dân gian "ai giàu ba họ, ai khó ba đời", cùng con thu dọn cửa nhà cho
quang quẻ.


<b>3. Đánh giá chung:</b>


- Tình người và niềm hy vọng vào cuộc sống đã làm nên vẻ đẹp vừa "thấm thía cảm
động", vừa rạng rỡ trong tâm hồn những người dân xóm ngụ cư.


- Phát hiện và miêu tả vẻ đẹp ấy trong tâm hồn người dân xóm ngụ cư, Kim Lân đã đem
đến cho tác phẩm tình cảm nhân đạo sâu sắc, mới mẻ.


<b>Bài văn mẫu 1</b>


Nạn đói khủng khiếp và dữ dội năm 1945 đã hằn in trong tâm trí Kim Lân-một nhà
văn hiện thực có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người một lòng đi về với
"thuần hậu phong thủy" ấy. Ngay sau Cách mạng, ông đã bắt tay viết ngay tiểu thuyết
"Xóm ngụ cư" khi hịa bình lập lại (1954), nỗi trăn trở tiếp tục thôi thúc ông viết tiếp thiên
truyện ấy. Và cuối cùng, truyện ngắn "Vợ nhặt" đã ra đời.


Trong lần này, Kim Lân đã thật sự đem vào thiên truyện của mình một khám phá mới,
một điểm sáng soi chiếu toàn tác phẩm. Đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào


cuộc sống của những người nông dân nghèo tiêu biểu như Tràng, người vợ nhặt và bà cụ
Tứ. Thiên truyện thể hiện rất thành công khả năng dựng truyện, dẫn truyện và đặc sắc
nhất là Kim Lân đã có khám phá ra diễn biến tâm lý thật bất ngờ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

thành công ngôn ngữ nông dân, ngôn ngữ dung dị, đời thường nhưng có sự chọn lọc kỹ
lưỡng ấy, nhà văn đã tái hiện lại trước mắt ta một khơng gian năm đói thật thảm hại, thê
lương. Trong đó ngổn ngang những kẻ sống người chết, những bóng ma vật vờ, lặng lẽ
giữa tiếng hờ khóc và tiếng gào thét kinh hoàng của đám quạ. Bằng tấm lịng đơn hậu
chân thành nhà văn đã gửi gắm vào trong không gian tối đen như mực ấy những mầm
sống đang cố vươn đến tương lai, những tình cảm chân thành, yêu thương bình dị nhưng
rất đỗi cao quý ấy và nhà văn đã để những số phận như anh Tràng, người vợ nhặt và bà cụ
Tứ được thăng hoa trước ngọn cờ đỏ phấp phới cùng đám người đói phá kho thóc Nhật ở
cuối thiên truyện.


Có thể nói rằng, Kim Lân đã thật sự xuất sắc khi dựng lên tình huống "nhặt vợ" của
anh cu Tràng. Tình huống ấy là cánh cửa khép mở để nhân vật bộc lộ nét đẹp trong tâm
hồn mình. Dường như trong đói khổ người ta dễ đối xử tàn nhẫn với nhau khi miếng ăn
của một người chưa đủ thì làm sao có thể đèo bồng thêm người này người kia. Trong tình
huống ấy, người dễ cấu xé nhau, dễ ích kỷ hơn là vị tha và người ta rất dễ đối xử tàn nhẫn,
làm cho nhau đau khổ. Nhưng nhà văn Kim Lân lại khám phá ra một điều ngược lại như ở
các nhân vật anh cu Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ. Chúng ta từng kinh hãi trước "xác
người chết đói ngập đầy đường", "người lớn xanh xám như những bóng ma", trước
"khơng khí vẩn lên mùi hôi của rác rưởi và mùi ngây của xác người", từng ớn lạnh trước
"tiếng qua kêu từng hồi thê thiết" ấy nhưng lạ thay chúng ta thật không thể cầm lịng xúc
động trước nghĩa cử cao đẹp mà bình thường, dung dị ấy của Tràng, bà cụ Tứ và cả người
vợ của Tràng nữa.


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

hạnh phúc lứa đơi. Hành động của Tràng dù vơ tình, khơng có chủ đích, chỉ tầm phơ tầm
phào cho vui nhưng điều ấy cũng hé mở cho ta thấy tình cảm của một con người biết yêu
thương, cưu mang, đùm bọc những người đồng cảnh ngộ. Như một lẽ đương nhiên, Tràng


đã rất ngỡ ngàng, hắn đã "sờ sợ", "ngờ ngợ", "ngỡ ngàng" như khơng phải nhưng chính
tình cảm của vợ chồng ấy lại củng cố và nhen nhóm ngọn lửa yêu thương và sống có trách
nhiệm với gia đình trong hắn. Tình nghĩa vợ chồng ấm áp ấy dường như làm cho Tràng
thay đổi hẳn tâm tính. Từ một anh chàng ngờ nghệch, thô lỗ, cộc cằn, Tràng đã sớm trở
thành một người chồng thật sự khi đón nhận hạnh phúc của gia đình. Hạnh phúc ấy như
một cái gì đó cứ "ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ
sống lưng". Tình u, hạnh phúc ấy khiến "trong một lúc Tràng dường như quên đi tất cả,
quên cả đói rét đang đeo đuổi, quên cả những tháng ngày đã qua". Và Tràng đã ước ao
hạnh phúc. Mạch sống của một người đàn ông trong Tràng đã trở dậy. Hắn có những thay
đổi thật bất ngờ nhưng rất hợp logic. Những thay đổi ấy khơng gì khác ngồi tâm hồn đơn
hậu, chất phác và giàu tình yêu thương hay sao? Trong con người của Tràng khi trở dậy
sau khi chào đón hạnh phúc ấy thật khác lạ. Tràng không là anh Tràng ngày trước nữa mà
giờ đây đã là một người con có hiếu, một người chồng đầy trách nhiệm dù chỉ trong ý
nghĩ. Thấy mẹ chồng nàng dâu quét tước nhà cửa, hắn đã bừng bừng thèm muốn một
cảnh gia đình hạnh phúc. "Hắn thấy hắn yêu thương căn nhà của hắn đến lạ lùng", "hắn
thấy mình có trách nhiệm hơn với vợ con sau này". Hắn cũng xăm xắn ra sân dọn dẹp nhà
cửa. Hành động cử chỉ ấy ở Tràng đâu chỉ là câu chuyện bình thường mà đó là sự biến
chuyển lớn. Chính tình u của người vợ, tình mẹ con hịa thuận ấy đã nhen nhóm trong
hắn ước vọng về hạnh phúc, niềm tin vào cuộc sống sẽ đổi thay khi hắn nghĩ đến đám
người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới. Rồi số phận, cuộc đời của hắn, của vợ hắn và cả
người mẹ của hắn nữa sẽ thay đổi. Hắn tin thế.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

Người vợ nhặt không phải ngẫu nhiên xuất hiện trong thiên truyện. Thị xuất hiện đã
làm thay đổi cuộc sống của xóm ngụ cư nghèo nàn, tăm tối ấy, đã làm cho những khuôn
mặt hốc hác, u tối của mọi người rạng rỡ hẳn lên. Từ con người chao chát chỏng lỏn đến
cơ vợ hiền thục, đảm đang là một q trình biến đổi. Điều gì làm thị biến đổi như thế? Đó
chính là tình người, là tình thương u. Thị tuy theo không Tràng về chỉ qua bốn bát bánh
đúc và hai câu nói tầm phơ tầm phào của Tràng nhưng chúng ta khơng khinh miệt thị.
Nếu có trách thì chỉ có thể hướng vào xã hội thực dân phong kiến kia bóp nghẹt quyền
sống con người. Thị xuất hiện khơng tên tuổi, quê quán, trong thư thế "vân vê tà áo đã


rách bợt", điệu bộ trông thật thảm hại nhưng chính con người lại gieo mầm sống cho
Tràng, làm biến đổi tất cả, từ khơng khí xóm ngụ cư đến khơng khí gia đình. Thị đã đem
đến một luồng sinh khí mới, sinh khí ấy chỉ có được khi trong con người thị dung chứa
một niềm tin, một ước vọng cao cả vào sự sống, vào tương lai. Thị được miêu tả khá ít
song đó lại là nhân vật khơng thể thiếu đi trong tác phẩm. Thiếu thị, Tràng vẫn chỉ là anh
Tràng của ngày xưa, bà cụ Tứ vẫn lặng thầm trong đau khổ, cùng cực. Kim Lân cũng thật
thành cơng khi xây dựng nhân vật này để góp thêm tiếng lịng ca ngợi sức sống của vẻ
đẹp tình người, niềm tin ở cuộc đời phía trước trong những con người đói khổ ấy. Và thật
ngạc nhiên, khi nói về ước vọng ở tương lai, niềm tin vào hạnh phúc, vào cuộc đời người
ta dễ nghĩ đến tuổi trẻ như Tràng và người vợ nhưng Kim Lân lại khám phá ra một nét
độc đáo vơ cùng: tình cảm, ước vọng ở cuộc đời ấy lại được tập trung miêu tả khá kỹ ở
nhân vật bà cụ Tứ. Đến nhân vật này, Kim Lân tỏ rõ ngòi bút vững vàng, già dặn của
mình trong bút pháp miêu tả tâm lý nhân vật.


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

trong nhà mình mà lâu nay và có lẽ chưa bao giờ bà nghĩ đến. Hết ngỡ ngàng, ngạc nhiên
bà cụ đã "cúi đầu nín lặng". Cử chỉ, hành động ấy chất chứa bao tâm trạng. Đó là sự đan
xen lẫn lộn giữa nổi tủi cực, nỗi lo và niềm vui nỗi buồn cứ hòa lẫn vào nhau khiến bà
thật căng thẳng. Sau khi thấu hiểu mọi điều bà nhìn cơ con dâu đang "vân vê tà áo đã rách
bợt" mà lịng đầy thương xót. Bà thiết nghĩ "người ta có gặp bước khó khăn này, người ta
mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ". Và thật xúc động bà cụ đã nói, chỉ
một câu thơi nhưng sâu xa và có ý nghĩa vô cùng: "Thôi, chúng mày phải duyên phải kiếp
với nhau u cũng mừng lịng".


Đói khổ đang vây lấy gia đình bà, cuộc sống của bà sẽ ra sao khi mình đang ngấp
nghé trước vực thẳm của cái chết. Nhưng trong tâm thức người mẹ nghèo ấy, đói khổ
khơng phải là vật cản lớn nữa. Đói rét thật nhưng trong lòng mà cụ vẫn sáng lên tấm lòng
yêu thương chân thành. Bà thương con, thương dâu và thương cho chính bản thân mình.
Bà cụ Tứ từ những nỗi lo, nỗi tủi cực về gia cảnh vẫn không ngừng bùng cháy lên ngọn
lửa của tình người. Bà đã giang tay đón nhận đứa con dâu lịng đầy thương xót, trong tủi
cực nhưng vẫn ngầm chứa một sức sống thật mãnh liệt. Chính ở người mẹ nghèo khó ấy,


ngọn lửa của tình người, tình thương yêu nhân loại ấy bùng cháy mạnh mẽ nhất. Trong
bóng tối của đói nghèo đang hùng hổ vây quanh, bà lão vẫn gieo vào lòng những con
mình niềm tin về cuộc sống. Bà nhắc đến việc Tràng nên chuẩn bị một cái phên nuôi gà,
rồi việc sinh con đẻ cái, bà lão nói tồn truyện vui trong bữa cơm ngày đói thật thảm hại.
Bà đã đón nhận hạnh phúc của các con để tự sưởi ấm lịng mình. Đặc biệt chi tiết nồi cám
ở cuối thiên truyện thể hiện khá rõ ánh sáng của tình người. Nồi chè cám nghẹn bứ cổ và
đắng chát ấy lại là món q của một tấm lịng đơn hậu chất chứa yêu thương. Bà lão "lễ
mễ" bưng nồi chè và vui vẻ giới thiệu: "Chè khoán đây. Ngon đáo để cơ". Ở đây nụ cười
đã xen lẫn nước mắt. Bữa cơm gia đình ngày đói ở cuối thiên truyện khơng khỏi làm
chạnh lịng chúng ta, một nỗi xót thương cay đắng cho số phận của họ song cũng dung
chứa một sự cảm phục lớn ở những con người bình thường và đáng quý ấy.


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

vọng vào cuộc sống một cách mạnh mẽ nhất ở những thân phận nghèo đói, thảm hại kia.
Ba nhân vật: Tràng, vợ Tràng và bà cụ Tứ cùng những tình cảm, lẽ sống cao đẹp của họ
chính là những điểm sáng mà Kim Lân từng trăn trở trong thời gian dài để thể hiện sao
cho độc đáo một đề tài không mới. Tác phẩm đã thể hiện thành công nghệ thuật miêu tả
tâm lý nhân vật, khả năng dựng truyện và dẫn truyện của Kim Lân-một nhà văn được
đánh giá là viết ít nhưng tác phẩm nào cũng có giá trị là vì lẽ đó.


"Cái đẹp cứu vớt con người" (Đơxtơiepki). Vâng, "vợ nhặt" của nhà văn Kim Lân thể
hiện rõ sức mạnh kì diệu ấy. Ánh sáng của tình người, lịng tin u vào cuộc sống là con
nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm. Ơng đã đóng góp cho văn học Việt Nam
nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan niệm mới về lịng người và tình người.
Đọc xong thiên truyện, dấu nhấn mạnh mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc chính là ở điểm
sáng tuyệt vời ấy.


<b>Bài văn mẫu 2</b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

Trước hết là vẻ đẹp tình người trong các nhân vật trong truyện, người đầu tiên cần
nhắc đến là anh Tràng. Anh cùng với mẹ già ở một xóm ngụ cư mà người dân ngụ cư thì


thường bị người ta khinh ghét. Tràng có một ngoại hình vơ xùng xấu xí anh có đơi mắt gà
gà, lưng to như lưng gấu. Anh làm nghề kéo xe thuê, anh thường kéo xe gạo lên tỉnh, có
đợt anh đang kéo thấy mấy cô ả ngồi chơi với nhau nhặt nhạnh những hạt lúa hạt thóc vãi
trên đường. Anh ngẫu hứng hị lên một câu:


<i>“Có ăn cơm trắng với giò này</i>
<i>Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì”</i>


Khơng ngờ những cơ gái kia đã đáp lại Tràng, họ đẩy một cơ gái ra chỗ anh và cười
tít. Chuyện cũng bắt đầu từ đấy, Tràng hứa thế nhưng anh cũng có hơn cơ gái đó là bao.
Sau chuyện ấy có lần anh đang ngồi uống nước thì thị chạy đến trông thị khác lắm. cái
mặt gầy sọp lại nhìn như cái lưỡi cày. Thị như hiện thân của cái đói. Thế rồi thị địi ăn kêu
Tràng hơm trước nói dối, thị ăn liền bốn bát bánh đúc. Anh Tràng tưởng thế mà hào
phóng quá. Nhưng thật sự mà nói trơng thị như thế Tràng cũng khơng nỡ từ chối, đó
chính là cái tình thương của anh Tràng dành cho Thị. Thị ăn xong theo anh về nhà Tràng,
tràng nghĩ bây giờ đến thân mình cịn chưa lo xong lại còn đèo bòng nhưng anh vẫn tặc
lưỡi mà đưa Thị về nhà mình. Người trong xóm ngụ cư ai nhìn thấy cũng lo cho anh
Tràng nhưng biết làm sao được dẫu nạn đói hồnh hành nhưng tình thương người của
Tràng đã không thể bỏ mặc người phụ nữ kia được, thế là anh đã có vợ rồi, một người vợ
nhặt ngồi đường. Thế đấy trong nạn đói con người bị coi như cỏ rác có thể nhặt mà mang
về được.


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

Tràng thì mới vỡ lẽ ra, những điều Thị mơ tưởng thực sự không giống thực tại trước mắt.
Mặt Thị sầm lại nhưng Thị lại chấp nhận và quyết định ở lại cùng chán. Đó cũng là một
tình người đáng q khơng thấy người sang bắt qng làm họ khơng thấy nghèo khó mà
nỡ bỏ người ta ra đi.


Về phần bà cụ Tứ, bà là một người mẹ cao cả và giàu đức hi sinh. Đã ở cái tuổi xế
bóng chiều nhưng bà vẫn phải đi làm kiếm ít tiền để đối mặt với nạn đói. Khi trở về bà
thấy hành động của anh Tràng thấy bà linh cảm có điều gì đó. Khi vào trong sân nhìn vào


nhà thấy người đàn bà nọ, cụ Tứ giật mình rồi ngạc nhiên tự hỏi chính mình không biết
phải con cái Đục không. Nhưng không khi hiểu rõ sự tình cụ chỉ biết quay mặt đi dấu
những hàng nước mắt của mình. Cụ nghĩ tới cảnh đói mà nhà lại thêm một miệng ăn
nhưng dù sao như thế thì con cụ cũng có vợ. tình thương người trong cụ dâng lên, cụ
thương con trai, cụ thương cả con dâu nữa. Cụ nhìn người đàn bà mân mê vạt áo đã rách
bươm mà lấy làm thương xót. Cụ chỉ biết nói “ thơi chúng mày đã phải dun phải kiếp
với nhau thì u cũng mừng”. tình thương của cụ thể hiện rất rõ khi cụ chấp nhận Thị và
khuyên răn họ rằng không ai nghèo ba họ khôn ai khó ba đời, chỉ cần qua cái đợt này thì
chúng mày cũng n bề gia thất. Cụ khơng những thương con, nhân hậu, có hậu mà cịn
khun nhủ con hướng các con mình đến một tương lại sáng lạng hơn.


Và như thế ba con người ấy trong nạn đói thương lấy nhau, thơng cảm cho nhau và
cùng nhau vượt qua nạn đói. Đêm tân hơn của đơi vợ chồng trẻ thật sự khơng có rượu
nồng ấm, ngày cưới khơng có nồi đồng chén ngọc, mâm xơi con lớn béo, vị rượu tâm.
Tất cả chỉ là những tiếng khóc của những nhà có người chết và tiếng quạ kêu.


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

vườn kia sẽ nuôi một đàn gà, họ nói chuyện về tương lai với một niềm tin đổi đời. Đang
vui thì cháo hết, bà cụ Tứ mang lên một nồi chè khoản, hai vợ chồng Tràng háo hức
nhưng khi ăn miếng “chè” thì Thị phải nuốt cố vì nó q chát. Khổ đến mức phải ăn cả
cám nhưng có những nhà cám khơng có mà ăn. Thế rồi tiếng trống giục thuế kêu lên, Thị
kể về những người cướp xe thóc của giặc đầy đê và mang theo lá cờ đỏ sao vàng. Từ lúc
đó trong đầu Tràng cứ phấp phới lá cờ đỏ sao vàng ấy. Có lẽ đó là con đường mà Tràng
đang dần dần giác ngộ đi tới. Nhà văn Kim Lân đã mở một con đường tương lai mới cho
nhân vật của mình.


Qua đây có thể khẳng định ngay cả trong nạn đói nhân dân ta vẫn cứ yêu thương đùm
bọc lấy nhau, lá lành đùm lá rách. Trước thực tại đau khổ và chết chóc họ khơng thơi nhìn
về tương lai với một niềm tin đổi đời và thật sự ở cuối tác phẩm đã lóe sáng một con
đường đổi đời mới làm tác giả muốn nhắc đến. hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng như thể hiện
quy luật đến với cách mạng của những người dân Việt Nam.



<b>Bài văn mẫu 3</b>


Số lượng tác phẩm ít, nhưng sáng tác nào của Kim Lân cũng đều chứa đựng những
giá trị cốt lõi quý giá, lấy nền tảng hiện thực làm nổi bật lên những giá trị nhân văn sâu
rộng, ảnh hưởng lớn đến tâm hồn của người đọc. Chính vì lẽ ấy, thế nên Kim Lân một tác
giả không học hành nhiều, nhưng có óc sáng tạo phong phú, đi sâu vào đời sống của nhân
dân, đồng thời thấu hiểu nội tâm và vẻ đẹp tâm hồn của họ đã vinh dự được xếp vào là
một trong 10 tác giả tiêu biểu nhất cho nền văn học Việt Nam hiện đại. Cùng viết về chủ
đề người nông dân khốn khổ trước cách mạng tháng 8, thế nhưng khác hẳn với Nam Cao
hay Thạch Lam, luôn mang đến cho độc giả những cái chết xa hoặc gần, những cái tăm
tối, bế tắc không hồi kết, thì ở Vợ nhặt, Kim Lân đã khéo léo mang lại ánh sáng cho
người đọc giữa một khung cảnh ngột ngạt của nạn đói năm 1945. Ánh sáng đó xuất phát
từ vẻ đẹp của tình người ấm áp và niềm hy vọng sống còn vẫn tiềm ẩn trong mỗi một
nhân vật Tràng, Thị, và bà cụ Tứ, dẫu rằng phận đời của họ cũng mấp mé cảnh chết đói.


</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

ta vẫn cịn kể lại cho nhau nghe để rùng mình". Ở xóm ngụ cư, nơi diễn ra câu chuyện,
giữa nạn đói ấy Kim Lân đã gợi lại một viễn cảnh thê thảm, tiêu điều của một giai đoạn
đau thương nhất lịch sử dân tộc bằng những câu văn nhẹ nhàng ẩn chứa nhiều nỗi niềm
đau xót. Cảnh người dân từ khắp nơi bồng bế, dìu dắt, thất thểu đi trên đường làng, ai nấy
đều "xanh xám như bóng ma", người đói "ngổn ngang khắp lều chợ", thần chết có lẽ đã
triển khai ngay một cuộc tàn sát khi mà "người chết như ngả rạ", "khơng khí vẩn lên mùi
ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người". Những người cịn sống có lẽ cũng đã xác
định trước cái chết của mình, họ lầm lũi bước chầm chậm về phía nghĩa địa, kẻ "dật dờ
lặng lẽ đi lại như bóng ma". Bao trùm lên tồn bộ không gian ấy là tiếng quạ kêu thảm
thiết từng hồi, như một loại kèn quái dị đưa ma những kẻ xấu số, chết khơng có chỗ chơn.
Bởi lẽ lúc ban đầu người ta cịn có sức chơn, sau vì đói, vì người chết nhiều q nên
người ta mặc kệ. Thậm chí, cái đói nó cịn hóa thú cả con người, những kẻ sống sót từ nạn
đói ấy có lẽ cũng có vài người nghe đến tên món thịt người cứu đói. Chao ơi, cái sự sống
khốn khổ trong văn của Kim Lân nó thật thấm thía và nhiều ám ảnh.



</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13></div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14>

căn nhà". Việc ý thức được phải lo lắng cho gia đình sau này, hay hành động tu sửa căn
nhà rách nát chính là biểu hiện rõ nét nhất về niềm hy vọng vào một cuộc sống tương lai
tốt đẹp đang đón chờ của nhân vật. Trách nhiệm và ý thức về cuộc sống hiện tại, đã mở ra
trong lòng Tràng khao khát đổi đời, thay đổi cái sự sống khốn khó này bằng một cách nào
đó. Hình ảnh "đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới" chính là giải pháp, là niềm tin,
niềm hy vọng mới của Tràng, mở ra cho anh một con đường sáng, đưa cả gia đình thốt
khỏi cảnh bế tắc và tối tăm này.


</div>
<span class='text_page_counter'>(15)</span><div class='page_container' data-page=15>

hết lịng vì nó. Trong bữa cơm sáng, trước món "chè khốn", đắng ngắt và khó khăn, mắt
thị tối lại, thị tủi thân, nhưng hơn hết là thị thương bà cụ, một người mẹ già nghèo khó
khơng có tiền bạc chuẩn bị cho con cái được bữa chè mừng cưới, buộc lịng bà phải đãi
món chè khốn. Chính vì thế thị đã giấu đi nỗi thất vọng và buồn tủi của mình cốt để bà
cụ khỏi buồn, và khơng phá vỡ đi cái khơng khí gia đình đang đầm ấm, n vui này. Bên
cạnh đó ngồi vẻ đẹp tình thân, ở nhân vật thị cũng toát lên một niềm hy vọng vào cuộc
sống rất mãnh liệt, thị đã nhắc đến chuyện người ta đi phá kho thóc của nhật, và lịng thị
cũng dần rộn lên những suy nghĩ về việc đi cướp thóc, cải thiện cuộc sống, thị tin rằng
tương lai bằng đôi bàn tay của thị, Tràng và bà cụ Tứ sẽ ngày một tốt đẹp hơn, tươi sáng
hơn.


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16>

đói kém bằng sức mạnh của tình thân, tình người. Sau đêm tân hôn, bà cụ đã xua đi cái
khơng khí u ám, buồn rầu của nạn đói bằng cách liên tục kể các câu chuyện vui, gieo vào
lòng con trai con dâu những niềm tin, niềm hy vọng vào tương lai tươi sáng với các kế
hoạch làm ăn, nuôi gà,... vạch ra một chặng đường tương lai đầy hứa hẹn khiến khơng khí
gia đình trở nên sơi nổi, hạnh phúc. Lòng người mẹ thương con, còn bộc lộ thơng qua
hình ảnh nồi chè khốn, bà cụ Tứ nghèo khó khơng có tiền đãi con được bữa chè ngon
ngọt, chỉ có một nồi cháo cám, đắng ngắt, nghẹn bứ ở cổ, nhưng ấy là tấm lòng của người
mẹ, đang cố xua đi những cái đói, cái u ám của sự tử vong dần lan trên xóm ngụ cư.


Vợ nhặt của Kim Lân là một tác phẩm có giá trị nhân văn sâu sắc, ở đó vẻ đẹp của


tình thân tình người, niềm tin và niềm hy vọng vào cuộc sống vẫn hiện lên một cách tiềm
tàng và âm ỉ trong tâm hồn mỗi con người, mà không hề bị cái đói, cái chết vùi dập, chơn
lấp. Trái lại dựa vào sức ni dưỡng mạnh mẽ của tình thân, thì hy vọng sống còn của con
người càng trở nên mạnh mẽ và tỏa sáng, mở đường cho con người thoát khỏi cảnh bế tắc,
khốn cùng.


<b>Bài văn mẫu 4</b>


Bằng tài năng nghệ thuật cùng vốn hiểu biết sâu sắc về cuộc sống và tâm hồn của
những người nông dân nhà văn Kim Lân đã tái hiện thành công chân dung của những
người nông dân nghèo. Truyện ngắn Vợ nhặt, một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của
mình, Kim Lân khơng chỉ thể hiện sự am hiểu sâu sắc về cuộc sống của người nơng dân
mà cịn thể hiện được vẻ đẹp tình người cùng khát vọng mãnh liệt về một cuộc sống tươi
đẹp qua các nhân vật anh cu Tràng, chị vợ nhặt và bà cụ Tứ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(17)</span><div class='page_container' data-page=17>

Cái đói, cái nghèo dữ dội, khủng khiếp, nó đẩy con người ta vào sự đau thương của
chết chóc, chia lìa, đặt con người đứng trên ranh giới của sự sống và cái chết nhưng bằng
tình thương, lịng nhân ái, những con người đói khổ ấy vẫn vươn lên cái chết, cái ảm đạm
để thắp sáng niềm tin cho cuộc sống của chính mình.


Trước hết là nhân vật Tràng, theo miêu tả của nhà văn Kim Lân, đây là một người đàn
ơng nghèo khổ sống ở xóm Ngụ cư, tính cách thật thà, chịu khó làm ăn nhưng lại có phần
hơi ngờ nghệch. Tuy nhiên, vẻ bề ngồi thơ kệch lại nghèo khó khơng thể phủ nhận được
con người tình nghĩa, “hào phịng” bên trong của anh Tràng. Trong cái đói khủng khiếp,
miếng ăn là nhu cầu cần thiết và trên hết nhưng anh Tràng vẫn sẵn sàng chia sẻ miếng ăn
cho người phụ nữ đã đẩy xe bị thóc cho mình, chấp nhận cưu mang người đàn bà xa lạ
trong khi cuộc sống của mình cũng khơng mấy khá khẩm hơn.


Qua hành động mua hai hào dầu để thắp sáng trong đêm đầu tiên chị vợ nhặt về nhà
đã thể hiện sự hào phóng cũng như tình nghĩa của anh Tràng. Hành động mua dầu vơ


cùng hào phóng này khơng chỉ nhằm mục đích tạo ra sự đặc biệt như một sự chào đón với
người vợ mới mà cịn thể hiện sự trân trọng của anh Tràng đối với chị vợ Nhặt và với
hạnh phúc khó khăn lắm mới có được này của mình.


Anh Tràng là người sống có tình nghĩa và trách nhiệm, tuy hồn nhiên ngờ nghệch
nhưng anh vẫn nhận ra sự buồn bã, thất vọng cố giấu của người vợ, cũng từ đó anh tự đặt
ra trách nhiệm với bản thân để lo cho vợ con, tinh thần trách nhiệm này thể hiện qua suy
nghĩ tu sửa căn nhà, nơi anh sẽ sống những ngày tháng tươi đẹp với vợ, con.


Chị vợ nhặt là người chao chát, chỏng lỏn nhưng khi theo anh Tràng về nhà chị đã
thay đổi với sự hiền hậu đúng mực. Trước gia cảnh nghèo khó của mẹ con anh Tràng, tuy
thất vọng nhưng chị vẫn cố giấu sự thất vọng trong tiếng thở dài. Cũng như anh Tràng,
chị vợ Nhặt cũng rất trân trọng đối với hạnh phúc bất ngờ có được trong nạn đói này. Chị
chủ động bắt chuyện với bà cụ Tứ, dậy sớm chuẩn bị cơm nước, dọn dẹp nhà cửa cùng
mẹ chồng.


</div>
<span class='text_page_counter'>(18)</span><div class='page_container' data-page=18>

Cũng bởi ở ngôi nhà lụp xụp nhưng ấm áp tình thương này cho chị cảm giác hạnh phúc
của một người vợ, người con.


Bà cụ Tứ lại là nhân vật điển hình cho những người mẹ Việt Nam trong xã hội bây
giờ. Trước sự tình con trai “nhặt” được vợ, bị đặt vào sự đã đành nhưng sau giây phút bất
ngờ bà đã chấp nhận sự xuất hiện của một người con dâu xa lạ. Trách nhiệm của người
mẹ khiến bà xót xa vì chưa lo được cho con đầy đủ, người mẹ ấy cũng cố gắng tạo ra
niềm vui cho các con bằng những câu chuyện về tương lai tốt đẹp.


Trong không gian u ám, đen tối của nạn đói, tình người và sự sống mãnh liệt trong
tâm hồn những con người xóm Ngụ cư vẫn tỏa rạng, làm cho bức tranh nạn đói trở nên
tươi sáng hơn. Thấu hiểu và khắc họa thành công những vẻ đẹp tiềm ẩn ấy, nhà văn Kim
Lân đã cho người đọc thấy được tinh thần nhân đạo sâu sắc trong Vợ nhặt.



<b>Bài văn mẫu 5</b>


Kim Lân là nhà văn có sở trường về đề tài nơng thôn, người nông dân, những tác
phẩm của ông không chỉ hướng đến thể hiện những hiện tượng nổi bật của xã hội đương
thời mà còn thể hiện được tinh thần nhân đạo sâu sắc. Ơng sáng tác khơng nhiều nhưng
những sáng tác đều mang giá trị cao. Vợ nhặt là tác phẩm đặc sắc của Kim Lân khi viết đề
đề tài nạn đói năm 1945. Viết về nạn đói nhưng Vợ nhặt khơng nhằm mục đích phơi bày
cái chết chóc, đau thương của nạn đói mà từ cảnh ngộ của mỗi nhân vật, tác giả đã thể
hiện được hơi ấm của tình người cũng như niềm hi vọng vào cuộc sống, điều này được
thể hiện rõ nét qua các nhân vật: anh Tràng, chị vợ nhặt, bà cụ Tứ.


</div>
<span class='text_page_counter'>(19)</span><div class='page_container' data-page=19>

Tràng là người đàn ơng xấu xí, nghèo khổ sống ở xóm Ngụ cư, tuy nhiên trái với vẻ
ngồi xấu xí, gia cảnh nghèo hèn bên ngồi, Tràng hiện lên là một con người ấm áp, giàu
tình thương. Tràng chấp nhận cưu mang người đàn bà xa lạ, đói rách mà bỏ mặc những
gánh nặng khủng khiếp của thời kỳ đói khát. Khơng những thế, sau khi vơ tình “nhặt”
được vợ, Tràng đã không tỏ thái độ coi thường mà ngược lại rất trân trọng đối với người
vợ nhặt này.


Trong đêm đầu tiên vợ về nhà, Tràng đã bỏ 2 hào mua dầu, đây được coi là hành động
hào phóng, bởi trong nạn đói nhu cầu cấp thiết là miếng ăn nhưng anh Tràng đã bỏ tiền
mua dầu để làm cho đêm đầu tiên vợ về nhà trở nên đặc biệt hơn. Sau khi có vợ, Tràng ý
thức được việc mình đã có vợ, đã có một gia đình nhỏ đúng nghĩa, từ đó thấy mình có
trách nhiệm lo cho vợ, cho gia đình.


Người vợ nhặt là người đàn bà khốn khổ bị nạn đói vắt kiệt sự sống, thể hiện ở thân
hình tiều tụy, vẻ ngồi rách rưới, ban đầu chị ta tạo ấn tượng với người đọc với vẻ chao
chát, chỏng lỏn không kém phần vô duyên khi vơ tư địi anh Tràng trả cơng đẩy xe bò.
Tuy nhiên, từ khi theo anh Tràng về làm vợ thì người đàn bà ấy đã thay đổi hẳn, khơng
cịn sự chao chát, chỏng lỏn mà đã trở thành người vợ hiền hậu đúng mực. Khi chứng
kiến gia cảnh nghèo khó của anh Tràng, dù thất vọng nhưng chị ta vẫn cố giấu sự thất


vọng trong ánh mắt tối lại, trong tiếng thở dài cố nén.


Dù có chút buồn, thất vọng khi chứng kiến hồn cảnh nghèo khó của anh Tràng
nhưng khát khao hạnh phúc vẫn nhen nhóm để người đàn bà ấy chủ động nắm giữ, chủ
động vun vén hạnh phúc gia đình: cùng mẹ chồng dọn dẹp nhà cửa, trong phần cuối tác
phẩm chị vợ nhặt cũng đã thoáng nghĩ đến sự thay đổi, hy vọng vào một tương lai tươi
sáng của cuộc sống thể hiện qua chi tiết nhắc đến chuyện ở Thái Nguyên, Bắc Giang
người ta khơng chịu đóng thuế, phá kho thóc Nhật chia cho người nghèo.


</div>
<span class='text_page_counter'>(20)</span><div class='page_container' data-page=20>

Trước hạnh phúc bất ngờ của con trai, bà vừa mừng cho con, vừa tủi cho mình vì thân
là mẹ mà chẳng thể lo cho con, để con phải “nhặt” vợ trong cảnh túng đói. Bao cảm xúc
phức tạp từ vui mừng, lo lắng, buồn tủi, hi vọng của bà cụ Tứ đều xuất phát từ tấm lịng
thương con của bà.


Khơng chỉ thương con mà bà cụ Tứ cịn có niềm tin mãnh liệt vào tương lai, bà khơng
ngừng động viên các con chịu khó làm ăn với triết lí dân gian “Khơng ai giàu ba họ,
khơng ai khó ba đời”, hướng các con đến ánh sáng của tương lai. Để tạo ra sự đổi thay
của cuộc sống, bà cụ Tứ đã cùng con dâu dọn dẹp nhà cửa, nói những câu chuyện về
tương lai.


</div>

<!--links-->

×