PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xây dựng đội ngũ cán bộ, cơng chức, viên chức có phẩm chất đạo
đức trong sạch, có bản lĩnh chính vững vàng, có trình độ, năng lực cả về
nghiệp vụ chun mơn lẫn lý luận chính trị là một vấn đề cơ bản được
Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm, trong đó cơng tác đào tạo,
bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý luôn được Đảng ta
xác định là một nhiệm vụ quan trọng. Kết quả sau gần 15 năm thực hiện
Quy định số 54-QĐ/TW, ngày 12/5/1999 của Bộ Chính trị về chế độ học
tập lý luận chính trị trong Đảng cho thấy, cơng tác đào tạo, bồi dưỡng lý
luận chính trị đã góp phần xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển
kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Vấn đề này được Đảng ta không ngừng
quan tâm, đề cập trong nhiều văn bản, nghị quyết, như Nghị quyết số 29NQ/TW ngày 04/11/2013 được thông qua tại Hội nghị Trung ương 8, khóa
XI về “Đổi mới căn bản, tồn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng u cầu
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 32-NQ/TW
ngày 26/5/2014 về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào
tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ”… Trong đó,
Đảng ta ln thể hiện rõ quan điểm đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho
cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng, làm cho mỗi cán bộ lãnh
đạo, quản lý phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời,
học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, gắn học tập với rèn luyện
phẩm chất đạo đức, tư cách người cách mạng.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo,
quản lý, bên cạnh việc nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng,
hiệu quả, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có
đủ phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực, phong cách làm việc hiệu quả
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa thì cịn được áp dụng để xem xét, đánh giá, sử dụng, đề bạt,
bổ nhiệm, nâng ngạch cán bộ, cơng chức nói chung theo quy định của
Đảng và Nhà nước. Do vậy, trong nhiều năm qua, đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý các cấp ngoài khơng ngừng học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ
chun môn đã luôn phấn đấu học tập để nâng cao trình độ lý luận chính
trị; coi đây vừa là cơ hội để nâng cao trình độ mọi mặt nhằm đáp ứng
nhiệm vụ trong tình hình mới, đồng thời cũng là trang bị cho bản thân
những điều kiện “cần” và “đủ” để được xem xét, đánh giá, sử dụng, đề bạt,
bổ nhiệm, nâng ngạch trong q trình cơng tác.
Cũng xuất phát từ điều kiện áp dụng trình độ lý luận chính trị để
xem xét, đánh giá, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm, nâng ngạch cán bộ, cơng
chức nói chung theo quy định của Đảng và Nhà nước mà thực tế ở một số
địa phương, cơ quan, đơn vị đã để ra những hạn chế bất cập trong quá trình
xét tuyển, chọn cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị như cử
cán bộ đi học khơng đúng đối tượng, không trong diện quy hoạch, bổ
nhiệm; hoặc bổ nhiệm cán bộ khi chưa đạt trình độ lý luận chính tương
xứng, thậm chí khi chưa có trình độ lý luận chính trị… Điều này tất nhiên
sẽ dẫn đến khơng ít lệ hụy, như sự mâu thuẫn mất đoàn kết nội bộ, sự ganh
đua, đố kỵ giữa các cá nhân… mà lớn hơn là sự bất công bằng trong vấn đề
thực hiện các quy chuẩn trong công tác cán bộ.
Bản thân em hiện đang công tác tại Đảng ủy Khối Doanh nghiệp tỉnh
Thái Nguyên, qua thời gian được học tập, nghiên cứu các chuyên đề quản
lý nhà nước ngạch chuyên viên chính khóa 9 tại Trường Chính trị tỉnh đã
mạnh dạn chọn Đề tài “Xử lý sai phạm trong việc cử cán bộ tham gia
lớp cao cấp lý luận chính trị” làm Tiểu luận cuối khóa. Đây là một cơ hội
tốt để bản thân được vận dụng những kiến thức đã học, liên hệ với thực
2
tiễn, trên cơ sở nghiên cứu, tìm tịi đưa ra những giải pháp thiết thực, phù
hợp giúp cho quá trình công tác của bản thân ngày càng tốt hơn.Với sự
hiểu biết của bản thân còn hạn chế, thời gian nghiên cứu chưa được nhiều,
kính mong nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các thày giáo, cô giáo
trong Trường để những nội dung trình bày trong Tiểu luận này được đầy đủ
hơn, có giá trị áp dụng trong thực tiễn.
II. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1. Mục đích:
Đề xuất tình huống sát với thực tiễn cơng tác đặt ra, trên cơ sở đó
phân tích, đề xuất các biện pháp xử lý nhằm đưa ra hướng giải quyết hợp lý
nhất, hiệu quả nhất trong công tác chọn cử cán bộ đi học các lớp đào tạo,
bồi dưỡng lý luận chính trị tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
trong phạm vi Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên, nhưng vẫn
đảm bảo tính thực thi, đúng quy định, góp phần nâng cao chất lượng cán bộ
trong tình hình mới.
2.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu, phân tích thực tiễn, đánh giá thực trạng việc chọn cử cán bộ
đi học tập, đào tạo, bồi dưỡng trình độ cao cấp lý luận chính trị thơng qua tình
huống cụ thể sát với tình hình hiện nay.
- Phân tích, đánh giá những hạn chế, khuyết của các phương án có thể xảy
ra, trên cơ sở đó lựa chọn biện pháp giải quyết đúng đắn nhất, hiệu quả nhất theo
đúng quy định để tham mưu tổ chức thực hiện đạt kết quả.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, đưa ra các biện pháp xử lý tình huống về cơng tác
chọn cử cán bộ tham gia học lớp cao cấp lý luận chính trị nói riêng và trong
cơng tác quản lý cán bộ nói riêng thuộc các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh.
3
III. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, nội dung của Đề tài được chia thành
05 mục lớn như sau:
I. NÊU VẤN ĐỀ TÌNH HUỐNG
II. PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ TÌNH HUỐNG
III. XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU XỬ LÝ, GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
IV. ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG ÁN HOẶC BIỆN PHÁP XỬ LÝ GIẢI
QUYẾT
V. LẬP KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN
4
PHẦN NỘI DUNG
I. NÊU VẤN ĐỀ TÌNH HUỐNG
Ngày 10/2/2018, Đảng bộ Cơ quan A nhận được Công văn của Ban
Tổ chức Tỉnh ủy X về việc phân bổ 01 chỉ tiêu đi học Cao cấp lý luận
chính trị, hệ tập trung tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đã tiến
hành phân loại và bình xét cử cán bộ đi học. Trong gần chục trường hợp
được giới thiệu từ các phòng, ban khác nhau, Đảng bộ Cơ quan A đã thống
nhất chọn ra 2 đồng chí để xét chọn cử đi học.
Người thứ nhất là đồng chí Trần Văn C, phó trưởng một phịng
nghiệp vụ. Đồng chí Trần Văn C là người thẳng thắn, trung thực, sôi nổi,
nhiệt tình trong các hoạt động của Cơ quan. Hàng năm, qua bình xét thi
đua, đồng chí C ln được cơng nhận đạt danh hiệu “Lao động tiên tiến”,
đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. Với nhiều năm kinh nghiệm, lại
có nghiệp vụ chun mơn tốt đồng chí C đã được giới thiệu, bổ sung vào
danh sách quy hoạch cán bộ nguồn trong nhiệm kỳ tới của Đảng bộ và luôn
nhận được sự tin yêu, quý mến của cán bộ, đảng viên và đồng nghiệp nơi
công tác.
Người thứ hai là đồng chí Nguyễn Văn T, đảng viên trẻ. Đồng chí
Nguyễn Văn T mới được chuyển từ đảng viên dự bị thành đảng viên chính
thức. Đồng chí T có trình độ chun mơn nhưng chưa có nhiều kinh
nghiệm trong cơng tác, chưa được đưa vào diện quy hoạch cán bộ nguồn.
Nếu xét về tiêu chuẩn thì đồng chí Trần Văn C hội đủ các điều kiện
theo quy định cũng như nhận được rất nhiều ý kiến đồng tình, ủng hộ cử đi
học. Tuy nhiên, sau khi đưa ra các lý do như là cán bộ trẻ, có năng lực, có
triển vọng, sẽ có nhiều thời gian cống hiến hơn nên đồng chí Bí thư Đảng
bộ Cơ quan A đã quyết định cử đồng chí Nguyễn Văn T đi học lớp Cao cấp
Lý luận chính trị hệ tập trung tại Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
5
Trước quyết định của đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan A, nội bộ Cơ
quan đã xảy ra nhiều sự phản ứng trái chiều. Người thì ủng hộ vì cho rằng
Sếp giải quyết như vậy chắc có lý do riêng. Người thì im lặng, khơng tỏ rõ
thái độ vì đằng nào sự việc đã vậy, Bí thư Đảng bộ quyết định rồi, không
thay đổi được. Nhưng đa số các ý kiến phản ứng khá gay gắt cho rằng
quyết định của Bí thư Đảng bộ Cơ quan A là trái quy định, khơng cơng
bằng cho đồng chí Trần Văn C, tạo tiền lệ không tốt trong việc xét chọn
cán bộ, làm nhụt ý chí phấn đấu của cán bộ, đảng viên trong Cơ quan… Sự
việc càng trở nên phức tạp khi ngày 25/3/2018 đã có đơn tố cáo nặc danh
lên Ủy ban Kiểm tra Tỉnh X về sự việc nêu trên.
II. PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ TÌNH HUỐNG
2.1. Hồn cảnh ra đời tình huống
Đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan A là lãnh đạo trẻ, mới được cấp
trên bổ nhiệm, phân công về công tác tại Cơ quan A và được đại hội bầu
giữ chức vụ Bí thư Đảng bộ. Trên cương vị người đứng đầu cơ quan, cấp
ủy đồng chí được các đồng nghiệp, đồng chí đánh giá, nhận xét là người
nhiệt tình, năng nổ, có trình độ, năng lực nhưng tính tình hay cả nể, dĩ hịa
vi q, xuề xịa; trong lãnh đạo, chỉ đạo do chưa có nhiều kinh nghiệm nên
cịn thiếu cương quyết, hay ơn hịa, cho qua. Hàng năm, vào các dịp kiểm
điểm, bản thân đồng chí Bí thư cũng tự nhận mình cịn hạn chế trong cơng
tác đấu tranh tự phê bình và phê bình. Mặc dù đã tự nhận ra khuyết điểm,
cũng như được đồng chí, đồng nghiệp đóng góp ý kiến nhưng việc khắc
phục sửa chữa theo đồng chí Bí thư cần phải có thời gian, thời điểm mới
khắc phục được. Chính vì suy nghĩa và nhận thức như trên nên quá trình
cơng tác, đồng chí Bí thư đã khơng ít lần xử lý, giải quyết cơng việc theo
kiểu hợp tình hơn hợp lý. Lâu dần, nhiều ý kiến cho rằng đồng chí Bí thư
Đảng bộ Cơ quan A đã viện lý do tính tình nể nang, dĩ hịa vi q để để lợi
dụng chức quyền giải quyết công việc theo ý áp đặt, chủ quan, thiếu công
6
khai, minh bạch.
Thực tế cho thấy, đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan A, trên cương vị
người đứng đầu cấp ủy, đơn vị những năm qua cũng đã giải quyết một số
vấn đề tương tự theo kiểu dân chủ nhưng khơng tập trung. Ví dụ như việc
xét thi đua khen thưởng hàng năm. Theo quy định, nếu ngay từ đầu năm, cá
nhân hay tập thể không đăng ký danh hiệu thi đua hoặc khơng có đề tài
sáng kiến thì cuối năm không tiến hành xét các danh hiệu thi đua với tập
thể, cá nhân đó, nhưng trên cương vị chủ tịch hội đồng thi đua khen thưởng
cơ quan, đồng chí vẫn cho qua, đồng ý tiến hành xét các danh hiệu thi đua
lý do vì hiệu quả cơng việc tốt, năm sau sẽ đánh giá, bình xét chặt chẽ hơn
dẫn đến sự mất công bằng, thiếu chặt chẽ, chất lượng trong việc đánh giá
bình xét thi đua khen thưởng tại đơn vị. Rồi trong một số việc như tuyển
dụng cán bộ mới; xét chuyển biên chế chính thức đối với cán bộ hợp đồng;
nhận xét, đánh giá chuyên môn…đồng chí hay đưa tiêu chuẩn đối ngoại,
hay các yếu tố khách quan để xuê xoa, bỏ qua theo kiểu “giơ cao đánh
khẽ”, khơng làm rõ trách nhiệm để phê bình, kiểm điểm, rút kinh nghiệm…
ít nhiều làm ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ cũng như hiệu quả, chất
lượng thực hiện các nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị.
Với phong cách lãnh đạo, chri đạo của đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ
quan A đã tạo cơ hội cho một số cán bộ, đảng viên a dua, hùa theo khơng
chịu đưa mình vào khn khổ, kỷ luật của tổ chức; sẵn sàng “vâng”, “dạ”
bất cứ hiệu lệnh nào kể cả đúng hay chưa đúng, miễn là vừa lòng Sếp. Một
số cán bộ, đảng viên biết ý kiến chỉ đạo của Sếp “chưa chuẩn” với các văn
bản quy định nhưng do khơng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bản thân
nên ngại va chạm mà mặc kệ, cho qua. Một số người thì vì cái đúng, vì lợi
ích chung mà có ý kiến, mà đấu tranh, lên tiếng thì một vài lần Sếp cịn gật
gù đồng ý, nhưng lần sau thì Sếp nhắc nhở “Tơi hay cậu là lãnh đạo!”.
2.2. Mơ tả tình huống
7
Sau khi nhận được Công văn của Ban Tổ chức Tỉnh X, đồng chí Bí
thư Đảng bộ Cơ quan A đã cho triển khai văn bản đồng thời tổ chức cuộc
họp để thống nhất chọn cử cán bộ đi học. Tuy nhiên, trước đó đồng chí đã
chỉ đạo bộ phận chuyên môn thực hiện các bước theo ý kiến riêng của
mình, đó là dự kiến danh sách một số đồng chí, trong đó có tên đồng chí
Nguyễn Văn T, để tránh trường hợp đồng chí T khơng được giới thiệu từ
dưới chi bộ. Trong cuộc họp, sau khi nghe các ý kiến phát biểu, giới thiệu,
đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan đã không thống nhất theo ý kiến số đơng
mà quyết định cử đồng chí Nguyễn Văn T đi học, mặc dù so với các trường
hợp khác, nhất là so với trường hợp đồng chí Trần Văn C, đồng chí Nguyễn
Văn T khơng đủ các tiêu chuẩn, khơng đúng đối tượng, với lý do đây là
trường hợp ngoại lệ, vì mối quan hệ đối ngoại, vì trước đây đã có trường
hợp cán bộ chưa đủ tiêu chuẩn vẫn được cử đi học nhưng khơng xảy ra vấn
đề gì...
Được biết, đồng chí Nguyễn Văn T là con trai của ông S, lãnh đạo
Cơ quan B, nguyên là Sếp cũ của đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan A, nay
lại là lãnh đạo trên tỉnh. Việc đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan A chủ trì
cuộc họp và ký, ban hành quyết định cử đồng chí Nguyễn Văn T đi học đã
tạo ra sự phản ứng gay gắt trong anh em cán bộ, đảng viên, công chức Cơ
quan. Một phần, nó xuất phát cũng có thể do tính cách, bản chất con người
Bí thư ln dĩ hịa vi quý, nể nang, mà biết đâu trong trường hợp này, còn
chịu sự tác động của sếp cũ, lãnh đạo cấp trên. Nhưng xét cụ thể trong
trường hợp này, nó lại thể hiện tính độc đốn, bảo thủ, mất dân chủ vì
quyết định của Bí thư khơng nhận được sự ủng hộ, thống nhất của số đông,
đã tạo ra diễn biến tư tưởng xấu trong cơ quan, đơn vị.
Đã vậy, đây lại là sự việc liên quan đến mối quan hệ cá nhân của
đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan A, địi hỏi việc xem xét quyết định càng
phải cơng khai, minh bạch, rõ ràng. Trong khi đó, bản thân đồng chí
8
Nguyễn Văn T, cán bộ được cử đi học lại được dịp lên mặt, khoe khoang
việc mình được cử đi học lần này là hồn tồn xứng đáng…; những ai
khơng đồng ý với quyết định của cấp trên là vì ghen tỵ, ganh ghét với
mình, khiến cho sự bất bình trong nội bộ Cơ quan A ngày càng trở lên mâu
thuẫn; những tiếng xì xào bàn tán ngày càng nhiều; khơng khí làm việc
căng thẳng; một số người cịn sinh tư tưởng chán nản, ngại va chạm, không
muốn phấn đấu….
2.3. Nguyên nhân dẫn đến tình huống
Qua diễn biến trên cho thấy, ngoài nguyên nhân khách quan như hệ
thống văn bản quy chế, quy định về đối tượng đi học cao cấp lý luận chính
trị có lúc chưa đồng bộ; việc triển khai rà sốt đối tượng có lúc chưa chặt
chẽ; công tác kiểm tra, giám sát của cấp trên đối với việc thực hiện chức
năng nhiệm vụ của Cơ quan A, nhất là với người đứng đầu cấp ủy, đơn vị
chưa thường xuyên, thì nguyên nhân chủ quan vẫn là cơ bản, đó là:
- Sự thiếu trách nhiệm trong vai trị người đứng đầu cấp ủy, cơ quan
của đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan A; tinh thần gương mẫu chưa cao,
chưa quyết tâm sửa chữa, khắc phục khuyết điểm; đã lợi dụng chức vụ,
quyền hạn cử người đi học không đúng đối tượng.
- Sự phối hợp trong công tác xét duyệt hồ sơ cán bộ đi học của các
ban, bộ phận chun mơn chưa chặt chẽ, cịn chủ quan trong việc thẩm
định hồ sơ của cấp dưới, đã dẫn đến bỏ lọt đối tượng đi học không đủ tiêu
chuẩn theo quy định, gây tiệt hại lãng phí trong công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ.
- Tinh thần, thái độ tự phê bình và phê bình của tập thể lãnh đạo cấp
ủy Cơ quan A chưa cao, cịn hình thức, nể nang, khơng dám đấu tranh; mặc
dù có phản đối việc cử đồng chí T đi học nhưng đấu tranh nửa vời, không
quyết liệt.
9
- Bản thân đồng chí Nguyễn Văn T do khơng nắm bắt đầy đủ, kịp
thời các văn bản, quy định về việc cử cán bộ đi học cao cấp lý luận chính
trị; mặt khác lại chủ quan, kiêu ngạo do có mối quan hệ thân thiết, riêng tư
với đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan A nên khi biết có ý kiến phản đối
việc mình đi học do chưa đủ điều kiện vẫn khai báo, làm hồ sơ đi học.
2.4. Hậu quả của sự việc
Việc đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan A, trên cương vị người đứng
đầu cấp ủy, đơn vị cử cán bộ đi học không đúng quy định; việc thẩm định
hồ sơ đi học cao cấp của cán bộ chun mơn thuộc phịng nghiệp vụ Ban
Tổ chức Tỉnh X chưa chặt chẽ, chủ quan đã dẫn tới việc đồng chí Nguyễn
Văn T được cử đi học là không đúng đối tượng theo quy định, dẫn tới hậu
quả là cán bộ, đảng viên, công chức viên chức Cơ quan A nghi ngờ tính
cơng khai, minh bạch trong công tác đào tạo, bồi dưỡng. Nếu sự việc trên
không được giải quyết xử lý kịp thời sẽ trở thành tiền lệ xấu trong công tác
đào tạo, bồi dưỡng nói riêng cũng như cơng tác cán bộ nói chung. Cán bộ,
đảng viên, cơng chức Cơ quan A thì chia thành nhiều luồng dư luận, bằng
mặt nhưng khơng bằng lịng; tinh thần đồn kết, dân chủ, nhất là lịng tin
vào các cấp lãnh đạo bị giảm sút…
III. XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU XỬ LÝ, GIẢI QUYẾT TÌNH
HUỐNG
3.1. Mục tiêu trực tiếp
10
Xem xét xử lý trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến việc cử
đồng chí Nguyễn Văn T đi học cao cấp lý luận chính trị hệ tập trung tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhưng không đúng đối tượng,
tiêu chuẩn theo quy định. Đồng thời xem xét mức độ vi phạm, chức vụ
hiện tại của đồng chí Nguyễn Văn T (đối tượng được cử đi học) để có
hướng giải quyết hợp tình, hợp lý.
3.2. Mục tiêu hướng tới
Tăng cường tính hiệu quả, hiệu lực trong công tác đào tạo bồi dưỡng
cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong giai đoạn hiện nay, nhằm đảm bảo
tính thiết thực, hiệu quả; tránh đào tạo, bồi dưỡng tràn lan khơng đúng đối
tượng, gây tốn kém, lãng phí (Theo Kết luận số 57-KL/TW, ngày
08/3/2013 của Ban Bí thư về “Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi
dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, Nghị quyết số
32-NQ/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về Tiếp tục đổi mới, nâng cao
chất lượng cơng tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh
đạo, quản lý…).
Xử lý kịp thời, nghiêm khắc về thẩm quyền, trách nhiệm người đứng
đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn
vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng (Theo tinh thần Nghị
quyết Trung ương 4, khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng
hiện nay”).
Đảm bảo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo mơi trường lao động
hài hịa, vì quyền và lợi ích chính đáng của người lao động đảm bảo tính
cơng khai, minh bạch (theo Nghị định số 04/2015/NĐ-CP về thực hiện dân
chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp
cơng lập; Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ quy
định chi tiết khoản 3 điều 63 của Bộ Luật Lao động về thực hiện quy chế
11
dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc).
IV. ĐỀ XUẤT CÁC PHƯƠNG ÁN HOẶC BIỆN PHÁP XỬ LÝ
GIẢI QUYẾT
Đối với tình huống đã nêu trên đây, em xin đưa ra một số phương án
giải quyết như sau:
4.1. Phương án 1
Tiến hành kiểm điểm đối với đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan A
bằng hình thức kỷ luật khiển trách, do “Thiếu trách nhiệm trong việc chấp
hành nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, quy chế, kết luận của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước” (Theo Điều 7, Mục VI, chương II vi
phạm về chính trị và nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng tại Quy định số
181-QĐ/TW ngày 30/3/2013 quy định về xử lý đảng viên vi phạm). Đồng
thời chấm dứt việc học tập đối với đồng chí Nguyễn Văn T.
4.1.1. Ưu điểm của Phương án 1
- Thể hiện tính nghiêm minh, kỷ luật của Đảng. Tất cả đảng viên đều
bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị, lĩnh vực
công tác nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý
kỷ luật nghiêm minh.
- Thể hiện được tính răn đe, giáo dục cao đối với các hành vi lợi
dụng chức vụ, quyền hạn trong hoạt đông công vụ, củng cố niềm tin đối
với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.
4.1.2. Hạn chế của Phương án 1
Vụ việc trên xảy ra cũng một một phần xuất phát từ nhận thức của
cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ
lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhất là trong giai đoạn hiện nay
12
nhằm đáp ứng nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới là cần thiết. Việc
đồng chí Nguyễn Văn T khai báo làm các thủ tục hồ sơ đi học hoàn toàn do
sự đồng ý, quyết định của lãnh đạo cơ quan. Mặt khác đồng chí Nguyễn
Văn T cũng là đảng viên trẻ, có trình độ, cần được đào tạo để nâng cao
nhận thức, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nếu cho ngừng việc học tập sẽ ảnh
hưởng đến tâm lý, phát sinh tư tưởng tiêu cực.
4.2. Phương án 2
Do đây là đơn thư tố cáo nặc danh, không xem xét giải quyết theo
quy định đối với đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan A. Đồng thời không
chấm dứt việc theo học của đồng chí Nguyễn Văn T vì việc việc cử đồng
chí Nguyễn Văn T đi học đã được các cơ quan chức năng tiếp nhận, bản
thân đồng chí T trong thời gian học tập không vi phạm về nội quy, quy
định của Nhà trường.
4.2.1. Ưu điểm của Phương án 2
Đảm bảo thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về khiếu nại, tố
cáo do đơn thư tố cáo nặc danh thì khơng xem xét, giải quyết theo quy
định.
4.2.2. Hạn chế của Phương án 2
Trong trường đơn thư tố cáo nặc danh sẽ không xem xét giải quyết
theo quy định, tuy nhiên vì vụ việc trên xảy ra rõ người, rõ việc nên để
đảm bảo tính răn đe cũng như tạo sự ổn định trong nội bộ Cơ quan A, củng
cố niềm tin của cán bộ, đảng viên cần phải tiến hành kiểm tra, xác minh,
làm rõ vụ việc để kịp thời có biện pháp xử lý, nhằm đảm bảo tính nghiêm
minh trong thực hiện các văn bản chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước.
4.3. Phương án 3
13
Tiến hành kiểm điểm trách nhiệm đối với đồng chí Bí thư Đảng bộ
Cơ quan A bằng hình thức xử lý kỷ luật khiển trách. Nhắc nhở các cá nhân
liên quan trong việc thẩm định, xét duyệt hồ sơ và tiếp tục đồng ý cho đồng
chí Nguyễn Văn T đi học nhưng cần làm tốt công tác tuyên truyền, phổ
biến các văn bản chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ; công
tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao nhận thức đồng thời giải thích để mọi
người hiểu, tin tưởng không để xảy ra các trường hợp tương tự. Sắp xếp bố
trí cử đồng chí Nguyễn Văn C đi học lớp cao cấp lý luận chính trị trong
thời gian gần nhất khi có chỉ tiêu phân bổ của Tỉnh.
4.3.1. Ưu điểm của Phương án 3
- Thể hiện tính nghiêm minh nghiêm minh trong thực hiện các văn
bản chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong
việc thực hiện quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cơng chức; mang
tính giáo dục, răn đe cao đối với các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn
trong cơng tác cán bộ nói chung, cơng tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cơng
chức nói riêng.
- Giải quyết tốt việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị đối
với cán bộ trong diện quy hoạch trong thời gian sớm nhất đảm bảo tạo
nguồn cán bộ cho cơ quan, đơn vị. Đồng thời khuyến khích động viên cán
bộ, đảng viên khơng ngừng phấn đấu, học tập nâng cao trình độ mọi mặt
góp phần hồn thành tốt nhiệm vụ trong tình hình mới.
- Tạo tâm lý ổn định trong cán bộ, đảng viên, công chức viên chức về
cách giải quyết, xử lý sự việc có lý, có tình, đảm bảo hài hịa các mối quan hệ
cũng như củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước.
4.3.2. Hạn chế của Phương án 3
Phương án giải quyết sự việc như trên dễ gây hiểu lầm trong cán bộ,
14
đảng viên, địi hỏi cơng tác tun truyền, giải thích cho cán bộ, đảng viên,
công chức viên chức phải cụ thể, nhất qn trong cách trình bày cũng như
phát ngơn, thực sự trên tinh thần cầu thị, thẳng thắn, khẳng định sẽ không
để xảy ra những trường hợp phát sinh tương tự về sau.
4.4. Lựa chọn phương án giải quyết
Với cách đặt vấn đề giải quyết sự việc theo tình huống đã nêu theo 3
phương như trên, sau khi nghiên cứu, phân tích một cách cụ thể tơi cho
rằng cả 3 phương án đều có những điểm mạnh và hạn chế nhất định. Tuy
nhiên để lựa chọn phương án tối ưu, hiệu quả, có tính thiết thực, đạt được
những u cầu, mục tiêu Tiểu luận đặt ra trên tinh thần đảm bảo đúng quy
định của Đảng, Nhà nước, nếu được phân công tham mưu giải quyết, trên
cương vị công tác giả định là cán bộ của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy X, tôi sẽ
chọn cách giải quyết theo Phương án 3.
V. LẬP KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Để thực hiện tốt Phương án 3 đã lựa chọn, tôi xin trình bày kế hoạch
tổ chức thực hiện như sau:
5.1. Bước 1. Vì đơn thư có gửi lên Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy X, mặc
dù là đơn thư nặc danh nhưng nêu rõ con người, sự việc nên tham mưu Ủy
ban Kiểm tra Tỉnh ủy X cử đồn cơng tác về làm việc tại Đảng bộ Cơ quan
A để thẩm định, xác minh nguồn tin.
5.2. Bước 2. Căn cứ kết quả thu thập được, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy
X tổ chức cuộc họp kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với các cá nhân Ban Tổ
chức Tỉnh ủy X đã thẩm định, xét duyệt hồ sơ không đúng đối tượng, tiêu
chuẩn đi học cao cấp lý luận chính trị của đảng viên Nguyễn Văn T. Đồng
thời có Cơng văn u cầu Đảng bộ Cơ quan A họp kiểm điểm trách nhiệm
đối với đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan A bằng hình thức xử lý kỷ luật
15
khiển trách.
5.3. Bước 3. Trên cơ sở văn bản chỉ đạo của cấp trên, Đảng ủy Cơ
quan A yêu cầu đồng chí Bí thư Đảng bộ viết bản kiểm điểm; triệu tập cuộc
họp gồm các đồng chí trong ban thường vụ, ban chấp hành Đảng bộ Cơ
quan A.
5.4. Bước 4. Tại cuộc họp do các đồng chí trong đồn cơng tác của
Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy X dự và chủ trì, sau khi nghe đồng chí Bí thư
Đảng bộ Cơ quan A trình bày bản tự kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật,
hội nghị sẽ tiến hành đóng góp ý kiến và thực hiện biểu quyết thống nhất
hình thức kỷ luật đối với đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan A. Yêu cầu
cuộc họp cần ghi biên bản rõ ràng, cụ thể.
5.5. Bước 5. Căn cứ kết quả và biên bản cuộc họp, Ủy ban Kiểm tra
Tỉnh ủy X sẽ ra thông báo kết luận về cuộc làm việc và ra quyết định thi
hành kỷ luật đối với đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ quan A theo đúng quy
định Điều lệ Đảng. Báo cáo kết quả công tác xử lý kỷ luật lên ban thường
vụ Tỉnh ủy X theo quy định.
5.6. Bước 6. Trên cơ sở kết luận và quyết định thi hành kỷ luật Ủy
ban Kiểm tra Tỉnh ủy X, Đảng bộ Cơ quan A sẽ tổ chức thơng báo tới tồn
thể cán bộ, đảng viên được biết, tránh những dư luận, ý kiến thông tin trái
chiều làm mất ổn đoàn kết trong cơ quan, đơn vị, tạo tâm lý yên tâm, ổn
định công tác và tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước.
5.7. BẢNG PHÂN CÔNG THỰC HIỆN
(theo 6 bước tiến xử lý tình huống nêu trên)
STT
Nội dung cơng việc
Tổ chức, cá nhân
16
Thời gian
thực hiện
thực hiện
Tổ chức đồn cơng tác của
1
Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy X làm - UBKT Tỉnh ủy X
việc tại Đảng bộ Cơ quan A để
thẩm định, xác minh nguồn tin - Đảng ủy Cơ quan A
Ngày
07/4/2018
theo đơn thư đã nêu.
2
Ra thông báo kết luận cuộc
làm việc tại Đảng bộ Cơ quan A
- UBKT Tỉnh ủy X
10/4/2018
- UBKT Tỉnh ủy X
12/4/2018
Ra Công văn yêu cầu Đảng
3
bộ Cơ quan A họp kiểm điểm
đồng chí Bí thư Đảng bộ Cơ
quan A
Tổ chức họp kiểm điểm các - UBKT Tỉnh ủy X;
4
cá nhân Ban Tổ chức Tỉnh ủy X - Các cá nhân có liên
về việc xét duyệt hồ sơ khơng quan đến việc thẩm
đúng đối tượng đi học
định hồ sơ.
15/4/2018
- UBKT Tỉnh ủy X
Triệu tập cuộc họp để tiến - Ban chấp hành Đảng
5
hành kiểm điểm đồng chí Bí thư bộ Cơ quan A
Đảng bộ Cơ quan A
20/4/2018
- Đ/c Bí thư Đảng bộ
Cơ quan A
Ra thông báo kết luận cuộc
6
làm việc, quyết định thi hành kỷ
luật đối với đồng chí Bí thư
Đảng bộ Cơ quan A
17
- UBKT Tỉnh ủy X
25/4/2018
PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Xây dựng đội ngũ cán bộ, cơng chức, viên chức có phẩm chất đạo đức
trong sạch, có bản lĩnh chính vững vàng, có trình độ, năng lực cả về nghiệp
vụ chuyên môn lẫn lý luận chính trị là một vấn đề cơ bản được Đảng và Nhà
nước ta thường xuyên quan tâm, trong đó cơng tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận
chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý luôn được Đảng ta xác định là một
nhiệm vụ quan trọng. Trong những năm qua, Đảng ta cũng đã xây dựng ban
18
hành nhiều văn bản, chỉ thị, nghị quyết về vấn đề này với những nội dung quy
định cụ thể rõ ràng, chi tiết. Tuy nhiên quá trình khai thực hiện tại một số địa
phương, một số cơ quan đơn vị có lúc vẫn cịn để xảy ra những vấn đề bất
cập, hạn chế trong công tác tuyển chọn đối tượng, áp dụng tiêu chuẩn cử cán
bộ đi học tập, đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, làm ảnh hưởng đến chất
lượng cơng tác cán bộ nói chung cũng như làm giảm sút niềm tin của cán bộ,
đảng viên về vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của bộ máy lãnh đạo các cấp.
Tình huống đưa ra trên đây tuy là giả định, nhưng thực chất cũng đã
từng xảy ra trong thực tế cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cũng
như một vài nơi ở các địa phương trên cả nước. Điều này phản ánh một thực
tế, việc cử cán bộ đi học các lớp cao cấp lý luận chính trị khơng chỉ là cơ hội
được học tập nâng cao nhận thức về lý luận để gắn với thực tiễn cơng tác
nhằm hồn thành tốt chức năng nhiệm vụ được phân công, được rèn luyện,
thấm nhuần chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh của mỗi học viên
mà đơi khi với một số người nó trở thành bàn đạp để đạt được những bước
tiến cao hơn trên con đường sự nghiệp.
Vấn đề đặt ra các cấp ủy đảng, nhất là người đứng đầu phải luôn gương
mẫu, phát huy tốt vai trị của mình trên mọi cương vị công tác; nghiêm túc
quán triệt, triển khai các văn bản chỉ thị, nghị quyết của Đảng; chính sách
pháp luật của Nhà nước trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ theo đúng
chức vụ, thẩm quyền. Phải xác định việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là khâu
quan trọng nhằm tạo nguồn nhân lực trước hết là cho cơ quan đơn vị, sau đó
là cho Đảng, Nhà nước và tồn xã hội, nên ngay từ khâu chọn cử cán bộ đi
học tập, đào tạo, bồi dưỡng phải đạt đúng tiêu chuẩn, đối tượng để bản thân
người học thấy được trách nhiệm bản thân, đặt ra kế hoạch phấn đấu vì lợi ích
chung của tập thể, của cơ quan, đơn vị.
II. KIẾN NGHỊ
19
Qua việc phân tích, đánh giá, đưa ra các một số giải pháp xử lý giải
quyết tình huống nêu trên, bản thân xin đề xuất một số kiến nghị như sau:
1. Việc rà soát, thẩm định hồ sơ chọn cử cán bộ đi học các lớp cao cấp
lý luận chính trị từ Trung ương đến địa phương phải chặt chẽ, đồng bộ đảm
bảo đúng đối tượng, tiêu chuẩn, tránh trường hợp cùng đsối tượng, tiêu chuẩn
nhưng năm thì được xét chọn, năm thì khơng được xét chọn, tạo tâm lý thắc
mắc hồi nghi đối với cán bộ đảng viên nói chung cũng như với người trong
diện được xét tuyển nói riêng.
2. Việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản, chỉ nghị, nghị quyết của
Đảng liên quan đến nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần sâu rộng, phổ cập hơn
nữa để nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, tránh trường hợp một số cơ
quan đơn vị chỉ gửi văn bản cho bộ phận tham mưu nên nhiều cán bộ, đảng
viên không nắm được chỉ tiêu được cử đi học, không cập nhật kịp thời các
văn bản liên quan đến quyền lợi của cán bộ, đảng viên trong công tác đào tạo,
bồi dưỡng.
3. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong thực hiện công tác quy
hoạch, quản lý cán bộ nói chung; cơng tác đào tạo, bồi dưỡng nói riêng để kịp
thời chấn chỉnh, xử lý các hành vi vi phạm tránh trường hợp để xảy ra các vấn
đề tiêu cực như tình huống trong Tiểu luận đã nêu.
Trên đây là Tiểu luận cuối khóa bồi dưỡng ngạch chuyên chính khóa 9
với nội dung Đề tài “Xử lý sai phạm trong việc cử cán bộ tham gia lớp cao
cấp lý luận chính trị”. Với những kiến thức được nghiên cứu trong thời gian
học tập tại Trường cùng với kinh nghiệm cơng tác bản thân, em xin nêu tình
huống và đề xuất các phương án giải quyết như trên. Tuy nhiên, Đề tài chắc
chắn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng hết được những yêu cầu tình huống
cũng như thức tế đặt ra. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý
Thầy giáo, Cô giáo để Tiểu luận được hồn chỉnh, có giá trị áp dụng trong
20
thực tiễn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 7 năm 2018
Người thực hiện Tiểu luận
Nguyễn Hải Quân
21