Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (122.55 KB, 11 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>Viết đoạn văn phân tích 8 câu thơ cuối của bài "Kiều ở lầu Ngưng Bích" của</b>
<b>tác giả Nguyễn Du - Ngữ văn 9</b>
<b>Đề bài: Viết đoạn văn phân tích 8 câu thơ cuối của bài "Kiều ở lầu Ngưng </b>
<b>Bích" của tác giả Nguyễn Du</b>
<b>Dàn ý phân tích tám câu thơ cuối đoạn trích</b>
<b>I. Mở bài</b>
- Giới thiệu tác giả và đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.
- Giới thiệu đoạn thơ cuối (8 câu cuối).
<b>II. Thân bài</b>
- Cặp lục bát 1: Phân tích hình ảnh “cửa bể chiều hôm”, “cánh buồm xa xa” gợi tả
nỗi buồn của Kiều khi nghĩ về cha mẹ - những người sinh thành ra mình, nàng cảm
thấy xót xa.
- Cặp lục bát 2: Phân tính hình ảnh “ngọn nước mới sa”, “hoa trôi man mác” gợi tả
nỗi mông lung lo lắng của Kiều không biết cuộc đời sẽ trôi đi đâu về đâu. Tâm trạng
của Thúy kiều lại trở về với thực tại của đời mình, trở về với nỗi đau hiện thực.
- Cặp lục bát 3: Phân tích hình ảnh “nội cỏ rầu rầu”, “chân mây mặt đất” gợi tả sự
vô định của Kiều. Từ láy “rầu rầu” gợi cho ta sự tàn úa đến thảm thương, màu xanh
tàn úa, héo hắt.
- Cặp lục bát 4: Phân tích hình ảnh “gió cuốn mặt duềnh”, “tiếng sóng kêu quanh
ghế ngồi” gợi sự sợ hãi, hoảng hốt của Kiều. Sự lênh đênh trên chặng đường đời
nhiều sóng gió trước mặt Kiều, cũng là những phong ba, gập ghềnh mà Kiều sẽ phải
đi qua.
=> Điệp từ “buồn trông” được nhắc đi nhắc lại trong khổ thơ. Nó như tâm trạng của
* Tổng kết nghệ thuật:
- Điệp cấu trúc với điệp ngữ “buồn trơng”.
- Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.
<b>III. Kết bài</b>
- Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một bức tranh được vẽ lên với những màu
sắc xám lạnh, gợi tả tâm trạng vô cùng sống động, nhưng nó cũng nhiều thê lương
ai ốn.
- Phân tích bút pháp nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình” của Nguyễn Du. Cảnh và người
trong đoạn trích như hịa vào làm một.
<b>Phân tích 8 câu thơ cuối Kiều ở lầu Ngưng Bích mẫu 1</b>
Nhắc tới truyện thơ Nơm bác học, ngồi những tác phẩm nổi tiếng của một thời
vang bóng ở thế kỉ XVIII - XIX như: Nhị độ mai, Sơ kính tân trang, Lục Vân Tiên...
thì chúng ta khơng thể khơng nhắc tới "Truyện Kiều" của Nguyễn Du. Có thể nói,
với tác phẩm "Truyện Kiều", Nguyễn Du đã đưa thể loại truyện thơ Nôm bác học
lên một tầm cao mới, đạt tới trình độ mẫu mực, bậc thầy về nghệ thuật, góp phần
hồn thiện và làm giàu đẹp, phong phú hơn ngơn ngữ của dân tộc. Và đoạn trích
"Kiều ở lầu Ngưng Bích" chính là một mình chứng tiêu biểu cho bút pháp "tả cảnh
ngụ tình" độc đáo của nhà thơ. Đây cũng là đoạn mở đầu chuỗi cuộc đời mười lăm
năm lưu lạc truân chuyên của Kiều. Mộng Liên Đường chủ nhân trong lời đề tựa
"Truyện Kiều" đã nhận xét: "Những lời văn tả ra hình như có máu chảy ở đầu ngọn
bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi,
đau đớn như đứt ruột". Và đọc tám câu thơ cuối của đoạn trích với tâm trạng đau
<i>Buồn trơng cửa bể chiều hơm</i>
<i>Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?</i>
<i>Buồn trơng ngọn nước mới sa</i>
<i>Hoa trôi man mác biết là về đâu?</i>
<i>Buồn trông nội cỏ rầu rầu</i>
<i>Chân mây mặt đất một màu xanh xanh</i>
<i>Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh</i>
Điệp ngữ “buồn trông” được lặp đi lặp lại bốn lần. Đây là điệp ngữ liên hoàn và
đồng thời cũng là điệp khúc của tâm trạng. Kiều buồn nên mới trông cảnh vật, khác
với đoạn trước, Kiều trông mới thấy buồn. Ở đây, vì buồn nên trơng, mà càng trơng
thì lại càng buồn. Nỗi buồn cứ thế điệp đi điệp lại dâng lên thành lớp lớp sóng trào,
cứ cuộn xốy trong tâm khảm của Kiều mà trở thành gánh nặng tâm tư:
<i>Buồn trơng cửa bể chiều hơm</i>
<i>Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?</i>
<i>Buồn trông ngọn nước mới sa</i>
<i>Hoa trôi man mác biết là về đâu?</i>
“Chiều hôm” là khoảng thời gian của buổi chiều hồng hơn, khi mà mặt trời đã dần
dần ngả về tây, bóng tối bắt đầu xâm lấn. “Xa xa” là hình ảnh của một chiếc thuyền
nhỏ bé, cơ đơn thốt ẩn, thốt hiện thấp thống trên cửa biển; một cánh hoa đang
trơi bất định trên dịng nước mà khơng biết đi về đâu. Hình ảnh chiếc thuyền, cánh
hoa được đặt trong thế tương phản đối lập với vũ trụ không cùng của trời đất mênh
mang càng tô đậm hơn sự nhỏ bé, đơn độc, đáng thương và tội nghiệp. Đây là hình
ảnh ẩn dụ cho thân phận của Kiều lênh đênh, chìm nổi giữa dịng đời mà không biết
trôi dạt về đâu. Và đứng trước một khơng gian bao la của trời đất, của buổi chiều
hồng hôn sắp tắt, nỗi nhớ nhà, nhớ người thân đến như một lẽ tất yếu trong lịng
Kiều. Nhưng trong tình cảnh “bốn bề góc bể bơ vơ” thì Kiều biết bao giờ mới được
sum họp, đoàn viên cùng với gia đình, người yêu. Vì thế câu hỏi tu từ cứ réo rắt,
khắc khoải trong lòng của Kiều, dấy lên niềm khao khát được trở về nhà, trở về quê
hương nơi chơn rau cắt rốn của mình:
<i>Buồn trơng nội cỏ rầu rầu</i>
<i>Chân mây mặt đất một màu xanh xanh</i>
con người. Bài thơ “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn đã diễn tả nỗi nhớ của
người chinh phụ đối với người chồng của mình nơi biên ải qua màu xanh ngắt của
cỏ lá:
<i>Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy</i>
<i>Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu</i>
<i>Ngàn dâu xanh ngắt một màu</i>
<i>Lòng chàng ý thiết ai sầu hơn ai?</i>
Như vậy, màu “xanh ngắt, xanh xanh” của cỏ lá đã trở thành màu của sự xa cách, sự
ly biệt và nhạt nhòa. Nay từ “xanh xanh” lại xuất hiện trong câu thơ của Nguyễn Du
nên màu sắc ấy biểu trưng cho sự nhạt nhịa, sự chán nản, vơ vọng của Kiều trước
một khung cảnh thiếu vắng sự sống, cô đơn, và tẻ nhạt:
<i>Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh</i>
<i>Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.</i>
đuối của bản thân, Kiều đã bị Sở Khanh lừa gạt để rồi dấn thân vào một cuộc đời
đầy sóng gió, truân chuyên “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.
<b>Phân tích 8 câu thơ cuối Kiều ở lầu Ngưng Bích mẫu 2</b>
Nguyễn Du khơng chỉ xuất sắc trong nghệ thuật miêu tả chân dung nhân vật mà cịn
là người có biệt tài miêu tả thiên nhiên, ngụ tâm tình, tình cảm của con người. Mỗi
bức tranh dưới đôi bàn tay Nguyễn Du luôn luôn thực hiện hai chức năng chính: thể
hiện ngoại cảnh và thể hiện tâm trạng. Tám câu thơ cuối trong bài “Kiều ở lầu
Ngưng Bích” đã cho thấy rõ biệt tài này của ông.
Sau khi bị lừa bán vào lầu xanh, Kiều sống trong đau đớn, ê chề, với bản tính là con
người trọng nhân phẩm, Kiều đã tìm đến cái chết để giải thốt nhưng khơng thành
cơng. Thúy Kiều bị Tú Bà giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, chờ đến ngày thực hiện âm
mưu mới. Những ngày ở lầu Ngưng Bích nàng sống trong đau đớn, tủi hổ, cơ đơn,
tuyệt vọng đến cùng cực.
Trong nỗi cô đơn, dường như ai cũng một lịng hướng về gia đình. Người con gái
trong ca dao, dù lấy chồng, nhưng trong những khoảnh khắc ngày tàn vẫn tha thiết
nhớ về quê mẹ:
<i>Chiều về ra đứng ngõ sau</i>
<i>Trơng về q mẹ ruột đau chín chiều</i>
Huống chi là nàng Kiều, thân phận nổi trơi, bán mình cứu gia đình, thì nỗi nhớ gia
đình lại càng da diết hơn bao giờ hết:
<i>Buồn trông cửa bể chiều hôm</i>
<i>Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.</i>
ẩn dụ “hoa trôi” là biểu trưng cho thân phận của nàng Kiều. Ngọn nước mới sa kia
có sức mạnh ghê gớm, là những giơng bão, sóng gió trong cuộc đời đã vùi dập cuộc
đời nàng. Những cánh hoa trôi man mác cũng như thân phận bé bỏng, mong manh
của nàng. Cuộc đời nàng lênh đênh theo dịng đời, khơng biết tương lai sẽ đi đâu về
đâu. Câu hỏi tu từ “biết là về đâu” như một lời than, một lời ai ốn cho số phận bất
hạnh. Qua đó càng nhấn mạnh hơn nữa thân phận chìm nổi, bèo bọt của nàng.
Trong tác phẩm của Nguyễn Du, sắc xanh đã xuất hiện nhiều lần, mỗi lần xuất hiện
đều mang ý nghĩa khác nhau. Nếu như trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”, sắc xanh
tượng trưng cho sự sống, tươi tốt mơn mởn, thì trong đoạn trích này màu xanh lại
mang một ý nghĩa khác: “Buồn trông nội cỏ rầu rầu/ Chân mây mặt đất một màu
xanh xanh”. Nội cỏ chỉ mang một màu tàn lụi héo úa. Sắc xanh cũng nối chân trời
mặt đất với nhau nhưng lại nhạt nhòa, đơn sắc. Tất cả những màu sắc đó hịa điệu
với nhau càng khiến cho tâm trạng Kiều trở nên ngao ngán, chán nản hơn. Kiều
nhìn ra bốn phía để tìm được sự đồng điệu, tìm sự sẻ chia. Vậy mà, khung cảnh chỉ
càng làm nàng thêm u sầu, ảo não. Quả thực “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Dưới con mắt tuyệt vọng của nàng, khung cảnh nào cũng chỉ thấm đầy nỗi buồn
chán, bế tắc và vơ vọng. Điều đó càng đẩy Kiều rơi vào sâu hơn hố sâu của sự sầu
Hai câu thơ cuối cùng có thể coi là đỉnh cao của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, sự
hoang mang, rợn ngợp của Kiều đã được tác giả tập trung bút lực thể hiện rõ nhất
trong hai câu thơ này:
<i>Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh</i>
<i>Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi</i>
Cảnh cuối thiên nhiên hiện ra thật dữ dội, đó khơng chỉ cịn là ngoại cảnh mà cịn là
tâm cảnh, Kiều tưởng mình khơng cịn ngồi ở lầu Ngưng Bích mà đang ngồi giữa
biển khơi mênh mơng, xung quanh là sóng biển gào thét như muốn nhấn chìm nàng
xuống biển. Đặc biệt từ láy “ầm ầm” vừa diễn tả một khung cảnh khủng khiếp vừa
diễn tả tâm trạng buồn lo, hoảng loạn của Thúy Kiều. Nàng đang dự cảm những
giông bão của số phận, rồi đây sẽ nổi lên và nhấn chìm cuộc đời mình.
trị tạo hình và biểu cảm. Tất cả những yếu tố đó góp phần tạo nên thành cơng cho
đoạn trích.
Tám câu thơ cuối là một tuyệt tác của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Bằng những bức
tranh đặc sắc, Nguyễn Du đã khắc họa được những trạng thái xúc cảm, nỗi cô đơn,
lo âu, sợ hãi về tương lai đầy sóng gió của nàng Kiều. Khơng chỉ vậy, qua bức tranh
ấy, Nguyễn Du cho thể hiện niềm cảm thương sâu sắc cho số phận nàng nói riêng và
số phận người phụ nữ nói chung dưới chế độ phong kiến.
<b>Phân tích 8 câu thơ cuối Kiều ở lầu Ngưng Bích mẫu 3</b>
Truyện Kiều đã từ mấy trăm năm qua trở thành một phần giá trị tinh thần không thể
thiếu được của dân tộc ta. Ở bất kì góc độ nào, đây luôn là một viên ngọc quý trong
Để to ra được một kiệt tác như vậy, điều quan trọng nhất mà Nguyễn Du đã thể hiện
được là tấm lòng nhân đạo cao cả về tài năng bậc thầy về nghệ thuật. Một trong
những phương diện nghệ thuật thể hiện rất rõ tài năng của Nguyễn Du đó là nghệ
thuật tả cảnh ngụ tình, trong đạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” tài năng này được
thấy rõ hơn cả, nhất là ở 8 câu thơ cuối được mở ra bằng “buồn trông”.
Mở bài Kiều ở lầu Ngưng Bích
Kết bài Kiều ở lầu Ngưng Bích
Và ngay trên dịng nước ấy, có những cánh hoa mỏng manh đang trôi trong vô định,
cứ dập dềnh chực chìm chực nổi. Phải chăng, Kiều đang thấy thân phận mình giống
với đóa hoa tội nghiệp kia, cứ trên dịng đời trơi mãi trong sự vùi dập dày vị của
bao nhiêu con sóng cuộc đời. Cánh hoa ở giữa dịng ấy rỗi sẽ trơi về đâu giống như
số phận nàng hiện tại rồi sẽ đi về đâu. Câu hỏi tư từ đã bật lên một sự lo lắng cho
một tương lai của một số phần mỏng manh vô định hình. Từ sự lo lắng này, tâm
trạng củ Kiều lại càng tiếp tục rơi vào sự vô định mông lung không biết đi đâu về
đâu.Dường như đến đây, mọi cảnh vật trước mắt Kiều đã bị nhòe đi bởi một màn
nước mắt, đến nội cỏ vô tri cũng trở nên rầu rĩ bởi tâm trạng con người khơng thể
nhìn nó bằng con mắt khác.
Khung cảnh mênh mơng đến rợn ngợp giờ đây trở nên càng mênh mông hơn khi mà
từ chân mây đến mặt đất như khơng cịn ranh giới, màu xanh ở đây khơng cịn là
màu xanh tươi của sự sống như ngày xuân xưa kia mà là một màu xanh đơn điệu,
một bức tranh một màu không có chút sức sống giống y như cuộc sống lúc này của
Kiều. Nhưng mọi thứ vẫn còn ở một mức tâm trạng buồn lo nhưng đến câu cặp lục
bát cuối cùng.Từ những cảm xúc buồn, lo lắng, đến đây, ta thấy Kiều như rung
mình sợ hãi. Những cơn gió cuốn những cơn sóng ngồi biển tạo những âm thanh to
như cơn bão khiến cho con người phải hãi hùng. Từ tượng thanh “ầm ầm” đặt ở đầu
Đây có lẽ là sự dự đốn về một tương lai khơng mấy êm đềm sẽ đến với Kiều, và
ngay sau đấy, sóng to gió lớn sẽ đổ lên cuộc đời Kiều làm cho nàng phải đau đớn,
sợ hãi mà chao đảo.Bốn cặp lục bát mở đầu bằng “buồn trông” tạo nên một đoạn
điệp khúc có nhạc tính tăng dần mức độ. Cảnh được miêu tả từ xa đến gần, hình ảnh
được chọn từ mờ ảo, mông lung đến rõ ràng cụ thể, tâm trạng nhân vật trữ tình từ
buồn, lo đến sợ hãi hoảng hốt. Nguyễn Du đã thật tài tình trong việc miêu tả rõ nét
tâm trạng Thúy Kiều trong những ngày tháng dài bị giam nơi lầu Ngưng Bích,
những ngày tháng mở đầu cho quãng thời gian mười lăm năm lưa lạc của Kiều.
Kiều lúc này, càng buồn thì càng trơng, càng trơng thì càng buồn, chính Nguyễn Du
đã hiểu được điều này và bộc lộ sự cảm thơng từ ngịi bút.
<b>Phân tích 8 câu thơ cuối Kiều ở lầu Ngưng Bích mẫu 4</b>
Nhìn vào 8 câu thơ cuối của đoạn thơ này, có lẽ mỗi chúng ta ai cũng nhận ra cấu
trúc điệp ngữ liên hoàn được đặt ở đầu những câu thơ lục. Đây ko phải là sáng tạo
mới mẻ của Nguyễn Du mà từ lâu, trong ca dao của người Việt Nam đã có mơ-típ
“buồn trơng”: Buồn trông chênh chếch sao mai, Buồn trông con nhện giăng tơ, Ngồi
buồn nhớ mẹ ta xưa ND chỉ đọc qua câu ca dao nhưng ông đã biến tấu lại vào bài
thơ của mình và đã tạo nên một đoạn thơ miêu tả tâm trạng nhân vật trữ tình rất sâu
sắc và tinh tế.
Điệp ngữ, điệp cấu truc tô đậm, nhấn mạnh nỗi buồn càng lúc càng dâng dâng lên
trong lòng nàng Kiều cùng với cảnh vật càng lúc càng mênh mang, vắng vẻ và dữ
dội hơn. Nhưng chủ yếu là sau mỗi ngữ “buồn trơng” thì như lại nối tiếp một đợt
sóng, chia suy tưởng, tâm trạng của nàng Kiều về một hướng khác, một đối tượng
khác, một vấn đề khác, khơng giống nhau, ko lặp lại. Có thể chia bức tranh “buồn
trông” tuyệt vời này thành 4 mảng gắn liền với 4 lần buồn trông và 4 nỗi buồn k
Nỗi buồn thứ nhất: Buồn trơng cửa bể chiều hơm Thuyền ai thấp thống cánh buồm
xa xa Tâm trạng buồn nhớ của Kiều giờ đi cả vào ánh mắt. Người buồn thì cảnh
cũng buồn. Vẫn là cảnh đó, khơng gian đó, nhưng đã chất chứa phần nào nỗi lịng
Kiều. Khung tranh buồn thứ nhất mở ra ngay thời điểm chiều hôm - là thời điểm
quen thuộc của nghệ thuật, của những lưu luyến khó tả. Cửa bể chiều hơm gợi trước
mắt ta hình ảnh những tia nắng leo lắt cuối ngày phản chiếu lên mặt biển xanh thẳm
rồi lan ngay ra không gian xung quanh, khiến mọi thứ nhuốm màu sẫm tối, có cái gì
da diết như đêm luyến ngày, như niềm lưu luyến tha thiết của Kiều về ngày tháng
êm đềm xưa kia. Cửa biển trong ánh chiều tà yếu ớt bao trùm luôn cả những con
thuyền căng buồm lộng gió ngồi xa - những con thuyền chở hy vọng của nàng
Kiều được một lần tự do ngoài bầu trời rộng mở, vượt khỏi cái tù túng tẻ nhạt nơi
lầu son gác tía.
từ trên cao đổ xuống. Thử hỏi, cánh hoa mỏng manh ấy làm sao chịu nổi sức nước
tràn? Thân phận Kiều cũng vậy, q bé nhỏ trước dịng đời. Chỉ bấy nhiêu thơi cũng
cho thấy sự nhạy cảm của Kiều.
Cái man mác trôi của hoa thể hiện cái băn khoăn, lo lắng cho thân phận lạc lồi, vơ
định của nàng. Kiều bây giờ cũng như bơng hoa kia, khơng cịn người thân bên
cạnh, tự nàng phải bước lên những chông gai của cuộc đời. Buồn trông nội cỏ rầu
rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Rồi Kiều bắt đầu đảo mắt đến cái sắc
xanh nối tiếp của trời và đất. Tuy nhiên, bãi cỏ không mang màu xanh tươi như tiết
thanh minh tháng ba, từ láy rầu rầu gợi cho ta sự tàn úa đến thảm thương. Xanh trời
nối tiếp xanh đất nhưng xanh nào cũng là màu xanh tàn úa, héo hắt. Màu xanh tàn
héo ấy khiến xanh xanh cả đất trời. Kiều nhìn vào màu xanh mong tìm kiếm chút hy
vọng nhỏ nhoi lần nữa, nhưng cũng như những lần trước, Kiều quay đi với nỗi thất
vọng ngập tràn. Cảnh buồn hay vì người buồn nên cảnh mới buồn thì khơng biết,
chỉ biết lần này, nàng Kiều đã thật sự tuyệt vọng, chẳng còn đối cảnh nào khiến
Mọi thứ đều đưa nàng vào suy nghĩ dằn vặt và đau xót hơn. Buồn trơng gió cuốn
mặt duềnh, Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. Trong câu thơ, đọc lên, ta nghe
có “tiếng gió” và “tiếng sóng biển” đang “ầm ầm” kêu quanh ... nàng Kiều như đang
ở trong tâm trạng lo lắng, hoảng sợ tưởng như không ngồi trên đất liền nữa mà như
đang ngồi giữa biển khơi, bốn phía “ầm ầm tiếng sóng”. Tiếng sóng ở đây, trong
câu thơ khơng phải là âm thanh của tiếng sóng bình thường: sóng vỗ, sóng xơ, sóng
dào dạt, mà “tiếng sóng kêu” ầm ầm tứ phía, ngầm dự báo cơn sóng gió, bão táo của
cuộc đời thật dữ dội sẽ ập đến với Thúy Kiều, với đoạn trường mười lăm năm lưu
lạc đang chờ đợi nàng.
Tám dòng thơ cuối này tạo nên bốn khung tranh tâm trạng của nàng Kiều. Mỗi
khung tranh là một trạng thái tâm lý khác nhau. Điệp từ buồn trơng diễn tả cái tăng
tiến đến chống ngợp của từng cung bậc xúc cảm trong Kiều. Nỗi buồn tủi ban đầu
đã dồn nghẹn trong lòng thành niềm lo sợ về thân phận lạc loài, cái héo hắt, tuyệt
vọng trước thực tại, trào ra thành nỗi hoảng sợ tột độ, hồn tồn mất phương hướng.
Yếu tố khơng nhỏ giúp cho sự tăng tiến về cảm xúc trở nên dữ dội mà lại sít sao, tự
nhiên vơ cùng chính là hệ thống từ láy tầng tầng lớp lớp, khiến mấy dòng thơ từ tha
thiết trở thành mạnh mẽ, từ mạnh mẽ lại trở về tha thiết.
thuật dụng từ trong tám câu cuối của đoạn trích này đã góp phần đưa nó thành thiên
sầu khúc. Ngồi ra, cái tài của cụ Nguyễn là vừa để cho Kiều nhìn cảnh bằng con
mắt chủ quan của tâm trạng, lại vừa ngầm thể hiện sự xót thương thân phận người
trong cảnh từ địa vị của một nhà nhân đạo chủ nghĩa, làm cho dịng thơ có sức gợi
cảm mãnh liệt, chinh phục bao tầng lớp độc giả.
Đoạn thơ này có giá trị nhân bản sâu sắc. Nó gợi lên trong lịng mỗi chúng ta những
xót thương về con người tài sắc bạc mệnh. Một thái độ yêu thương, một tấm lòng
nhân hậu, cảm thông, chia sẻ của nhà thơ đối với nỗi đau của Thuý Kiều đã để lại ấn