Tải bản đầy đủ (.docx) (11 trang)

Tải Viết đoạn văn thuyết minh đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích - Bài văn mẫu lớp 9 hay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (109.07 KB, 11 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>Văn mẫu lớp 9: Viết đoạn văn thuyết minh đoạn trích</b>


<b>Kiều ở lầu Ngưng Bích</b>



<b>Đề bài: Viết đoạn văn thuyết minh đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của</b>


Nguyễn Du.


<b>1. Bài văn mẫu 1: Thuyết minh về đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích</b>


Từ một thiếu nữ tài sắc sống trong cảnh "êm đềm trướng rủ màn che". Kiều
đã trở thành món hàng trong màn mua bán của Mã Giám Sinh và giờ nàng đang
sống trong cô đơn, nhớ thương đau buồn, lo âu nơi lầu Ngưng Bích. Hai mươi hai
câu thơ trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích đã thể hiện rõ bức tranh tâm cảnh
của Kiều. Sống nơi lầu Ngưng Bích là kiểu sống trong sự cơ đơn tuyệt đối:


<i>"Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân</i>
<i>Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung</i>


<i>Bốn bề bát ngát xa trông</i>
<i>Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia</i>


<i>Bẽ bàng mây sớm đèn khuya</i>
<i>Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lịng."</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2></div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

Khơng chỉ vậy mà tấm son đã bị hoen ố của nàng đến khi nào mới rửa cho được.
Trong nỗi nhớ cịn có cả nỗi xót xa, ân hận, tủi hổ. Đặt trong hồn cảnh cơ đơn,
Kiều đã tạm để nỗi lịng mình lắng xuống và nhớ tới Kim Trọng. Đó là sự vị tha và
tấm lòng chung thủy của một con người. Nếu khi nhớ tới Kim Trọng. Kiều "tưởng"
thì khi nghĩ tới cha mẹ Kiều "xót":


<i>"Xót người tựa cửa hơm mai</i>


<i>Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ</i>


<i>Sân Lai cách mấy nắng mưa</i>
<i>Có khi gốc tử đã vừa người ơm".</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

<i>"Buồn trơng cửa bể chiều hơm</i>
<i>Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?</i>


<i>Buồn trông ngọn nước mới sa</i>
<i>Hoa trôi man mác biết là về đâu?</i>


<i>Buồn trông nội cỏ rầu rầu</i>


<i>Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.</i>
<i>Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh</i>
<i>Ẩm âm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi."</i>


Tám câu thơ vừa là bức tranh tâm cảnh mà cũng là thực cảnh. Cảnh được
miêu tả theo kiểu tứ bình trong con mắt trông bốn bề và từ xa tới gần. Cảnh đầu
tiên mà Kiều trông thấy là bể lúc chiều hôm: "Buồn trông cửa bể chiều hôm /
Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?". Khơng gian mênh mơng và thời gian
khi chiều tà muôn thuở gợi buồn. Giữa khung cảnh ấy chỉ có một con thuyền vơ
định và hiện hữu với cánh buồm thấp thoáng xa xa như một ảo ảnh. Cảnh đã gợi
trong lòng người tha thương nỗi buồn nhớ về cha mẹ, quê nhà xa cách, nỗi cô đơn
và khát khao sum họp. Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi trong
lòng Kiều nỗi buồn về thân phận trôi nổi, không biết rồi sẽ bị trôi dạt, bị vùi dập ra
sao: "Buồn trông ngọn nước mới sa / Hoa trôi man mác biết là về đâu!" càng làm
Kiều xót xa cho duyên phận, số kiếp của mình. Sau một cửa biển, một cánh hoa
giữa dịng nước là cảnh của một nội cỏ.



<i>"Buồn trơng nội cỏ rầu rầu</i>


<i>Chân mây mặt đất một màu xanh xanh".</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

cũng giống như tương lai mờ mịt, thân phận nội cỏ hoa héo của Thúy Kiều. Và
cuối cùng là cảnh con sóng nổi lên ầm ầm sau cơn gió: "Buồn trơng gió cuốn mặt
duềnh/ Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi." Tiếng sóng như báo trước sóng gió
dữ dội của cuộc đời hay cũng chỉ là tiếng kêu đau đớn của Kiều đồng vọng với
thiên nhiên. Kiều khơng chỉ buồn mà cịn lo sợ, kinh hãi như đang đứng trước sóng
gió, bão táp của cuộc đời này sắp đổ xuống đầu nàng. Cảnh được miêu tả từ xa đến
gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động. Cảnh ngày một rõ hơn
để diễn tả nỗi buồn từ man mác mông lung đến âu lo kinh sợ dồn đến bão táp nội
tâm. Thiên nhiên chân thực, sinh động nhưng mờ ảo bởi nó được nhìn theo quy
luật "cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Và đó
cũng là hiện thân, là tang vật của quá khứ khổ đau, hiện tại lẻ loi bất hạnh và báo
hiệu một tương lai khủng khiếp. Tất cả đều là hình ảnh về sự vô định, mong manh,
vô vọng, sự trôi dạt, bế tắc. Đoạn thơ gồm bốn cặp câu lục bát cũng là bốn cảnh và
cặp câu được liên kết nhớ điệp ngữ "buồn trông".


<i>"Buồn trông cửa biển chiều hôm</i>
<i>Buồn trông ngọn nước mới xa</i>


<i>Buồn trông nội cỏ dầu dầu</i>
<i>Buồn trông gió cuốn mặt duềnh".</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

và xúc động. Khúc ca khép lại đầy dư âm với hòa tấu phức điều của sóng biển,
"sịng lịng", "sóng dời" đang vang lên những tiếng gầm gào của hiểm họa như
muốn hất tung, nhấn chìm người con gái cơ đơn, tội nghiệp trên điểm tựa chiếc ghế
đời mỏng manh. Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng, yếu đuối nhất để rồi bị lừa gạt
và dấn thân vào cuộc đời "thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần". Để thể hiện tâm


trạng phức tạp mỗi nỗi buồn ôm trọn ba nỗi buồn: buồn nhớ người u, buồn nhớ
cha mẹ và buồn cho chính mình. Nguyễn Du đã chọn cách thể hiện "tình trong
cảnh ấy, cảnh trong tình này" thật độc đáo tạo nên đoạn thơ tuyệt bút với bút pháp
tả cảnh ngụ tình.


Tóm lại, Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh đa dạng, phong phú về
ngoại cảnh và tâm cảnh khắc họa nỗi buồn, sợ hãi mà Kiều đang nếm trải, dự báo
sóng gió bão bùng mà nàng phải trải qua trong mười lăm năm lưu lạc "thanh lâu
hai lượt, thanh y hai lần". Đoạn thơ có giá trị nhân bản sâu sắc đồng thời thể hiện
tấm lòng nhân hậu, cảm thương chia sẻ của Nguyễn Du với nỗi đau của Thúy Kiều.


<b>2. Bài văn mẫu 2: Đoạn văn thuyết minh đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng</b>
<b>Bích của Nguyễn Du</b>


Đoạn Trích “Kiều ở Lầu Ngưng Bích” được trích trong Truyện Kiều của tác
giả Nguyễn Du. Đoạn trích nằm ở phần thứ hai “Gia biến và lưu lạc”.


Sau khi bị Mã Giám Sinh lừa gạt và làm nhục, mặc cho Tú bà mắng nhiếc,
chửi rủa nhưng Kiều vẫn nhất định không chịu tiếp khách làng chơi, không chịu
chấp nhận làm kĩ nữ ở chốn lầu xanh. Vì quá đau đớn và tủi nhục, phẫn uất, Kiều
đã định đi tự vẫn, thấy vậy, Tú bà sợ mất vốn nên đã lựa lời khuyên giải, dụ dỗ
Kiều. Mụ giả vờ chăm sóc thuốc thang, hứa hẹn rằng khi nào nàng bình phục sẽ gả
nàng cho người tử tế.


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

cô đơn và tội nghiệp của Kiều, phần hai là tám câu tiếp theo diễn tả nỗi nhớ Kim
Trọng và nhớ thương cha mẹ của nàng, phần ba là tám câu thơ cuối, diễn tả tâm
trạng đau buồn, âu lo của Kiều qua cách nhìn cảnh vật. Đoạn trích “Kiều ở lầu
Ngưng Bích” đã miêu tả chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và đáng thương của
Kiều, đồng thời bộc lộ được nỗi nhớ người thân da diết, nhớ người yêu và nhớ gia
đình, tấm lòng thủy chung và hiếu thảo, vị tha của Kiều đang bị giam giữ, trói buộc


ở lầu Ngưng Bích. Đoạn trích là thành cơng của tác giả Nguyễn Du về nghệ thuật
miêu tả nội tâm nhân vật đặc sắc, bút pháp tả cảnh ngụ tình hay nhất trong cả tác
phẩm “Truyện Kiều”. Đoạn trích đồng thời cũng thể hiện được sự đồng cảm và
lịng thương xót của tác giả dành cho số phận và những nỗi đắng cay trong cuộc
đời Kiều.


<b>3. Bài văn mẫu 3: Thuyết minh đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của</b>
<b>Nguyễn Du</b>


Nguyễn Du là bậc thầy về tả cảnh. Nhiều câu thơ tả cảnh của ông có thể coi
là chuẩn mực cho vẻ đẹp của thơ ca cổ điển. Nhưng Nguyễn Du không chỉ giỏi về
tả cảnh mà cịn giỏi về tả tình cảm, tả tâm trạng. Trong quan niệm của ơng, hai yếu
tố tình và cảnh không tách rời nhau mà luôn đi liền nhau, bổ sung cho nhau.


Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh tâm tình đầy xúc động.
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Du đã miêu tả tâm trạng nhân vật một
cách xuất sắc. Đoạn thơ cho thấy nhiều cung bậc tâm trạng của Kiều. Đó là nỗi cơ
đơn, buồn tủi, là tấm lịng thủy chung, nhân hậu dành cho Kim Trọng và cha mẹ.


Kết cấu của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích rất hợp lí: Phần đầu tác giả
giới thiệu cảnh Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích; phần thứ hai: trong nỗi cô
đơn buồn tủi, nàng nhớ về Kim Trọng và cha mẹ; phần thứ ba: tâm trạng đau buồn
của Kiều và những dự cảm về những bão tô cuộc đời sẽ giáng xuống đời Kiều.


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

là vầng trăng như sắp chạm đầu, nhìn xuống phía dưới là những đoạn cát vàng trải
dài vô tận, lác đác như bụi hồng nhỏ bé như càng tô đậm thêm cuộc sống cô đơn, lẻ
loi của nàng lúc này:


<i>Trước lầu Ngưng Bích khố xuân</i>
<i>Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung</i>



<i>Bốn bề bát ngát xa trơng</i>
<i>Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia</i>


Có thể hình dung rất rõ một khơng gian mênh mơng đang trải rộng ra trước
mắt Kiều. Không gian ấy càng khiến Kiều xót xa, đau đớn:


<i>Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,</i>
<i>Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lịng.</i>


Một chữ bẽ bàng mà lột tả thật sâu sắc tâm trạng của Kiều lúc bấy giờ: vừa
chán ngán, buồn tủi cho thân phận mình, vừa xấu hổ, sượng sùng trước mây sớm,
đèn khuya. Và cảnh vật như cũng chia sẻ, đồng cảm với nàng: nửa tình nửa cảnh
như chia tấm lịng. Bức tranh thiên nhiên khơng khách quan, mà có hồn, đó chính
là bức tranh tâm cảnh của Kiều những ngày cơ đơn ở lầu Ngưng Bích.


Trong tâm trạng cơ đơn, buồn tủi nơi đất khách quê người, Kiều tìm về với
những người thân của mình. Nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ được Nguvễn Du
miêu tả rất xúc động trong những lời độc thoại nội tâm của nhân vật. Nỗi nhớ
thương được chia đều: bốn câu đầu dành cho người yêu, bốn câu sau dành cho cha
mẹ. Nhưng nỗi nhớ với chàng Kim được nói đến trước vì đây là nồi nhớ nồng nàn
và sâu thẳm nhất. Nồi nhớ đó được xoáy sâu và đêm thề nguyền dưới ánh trăng và
nỗi đau cũng trào lên từ đó:


<i>Tưởng người dưới nguyệt chén đồng.</i>
<i>Tin sương luống những rày trơng mai chờ.</i>


<i>Bên trời góc bể bơ vơ,</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

Lời thơ như chứa đựng nhịp thổn thức của một trái tim yêu đương đang chảy


máu! Nỗi nhớ của Kiều thật tha thiết, mãnh liệt! Kiều tưởng tượng ra cảnh chàng
Kim đang ngày đêm chờ mong tin mình một cách đau khổ và tuyệt vọng. Mới ngày
nào nàng cùng với chàng Kim nặng lời ước hẹn trăm năm mà bỗng dưng, nay trở
thành kẻ phụ bạc, lỗi hẹn với chàng. Chén rượu thề nguyền vẫn còn chưa ráo, vầng
trăng vằng vặc giữa trời chứng giám lời thề nguyền vẫn còn kia, vậy mà bây giờ
mỗi người mỗi ngả. Rồi bất chợt Kiều liên tưởng đên thân phận Bên trời góc bể bơ
vơ của mình và tự dằn vặt: Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. Kiều nuối tiếc mối
tình đầu trong trắng của mình, nàng thấm thía tình cảnh cơ đơn của mình, và cũng
hơn ai hết, nàng hiểu rằng sẽ không bao giờ có thể gột rửa được tấm lịng son sắt,
thủy chung của mình với chàng Kim. Và thực sự, bóng chàng Kim cũng sẽ khơng
bao giờ phai nhạt trong tâm trí Kiều trong suốt mười lăm năm lưu lạc.


Nhớ người yêu, Kiều càng xót xa nghĩ đến cha mẹ. Mặc dầu nàng đã liều
đem tấc có, quyết đền ba xuân, cứu được cha và em thốt khỏi vịng tù tội, nhưng
nghĩ về cha mẹ, bao trùm trong nàng là một nỗi xót xa lo lắng. Kiều đau lịng khi
nghĩ đến cảnh cha mẹ già tựa cửa trông con. Nàng lo lắng không biết khi thời tiết
thay đổi ai là người chăm sóc cha mẹ. Nguyễn Du đã rất thành cơng khi sử dụng
thành ngữ, điển cố (tựa cửa hôm mai, quạt nồng ấp lạnh, gốc tử) để thể hiện tình
cảm nhớ nhung sâu nặng cũng như những băn khoăn, trăn trở của Kiều khi nghĩ
đến cha mẹ, nghĩ đến bổn phận làm con của mình. Trong hồn cảnh của Kiều,
những suy nghĩ, tâm trạng đó càng chứng tỏ Kiều là một người con rất mực hiếu
thảo.


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

sâu sắc của Kiều được ngòi bút bậc thầy Nguyễn Du mỗi lúc càng tơ đậm thêm
bằng cách dùng điệp ngữ liên hồn rất độc đáo trong tám câu thơ tả cảnh ngụ tình:


<i>Buồn trơng cửa bể chiều hơm,</i>
<i>Thuyền ai thấp thống cánh buồm xa xa?</i>


<i>Buồn trông ngọn nước mới sa</i>


<i>Hoa trôi man mác biết là về đâu?</i>


<i>Buồn trông nội cỏ rầu rầu,</i>


<i>Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.</i>
<i>Buồn trơng gió cuốn mặt duềnh,</i>
<i>Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.</i>


Nguyễn Du quan niệm: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu... Mỗi cảnh vật hiện ra
qua con mắt của Kiều ở lầu Ngưng Bích đều nhuốm nỗi buồn sâu sắc. Mỗi cặp câu
gợi ra một nỗi buồn. Buồn trơng là buồn mà nhìn ra xa, nhưng cũng là buồn mà
trơng ngóng một cái gì đó mơ hồ sẽ đến làm đổi thay tình trạng hiện tại. Hình như
Kiều mong cánh buồm, nhưng cánh buồm chỉ thấp thống,xa xa khơng rõ, như một
ước vọng mơ hồ, mỗi lúc mỗi xa. Kiều lại trông ngọn nước mới từ cửa sơng chảy
ra biển, ngọn sóng xơ đẩy cánh hoa phiêu bạt, không biết về đâu như thân phận của
mình. Rồi màu xanh xanh bất tận của nội cỏ rầu rầu càng khiến cho nỗi buồn thêm
mênh mang trong không gian; để rồi cuối cùng, nỗi buồn đó bỗng dội lên thành
một nỗi kinh hồng khi ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. Đây là một hình
ảnh vừa thực, vừa ảo, cảm thấy như sóng vỗ dưới chân, đầy hiểm họa, như muốn
nhấn chìm Kiều xuống vực.


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh thiên nhiên đồng thời
cũng là một bức tranh tâm trạng có bố cục chặt chẽ và khéo léo. Thiên nhiên ở đây
liên tục thay đổi theo diễn biến tâm trạng của con người. Mỗi nét tưởng tượng của
Nguyễn Du đều phản ánh một mức độ khác nhau trong sự đau đớn của Kiều. Qua
đó, cho thấy Nguyễn Du đã thực sự hiểu nỗi lòng nhân vật trong cảnh đời bất hạnh
để ca ngợi tấm lòng cao đẹp của nhân vật, để giúp ta hiểu thêm tâm hồn của những
người phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh.


</div>


<!--links-->

×