HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN QUYỀN CON NGƯỜI
BÀI THU HOẠCH MÔN
LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIẢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ NÀY Ở TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH BẮC GIANG
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hương
Mã số học viên: FF190231
Lớp:
Hồn chỉnh Cao cấp lý luận chính trị
K70 - C03 (2019-2020)
Đơn vị cơng tác: Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang
HÀ NỘI - 2020
1
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
MỞ ĐẦU...........................................................................................................3
NỘI DUNG.......................................................................................................4
I. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI.....................................4
1. Khái niệm quyền con người...............................................................4
2. Nguồn gốc của quyền con người.......................................................5
3. Đặc trưng cơ bản của quyền con người...........................................6
4. So sánh giữa quyền con người và quyền công dân.........................6
II. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NN VN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI.....7
1. Quyền con người là giá trị chung của nhân loại.............................7
2. Trong xã hội có phân chia giai cấp, quyền con người mang tính
giai cấp sâu sắc:......................................................................................9
3. Quyền con người gắn với độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.9
4. Quyền con người là giá trị phổ biến song có tính đặc thù.............9
5. Quyền con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội,
là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa............................................10
6. Quyền con người và quyền công dân được ghi nhận và bảo vệ
bằng hiến pháp, pháp luật....................................................................11
7. Quyền của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm
công dân.................................................................................................12
III. CS CƠ BẢN CỦA ĐẢNG VÀ NN VN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI...13
1. Giữ vững độc lập DT, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ.....13
2. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.......................13
3. Phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa, bảo đảm và nâng cao........13
4. Thực hành dân chủ, giữ vững ổn định chính trị, xã hội..............14
5. Tăng cường giáo dục quyền con người cho mọi tầng lớp XH.....14
6. Tích cực mở rộng hợp tác quốc tế về quyền con người................14
IV. NHỮNG ƯU TIÊN VÀ CAM KẾT TRONG VIỆC TIẾP TỤC...........14
1. Các thách thức còn tồn tại...............................................................14
2. Định hướng ưu tiên..........................................................................16
V. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ
QUYỀN CON NGƯỜI TRONG CHƯƠNG TRÌNH TC LLCT-HC..........18
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................22
2
MỞ ĐẦU
Quyền con người là khát vọng và thành quả đấu tranh của nhân loại,
qua các giai đoạn phát triển, trở thành giá trị chung. Chủ trương nhất quán của
Đảng và Nhà nước Việt Nam là phấn đấu đảm bảo ngày càng tốt hơn các
quyền con người cho mọi người dân. Công cụ hiệu quả nhất cho việc bảo vệ
quyền con người chính là hệ thống pháp luật. Chỉ thơng qua việc thể chế hóa
thành luật, quyền con người mới được bảo đảm và bảo vệ tốt nhất.
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm
2011) với các hiến định mang tính đổi mới đột phá về quyền con người đã và
đang được triển khai thi hành tích cực, góp phần thúc đẩy sự phát triển của
đất nước. Thế nhưng, các thế lực thù địch cho rằng “bản Hiến pháp mới là
“bước thụt lùi của lịch sử”, “không tuân thủ các công ước quốc tế quyền con
người…”
Mấy năm gần đây, quyền con người được đưa vào nội dung chương
trình một số bậc học, nhất là nội dung trong Chương trình cao cấp lý luận
chính trị và Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính. Đây được coi là một
trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiểu biết của đội ngũ cán bộ,
công chức trong hệ thống chính trị của nước ta. Tuy nhiên, cơng tác này cịn
nhiều hạn chế, nhất là trong Chương trình Trung cấp lý luận Chính trị - Hành
chính, như, thời lượng giành cho chuyên đề quyền con người cịn ít, tài liệu
tham khảo ở các Trường Chính trị khơng nhiều, giảng viên chưa có nhiều kinh
nghiệm trong giảng dạy chuyên đề này… Là một giảng viên tác giả nhân thấy
đây là vấn đề có tính cấp thiết và quan trọng trong công tác nâng cao chất
lượng dạy và học tại Nhà trường. Với mục đích có cái nhìn toàn diện và sâu
sắc hơn đối với bản thân về vấn đề này, tác giả chọn chủ đề: “Quyền con
người và giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy chuyên đề này ở trường
Chính trị tỉnh Bắc Giang” làm bài thu hoạch hết môn lý luận và pháp luật về
quyền con người trong Chương trình học Lớp hồn chỉnh cao cấp lý luận
chính trị.
3
NỘI DUNG
I. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
1. Khái niệm quyền con người
Quyền con người là những giá trị thiêng liêng, cao quý kết tinh từ nhiều
nền văn hóa, văn minh của các dân tộc trên thế giới. Trải qua q trình đấu
tranh của lồi người nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, cùng với sự phát
triển của xã hội, tư tưởng về tự do, về bình đẳng, ý thức về quyền con người,
quyền làm người đã trở thành động lực to lớn trong các cuộc đấu tranh chống
áp bức, bóc lột và bất cơng xã hội. Tuy nhiên, quyền con người là khái niệm
đa diện, có nhiều cách hiểu và cách tiếp cận khác nhau.
Dưới góc độ tơn giáo, đạo đức
Dưới góc độ pháp lý
Do sự khác biệt về hồn cảnh lịch sử, trình độ phát triển kinh tế, xã hội,
chế độ chính trị, giá trị truyền thống, văn hóa dân, nên cách tiếp cận về quyền
con người rất khác nhau giữa các quốc gia, châu lục. Vì thế, khái niệm quyền
con người cịn có nhiều cách hiểu khác nhau và đến nay chưa có một định
nghĩa chính thức nào về quyền con người đúng cho mỗi quốc gia, dân tộc và
đúng cho mọi thời đại.
Trong bản Tuyên bố Viên và Chương trình hành động (1993) định nghĩa:
Quyền con người và tự do cơ bản là quyền bẩm sinh của mọi người được hưởng;
việc thúc đẩy và bảo vệ quyền đó là trách nhiệm trước tiên của Chính phủ.
Quyền con người là những gì bẩm sinh của con người mà nếu khơng
được bảo đảm thì chúng ta sẽ không thể nào sống như một con người (Liên
hợp quốc: Hỏi đáp về Quyền con người, 2006)
Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ
các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm
tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người
(Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về Quyền con người, OHCHR, 2006)
Quyền con người là sức mạnh của ý chí để đảm bảo và bảo vệ chân
giá trí con người bằng luật pháp chứ khơng hồn tồn phụ thuộc vào ý
thức, hồn cảnh hay sự ưu đãi (CEDAW-Thiết lập lại quyền phụ nữ, 2006)
4
Quyền con người (nhân quyền) là một vấn đề rộng lớn, phức tạp, nên
ln có nhiều cách hiểu khác nhau. Kế thừa nhận thức chung và quan điểm
mácxit, có thể hiểu quyền con người như sau: Quyền con người là quyền của
tất cả mọi người; đó là những nhu cầu xuất phát từ nhân phẩm vốn có của con
người, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Các khái niệm nhân phẩm, bình đẳng, tự do, khơng phân biệt đối xử,
nhân đạo, khoan dung... là những khái niệm gắn liền với quyền con người, tạo
thành nền tảng thúc đẩy sự phát triển quyền con người.
2. Nguồn gốc của quyền con người.
Quyền con người được hình thành từ 2 nguồn gốc, tự nhiên và xã hội.
+ Về mặt lịch sử, nhân quyền được nhận thức và thúc đẩy từ thực tiễn
bị áp bức, tước đoạt quyền trong các xã hội có giai cấp, khi đó, nhân quyền
chỉ tồn tại trong xã hội có giai cấp và mất đi khi giai cấp và điều kiện tồn tại
giai cấp khơng cịn.
+ Theo nghĩa rộng, nhân quyền bắt nguồn từ phẩm giá vồn có của con
người. Phẩm giá con người làm nảy sinh nhu cầu về quyền con người. Nhưng
chỉ những nhu cầu nào được xã hội ghi nhận, bảo vệ mới trở thành quyền. Với
ý nghĩa này, nhân quyền tồn tại lâu dài, gắn liền với sự tồn tại của con người
và tiến trình văn minh của nhân loại.
+ Tư tưởng nhân quyền gắn liền với sự ra đời nhà nước và pháp luật;
được kế thừa, phát triển liên tục qua các phương thức sản xuất và chế độ xã
hội. Tư tưởng nhân quyền được thể hiện trong triết học, chính trị học, pháp
luật và luật lệ tôn giáo, cả ở phương Đông và phương Tây.
Trong thời kỳ cách mạng tư sản, nhân quyền có bước tiến nhảy vọt cả
về nhận thức, quy định pháp luật cũng như trên thực tê. Các tư tưởng lớn đã
bàn sâu về quyền con người và các điều kiện bảo đảm quyền; như
Môngtexkio bàn về phân chia quyền lực, Rútxo bàn về quyền lực của nhân
dân...Những tư tưởng này đã tác động lớn đến các cuộc cách mạng tư sản,
điều này được khảng định trong các văn kiện nhân quyền nổi tiếng: luật về
các quyền của Anh (1689), Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ (1776); Tuyên ngôn
Nhân quyền và Dân quyền Pháp (28/6/1789)....;
5
Các nhà tư sản đã có những đóng góp nhất định vào sự hình thành và
phát triển lý luận về quyền con người hiện đại; trong đó có cơ chế bảo vệ
quyền con người và điều kiện cho sự phát triển xã hội, như “nhà nước pháp
quyền”, “xã hội công dân”...Nhờ đó khách quan đã tao ra tiền đề chính trị,
kinh tế, xã hội cho việc bảo đảm các quyền con người.
3. Đặc trưng cơ bản của quyền con người.
- Tính phổ biến và đặc thù: Quyền con người áp dụng bình đẳng cho mọi
thành viên gia đình nhân loại, không phân biệt đối xử. Quyền công dân chịu tác
động của các yếu tố đặc thì về lịch sử, truyền thống chính trị, pháp lý, văn hóa.
- Tính khơng thể chuyển nhượng: không thể đem ra mua bán, thương
thuyết, ban phát, rút lại, tước đoạt. Nó thuộc sở hữu vốn có của mỗi người bất
kể địa vị của họ trong nền văn hóa, hệ thống pháp luật.
- Tính khơng thể phân chia: Các quyền con người, quyền cơng dân đều
có giá trị như nhau; không quyền nào quan trọng hơn quyền nào.
- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: các quyền con người, quyền công
dân là một tổng thể không thể tách rời, quan hệ phụ thuộc và tác động lẫn
nhau. Sự vi phạm một quyền nào đó sẽ tác động tiêu cực đến các quyền khác
và ngược lại.
Nhìn các quyền nhìn một cách tổng thể: chính trị, dân sự, kinh tế, xã
hội, văn hóa.
4. So sánh giữa quyền con người và quyền công dân
- Những điểm giống nhau:
Một là, đều phản ánh nhu cầu và lợi ích khách quan, xuất phát từ con
người, từ phẩm giá vốn có của mỗi người.
Hai là, cả hai đều tập trung vào “quyền”.
Ba là, trong nhiều trường hợp quyền con người và quyền cơng dân có
tên gọi giống nhau và nội hàm được bảo vệ như nhau.
Bốn là, chế định quyền con người, quyền công dân là nội dung cốt lõi
của các Hiến pháp dân chủ và do đó đều là nghĩa vụ của Nhà nước và một số
chủ thể khác trong xã hội.
6
- Những điểm khác
QUYỀN CON NGƯỜI
QUYỀN CÔNG DÂN
Lịch
sử Xuất hiện từ trong các nền văn Gắn với lịch sử lập hiến của cách
hình thành minh cổ đại
mạng tư sản.
Cơng
cụ Luật quốc tế và luật quốc gia
Luật quốc gia
ghi nhận
Tính chất
Tự nhiên, bẩm sinh, vốn có, Do nhà nước thừa nhận thông
độc lập với nhà nước, không do qua Hiến pháp và pháp luật
lực lượng nào ban phát
Phạm vi áp Áp dụng toàn cầu; mang giá trị Áp dụng trong phạm vi lãnh thổ;
dụng
phổ biến
không giống nhau giữa các quốc
gia.
Chủ
thể Mọi thành viên trong gia đình Chỉ có người có quốc tịch của
của quyền nhân loại
quốc gia
Chủ thể có Nhà nước có nghĩa vụ chính. Nhà nước có nghĩa vụ chính.
nghĩa vụ
Ngoài ra là các tổ chức quốc tế, Ngoài ra là các doanh nghiệp,
các doanh nghiệp, cộng đồng, cộng đồng, cá nhân…cùng có
cá nhân,… cùng có nghĩa vụ
nghĩa vụ.
Cơ chế bảo Các cơ chế quốc tế (Liên hợp Chủ yếu là cơ chế quốc gia: Tòa
vệ
quốc, các điều ước quốc tế) và án và các cơ quan tư pháp khác,
cơ chế quốc gia.
các cơ quan thanh tra, các tổ
chức chính trị, xã hội, nghệ
nghiệp.
II. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ
QUYỀN CON NGƯỜI.
Kế thừa những nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, xuất phát từ
quan điểm Mácxit, từ thực tiễn Việt Nam và thế giới, Đảng, Nhà nước đã xác
định một số quan điểm cơ bản về vấn đề quyền con người:
1. Quyền con người là giá trị chung của nhân loại.
- Quyền con người khởi nguồn từ phẩm giá con người. Quyền con người
có nội dung phong phú như ngày nay là thành quả chung của nhân loại. Lịch sử
cho thấy, tư tưởng và thực tiễn bảo vệ nhân quyền là đóng góp chung của mọi
dân tộc, mọi thời kì lịch sử. Quyền con người vừa là sản phẩm của văn minh
nhân loại, vừa là sản phẩm của cuộc đấu tranh chống lại áp bức bóc lột.
- Ngày nay, các nguyên tắc và quy định của luật nhân quyền quốc tế
7
được xác định là mục tiêu phấn đấu của các quốc gia. Là giá trị chung nên tất
cả các dân tộc – khơng phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế,
xã hội, văn hóa đề có quyền hưởng thụ và nghĩa vụ bảo vệ, phát triển giá trị
xã hội cao quý này.
- Quyền con người là sự kết tinh của quá trình sản xuất xã hội lồi
người, tồn tại trong mọi nền văn hóa, là sản phẩm văn minh của nhân loại.
- Quyền con người (QCN) bắt nguồn và hiện thân của phẩm giá con
người. Mỗi bước tiến của lịch sử nhân loại đều đánh dấu nấc thang mới trong
nhận thức và việc hiện thực hóa các QCN.
- Tư tưởng QCN xuất hiện từ rất sớm được phản ánh trước hết qua các
học thuyết triết học, tơn giáo có nguồn gốc cả châu Á lẫn châu Âu.
- Tư tưởng QCN trong đạo Khổng, đề cao các quyền tự nhiên của con
người, khích lệ sự khoan dung và lòng nhân ái.
- Hiến chương Magna Carta (1215, Anh) đã đưa ra các nguyên tắc cơ
bản để thực thi pháp quyền, dân chủ và bình đẳng; Tun ngơn độc lập của
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776) nhấn mạnh đến quyền sống, quyền tự do và
quyền dân tộc tự quyết.
- Cách mạng tháng Mười Nga 1917; thuyết tam dân: Tôn Trung Sơn
(1866-1925) của các luận điểm hết sức tiến bộ: độc lập dân tộc, dân quyền tự
do, dân sinh hạnh phúc.
- Trong Chỉ thị 12/CT/TW (12/7/1992): “QCN là thành quả của cuộc
đấu tranh lâu dài của các dân tộc, các tầng lớp lao động…, qua đó QCN trở
thành giá trị chung của nhân loại”.
- Trong Chỉ thị 41/2004/CT/TTg của Thủ tướng Chính phủ: Cuộc đấu
tranh trên lĩnh vực quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc, sẽ diễn ra lâu
dài, quyết liệt.
- Chủ trương của Đảng: kế thừa và phát huy những truyền thống văn
hóa tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại.
- Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi công tác bảo đảm và thúc đẩy
các QCN là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm, là một vấn đề ưu
tiên trong mọi chính sách và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
8
2. Trong xã hội có phân chia giai cấp, quyền con người mang tính
giai cấp sâu sắc:
- Trong xã hội phân chia giai cấp, quyền con người mang tính giai cấp
sâu sắc. Bởi pháp luật luôn bị chi phối bởi các chế độ chính trị cụ thể. Nội
dung của pháp luật trước hết là nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Khi
pháp luật thừa nhận quyền của giai cấp thống trị cũng đồng thời hạn chế
quyền của giai cấp đối lập.
- Trên phạm vi quốc gia, quan điểm giai cấp thể hiện ở việc bảo vệ chế
độ xã hội và lợi ích giai cấp cầm quyền. Trên phạm vi quốc tế, tính giai cấp
của quyền con người thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa các lực lượng cách
mạng với các lực lượng phản cách mạng.
- Trong xã hội Việt Nam, tính giai cấp của quyền con người thống nhất
với tính nhân loại, tính phổ biến của quyền con người.
3. Quyền con người gắn với độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia
- Lịch sử đã cho thấy, đất nước bị nơ lệ thì người dân khơng thể có tự
do, nhân quyền sẽ bị chà đạp nghiêm trọng. Vì vậy, các dân tộc bị áp bức đã
kiên cường đấu tranh giành và giữ nền độc lập; quyền dân tộc tự quyết đã gắn
liền nhân quyền. Có thể nói, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là điều kiện
tiên quyết để bảo đảm quyền con người. Không có độc lập dân tộc, chủ quyền
quốc gia, khơng thể nói đến nhân quyền.
- Bảo đảm quyền con người trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm của
mỗi quốc gia. Ngày nay, nhân quyền đã được quốc tế hóa về nhiều mặt,
nhưng việc bảo đảm quyền con người chủ yếu vẫn thuộc thẩm quyền của các
quốc gia; các cơ chế nhân quyền quốc tế chỉ nhằm bổ sung chứ không thể
thay thế các cơ chế đang vận hành tại mỗi quốc gia
- Xây dựng mối quan hệ hợp tác trên phạm vi toàn thế giới: Thúc đẩy
sự khoan dung khi nói về quyền sống, quyền phát triển hoặc quyền được bất
đồng quan điểm, về việc chấp nhận sự khác biệt trong cách tiếp cận văn hóa
về QCN ở mỗi quốc gia thành viên.
4. Quyền con người là giá trị phổ biến song có tính đặc thù.
- Quyền con người là giá trị được kết tinh từ những đặc sắc trong việc
bảo vệ quyền con người của mỗi quốc gia và chính nét đặc thù của mỗi quốc
gia lại làm phong phú thêm giá trị nhân quyền.
9
- Quyền con người là giá trị phổ biến, được áp dụng bình đẳng cho tất
cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, khơng có sự phân biệt đối xử vì
bất cứ lý do gì như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, độ tuổi, thành phần xuất
thân...(ở mọi nơi, cho mọi đối tượng).
- Quyền con người có tính đặc thù: quyền con người cũng mang tính
đặc thù với mỗi quốc gia theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống
văn hóa và lịch sử.
+ Tính đặc thù của quyền con người bắt nguồn từ sự phát triển không
“đồng đều” về mọi mặt của thế giới, nên quyền con người cũng không thể
được đáp ứng như nhau giữa các quốc gia, mà luôn phụ thuộc vào trình độ
phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi nước.
+ Tính đặc thù được thể hiện rõ trong hệ thống luật nhân quyền; chẳng
hạn như việc cho phép một quốc gia bảo lưu khi tham gia công ước, hoặc có
các nghị định thư bổ sung cho một cơng ước nào đó thể hiện việc thừa nhận
sự “chưa ngang bằng” giữa các quốc gia. (Hầu hết các công ước nhân quyền
đều có những điều khiển bảo lưu (tức là thừa nhận sự khác nhau giữa các
quốc gia) nhằm thu hút sự tham gia của mọi quốc gia).
- Do sự phát triển không đều của thế giới, nên nhân quyền cũng không thể
đáp ứng như nhau giữa các quốc gia, mà ln phụ thuộc vào trình độ phát triển
của mỗi nước. Quyền con người là giá trị phổ biến, nhưng đối với các quốc gia
đang phát triển, thực hiện đầy đủ các chuẩn mực nhân quyền là một quá trình lâu
dài. Tuy nhiên khơng tuyệt đối hóa tính đặc thù, mà cần phải hướng tới sự phát
triển tiến bộ, văn minh, tôn trọng nhân phẩm của tất cả mọi người.
- Việc khẳng định tính đặc thù của quyền con người tạo cơ sở bác bỏ
mọi sự sao chép, áp đặt các mơ hình dân chủ nhân quyền; đồng thời địi hỏi
phải chủ động sáng tạo, trong đảm bảo các quyền con người phù hợp với thực
tiễn mỗi quốc gia.
5. Quyền con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội,
là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa.
- Các quan điểm tư sản đều cho rằng, quyền con người là giá trị lớn
nhất, bao trùm nhất mà nhân loại phát hiện được; thậm chí cịn nhấn mạnh đó
là mục tiêu duy nhất, cuối cùng của con người.
10
- Thực tiễn cho thấy, nhân quyền là giá trị lớn của nhân loại, nhưng đó
chỉ là một giá trị mà nhân loại đã giành được từ cuộc đấu tranh chống lại mọi
áp bức dân tộc, giai cấp. Mặc dù nhân quyền đã tạo ra bước tiến lớn lao và đó
là động lực thúc đẩy mọi q trình phát triển, nhưng nhân quyền mới tạo lập
được sự bình đẳng về mặt xã hội – tức là tất cả mọi người được bình đẳng về
cơ hội để đạt tới tự do, chứ chưa khắc phục được bất bình đẳng về mặt sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất và phân phối của cải xã hội.
- Chủ nghĩa xã hội là một xã hội lý tưởng mà nhân loại tiến bộ luôn
khát khao hướng tới, với niềm tin về một cuộc sống tốt đẹp giữa cá nhân với
nhà nước, cá nhân với xã hội và hài hòa với tự nhiên, trong đó bao trùm là
quan hệ cao đẹp giữa con người với con người. Quyền con người gắn liền với
sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người cũng tức là sự nghiệp xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, đem lại cho mỗi người tự
do đích thực và sự phát triển tồn diện mọi năng lực vốn có.
- Chế độ xã hội chủ nghĩa là xã hội luôn ý thức rõ việc nhận diện đầy
đủ những biểu hiện và nguồn gốc của bất công và tìm phương thức, biện pháp
xóa bỏ những bất cơng ấy. Đó là một trong những cách thức để tạo ra mơi
trường, điều kiện cho việc hiện thực hóa đầy đủ các quyền con người.
- Quan điểm này cũng nhằm khẳng định lại mục tiêu mà những người
cộng sản theo đuổi là xóa bỏ nguồn gốc sâu xa nhất của mọi vi phạm nhân
quyền - đó là ách áp bức dân tộc, giai câp sinh ra bởi chế độ chiếm hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất. Đồng thời xác định rõ, việc bảo đảm tối đa quyền
con người là thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu
hướng tới của các nhà nước do những người cộng sản lãnh đạo.
6. Quyền con người và quyền công dân được ghi nhận và bảo vệ
bằng hiến pháp, pháp luật.
Mọi nhu cầu hay yêu sách về quyền nếu khơng được pháp luật ghi nhận
và bảo vệ thì khơng thể có bất cứ một quyền con người nào, nó chỉ mang ý
nghĩa hơ hào, khơng có ý nghĩa thực tế.
J.Locke đã khẳng định: khơng có luật thì khơng có quyền. C.Mác
cũng coi pháp luật là kinh thánh tự do của nhân dân... Quyền con người
khi được pháp luật ghi nhận trở thành ý chí của tồn dân, buộc cả xã hội
phải phục tùng và nhà nước bảo vệ. Các văn kiện nhân quyền quốc tế luôn
11
nhấn mạnh là nhân quyền phải được bảo vệ bằng nhà nước pháp quyền,
theo các nguyên tắc pháp quyền.
Trong phạm vi quốc gia, pháp luật bảo vệ nhân quyền thể hiện ở việc
ghi nhận quyền trong pháp luật, hoàn thiện các thiết chế, bộ máy nhằm bảo vệ
ngày càng tốt hơn trên thực tế. Mặc dù luôn nhấn mạnh “quyền bẩm sinh”,
nhưng ngày nay, ở mọi quốc gia, nhân quyền đều được ghi nhận và bảo vệ
bằng các hình thức pháp luật khác nhau.
Quan điểm này là cơ sở để bác bỏ mặt phiến diện của thuyết nhân quyền tự
nhiên; khẳng định vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ nhân quyền.
7. Quyền của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm
công dân
Trong “Điều lệ tạm thời của Hội liên hiệp công nhân quốc tế năm
1864”, Các Mác đã chỉ rõ mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ: “Khơng có
quyền lợi nào mà khơng có nghĩa vụ, khơng có nghĩa vụ nào mà khơng có
quyền lợi”1.
Trên thực tế, ở bất cứ quốc gia nào, người dân cũng phải thực hiện
những nghĩa vụ nhất định, theo quy đinh của pháp luật. Điều 29 Tuyên ngôn
thế giới về quyền con người cũng ghi nhận: “Mỗi người đều có những nghĩa
vụ đối với cộng đồng mà chính trong đó nhân cách của bản thân có thể phát
triển tự do và đầy đủ”; các văn kiện nhân quyền khác cũng đều nhấn mạnh,
mỗi cá nhân trong khi được hưởng thụ các quyền cần tôn trọng tự do của
người khác và tơn trọng trật tự xã hội, lợi ích của cộng đồng.
Quan điểm này có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì chỉ ra được cách giải
quyết một trong những mối quan hệ cơ bản nhất của nhân quyền, khắc phục
được cách hiểu phiến diện, cực đoan về vấn đề nhân quyền.
Quán triệt đầy đủ các quan điểm nói trên, chắc chắn sẽ tạo ra bước phát
triển vững chắc trên lĩnh vực quan trọng này, không chỉ đảm bảo thắng lợi
trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền hiện nay, mà điều quan trọng
nhất là đem lại tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người dân Việt Nam – một
nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng và cũng là mục tiêu chủ yếu của Đảng và Nhà
nước Việt Nam.
1
C.Mác và Ph.Ăngghen: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1995, t.16, tr.25.
12
III. CHÍNH SÁCH CƠ BẢN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
1. Giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh
thổ, tạo tiền đề cho việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.
Khơng có độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia thì khơng có quyền con
người đầy đủ. Tuy nhiên tình hình chính trị xã hội bất ổn, ly khai, xung đột thì
cung khơng thể bảo đảm đầy đủ các quyền con người. Vì vậy đối với Việt
Nam độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia khơng tách rời tồn vẹn lãnh thổ,
thống nhất đất nước. Đồng thời tránh sự lệ thuộc về kinh tế, được tạo ra bởi
các cường quốc và các định chế toàn cầu.
2. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kiện toàn các
thiết chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.
Đảng chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền theo định hướng xã
hội chủ nghĩa là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện tốt nhất để bảo đảm các
quyền con người ở mỗi nước.
Trong hoàn cảnh cụ thể của đất nước hiện nay, xây dựng nhà nước pháp
quyền là nâng cao tính pháp quyền trong xây dựng các công cụ pháp lý; xây
dựng hành chính cơng theo hướng phục vụ nhân dân; trong thực tiễn hoạt
động tư pháp bảo vệ nhân dân...Nhà nước từng bước nâng cao tính minh bạch
và trách nhiệm giải trình của các cơ quan cơng quyền, đồng thời để nhân dân
có thể tham gia hiệu quả vào cơng việc chung của đất nước.
3. Phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa, bảo đảm và nâng cao sự
hưởng thụ các quyền con người.
Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng và thúc đẩy cơ chế thị
trường định hướng XHCN, nhằm tăng nhanh tiềm lực cho việc đảm bảo
quyền con người; thực hiện công bằng xã hội trong từng bước và từng chính
sách phát triển.
Sự nghiệp giáo dục, khoa học luôn được quan tâm và được coi là quốc
sách hàng đầu. Đồng thời Đảng , Nhà nước chủ trương xây dựng nền văn hóa
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, nhằm không ngừng nâng cao sự hưởng thụ
văn hóa cho mọi người dân.
13
4. Thực hành dân chủ, giữ vững ổn định chính trị, xã hội nhằm
thực hiện đầy đủ các quyền con người.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển, Đảng và Nhà nước chủ
trương tiếp tục đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội, dưới nhiều hình thức như: kết hợp
thực hiện dân chủ cơ sở với không ngừng nâng cao dân chủ hóa mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội, nhằm thực hiện ngày càng đầy đủ các quyền con người.
Q trình dân chủ hóa ở Việt Nam diễn ra tích cực song thận trọng đã
góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, hóa giải mọi xung đột...
5. Tăng cường giáo dục quyền con người cho mọi tầng lớp xã hội,
trước hết là cán bộ, công chức, viên chức các cấp.
Giáo dục quyền con người nhằm nâng cao tri thức nói chung, để người
dân tự bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền. Giáo dục nhân quyền cân hướng tới
mọi tầng lớp nhân dân, cần quan tâm giáo dục nhân quyền cho học sinh, sinh
viên, đồng bảo dân tộc thiểu số, đồng bào trong các tôn giáo. Cần giáo dục
quyền con người cho cán bộ, công chức, viên chức các cấp nhằm nâng cao
trách nhiệm của những người đại diện nhà nước trong việc bảo đảm quyền
con người.
6. Tích cực mở rộng hợp tác quốc tế về quyền con người.
Thông qua hội nhập quốc tế, làm rõ quan điểm, cách tiếp cận và thực
tiễn nhân quyền của Việt Nam, đấu tranh với các mưu đồ áp đặt dân chủ, nhân
quyền.
Với tinh thần tích cực chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia
vào một số cơ chế quốc tế và khu vực về nhân quyền; đã mở nhiều kênh đối
thoại nhân quyền, với nhiều quốc gia và tổ chức khu vực; các cuộc hội thảo
quốc tế về nhân quyền được tổ chức ở Việt Nam. Thực tiễn hợp tác quốc tế về
nhân quyền đã tạo ra nguồn lực và kinh nghiệm vào giải quyết nhiều vấn đề
như: bảo vệ, chăm sóc sức khỏe trẻ em , bình đẳng giới, bạo hành gia
đình...đồng thời giúp các đối tác hiểu rõ hơn thực tiễn bảo đảm, thúc đẩy
quyền con người ở Việt Nam.
IV. NHỮNG ƯU TIÊN VÀ CAM KẾT TRONG VIỆC TIẾP TỤC THÚC
ĐẨY VÀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM
1. Các thách thức còn tồn tại
Khuôn khổ pháp luật về quyền con người ở Việt Nam mặc dù đang
14
từng bước được kiện toàn nhưng vẫn chưa đồng bộ, một số lĩnh vực chưa theo
kịp với sự thay đổi của cuộc sống, chậm được sửa đổi, bổ sung. Năng lực xây
dựng thể chế, quản lý, điều hành, tổ chức thực thi pháp luật và việc tuyên
truyền pháp luật về quyền con người đến các ngành, các cấp, các địa phương
vẫn còn hạn chế, khiến cho việc triển khai còn khó khăn, bất cập. Bản thân
người dân chưa hiểu biết đầy đủ về các quy định của pháp luật để thực hiện
quyền của mình một cách đầy đủ và hiệu quả. Việc kiểm tra đôn đốc thực hiện
các quy định của pháp luật cịn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng có những vi phạm
chưa được phát hiện và xử lý kịp thời.
Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, chịu nhiều ảnh hưởng bất lợi từ
mơi trường bên ngồi, đặc biệt là từ cuộc suy thối kinh tế tồn cầu. Là một
nước đang phát triển, Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề thiếu hụt các
nguồn lực dành cho phát triển, đặc biệt trong việc triển khai các chính sách hỗ
trợ và bảo đảm các quyền của các nhóm yếu thế trong xã hội. Những rủi ro về
biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, mà đối tượng chịu tác động nặng nề
nhất chính là các nhóm xã hội yếu thế, đặc biệt là người nghèo, vẫn là một
thách thức không nhỏ đối với Việt Nam. Do thiếu hụt nguồn lực, tầm bao phủ
của hệ thống an sinh xã hội hiện nay còn khiêm tốn, nhất là đối với người
nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương. Phần lớn người nghèo sống ở các khu
vực nông thôn và miền núi, tham gia vào các hoạt động nông nghiệp và ít
nhận được hỗ trợ từ các loại hình bảo hiểm như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong việc thực hiện
MDGs về giảm nghèo nhưng vẫn cịn phải đối mặt với nhiều khó khăn, đặc
biệt là giải quyết vấn đề bất bình đẳng và giảm nghèo bền vững. Phần lớn
người nghèo là cư dân nông thôn và người dân tộc thiểu số. Do người dân tộc
thiểu số cư trú ở những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn về các điều kiện
sản xuất, phát triển kinh tế, giao thông, tiếp cận thị trường nên tỷ lệ hộ dân tộc
thiểu số nghèo còn chiếm khá cao. Hơn nữa, giảm nghèo hiện nay chưa bền
vững do một số hộ gia đình mặc dù đã thốt nghèo nhưng khả năng tái nghèo
rất cao do thiên tai, thời tiết, tai nạn lao động, giao thơng... Năng lực tài chính
yếu kém cùng với nguồn lực bảo trợ xã hội hạn chế khiến cho các hộ gia đình
cận nghèo dễ bị rơi trở lại cảnh nghèo đói. Bên cạnh đó, nghèo đơ thị đang
15
nổi lên là một vấn đề đáng lo ngại do dịng người di cư từ nơng thơn ra các đơ
thị ngày một tăng.
Giáo dục là lĩnh vực được Nhà nước coi trọng và đầu tư lớn, tuy nhiên
trên thực tế còn nhiều tồn tại chưa được khắc phục như sự bất bình đẳng trong
tiếp cận giáo dục, khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa thành thị và nông
thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; cải cách giáo dục trong công
tác giảng dạy và học tập, cải tiến thiết bị, cơ sở vật chất trường học… Giáo
dục về nhân quyền trong các cấp học chưa được đầu tư thỏa đáng. Trong
chương trình giáo dục phổ thơng, nội dung giảng dạy về quyền con người nói
chung và các quyền cụ thể còn sơ sài và chưa phù hợp với cấp học và độ tuổi.
Các quan niệm lạc hậu, cổ hủ vẫn cịn tồn tại khiến cho nhiều nhóm dễ
bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số
chưa ý thức và chủ động trong việc bảo vệ các quyền của chính mình. Tư
tưởng “trọng nam hơn nữ” là trở lực cho nhận thức và thực hiện bình đẳng
giới, định kiến xã hội vẫn tạo nên sự kỳ thị nhất định đối với người dân tộc
thiểu số, người khuyết tật… Những hạn chế về nguồn lực khiến việc thực hiện
các chương trình và chính sách đạt hiệu quả chưa cao, đặc biệt là trong việc
tăng cường dịch vụ hỗ trợ và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội của trẻ em,
người khuyết tật, người già…
2. Định hướng ưu tiên
Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cường cơng tác kiện tồn hệ thống pháp luật
trên nguyên tắc phát huy nhân tố con người, bảo đảm thực hiện tốt hơn các
quyền và tự do cơ bản của người dân, đảm bảo hệ thống pháp luật quốc gia
hài hòa và phù hợp với các chuẩn mực pháp luật quốc tế. Chính phủ nỗ lực
đẩy mạnh các chương trình cải cách hành chính nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tệ
quan liêu, tham nhũng, phát huy dân chủ và nâng cao hiệu lực của Nhà nước
pháp quyền, tăng cường các thể chế quốc gia bảo vệ quyền con người.
Khả năng tiếp cận với các loại hình an sinh xã hội được xếp là một
trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến mức sống của người dân.
Thực tế cho thấy việc giảm thu nhập, lạm phát và bệnh tật là ba trong số các
nguyên nhân chính làm giảm mức sống của người dân. Do đó, an sinh xã hội
là giải pháp bảo vệ cho người dân, đặc biệt là người nghèo. Trong thời gian
16
tới, Chính phủ sẽ tập trung các chính sách để tăng khả năng tiếp cận của các
nhóm yếu thế vào hệ thống an sinh xã hội, nghiên cứu khả năng phát triển loại
hình bảo hiểm nơng nghiệp.
Chất lượng giáo dục là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao
năng suất, tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu và phát triển xã hội. Nhận thức
được tầm quan trong của phát triển nguồn nhân lực, Chính phủ đã đưa ra các
chính sách quốc gia và sẽ tiếp tục đầu tư hơn nữa cho hệ thống giáo dục
hướng đến hai mục tiêu: (i) tăng tỉ lệ nhập học đúng tuổi ở mọi cấp giáo dục;
và (ii) nâng cao chất lượng giáo dục. Giáo dục về quyền con người là hướng
ưu tiên đặc biệt nhằm nâng cao nhận thức của người dân và năng lực của các
cơ quan thực thi pháp luật trong việc đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền và
tự do cơ bản của người dân.
Chính phủ ghi nhận tầm quan trọng của bình đẳng giới trong phát triển
kinh tế, xã hội thông qua việc xây dựng hai chương trình quy mơ quốc gia là
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 và Chương trình
quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2015-2020. Những chính sách này đã
khẳng định bình đẳng giới là yếu tố tiền đề để xây dựng một nguồn nhân lực
vững mạnh, cũng như đẩy mạnh chất lượng cuộc sống cho mỗi cá nhân, mỗi
gia đình và tồn xã hội. Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ tập trung các chính
sách và chiến lược nhằm tăng cường nhận thức về bình đẳng giới, thay đổi
thái độ và tư tưởng về giới vốn là định kiến trong xã hội; thúc đẩy hợp tác
quốc tế trong việc giải quyết vấn đề bình đẳng giới, đặc biệt là ở các nhóm
yếu thế và trong các lĩnh vực có tính chiến lược như giáo dục, y tế, việc làm.
Chăm sóc sức khỏe cộng đồng, hướng đến một xã hội khỏe mạnh và
được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đầy đủ cả về thể chất và tinh
thần, là một trong những hướng ưu tiên cao của Chính phủ. Nỗ lực của Chính
phủ thời gian tới sẽ tập trung vào các vấn đề: giảm tỉ lệ tử vong trẻ em, đặc
biệt là ở trẻ sơ sinh, tăng cường hiệu quả thực hiện các Chương trình tiêm
chủng mở rộng, Chiến lược dinh dưỡng quốc gia, Chiến lược quốc gia về sức
khỏe sinh sản, Chiến lược quốc gia về phịng chống HIV/AID.
Với mục đích tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực phục
vụ cho việc bảo đảm tốt hơn các quyền con người, Chính phủ Việt Nam chủ
17
trương tiếp tục tăng cường hợp tác với tất cả các quốc gia, các cơ chế và tổ
chức chuyên môn của Liên hợp quốc có liên quan đến quyền con người; tham
gia tích cực và có trách nhiệm vào cơng việc của Hội đồng Nhân quyền, hợp
tác đầy đủ và xây dựng với các Thủ tục đặc biệt, trong đó có việc xem xét tích
cực các đề nghị vào thăm; thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ đối với các
Công ước nhân quyền quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tăng cường hiệu
quả các cơ chế đối thoại song phương thường kỳ về quyền con người.
V. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ
QUYỀN CON NGƯỜI TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG CẤP
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang có nhiệm vụ chỉ đạo và tổ chức thực
hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cơng chức về lý luận chính trị-hành
chính; đường lối, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách và pháp luật
của Nhà nước; kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ về cơng tác xây dựng
Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đồn thể chính trị-xã hội; kiến
thức về pháp luật và quản lý nhà nước và các chương trình đào tạo, bồi dưỡng
khác được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh giao. Trong đó, đào tạo trung cấp lý
luận chính trị- hành chính là nhiệm vụ trọng tâm của Nhà trường.
Chuyên đề “Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về
thực hiện quyền con người” nằm trong phần học Đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước Việt Nam về các lĩnh vực của đời sống xã hội, thời lượng
04 tiết (45 phút/1 tiết).
Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang tuân thủ theo Quyết định số 1479/QĐHVCTQG ngày 21 tháng 4 năm 2014 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh về khung chương trình trung cấp lý luận chính trị - hành
chính, bước đầu nội dung bài quyền con người đã được giảng viên của Nhà
trường giảng dạy, đi sâu vào nhiều nội dung mang tính thực tiễn cao, lấy
nhiều ví dụ có tính điển hình trong nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực xã hội và
văn hóa. Trên 90% học viên tham gia lấy ý kiến phản hồi đều nhận xét tốt về
nội dung, phương pháp truyền tải và hiểu bài.
Tuy nhiên, vẫn còn một số những hạn chế như sau: Nội dung của bài
quyền con người là rất lớn, nhưng thời lượng giành cho bài này chỉ 4 tiết, như
18
vậy là khơng đủ để giảng viên đi sâu ví dụ như phần “khái niệm quyền con
người”, dẫn dắt đi đến khái niệm, phân tích khái niệm, so sánh với quyền
công dân đã hết 01 tiết, khiến giảng viên không đủ thời gian đi sâu phần
nguồn gốc và những điều kiện bảo đảm thực hiện quyền con người. Về đội
ngũ giảng viên, có 02 đồng chí thường xun giảng bài này, đều là giảng viên
không chuyên sâu về quyền con người. Tài liệu tham khảo về quyền con
người trên thư viện của Nhà trường không nhiều...
Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả mạnh dạn đề xuất một số giải
pháp cơ bản nâng cao chất lượng bài giảng quyền con người trong Chương
trình trung cấp lý luận chính trị - hành chính ở Trường Chính trị tỉnh Bắc
Giang như sau:
Một là, về bài Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về thực
hiện quyền con người: cần sửa đổi và thống nhất một số nội dung như, phần
nguồn gốc của quyền con người (phải ghi rõ có 03 nguồn gốc); phần 1.2 Quan
điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người và phần 2 Đường
lối, chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đảm bảo quyền
con người làm cho học viên dễ nhầm lẫn, nên gộp phần 1.2 và 2 lấy tên là:
Nội dung quan điểm của Đảng về quyền con người và bảo đảm quyền con
người. Bổ sung thêm nội dung của phần Đối thoại và đấu tranh trên lĩnh vực
quyền con người ở Việt Nam hiện nay.
Hai là, bám sát đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giảng viên cần thiết
kế bài giảng phù hợp với người học.
Giảng viên nghiên cứu kỹ, chủ động biên soạn bài giảng một cách khoa
học, hợp lý, theo nguyên tắc bám sát nội dung chương trình và phù hợp với
đối tượng, nhằm vừa đảm bảo việc học tập ở lớp, vừa hướng dẫn cho học viên
tự học, nghiên cứu ở nhà có hiệu quả. Thơng qua đó phát huy được tính tích
cực, chủ động sáng tạo trong quá trình tìm hiểu, nắm bắt và đào sâu thông tin,
kiến thức chuyên ngành của mỗi lĩnh vực chính trị và xã hội của học viên. Cách
tiếp cận dựa trên quyền con người và cả kiến thức nhân quyền được lồng ghép
trong cách tiếp cận, phương pháp và kiến thức chuyên ngành chính trị và xã hội
sẽ làm cho các lĩnh vực chính trị và xã hội thấm đẫm đặc điểm “vì con người”,
do đó sống động hơn, và có tính hướng dẫn thực tế hiệu quả hơn.
19
Ba là, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cần mở thêm nhiều
lớp tập huấn về từng nội dung chuyên sâu về quyền con người kết hợp đi
nghiên cứu thực tế ở những nơi quyền con người dễ bị xâm phạm (các trại
giam) cho đội ngũ giảng viên của Nhà trường giảng dạy chuyên đề này.
Bốn là, Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang cần liên hệ mua thêm nhiều
sách chuyên khảo về quyền con người của Viện Nghiên cứu quyền con người
thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, của Khoa Luật thuộc Đại
học quốc gia Hà Nội và của Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm
khoa học xã hội Việt Nam, để có thể nắm vững được những kiến thức nhân
quyền. Nâng cao và mở rộng nhiều kiến thức mới về quyền con người.
Năm là, chú ý liên hệ với thực tiễn trong nước và quốc tế, với đường
lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của của Đảng, Nhà nước.
Đối với mỗi vấn đề thực tiễn, khi giảng dạy cần giúp học viên nhận
thức, lý giải vấn đề một cách khách quan, tồn diện, biết đánh giá vấn đề từ
các góc nhìn đa chiều, biết gắn thực tiễn với lý luận trong nước và quốc tế.
Nhờ đó, giúp họ ý thức sâu sắc hơn về các vấn đề chính trị, xã hội thường gắn
với nhân quyền; và vấn đề nhân quyền, tuy là một vấn đề cơ bản, có tính
thường trực trong mỗi cá nhân và cộng đồng, song quá trình giải quyết vấn đề
đó và bảo đảm quyền con người, ln phải gắn với các vấn đề khác trong đời
sống chính trị và xã hội có tính thực tiễn của Việt Nam trong bối cảnh quốc tế
hiện nay.
20
KẾT LUẬN
Quyền con người là giá trị chung của nhân loại; Con người vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước. Nhà nước Việt Nam
thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển
bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp cơng nghiệp hóa và hiện đại hóa đất
nước. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam nhằm phấn đấu
cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”,
tất cả vì con người, cho con người.
Trong bối cảnh của một thế giới đa dạng hệ tư tưởng và các nền văn
hóa dẫn đến có nhiều sự khác biệt về quan điểm, về cách thức hiện thực hóa
các quyền con người thì việc giáo dục quyền con người theo quan điểm của
Đảng cần được được đề cao nhằm qua đó giúp các cấp, các ngành, các địa
phương giải quyết thỏa đáng nhiều vấn đề nhân quyền phức tạp.
Nâng cao chất lượng bài giảng về quyền con người cho đội ngũ giảng
viên trong Chương trình trung cấp lý luận chính trị- hành chính ở Trường Chính
trị tỉnh Bắc Giang hiện nay là vấn đề hết sức quan trọng, khơng những góp phần
bổ sung và nâng cao kiến thức về nhân quyền cho học viên theo quan điểm của
Đảng, mà còn là tiền đề nâng cao thái độ chính trị cho độ ngũ cán bộ, cơng chức
trong tồn tỉnh, đáp ứng u cầu nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn đẩy mạnh
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước.
Đối với tác giả hiện đang cơng tác giảng dạy tại Trường Chính trị tỉnh Bắc
Giang, qua nghiên cứu môn học lý luận và pháp luật về quyền con người thấy
được rằng đây là những chuyên đề rất có ý nghĩa, thiết thực. Thông qua phương
pháp giảng dạy và nội dung bài học các thầy, cô truyền đạt, bản thân lĩnh hội
được nhiều vấn đề mới trong phương pháp giảng dạy, cách tiếp cận vấn đề cùng
những kiến thức thực tiễn để gắn lý luận với thực hành… Đó là những kinh
nghiệm vơ cùng quý báu để tác giả nghiên cứu và vận dụng phù hợp vào
những bài giảng của mình trong Chương trình trung cấp lý luận chính trịhành chính đạt hiệu quả./.
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1992), Chỉ thị số 12 ngày 12/7/1992 của
về “Vấn đề quyền con người và quan điểm chủ trương của Đảng ta”.
2. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2010), Chỉ thị 44 ngày 20/07/2010 về
“Cơng tác nhân quyền trong tình hình mới”.
3. Bộ ngoại giao (2017), Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia.
5. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình cao cấp lý
luận chính trị: Lý luận và pháp luật về quyền con người., Nxb LLCT, H.2018
6. Học viện Chính trị chính quốc gia HCM: Giáo trình Đường lối,
chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về các lĩnh vực của đời sống xã
hội, chương trình trung cấp LLCT - HC; H; 2016
22