VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG HỒNG SƠN
TỘI CHỨA MẠI DÂM TỪ THỰC TIỄN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG HỒNG SƠN
TỘI CHỨA MẠI DÂM TỪ THỰC TIỄN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. VÕ KHÁNH VINH
HÀ NỘI - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tơi. Các kết luận nêu trong luận văn chưa được cơng bố
trong bất kỳ cơng trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn
trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 09 năm
2020 Tác giả luận văn
Đặng Hồng Sơn
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHỨA
MẠI DÂM
13
1.1.Những vấn đề lý luận chung về tội chứa mại dâm
13
1.2. Lich sử hình thành và phát triển các quy định về tội chứa mại dâm theo pháp
luật hình sự Việt Nam đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015
22
1.3.Pháp luật hình sự hình sự của một số nước về tội chứa mại dâm
29
Chương 2: PHÁP LUẬT HÌNH SỰ HIÊN HÀNH VỀ TỘI CHỨA MẠI
DÂM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1.
Quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về tội chứa mại dâm
2.2. Thực tiễn thụ áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội chứa mại dâm
tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH VỀ
TỘI CHỨA MẠI DÂM
3
5
3
5
5
5
3.1. Hoàn thiện quy định của bộ luật hình sự về tội chứa mại dâm
3.2.Tổng kết thực tiễn và hướng dẫn áp dụng pháp luật về tội chứa mại dâm
70
3.3.Các giải pháp khác bảo đảm áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội
70
chứa mại dâm
71
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
79
86
87
4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KT-XH
Kinh tế - xã hội
HĐND
Hội đồng nhân dân
UBND
Ủy ban nhân dân
GDPL
Giáo dục pháp luật
ĐCSVN
Đảng Cộng sản Việt Nam
TTHS
Tố tụng Hình sự
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TAND
Tịa án nhân dân
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
PCMD
Phòng chống mại dâm
UBTVQH
Ủy ban thường vụ Quốc hội
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
BLHS
Bơ luật Hình sự
PLPCMD
Pháp lệnh phòng chống mại dâm
5
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Đối với bất kỳ quốc gia nào trên trên thế giới, thì tệ nạn xã hội cũng là một
hiểm họa cần phải phòng, ngừa và đồng thời loại bỏ. Trong đó, có tệ nạn mại dâm là
vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng tiêu cực tới xã hội và cuộc sống của người dân. Tệ nạn
mai dâm thường gắn liền với các tệ nạn về ma túy và các tội phạm nghiêm trọng
khác (tội là cướp tài sản, tội buôn người, tội rửa tiền...), đồng thời làm mai một đi
những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam.
Trước tình hình đó, ngày 17 tháng 3 năm 2003, Ủy ban Thường vụ Quốc hội
ban hành Pháp lệnh phòng, chống mại dâm, là văn bản pháp lý quan trọng, điều
chỉnh một cách tồn diện cơng tác phịng, chống mại dâm; thể chế hóa đường lối
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cơng tác phịng, chống mại dâm,
đồng thời góp phần đảm bảo an ninh trật tự xã hội, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản
lý Nhà nước về phòng, chống tệ nạn xã hội ở nước ta. Mặt khác, chưa bảo đảm tôn
trọng quyền con người theo Hiến pháp năm 2013. Do đó việc nâng Pháp lệnh
Phịng, chống mại dâm lên thành Luật là rất cần thiết.
Từ Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2019 của Chủ tịch Ủy ban
Quốc gia về phịng chống tệ nạn xã hội; tại Thơng báo số 472/TB-VPCP ngày 25 tháng
12 năm 2018; chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại cơng văn số 606/TTg-KGVX ngày
24 tháng 5 năm 2019 để thực hiện có hiệu quả Chương trình cơng tác năm 2019 của Ủy
ban Quốc gia (ban hành kèm theo công văn số 50/PCAIDSMTMD ngày 21 tháng 3
năm 2019). Trong những tháng cuối năm 2019, tình hình tệ nạn ma túy, mại dâm,
HIV/AIDS dự báo diễn biến phức tạp, đề nghị các bộ, cơ quan, địa phương quyết liệt
triển khai các nhiệm vụ. Với trên 16 năm thực hiện Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm
năm 2003 và gần 20 năm thực hiện các Chương trình hành động phòng, chống mại dâm
các giai đoạn. Theo thống kê của Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội thuộc Bộ Lao động
-Thương binh và Xã hội cho biết, giai đoạn 2016-2020, tệ nạn mại dâm ở nước ta đã
được kiềm chế cả về tốc độ và phạm vi. Cụ thể: Số tụ
6
điểm mại dâm công cộng giảm mạnh, nhiều địa phương đã xóa bỏ hồn tồn được tình
trạng gái mại dâm đứng đường, chào mời khách nơi công cộng; giảm số cơ sở kinh
doanh dịch vụ (khách sạn, nhà hàng, nhà nghỉ, vũ trường, cơ sở karaoke...), giảm hoạt
động mại dâm trá hình dưới mọi hình thức; ngăn chặn, giảm số đối tượng tham gia hoạt
động mại dâm, đặc biệt là mại dâm trẻ em, người chưa thành niên. Theo rà sốt, báo
cáo của các cơ quan chức năng, tính đến tháng 9/2019, tồn quốc chỉ cịn 91.026 cơ sở
kinh doanh dịch vụ có điều kiện, trong đó 44.722 cơ sở lưu trú, 17.015 nhà hàng,
karaoke và massge, 531 vũ trường và các loại hình khác (khách sạn, nhà hàng, nhà
nghỉ, vũ trường, cơ sở karaoke...), số người bán dâm theo thống kê ước tính của các
tỉnh, thành phố là 11.639 người. Tuy nhiên, số thực tế có thể lớn hơn gấp nhiều lần do
đặc điểm xã hội, tính di biến động cao nên rất khó khăn trong việc thống kê và tính đến
nay đã có 41 tỉnh, thành phố đã triển khai xây dựng thí điểm hoặc duy trì mơ hình can
thiệp giảm hại, phịng, chống bạo lực, tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cho
người bán dâm, bao gồm cả mơ hình triển khai tại địa phương thơng qua lồng ghép các
chương trình kinh tế - xã hội tại địa bàn cơ sở, trong đó có khoảng 3.709 người bán
dâm. Do vây, yêu cầu xây dựng Luật phòng, chống mại dâm, làm cơ sở cho việc thực
hiện các biện pháp, giải pháp về phòng, chống mại dâm cho phù hợp với thực tiễn, từng
bước nâng cao hiệu quả cơng tác phịng, chống mại dâm. Q trình xây dựng, đề xuất
dự án Luật phòng, chống mại dâm được gấp rút được thực để sớm trình ra Quốc hội
thông qua, để sớm đi vào cuộc sống.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố lớn, đóng vai trị rất
quan trọng trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế xã hội, tăng
cường hợp tác quốc tế của nước ta quan trọng nhất và là đô thị đặc biệt của Việt Nam,
cùng với thủ đơ Hà Nội. Thành phố Hồ Chí Minh có 19 quận và 05 huyện với diện tích
2
2096.56 km , theo thống kê đến năm 2019, dân số của thành phố là khoảng 09 triệu
người, nhưng thực tế hơn 13 triệu người đang sinh sống, học tập, làm việc tại đây. Với
việc tiếp nhận khoảng 200.000 người dân tăng thêm mỗi năm là thời cơ để Đảng bộ,
chính quyền và nhân dân thành phố thi đua nước rút, phấn đấu hoàn thành
7
các nhiệm vụ, chỉ tiêu của Đại hội X Đảng bộ thành phố với chủ đề năm 2019 là
“Năm đột phá cải cách hành chính và thực hiện Nghị quyết 54 của Quốc hội”.
Về cơng tác phịng, chống mại dâm, thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục triển khai
Quyết định 361/QĐ-TTg - Chương trình phịng, chống mại dâm, giai đoạn 20162020; Q trình thực hiện ln gắn với cuộc vận động “Tồn dân đồn kết xây dựng
đời sống văn hố ở khu dân cư” nên nhiều địa phương trong cả nước đã có chuyển
biến mạnh mẽ, giữ vững địa bàn không phát sinh tệ nạn mại dâm, giảm đáng kể số
xã, phường trọng điểm về tệ nạn ma túy, mại dâm. Tuy nhiên, về kết quả cơng tác
phịng, chống mại dâm chưa vững chắc, hiện cịn rất nhiều khó khăn, thách thức đặt
ra đối với cơng tác phịng, chống tệ nạn mại dâm, đặc biệt trong bối cảnh của nền
kinh tế thị trường và giao lưu, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam với
khu vực và trên thế giới, nhất là công tác thanh, kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch
vụ dễ nảy sinh tệ nan xã hội, lồng ghép cơng tác phịng, chống mại dâm với các
chương trình an sinh xã hội ở địa phương như: Chương trình xóa đói giảm nghèo;
giải quyết việc làm; phòng, chống HIV/AIDS; phòng, chống mua bán người…
nhằm nâng cao nhận thức, hạn chế nguy cơ bị mua bán, bị ép buộc làm mại dâm,
nhất là đối với nhóm lao động di cư, tìm kiếm việc làm tại thành phố.
Trong thời gian 5 năm (cụ thể là từ ngày 01/10/2014 đến ngày 30/11/2019),
Tòa án nhân dân cấp quận, huyện và Tịa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã
thụ lý giải quyết, xét xử sơ thẩm 32.056 vụ án các loại với 54.840 bị cáo (cấp quận
huyện thụ lý giải quyết, xét xử 27.971 vụ án các loại và cấp thành phố thụ lý giải
quyết, xét xử 4.085 vụ án các loại), trong đó có thụ lý giải quyết, xét xử 77 vụ, với
113 bị cáo về tội chứa mại dâm. Vì vậy, học viên quyết định lựa chọn đề tài "Tội
chứa mại dâm từ thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh" để nghiên cứu về tội
chứa mại dâm, đồng thời có những biện pháp phịng, chống loại tội phạm này trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí minh cũng như đưa ra một số giải pháp để thực hiện
những điểm mới quy định tại Điều 327 của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015.
2. Tình hình nghiên cứu
Từ tình hình tội phạm về mại dâm nên đã có nhiều cơng trình nghiên cứu liên
8
quan đến vấn đề này, các cơng trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau của các nhà
khoa học, nhà báo cho đến những người làm công tác thực tiễn áp dụng pháp luật
như: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phân, Luật sư… như:
Năm 2001 nhóm tập thể tác giả của Tòa án nhân dân tối cao là Ths. Nguyễn
Quang Lộc, PGS.TS. Trần Văn Độ, TS. Từ Văn Nhũ và Nguyễn Văn Liên đã có
cơng trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Tòa án nhân dân tối cao về "Vai trò của
Tòa án nhân dân trong việc đấu tranh phịng và chống các tội phạm về tình dục";
năm 2004 tác giả Trần Hải Âu bảo vệ đã bảo vệ Luận án tiến sĩ “Tệ nạn mại dâm
thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa”; năm 2010 tác giả Nguyễn
Hoàng Minh bảo vệ luận án “Điều tra tội phạm về mại dâm có tổ chức”; năm 2013
tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hoa đã bảo vệ luận án “Quản lý nhà nước về phòng và
chống tệ nạn mại dâm ở Việt Nam hiện nay”;
Giáo trình, sách chun khảo, bình luận có các cơng trình sau: GS.TS.Võ
Khánh Vinh, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 2001; sau đó là Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội 2003 của GS. TSKH. Lê Cảm làm chủ biên; Ths. Đinh
Văn Quế cũng đã Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần các tội phạm), và
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 2015 (Phần các tội phạm); năm 2003 tập thể tác
giả là GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm, TS. Phan Đình Khánh, TS. Nguyễn Thị Kim Liên
đã có cơng trình nghiên cứu; "Ma túy, mại dâm, cờ bạc - tội phạm thời hiện đại";
Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên) (2014), “Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam”,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
Ở
cấp độ luận văn thạc sĩ được thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc
Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam về các đề tài liên quan đến các tội chứa
mãi dâm, mơi giới mãi dâm như: Đề tài“Tình hình các tội về mại dâm trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh” của Trần Thành Nam, năm 2018…
Các đề tài và bài viết trên các báo và tạp chí chuyên ngành gồm: “Tội chứa mại
dâm, môi giới mại dâm: lý luận và thực tiễn” của TS. Đỗ Đức Hồng Hà trên Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 22 /2010; “Nghiên cứu mại dâm và di biến động nhìn từ góc
9
độ thế giới” năm 2012 Bộ Lao động Thương binh và Xã hội có cơng trình; “Hiểu
thế nào là Chứa mãi dâm 4 người trở nên" của tác giả Pham Thị n, trên Tạp chí
Tịa án nhân dân và diễn đàn nghiệp vụ trên trên Tạp chí Kiểm sát; Bài viết của tác
giả Võ Văn Tuấn Khanh trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 15, năm 2020 "Xác định
tư cách tham gia tố tụng của người mua dâm, người bán dâm trong giải quyết vụ án
hình sự";...
Ở
nước ngồi thì Tạp chí Journal of Political Economy năm 2002 đã đăng cơng
trình của hai giao sư là Giáo sư Evelyn Korn, thuộc trường Đại học Eberhard Karls
và Lena Edulund, thuộc trường Đại học Columbis với cơng trình "Một lý thuyết về
mại dâm"; năm 2011 tiến sĩ Kimberly Hoàng, tại Đại học UC Berkeley với cơng
trình "Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam".
Qua những cơng trình nghiên cứu tổng thể, cũng như việc nghiên cứu các cơng
trình khoa học liên quan đến tệ nạn mại dâm đã đưa ra trên thơng tin đại chúng thì
cơ bản đều chưa đưa ra được giải pháp phịng ngừa có hiệu quả đối với tệ nạn này
và loại trừ tệ vĩnh viễn nạn này.
Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003 đã được thi hành trên 16 năm
nhưng mới ở mức độ khiêm tốn, việc phát hiện xử lý liên quan đến loại tội phạm
này mới chỉ là phần nhỏ só với các tội phạm khác, nên một lần nữa khẳng định việc
chọn nghiên cứu đề tài: "Tội chứa mại dâm từ thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí
Minh" là cấp thiết vừa mang tính lý luận thực tiễn và có ý nghĩa khoa học đối với
việc xét xử loại tội phạm này.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ các dấu hiệu pháp lý về tội chứa mại dâm quy định trong Bộ
luật hình sự 2015 và nêu lên đánh giá tình hình tội phạm này trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh; trên cơ sở đó, phát hiện những tồn tại trong thực tiễn giải quyết, xét
xử; từ đó đề xuất các kiến nghị các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của
pháp luật về tội chưa mại dâm.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
10
- Nêu và phân tích khái niệm tội chứa mại dâm và các quy định về tội phạm này
trong luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay, từ đó
rút ra nhận xét, đánh giá.
-
Nghiên cứu tội chứa mại dâm trong luật hình sự Việt Nam 2015 và thực tiễn
áp dụng điều luật quy định về tội này, và công tác xét xử ở Thành phố Hồ Chí Minh
nhằm áp dụng chính xác các quy định của Bộ luạt Hình sự, đồng thời nêu những tồn
tại.
-
Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự
hiện hành về tội chứa mại dâm, nhằm đạt kết quả tốt trông công tác xét xử về tôi này
tại Thành phố Hồ Chí Minh và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định
của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội chứa mại dâm.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Để nghiên cứu tội chứa mại dâm từ thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh luận
văn sử dụng các quan điểm khoa học, quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp
dụng pháp luật hình sự về tội này tại Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tội chứa mại dâm dưới góc độ
pháp lý hình sự. Thực tiễn áp dụng pháp luật chỉ giới hạn ở định tội danh và quyết
định hình phạt của Tịa án nhân dân hai cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời
gian 5 năm (2015 - 2019).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của phép biện chứng
duy vật biện chứng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tội phạm và phòng ngừa
tội phạm; lý luận luật hình sự; lý luận tội phạm học.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân
tích và tổng hợp các tài liệu, cũng như phương pháp thống kê, biện chứng lịch sử,
11
phân tích, so sánh, đối chiếu, điều tra xã hội học… dựa trên số liệu thống kê trong
báo cáo giải quyết, xét xử sơ thẩm tội chứa mại dâm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh trong thời gian 5 năm (2014 - 2019) của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, những thơng tin được khai thác trên các tạp chí, trên mạng Internet nhằm
phân tích tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề cần
nghiên cứu mà đề tài đặt ra.
6.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu tội chứa mại dâm góp phần bổ sung, hồn thiện lý luận xét
xử đối với tội danh này được toàn diện, đồng thời được sử dụng trong thực tiễn khi
xét xử sơ thẩm về tội “Chứa mại dâm” của Tòa án nhân dân hai cấp tại Thành phố
Hồ Chí Minh.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở số liệu xét xử, giải quyết thực tế của Tòa án nhân dân hai cấp tại
Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian 5 năm (2014 - 2019), thì luận văn đã đánh
giá được tình hình xét xử, đồng thời đưa ra kiến nghị hoàn thiện hoàn thiện pháp
luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật hình sự Việt
Nam về tội chứa mại dâm.
8.
Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung luận văn gồm
7.
Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung và pháp luật cụ thể về tội chứa mại dâm
Chương 2: Pháp luật hình sự hiện hành về tội chứa mại dâm và thực tiễn áp
dụng pháp luật tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định về tội chứa mại dâm
12
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHÁP LUẬT CỤ THỂ VỀ
TỘI CHỨA MẠI DÂM
1.1 . Những vấn đề lý luận chung về tội chứa mại dâm
1.1.1. Khái niệm tội chứa mại dâm
Như chúng ta đã biết tội phạm là hiện tượng tiêu cực nhất trong xã hội đi
ngược lại lợi ích chính đáng của con người, của xã hội và mang tính chống đối nhà
nước. Tuỳ thuộc vào chế độ chính trị, nền kinh tế - văn hoá của mỗi nước, các quốc
gia sẽ quy định cụ thể những hành vi nào là tội phạm những hành vi nào không phải
là tội phạm.
Khái niệm tội phạm xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật,
cũng như khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng. Để bảo vệ quyền và lợi ích
của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định hành vi nào là tội phạm và áp dụng
trách nhiệm hình sự hoặc (và) hình phạt đối với người nào thực hiện hành vi đó. Do
đó, tội phạm lại mang bản chất là một hiện tượng pháp lý [57].
Trước khi tìm hiểu khái niệm về tội chứa mại dâm trong luật hình sự Việt
Nam, chúng ta đi tìm hiểu khái niệm tội phạm trong luật hình sự Việt Nam. Tại
khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 2015 đưa ra khái niệm về tội phạm như sau:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình
sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện
một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phịng,
an ninh, trật tự, an tồn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm
quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực
khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị
xử lý hình sự [39, tr.11-12].
Việc xác định các loại tội phạm trong luật hình sự Việt Nam là cơ sở để quy
định về hình phạt, song việc quy định hình phạt xét cho cùng cũng là một phần của
13
việc xác định tội phạm... Khái niệm về tội phạm là cơ sở để xây dựng các cấu thành
tội phạm cụ thể với ý nghĩa là mơ hình pháp lý của từng loại tội phạm và qua đó
cũng là cơ sở để quy định hình phạt tương tương ứng.
Tội phạm về mại dâm nói chung là hiện tượng tiêu cực, ảnh hưởng nhiều mặt
đời sống xã hội, xâm hại đến trật tự công cộng, xâm phạm đạo đức xã hội, sức khoẻ
con người, là nguyên nhân gây nên các loại bệnh xã hội nguy hiểm đặc biệt là bệnh
HIV/AIDS ảnh hưởng đến giống nòi, gây thiệt hại cho nền kinh tế và cũng là
nguyên nhân gây nên một số tội phạm khác. Các nhà khoa học, các tác giả ở Việt
Nam có cái nhìn tương đối giống nhau về tội phạm mại dâm, cụ thể như sau:
Tội phạm mại dâm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội về mua bán tình
dục, được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý xâm phạm đến trật tự công cộng, đạo đức xã hội, nếp sống
văn minh xã hội chủ nghĩa, đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người, ảnh
hưởng đến an ninh trật tự, của tác giả Trần Hải Âu: [1, tr.130].
Tội phạm mại dâm bao gồm các hành vi về hoạt động mua bán tình dục được
quy định và điều chỉnh bằng pháp luật hình sự, tội phạm mại dâm bao gồm các hành
vi sau: Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, mượn, cho mượn địa điểm, phương
tiện để mua bán dâm; môi giới mại dâm là hoạt động dụ dỗ, dẫn dắt làm trung gian
để các đối tượng gặp nhau thực hiện việc mua bán dâm; Mua dâm người chưa thành
niên: là hành vi thỏa thuận trả tiền hoặc vật chất khác để được giao cấu với người
chưa thành niên; mua bán phụ nữ, trẻ em vì mục đích mại dâm: là hành vi chuyển
giao phụ nữ, trẻ em để thực hiện hành vi mại dâm nhằm thu lợi nhuận. Của tác giả
Nguyễn Xuân Yêm [51, tr.609-610].
Tội phạm mại dâm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội liên quan đến mua
bán tình dục, được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm
hình sự thực hiện một cách cố ý xâm hại đến trật tự công cộng, đạo đức xã hội, nếp
sống văn minh xã hội chủ nghĩa, đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người, ảnh
hưởng đến an ninh xã hội, của PGS.TS Nguyễn Huy Thuật [41, tr.409].
Tội phạm mại dâm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong
14
Bộ luật Hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý
xâm phạm tới trật tự cơng cộng, an tồn cơng cộng, đến nếp sống văn minh, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm con người cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật
hình sự, của tác giả Nguyễn Hoàng Minh: [34, tr. 33].
Cùng quan điểm với các tác giả khi nói về tội phạm mại dâm, chúng tôi xác
định tội chứa mại dâm nằm trong các tội phạm về mại dâm, chúng ta nghiên cứu sâu
hơn về tội này ở các phần sau.
Bộ luật Hình sự năm 1985, thì tội phạm về mại dâm được quy định tại Điều 202
gồm ghép hai tội “Chứa mãi dâm” và “Môi giới mãi dâm”. Đến năm 1997 sửa đổi Bộ
luật hình sự lần thứ tư đã bổ sung thêm tội “Mua dâm người chưa thành niên” là Điều
202a. Quá trình áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1985, thì việc quy định hai tội chứa mãi
dâm và môi giới mãi dâm trong cùng một điều luật đã gây khơng ít khó khăn trong việc
phân hố trách nhiệm hình sự của người phạm tội, nhất là trong công tác điều tra, truy
tố và xét xử. Do yêu cầu của việc cá thể hố trách nhiệm hình sự nên Bộ luật Hình sự
năm 1999 đã tách điều luật này thành hai điều luật riêng biệt, thành Điều 254 quy định
tội “Chứa mại dâm” và Điều 255 quy định tội “Môi giới mại dâm”, đồng thời chuyển
đổi Điều 202a về tôi “Mua dâm người chưa thành niên” thành Điều
256. Về Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định về “Tội chứa mại dâm” tại Điều
327. Đồng thời Bộ luật Hình sự năm 1999 đã sửa đổi thuật ngữ “mãi dâm” lại thành
“mại dâm”
Nội dung của Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành cũng khơng đưa
ra khái niệm cụ thể như thế nào là hành vi chứa mại dâm, như vậy khái niệm về
hành vi chứa mại dâm vẫn được hiểu tại khoản 4 Điều 3 Pháp lệnh phòng chống
mại dâm ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định
“Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, cho thuê, cho mượn địa điểm, phương tiện để
thực hiện việc mua dâm, bán dâm” [53].
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam có những quan điểm đưa ra các khái
niệm về hành vi chứa mại dâm ở phạm vi khác nhau như: Chứa mại dâm là hành vi
cho thuê, cho mượn địa điểm để làm nơi tụ tập những người mua, bán dâm [31,
15
tr.562]; chứa mại dâm là hành vi tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho hoạt động
mại dâm được thực hiện [57, tr.515-519]; chứa mại dâm là hành vi cho thuê, cho
mượn địa điểm, bố trí địa điểm, bố trí gái mại dâm, tạo điều kiện cho người mua,
bán dâm, hoặc quan hệ tình dục khác hoạt động [5, tr.605-611].
Trên cở sở các văn bản pháp luật và văn bản dưới luật thì hành vi cho thuê,
cho mượn địa điểm hoặc tạo các điều kiện vật chất khác cho hoạt động mại dâm,
cũng là chứa mại dâm; Do vậy, tội chứa mại dâm là hành vi tạo điều kiện vật chất
hoặc tinh thần cho hoạt động mại dâm; do người có năng lực trách nhiệm hình sự và
từ đủ 16 tuổi trở lên cố ý thực hiện; xâm phạm đến trật tư công cộng [20, tr.12]. Tuy
nhiên Bộ luật Hình sự năm 2015 tại Điều 12 khơng quy định người đủ 14 tuổi đến
dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “chứa mại dâm” theo Điều 327
như vậy là có lợi cho người phạm tội.
Trên cơ sở các điểm trên, thì hành vi chứa mại dâm là hành vi tạo điều kiện
cho hoạt động mại dâm thực hiện có tính vụ lợi, cịn những hành vi khơng có tính
chất thương mại thì khơng coi đó là hành vi chứa mại dâm.
Do đó, từ khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự năm
2015, các quy định của Bộ luật Hình sự, Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm
2003, các quan điểm về khái niệm tội chứa mại dâm, chúng ta có thể đưa ra khái
niệm đang nghiên cứu như sau: Tội chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho
thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện để người khác thực hiện việc
mua dâm, bán dâm hoặc quan hệ tình dục khác.
Như vậy, về hành vi khách quan người phạm tội thực hiện duy nhất một hành
vi, đó là hành vi chứa chấp mại dâm với nhiều thủ đoạn khác nhau, nên hành vi
phạm tội chứa mại dâm trọng một số trường hợp cần chú ý như:
-
Chứa mại dâm là chứa việc mua dâm, bán dâm, tức là phải có cả người mua
lẫn người bán và hai người phải thực hiện việc giao cấu, hoặc quan hệ tình dục khác
bởi lẽ bán dâm là hành vi giao cấu, hoặc quan hệ tình dục khác của một người với
người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác, còn mua dâm là hành vi của
người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác
16
trả cho người bán dâm để được giao cấu hoặc quan hệ tình dục khác. Trường hợp người
có hành vi chứa người bán dâm ( gái mại dâm) một một địa điểm, còn việc mua, bán
dâm được thực hiện ở địa điểm khác không phải là địa điểm mà người phạm tội tìm
kiếm hoặc thuê, mượn để chứa mại dâm, người bán dâm ở thì người có hành
vi chứa người bán dâm không phạm tội chứa mại dâm; nếu người có hành vi như
tạo nơi ở cho gái mại dâm nhằm mục đích để bán dâm, thì hành vi này vẫn bị coi là
phạm tội chứa mại dâm; nếu người có nhà cho gái mại dâm thuê rồi giới thiệu cho
người mua dâm đến mua dâm thì hành vi “ giới thiệu đó là hành vi mơi giới mại
dâm. Ví dụ: D là chủ nhà nghỉ cho B, C và K là gái mại dâm thuê một phòng để ở
thường xun, mỗi lần có người đến mua dâm thì D báo cho một trong những gái
mại dâm thuê phòng để ở trên biết để bán dâm tại nhà nghỉ của D, thì D đã phạm hai
tội “Chứa mại dậm” và “Mơi giới mại dâm”.
-
Ngồi ra thì địa điểm mà người phạm tội sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn,
cho mượn để thực hiện việc mua dâm, bán dâm tương đối đa dạng; có thể chỉ là một
chiếc thuyền (ghe), một lều, một phòng nhỏ trong quán cà phê, nhà tắm, nhà vệ
sinh, cabin xe,…
-
Phương tiện mà người phạm tội sử dụng, thuê, cho thuê, hoặc mượn để thực
hiện việc mua dâm, bán dâm tuy không phải là địa điểm nhưng có phục vụ cho việc
thực hiện mại dâm như: Giường, chiều, chăn màn, khăn lau, thuốc kích dục…
Trường hợp cung cấp các phương tiện tránh thai như: bao cao su, thuốc tránh thai
cho người bán dâm thì cần phải phân biệt: nếu biết có việc mại dâm mà cung cấp thì
mới bị coi là chứa mại dâm, nếu biết là gái mại dâm mà cung cấp thuốc tránh thai
hoặc bao cao su còn việc thực hiện hành vi mại dâm ở đâu, vào lúc nào, người cung
cấp bao cao su khơng biết thì khơng bị coi là chứa mại dâm.
-
Trường hợp dùng tiền thuê địa điểm, trả tiền cho người bán dâm, nhưng để
người khác giao cấu với người bán dâm thì cũng coi là hành vi chứa mại dâm
-
Trường hợp chứa hai người đồng giới để họ làm tình với nhau thì khơng coi
là hành vi chứa mại dâm vì khơng có việc giao cấu.
- Trong trường hợp người chủ hoặc người được thuê làm quản lý khách sạn, nhà
17
trọ,… gọi gái bán dâm đến cho khách mua dâm ngay tại khách sạn, nhà trọ,… thuộc
quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự
về “ Tội chứa mại dâm” và “ Tội môi giới mại dâm”.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội chứa mại dâm
Khách thể của tội phạm: Là khách thể bảo vệ của pháp luật hình sự là hệ
thống các quan hệ xã hội được Nhà nước xác lập và bảo vệ bằng các quy phạm
pháp luật hình sự [58, tr.142].
Xuất phát từ khái niệm khách thể của tội phạm nói chung, có thể xác định
khách thể của tội chứa mại dâm là xâm phạm trật tự cơng cộng được luật hình sự
bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.
Tội chứa mại dâm là tội xâm phạm đến đạo đức, thuần phong, mỹ tục, đến đời
sống văn hố, trật tự trị an xã hội, nó là hành vi tác động tiêu cực đến nếp sống văn
minh, huỷ hoại nhân cách con người, gây thiệt hại về vật chất, tinh thần cho nhiều
gia đình, cá nhân, là nguyên nhân phá vỡ hạnh phúc trong mỗi gia đình, cũng như
làm phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, làm lây truyền nhiều bệnh
xã hội nguy hiểm.
Mặt khách quan của tội phạm: Được hiểu là mặt bên ngoài của tội phạm, bao
gồm các biểu hiện của tội phạm diển ra trong thế giới khách quan [58, tr.158].
Mặt khách quan của tội chứa mại dâm là những biểu hiện của tội chứa mại
dâm ra thế giới khách quan. Cụ thể người phạm tội chỉ thực hiện duy nhất một hành
vi, đó là hành vi chứa chấp việc mại dâm với các thủ đoạn khác nhau như: sử dụng,
thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua
dâm, bán dâm.
Đối với tội chứa mại dâm tuy không quy định các dấu hiệu khách quan khác là
dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, song khơng vì thế mà cho rằng các quy
định của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm ngày 17-3-2003 của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội không cụ thể, theo quy định tại Điều 3 thì: Hành vi chứa mại dâm là hành
vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện để thực hiện
việc mua dâm, bán dâm.
18
Cụ thể hóa thì Điều 3 Nghị định 178/2004 ngày 15/10/2004, quy định chi tiết
thi hành một số điều của Pháp lệnh phòng chống mại dâm hướng dẫn cụ thể: Cho
thuê, cho mượn địa điểm, phương tiện để hoạt động mại dâm, quy định tại khoản 4
Điều 3 của Pháp lệnh là hành vi của tổ chức, cá nhân có quyền quản lý, chiếm hữu,
sử dụng hoặc định đoạt tài sản mà cho thuê, cho mượn để hoạt động mại dâm;
Như vậy một số hành vi chứa mại dâm trong thực tế có thể là thiết kế phịng,
địa điểm mại dâm và các điều kiện vật chất khác phục vụ hoạt động mại dâm; việc
cho thuê, cho mượn địa điểm để thực hiện hành vi mại dâm, gái bán dâm có thể
được che mắt các nhà chức trách dưới hình thức là nhân viên, người làm thuê..., và
hành vi chứa mại dâm được hoàn thành khi chứa việc mua dâm, bán dâm, tức là
phải có cả người mua lẫn người bán và hai người phải thực hiện việc giao cấu, bởi
lẽ bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc
lợi ích vật chất khác còn mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vận
chuyển khác trả cho người bán dâm để được giao cấu.
Theo quy định tại mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày
17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của
Bộ luật Hình sự năm 1999 thì: “Trong trường hợp chủ hoặc người quản lý khách sạn,
nhà trọ... gọi gái mại dâm đến cho khách để họ mua bán dâm ngay tại khách sạn, nhà
trọ... thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của người gọi gái mại dâm thì người
đó chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về “tội chứa mại dâm”. Trong trường hợp chủ
hoặc người quản lý khách sạn, nhà trọ... vừa gọi gái mại dâm đến cho khách để họ mua
bán dâm ngay tại khách sạn, nhà trọ... thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của
người gọi gái mại dâm vừa còn gọi gái mại dâm khác cho khách mua dâm khác để họ
thực hiện việc mua bán dâm tại nơi khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về
“tội chứa mại dâm” và “tội môi giới mại dâm”
Địa điểm mà người phạm tội sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn để
thực hiện việc mua dâm, bán dâm là tương đối đa dạng; có thể chỉ là một chiếc thuyền
(ghe); một lều vó, một phịng nhỏ trong quán Cà phê, nhà tắm, nhà vệ sinh, cacbin xe,
nơi ở, nơi làm việc, nhà hàng, quán trọ... phương tiện mà người phạm tội có thể
19
sử dụng như thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn để thực hiện việc mua dâm, bán
dâm tuy không phải là địa điểm cụ thể, nhưng nó có phục vụ cho việc thực hiện
mua, bán dâm như: Giường, chiếu, chăn màn, khăn lau, thuốc kích dục... cũng như
việc cấp bao cao su, thuốc tránh thai cho người bán dâm thì trường hợp này cần phải
phân biệt như: Nếu người phạm tội biết nhằm phục vụ cho việc mua, bán dâm mà
vẫn cung cấp thì mới bị coi là chứa mại dâm, nếu biết là gái bán dâm mà cung cấp
thuốc tránh thai hoặc bao cao su còn việc thực hiện hành vi mại dâm ở đâu vào lúc
nào người cung cấp bao cao su khơng biết thì khơng bị coi là chứa mại dâm.
Thực tiễn đấu tranh chống loại tội phạm này cho thấy, người phạm tội dùng rất
nhiều thủ đoạn để hoạt động che giấu sự phát hiện của các cơ quan chức năng như
núp dưới danh nghĩa kinh doanh nhà trọ, nhà hàng, khách sạn, quán cà phê, phòng
hát Karaoke... để chứa mại dâm.
Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện các
hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm để làm nơi thực hiện mua, bán dâm. Nếu
người có hành vi chứa chấp mại dâm (Điều 327) đồng thời lại có hành vi dụ dỗ, mơi
giới mại dâm (Điều 328) thì truy cứu trách nhiệm hình sự cả tội chứa chấp mại dâm
và tội môi giới mại dâm. Về hậu quả của tội chứa mại dâm không phải là dấu hiệu
bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, nếu người có hành vi phạm tội gây ra
hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì tuỳ trường
hợp người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2, khoản 3 hoặc
khoản 4 của điều luật mà Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định.
Chủ thể của tội phạm: Tội phạm được thực hiện bởi những người có đủ năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định khi thực hiện tội phạm chứa mại dâm
từ đủ 16 tuổi trở lên. Theo chủ thể của Bộ luật Hình sự 1999, quy định tại Điều 12 thì
người người từ đủ 14 tuổi trở lên, như chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về
tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng (không phân biệt do
cố ý hay vô ý); nhưng Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 đã liệt kê các tội phạm thuộc
trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà người từ
đủ 14 tuổi trở lên, như chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình là quy
20
định mới có lợi cho người phạm tội. Trong đó khơng có Điều 327 Bộ luật Hình sự
quy định về tội “chứa mại dâm”.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải là người có năng lực chịu trách nhiệm hình
sự, tức là vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chứa mại dâm họ không mắc
bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều
khiển hành vi của mình.
Mặt chủ quan của tội phạm: Tội chứa mại dâm được thực hiện với lỗi cố ý, tức là
người thực hiện hành vi chứa mại dâm nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi chứa mại dâm và mong muốn hậu quả xảy ra
hoặc, tuy khơng mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Người phạm tội chứa mại dâm là thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đồng thời người
phạm tội biết rõ hành vi việc sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm,
phương tiện là nhằm để cho người khác thực hiện việc mua, bán dâm. Cịn trường hợp
vì một lý do nào đó trong các mối quan hệ của đời sống xã hội mà người có hành
vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện nhưng
không biết người thuê, người mượn thực hiện việc mua, bán dâm thì cũng khơng
phạm tội chứa mại dâm
Người có hành vi phạm tội chứa mại dâm phải có đơng cơ chủ yếu là nhằm mục
đích vụ lợi cá nhân, hoặc vì động cơ mục đích khác; tuy nhiên động cơ phạm tội của
nguwoif thực hiện hành vi phạm tội cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc, nhưng
việc xác định động cơ của người hành vi phạm tội cũng rất quan trọng, có ý nghĩa
đến việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội; đối với động cơ của người
phạm tội càng xấu mức hình phạt sẽ càng nặng và ngược lại
Trong tội chứa mại dâm, chủ thể có ý thức lựa chọn xử sự gây thiệt hại cho xã hội
trong khi có đủ điều kiện khơng thực hiện hành vi đó. Người phạm tội thực hiện hành
vi chứa mại dâm thì phải nhận thức được việc làm của mình là xâm phạm đến trật tự
cơng cộng, nguy hiểm cho xã hội, bị luật hình sự cấm nhưng vẫn tìm mọi cách thực
hiện. Mặt khác, tội chứa mại dâm, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu
thành tội phạm, nhưng nếu người chứa mại dâm gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất
21
nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì tuỳ trường hợp người phạm tội bị truy
cứu trách nhiệm hình sự và là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành cơ bản của tội
phạm này.
Ví dụ: Người phạm tội đã cho thuê địa điểm để mua dâm và bán dâm nhưng vì
hành vi mua dâm và bán dâm chưa thực hiện vì những lý do chủ quan hoặc khách
quan của người bán và người mua thì đây là trường hợp chứa mại dâm chưa đạt.
Vậy tội phạm này cấu thành vật chất và thời điểm hoàn thành của tội chứa mại dâm
ở dấu hiệu khách quan của tội phạm.
- Trường hợp chứa hai người đồng giới để họ làm tình với nhau thì coi là
hành
vi chứa mại dâm vì theo luật mới thì hành vi quan hệ tình dục khác cũng là hành vi
mại dâm.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển những quy định về tội chứa mại
dâm
trong luật hình sự Việt Nam đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015
1.2.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi có Bộ
luật Hình sự năm 1985
Ngày 19/8/1945 sau khi Tổng khởi nghĩa thành cơng, thì đến 02 tháng 9 năm
1945, Chủ tich Hồ Chí Minh đã đọc tun ngơn khai sinh ra Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà. Sau khi thành lập nước thì mn vàn khó khăn mà nhà nước phải
đối phó với nạn thù trong, giặc ngồi tưởng chừng khơng vượt qua nổi, với thế ngàn
cân treo sợi tóc như: Vừa phải khắc phục hậu quả của chế độ cũ, chống chọi với nạn
đói, nạn dốt, đồng thời phải vừa xây dựng đất nước vừa tổ chức kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược. Trong khi đó tệ nạn xã hội do chế độ cũ để lại như nạn cờ
bạc, ma tuý, mại dâm cần phải phải quyết, tuy các tệ nạn này phát triển khơng
mạnh, chưa có tính tổ chức và hoạt động đơn lẻ, nên thời điểm này nhà nước chủ
yêu dùng biện pháp hành chính, giáo dục, tuyên truyền thuyết phục họ để họ sửa
chữa lỗi lầm trở thành người lương thiện có ích cho xã hội.
Do phải tập trung lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chính
quyền tay sai nên từ năm 1945 đến năm 1954, Nhà nước chưa ban hành văn bản
pháp luật nào quy định trách nhiệm hình sự đối với tội chứa mại dâm.
22
Giai đoạn từ năm 1954 đến khi hồ bình lập lại năm 1975, thì Nhà nước ta
phải thực hiện 02 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng miền Bắc Xã hội chủ nghĩa và
giải phòng miền Nam, cụ thể:
Ngày 07/5/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, đã đặt dấu chấm hết
cho sự tồn tại của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới, và nhà nước ta
đã ký kết Hiệp Định Giơ Ne Vơ. Khi đó chế độ Pháp thuộc, thì tệ nạn mại dâm
khơng bị coi là tội phạm, mà cịn được chính quyền Pháp cịn cho phép gái mại dâm
hoạt động cơng khai, theo số liệu năm 1954 có 11.810 gái mại dâm chuyên nghiệp
hoạt động cơng khai, trong đó có hơn 6000 người được chính quyền cũ cấp thẻ mơn
bài, 45 nhà chứa, 55 nhà hát cô đào. Mà đất nước lại chia làm hai miền Nam - Bắc
với hai chế độ chính trị khác nhau cụ thể: Tại miền bắc tiến hành cách mạng xã hội
chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm cải tạo về căn bản cơ cấu kinh tế - xã
hội, xây dựng chế độ xã hội mới, nền kinh tế văn hóa và con người mới xã hội chủ
nghĩa, đủ sức làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh cách mạng của đồng bào
miền Nam. Tại miền nam tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,
đánh đổ ách thống trị của bè lũ đế quốc Mĩ và tay sai để giải phóng hồn tồn miền
Nam, thực hiện hịa bình thống nhất nước nhà.
Để bảo đảm trật tự xã hội, nền văn hoá của đất nước Nhà nước ta đã ban hành
những văn bản quy định cụ thể về đấu tranh và bài trừ tệ nạn mại dâm như: Nghị
quyết số 49-TVQH ngày 20 tháng 6 năm 1961 của Uỷ ban thường vụ quốc hội và
Thông tư số 121/CP ngày 09 tháng 8 năm 1961 của Hội đồng chính phủ hướng dẫn
cụ thể việc thi hành Nghị quyết số 49-TVQH.
Theo Quyết định số 129/CP ngày 08 tháng 8 năm 1964 của Hội đồng chính phủ
về cơng tác bảo vệ trật tự an ninh và để đấu tranh với tình trạng mại dâm chuyên
nghiệp đã nêu: “Vấn đề bảo vệ trật tự an ninh xã hội thời chiến. Kiên quyết tập trung
cải tạo hết những tên lưu manh chuyên nghiệp và gái điếm chuyên nghiệp” [25]. Mục
đích của quyết định này nhằm phân hóa đối tượng của tệ nạn mại dâm, đưa các đối
tượng này đi tập trung cải tạo lao động đã được nhà nước lúc khi đó quan tâm và đây là
những biện pháp hành chính nhưng rất kịp thời, đúng đắn góp phần bài trừ tệ nạn mại
23