Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

VẬN DỤNG TT HỒ CHÍ MINH VỀ dđk TẠI VNPT BT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (171.07 KB, 17 trang )

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa
thế giới, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng cộng sản Việt Nam. Toàn bộ
cuộc đời của Người dành cho cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Người đã để lại
cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta một tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý
giá - đó là hệ thống tư tưởng của Người, trong đó có tư tưởng về Đại đồn kết –
một tư tưởng nổi bật, bao trùm, xuyên suốt, nhất quán cả trong tư duy lý luận và
thực tiễn của Người.
Nhìn lại lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt
Nam ra đời năm 1930 cho đến nay, chúng ta đều nhận thấy rằng, nhờ sức mạnh của
tinh thần đại đoàn kết mà dân tộc đã liên tiếp đánh thắng mọi kẻ thù, đã làm cuộc
Cách mạng tháng Tám thành công, phá tan xiềng xích nơ lệ của thực dân Pháp và
phát-xít Nhật, lật đổ chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm trên đất nước ta, lập
nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hịa, Nhà nước cơng nơng đầu tiên ở Đơng
Nam Á. Nhờ sức mạnh của khối đại đồn kết toàn dân tộc, chúng ta đã làm nên
chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, đưa miền Bắc
tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Cũng nhờ sức mạnh của tinh thần đoàn kết, tất
cả một lịng vì lý tưởng cách mạng: Khơng có gì quý hơn độc lập, tự do. Nhân dân
ta thực hiện lời dạy của Bác Hồ “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” kết thúc
cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn
toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975, mở ra một kỷ nguyên
mới cho dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, cả
nước đi lên Chủ nghĩa xã hội. Nhờ phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân
tộc mà sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt được
những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Ngày nay, Đảng ta tiếp tục khẳng
định, đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là
động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đại đoàn kết, trong thời gian qua,
VNPT Bá Thước đã vận dụng tốt tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết vào việc
xây dựng và củng cố khối Đại đoàn kết tại cơ quan và đã đạt được nhiều kết quả


trong thực hiện nhiệm vụ được giao, với lý do đó, tơi mạnh dạn chọn đề tài “Vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đồn kết vào xây dựng, củng cố khối đoàn
kết tại VNPT Bá Thước trong giai đoạn hiện nay”.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ nội dung, quan điểm cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đồn
kết.
- Đánh giá thực trạng việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đồn kết
tại VNPT Bá Thước trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất giải pháp nhằm tiếp tục củng cố khối đoàn kết tại VNPT Bá Thước
trong giai đoạn hiện nay.

Học viên: Trịnh Duy Nhân

Lớp K13 1


3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đồn kết và giải
pháp nâng cao khối đoàn kết tại VNPT Bá Thước.
- Không gian nghiên cứu: VNPT Bá Thước – VNPT Thanh Hóa.
- Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn hiện nay (từ năm 2018 đến năm 2020 và
các giải pháp đưa ra đến năm 2025).
4. Bố cục
Đề tài gồm có 3 phần.
- Phần Mở đầu.
- Phần Nội dung
- Phần Kết luận
B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đồn kết.
Với nhãn quan chính trị sắc bén, với tinh thần nhân văn cao cả, suốt cả cuộc

đời, Hồ Chí Minh đã khơng ngừng xây dựng, hồn thiện một hệ thống quan điểm
về đại đoàn kết dân tộc, tích cực truyền bá tư tưởng đồn kết trong tồn Đảng và
các cấp chính quyền, trong các tầng lớp nhân dân, kể cả đồng bào Việt Nam ở xa
Tổ quốc.
1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về đại đồn kết dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đồn kết dân tộc là một bộ phận quan trọng
hợp thành trong hệ thống tư tưởng của Người về những vấn đề cơ bản của cách
mạng Việt Nam. Nghiên cứu toàn bộ di cảo của Người có thể nhận thấy cụm từ
“đoàn kết” được Người nhắc tới hơn hai ngàn lần và cụm từ “đại đoàn kết” được
Người nhắc tới hơn tám mươi lần, điều đó nói lên sự quan tâm đối với vấn đề đoàn
kết ở mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh của lịch sử, đồng thời tỏ rõ tầm chiến lược tư
tưởng đồn kết của Người.
Hồ Chí Minh nói nhiều tới đoàn kết, đại đoàn kết, tuy nhiên chỉ một lần duy
nhất Người định nghĩa về khái niệm đại đoàn kết: “Đại đoàn kết tức là trước hết
phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và
các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đồn kết. Nó cũng như
cái nền của nhà, cái gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, cịn phải đồn kết
các tầng lớp nhân dân khác”. Tư tưởng về đại đồn kết tiếp tục được Hồ Chí Minh
cụ thể hóa hơn trong các cụm từ như: “đại đoàn kết toàn dân”, “đoàn kết toàn dân”,
“đoàn kết dân tộc”, “toàn dân tộc ta đoàn kết”. Tuy cách diễn đạt có thể khác nhau,
nhưng nội hàm của các khái niệm trên đều thống nhất khi khẳng định lực lượng
của khối đại đoàn kết là của toàn thể nhân dân Việt Nam.
Như vậy, đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đại đồn kết
các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, đoàn
kết mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay
định cư ở nước ngoài thành một khối vững chắc trên cơ sở thống nhất về mục tiêu
chung và những lợi ích căn bản.
1.2. Vai trị của đại đồn kết dân tộc đối với cách mạng Việt Nam

Học viên: Trịnh Duy Nhân


Lớp K13 2


Khi đề cập đến vị trí, vai trị của đại đồn kết dân tộc, Hồ Chí Minh khẳng
định, đại đồn kết dân tộc là một chiến lược cơ bản, nhất quán, lâu dài, là vấn đề
sống còn, quyết định thành cơng của cách mạng. Đó là chiến lược tập hợp mọi lực
lượng nhằm hình thành và phát triển sức mạnh to lớn của toàn dân trong cuộc đấu
tranh chống kẻ thù của dân tộc, của nhân dân. Theo Người, đoàn kết làm nên sức
mạnh và là cội nguồn của mọi thành cơng: “Đồn kết là một lực lượng vơ địch của
chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”; “Đồn kết, đồn kết, đại
đồn kết; Thành cơng, thành cơng, đại thành cơng”.
Đại đồn kết dân tộc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh khơng chỉ đơn giản là
phương pháp tổ chức, tập hợp lực lượng, mà cao hơn là một bộ phận hữu cơ, một
tư tưởng xuyên suốt trong đường lối chiến lược cách mạng, Người khẳng định:
“Đoàn kết là một chính sách dân tộc, khơng phải là một thủ đoạn chính trị”. Có thể
nói đồn kết dân tộc vừa là điều kiện tiên quyết, sống còn đối với sự nghiệp cách
mạng, đồng thời là tôn chỉ, mục đích, là nhiệm vụ hàng đầu mà sự nghiệp cách
mạng cần hướng và đạt tới.
Với Hồ Chí Minh, đại đồn kết không phải là một chủ trương, một chiến
lược xuất phát từ nguyện vọng, từ ý muốn chủ quan của lực lượng lãnh đạo mà là
sự đúc kết những đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng do quần chúng tiến
hành. Nếu như xuất phát từ nhu cầu của lực lượng lãnh đạo cách mạng, đại đoàn
kết dân tộc sẽ chỉ dừng lại là một thủ đoạn chính trị nhằm đạt được mục đích, một
ý đồ nhất định. Ngược lại, nhìn nhận đồn kết dân tộc như một địi hỏi tự thân,
khách quan của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh tự giải phóng thì đại
đồn kết là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân. Do đó, trong tiến trình lãnh đạo
cách mạng, Người u cầu khơng được có bất cứ lúc nào lơ là nhiệm vụ xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc. Xây dựng khối đại đồn kết dân tộc khơng chỉ dừng lại
trong nhận thức mà được cụ thể hóa trong mọi bước đi, giai đoạn phát triển của

cách mạng, Người nói: “Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ
quốc; ta cịn phải đồn kết để xây dựng nước nhà”.
Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là một công
việc hết sức hệ trọng, to lớn và vơ cùng khó khăn. Nhiệm vụ đó chỉ có thể thành
cơng khi quy tụ được sức mạnh đồn kết của tồn dân tộc vì đồn kết mới tạo nên
sức mạnh, tạo nên lực lượng hùng hậu có thể đương đầu và chiến thắng kẻ thù.
Thực tiễn cách mạng đã trả lời giữa đoàn kết và thành cơng có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau bởi phạm vi, mức độ, quy mô của thành công trước hết phụ thuộc vào
chính quy mơ và mức độ của khối đại đoàn kết. Là người lãnh đạo tối cao cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc đồn kết khơng
chỉ tạo nên sức mạnh mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định tới việc sống còn, thành
bại, được mất trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù. Để lý giải một nước Việt Nam
nghèo nàn, lạc hậu lại có thể đương đầu và đánh bại một tên thực dân đầu sỏ có ưu
thế tuyệt đối về vật chất, phương tiện chiến tranh, Người nói: “Tồn dân Việt Nam
chỉ có một lịng: Quyết khơng làm nơ lệ, Chỉ có một ý chí: Quyết khơng chịu mất
nước, Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập
cho tổ quốc. Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng vững
chắc xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu

Học viên: Trịnh Duy Nhân

Lớp K13 3


nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã
trả lời, có đồn kết mới có thắng lợi, càng gặp kẻ thù lớn, càng khó khăn gian khổ
bao nhiêu lại cần phải đồn kết chặt chẽ, rộng rãi và vững chắc bấy nhiêu. Trong
quá trình lãnh đạo cách mạng, Người đặc biệt quan tâm tới vấn đề đồn kết vì đồn
kết là mấu chốt của thắng lợi và rút ra một bài học lớn đồng thời là quy luật mang
tính sống cịn của dân tộc Việt Nam: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta

đồn kết mn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta
khơng đồn kết thì bị nước ngồi xâm lấn”.
1.3. Lực lượng của khối đại đoàn kết dân tộc
Kế thừa và nâng tầm tư duy chính trị truyền thống của cha ông: “Nước lấy
dân làm gốc”; đồng thời thấm nhuần nguyên lý mác xít “Cách mạng là ngày hội
của quần chúng”, Hồ Chí Minh đã tìm sức mạnh và cái cẩm nang thần kì của cơng
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước ở lực lượng vơ địch của
nhân dân: “Trong bầu trời khơng có gì q bằng nhân dân. Trong thế giới khơng có
gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”.Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân,
nhân dân có một nội hàm rất rộng.Người dùng các khái niệm này để chỉ tất cả mọi
con dân của nước Việt Nam, những người được gọi là “con Lạc cháu Hồng”. Tư
tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người là đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các
giai cấp, các chính đảng, đồn thể, các dân tộc, tôn giáo, kể cả những người trước
đây lầm đường lạc lối nhưng đã biết hối cải, quay về với chính nghĩa của dân tộc.
Đồn kết trong tư tưởng của Người là đoàn kết rộng rãi, mở rộng và tranh thủ tất
cả những lực lượng và bộ phận có thể tranh thủ. Ngun tắc đồn kết rộng rãi được
dựa trên điểm tương đồng là: “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hịa bình, thống nhất,
độc lập, dân chủ, thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng
ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. “Ai có tài, có sức, có đức, có lịng phụng sự Tổ
quốc và phục vụ nhân dân thì ta đồn kết với họ”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc phải trên cơ sở lấy lợi ích
tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm nền tảng, kết
hợp hài hồ lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, bộ phận và toàn cục, giai cấp và dân
tộc, quốc gia và quốc tế. Nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc tiếp tục được
khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại
đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác”,
và sau này Người bổ sung thêm nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc là liên minh
giữa cơng nhân, nơng dân với trí thức: “Trong sự nghiệp cách mạng, trong sự
nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, lao động trí óc có một vai trị quan trọng và vẻ
vang; và cơng, nơng, trí cần phải đồn kết chặt chẽ thành một khối”.

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh ln có sự kết hợp hài hịa, quyện
chặt và nhất quán giữa yếu tố dân tộc và yếu tố giai cấp. Đoàn kết dân tộc trên cơ
sở lấy liên minh công nông làm gốc, không một lúc nào qn đi lợi ích giai cấp
song Người cũng có một tư duy vượt trước khi khẳng định chủ nghĩa dân tộc là
một động lực lớn của cách mạng Việt Nam.
Theo Người, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc chỉ được phát huy khi
tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cả dân tộc
hay tồn dân chỉ có thể tạo nên một sức mạnh to lớn, trở thành lực lượng vô địch khi

Học viên: Trịnh Duy Nhân

Lớp K13 4


được tổ chức thành một khối chặt chẽ, được giác ngộ sâu sắc về mục tiêu lý tưởng,
được định hướng bởi một đường lối chính trị đúng đắn, nếu khơng thì dù quần
chúng nhân dân có số đơng tới hàng triệu người cũng chỉ là một số đơng khơng có
sức mạnh, rời rạc.
Ngay từ khi tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã
rất lưu ý tới công tác tập hợp quần chúng, đưa họ vào những tổ chức yêu nước phù
hợp với đặc điểm của từng giới, lứa tuổi, giai cấp, tôn giáo... Bao trùm tất cả là tư
tưởng muốn thu nạp được đông đảo các tầng lớp nhân dân vào Mặt trận dân tộc
thống nhất. Mặt trận cần thu nạp được đông đảo quần chúng nhân dân, những
người ít nhiều có tinh thần yêu nước, Mặt trận cần là một tổ chức rộng rãi. Rộng
rãi nhằm thực hiện đoàn kết được nhiều tổ chức, nhiều lực lượng không phân biệt
giàu nghèo, đảng phái, xu hướng chính trị... Người nói: “Mặt trận bao gồm tất cả
những người yêu nước, không phân biệt khuynh hướng chính trị, tín ngưỡng, tơn
giáo, giai cấp xã hội, nam nữ và tuổi tác”. Do đó Mặt trận khơng chỉ thu hút được
mọi tầng lớp lao động nghèo khổ, bị áp bức, mà còn thu hút được cả tầng lớp trên
không thuộc nhân dân lao động và một bộ phận phân hóa trong hàng ngũ của kẻ

thù. Trong Mặt trận, xương sống và sức mạnh chủ yếu của khối đại đồn kết là
khối liên minh cơng nơng làm nền tảng, Người nói: “Lực lượng chủ yếu trong khối
đồn kết dân tộc là công nông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của Mặt
trận dân tộc thống nhất”.
Mối quan hệ giữa Mặt trận với liên minh công nông phản ánh về mặt tổ chức
xã hội mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc và giai cấp. Trong đó, tách biệt hoặc
nhấn mạnh một chiều vai trò của Mặt trận hoặc liên minh công nông đều không
đúng với biện chứng của đời sống cách mạng, không đúng với nguyên tắc đồn kết
của Người. Tuyệt đối hóa vai trị, vị trí của liên minh cơng nơng, hạ thấp vai trị
của Mặt trận sẽ dẫn đến cực đoan, “tả khuynh” và bệnh cơ lập, hẹp hịi. Ngược lại,
nhấn mạnh, đề cao một chiều vai trò của Mặt trận, xem nhẹ liên minh cơng nơng sẽ
dẫn tới hữu khuynh, vơ chính phủ. Người từng nói rằng: “Trong chính sách đồn
kết cần phải chống hai khuynh hướng sai lầm: cơ độc, hẹp hịi và đồn kết vơ
ngun tắc”.
Trong lực lượng phong phú của Mặt trận, Đảng Cộng sản Việt Nam được
xác định là một thành viên, bởi Đảng là bộ phận ưu tú nhất của giai cấp công nhân.
Tuy nhiên, Đảng không phải là một thành viên bình thường, mà là người lãnh đạo
của khối đại đoàn kết toàn dân. Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Đảng là
tuyên truyền, giáo dục để quần chúng giác ngộ sự cần thiết phải đoàn kết lại; chọn
lựa những hình thức, phương pháp tổ chức thích hợp để có thể thu hút rộng rãi các
lực lượng yêu nước, tiến bộ trong dân chúng; hướng dẫn khối đại đoàn kết toàn
dân đấu tranh, lao động sáng tạo theo những mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với lợi
ích thiêng liêng của dân tộc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Người cũng
nhấn mạnh quyền lãnh đạo Mặt trận khơng phải Đảng tự phong cho mình, mà phải
được nhân dân thừa nhận: “Đảng khơng thể địi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh
đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và
chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi

Học viên: Trịnh Duy Nhân


Lớp K13 5


thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành
được địa vị lãnh đạo”.
Tóm lại, lực lượng góp thành sức mạnh của đại đồn kết dân tộc là tồn dân,
trong đó lấy liên minh cơng nhân - nơng dân - trí thức làm nền tảng được tập hợp
trong một Mặt trận thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn đã trả lời
chỉ trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc này, đại đồn kết dân tộc mới có sức sống bền
vững và trường tồn.
1.4. Nguyên tắc, phương pháp thực hiện đại đoàn kết dân tộc.
Đại đoàn kết được xây dựng dựa trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối cao của dân
tộc và những lợi ích chính đáng của nhân dân lao động. Thực tiễn lịch sử đã xác
nhận, suy đến cùng, mối quan hệ giữa các tầng lớp nhân dân trở nên bền chặt hay
khơng do chính vấn đề lợi ích quy định. Ngược lại nếu không thỏa mãn những vấn
đề tối thiểu về lợi ích thì mọi khẩu hiệu về đoàn kết chỉ là những khẩu hiệu trống
rỗng. Tuy nhiên, mối quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp luôn là vấn đề hết
sức phức tạp, chồng chéo, luôn chứa đựng những yếu tố thống nhất, mâu thuẫn và
không ngừng vận động biến đổi cùng với đời sống thực tiễn.
Là một đất nước có một cơ cấu xã hội - giai cấp phong phú mang nhiều nét
đặc thù của một xã hội nửa thực dân phong kiến, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc về
nhận thức, thái độ của mỗi tầng lớp nhân dân là hết sức khác nhau, Người nhận
định: “Cố nhiên, dân chúng không nhất luật như nhau. Trong dân chúng, có nhiều
tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau.Có lớp tiền tiến, có lớp
chừng chừng, có lớp lạc hậu”. Do chính mơi trường, hồn cảnh sống khác nhau đó
nên nhận thức và hành động khơng thể nhất qn, thậm chí có những xung đột về
vấn đề lợi ích. Nhằm quy tụ sức mạnh của cả dân tộc hướng vào mục tiêu chung,
tạo nên hợp lực trong công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, Hồ Chí Minh đã
tìm kiếm, trân trọng và phát huy những yếu tố tương đồng, thống nhất để khắc chế,
giải quyết các yếu tố khác biệt, mâu thuẫn. Yếu tố tương đồng để quy tụ sức mạnh

của cả dân tộc phải phản ánh được khát vọng cháy bỏng của mọi người Việt Nam
yêu nước, đó là tinh thần: “Hy sinh tiền bạc, thời gian và cả máu vì lợi ích các dân
tộc bị áp bức; tóm lại, phải vị tha và khơng ích kỷ, phải tn thủ theo phương châm
“TỔ QUỐC TRÊN HẾT” ở mọi nơi và mọi lúc”.
Mẫu số chung của khối đại đoàn kết dân tộc, theo Người là chân lý: “Khơng
có gì q hơn độc lập tự do”. Độc lập, tự do là nội dung cơ bản về quyền thiêng
liêng, bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia dân tộc, của mỗi cá nhân, thành viên
trong dân tộc đó. Quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc là
thiêng liêng và bất khả xâm phạm của mỗi con người. Song, con người không bao
giờ là một chủ thể tách biệt xã hội, con người luôn là con người xã hội và sống
trong lịng mỗi quốc gia dân tộc cụ thể. Vì lẽ đó, quyền của con người ln gắn
liền với quyền của quốc gia, dân tộc. Con người chỉ có thể mưu cầu hạnh phúc cho
chính mình, được sống và được tôn trọng phẩm giá khi quốc gia dân tộc độc lập, tự
do. Như vậy, xác định mục tiêu phản ánh được lợi ích căn bản, cấp bách và nóng
bỏng nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam đang sống trong cảnh độc lập, tự do của
Tổ quốc bị đe dọa là phương thức quan trọng để quy tụ sức mạnh toàn dân tộc của
Người.

Học viên: Trịnh Duy Nhân

Lớp K13 6


Không chỉ dừng lại ở những khẩu hiệu chung, đối với Người, độc lập dân
tộc chỉ có giá trị khi gắn liền với tự do, hạnh phúc, với cơm no áo ấm của người
dân lao động, Người nói: “Nước độc lập mà dân khơng hưởng hạnh phúc, tự do thì
độc lập cũng chẳng có nghĩa lí gì” và “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập
khi mà dân được ăn no, mặc đủ” . Vì vậy, ngay trong những ngày đấu tranh gian
khổ của nhân dân ta, Hồ Chí Minh rất chăm lo tới đời sống cho nhân dân với
phương châm vừa kháng chiến vừa kiến quốc, từng bước nâng cao đời sống vật

chất, quyền tự do dân chủ cho đông đảo nhân dân lao động. Người luôn phấn đấu
làm cho dân thấy được giá trị và từng bước được hưởng quyền tự do dân chủ.
Người đồng thời căn dặn, mọi đường lối chủ trương của chính quyền phải phản
ánh được tâm tư nguyện vọng và lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân, chính
quyền phải thật sự vì dân, phấn đấu cho quyền lợi của nhân dân: “Việc gì có lợi
cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Chỉ với
thái độ như vậy mới thực sự lôi kéo, tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân,
phát huy cao nhất sự chủ động sáng tạo của từng người, từng bộ phận, trên mọi
lĩnh vực để đưa cách mạng tới thắng lợi.
Đại đoàn kết được xây dựng trên cơ sở đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo
dục đối với quần chúng nhân dân.Để tăng cường khối đại đồn kết dân tộc, Hồ Chí
Minh rất chú trọng tiến hành công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục quần
chúng. Công tác tuyên truyền theo Người là một khoa học, nghệ thuật cách mạng,
do vậy các tổ chức và cán bộ cách mạng phải khơng ngừng tìm tịi lựa chọn nội
dung, hình thức phù hợp để chuyển tải đường lối của Đảng một cách sâu rộng tới
nhân dân.
Muốn làm được điều đó, việc quan trọng hàng đầu đòi hỏi nội dung tuyên
truyền, giáo dục, vận động phải phản ánh đúng những nguyện vọng sâu xa và
những lợi ích cơ bản nhất của dân chúng. Ở đây có những quyền lợi, nguyện vọng
chung có thể gắn kết mọi thành viên của dân tộc nhưng cũng có những nguyện
vọng riêng phù hợp với một bộ phận dân chúng, giai cấp. Do đó, nội dung tuyên
truyền, giáo dục cần phải đáp ứng được hai yêu cầu trên. Có được nội dung tuyên
truyền, vận động đúng đắn là cần thiết, song hiệu quả tập hợp, đồn kết lực lượng
cách mạng cịn phụ thuộc vào việc sử dụng các hình thức tuyên truyền, vận động
sao cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể, và chính Người là một điển hình mẫu
mực về việc sử dụng hiệu quả các hình thức tuyên truyền, vận động quần chúng.
Trong công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng, Hồ Chí Minh đặc biệt
lưu ý giải quyết hai mối quan hệ có tính chất nền tảng, quyết định tới sức mạnh của
khối đại đoàn kết toàn dân, đó là quan hệ giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc
Việt Nam và quan hệ giữa các tôn giáo. Do những điều kiện lịch sử để lại cùng với

âm mưu chia để trị của thực dân phong kiến, mối quan hệ giữa các dân tộc trong
cộng đồng dân tộc Việt Nam, mối quan hệ giữa miền ngược và miền xi, giữa
đồng bào lương - giáo... có những rạn nứt, nghi hoặc. Người đã đấu tranh kiên trì,
bền bỉ để xóa bỏ những hiềm khích, xây dựng khối đồn kết giữa các dân tộc, trên
cơ sở lợi ích chung thống nhất của quốc gia; đoàn kết gắn liền với thực hiện quan
hệ dân tộc bình đẳng, tơn trọng, thương yêu và giúp đỡ nhau; đoàn kết trên cơ sở
tơn trọng văn hóa, phong tục, tập qn của nhau, kiên quyết chống tư tưởng dân

Học viên: Trịnh Duy Nhân

Lớp K13 7


tộc lớn, dân tộc hẹp hịi: “Đảng và Chính phủ ta ln ln kêu gọi các dân tộc xóa
bỏ xích mích do đế quốc và phong kiến gây ra, cùng nhau đồn kết chặt chẽ trên cơ
sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ” . Trong giải quyết mối quan hệ giữa các tôn
giáo, Người luôn nhấn mạnh đến những nét tương đồng, những mẫu số chung của
những giá trị chân, thiện, mỹ để hạn chế, khắc phục những khác biệt, quy tụ khối đại
đoàn kết toàn dân. Hồ Chí Minh ln đề cao, trân trọng những khía cạnh nhân bản
của đạo đức tôn giáo trong giáo lý nguyên sơ của các tôn giáo để kêu gọi mọi người
dù theo những tín ngưỡng tơn giáo khác nhau cùng đồn kết hướng tới một mục tiêu
chung: “Chúa Giêxu dạy: Đạo đức là bác ái; Phật Thích ca dạy: Đạo đức là từ bi;
Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”.
Như vậy, trong tư tưởng của Người, để không ngừng củng cố và tăng cường
khối đại đồn kết dân tộc thì cơng tác tun truyền, giáo dục, vận động quần chúng
có một vai trị, vị trí đặc biệt quan trọng. Điều cần lưu ý phải ln có một nội dung
và hình thức tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng, từng giai đoạn cách mạng
cụ thể và đặc biệt coi trọng giáo dục tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc, các tơn
giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Xóa bỏ mặc cảm, định kiến và bệnh hẹp hòi trên tinh thần độ lượng, khoan

dung là phương thức quan trọng để xây dựng đại đoàn kết dân tộc.Trải qua gần 100
năm thống trị của đế quốc nước ngoài, và xa hơn là hàng nghàn năm phong kiến
với những âm mưu thủ đoạn “chia để trị” của thực dân và thậm chí do những sai
lầm ấu trĩ của cán bộ cách mạng nên giữa một bộ phận các dân tộc, tôn giáo, giai
cấp... cịn có những khoảng cách, nghi hoặc, rạn nứt trong quan hệ. Bởi vậy, những
tàn tích của những định kiến quá khứ do đế quốc, phong kiến để lại cịn đè nặng
lên tư tưởng và tình cảm của quần chúng nhân dân. Muốn xây dựng khối đại đoàn
kết, muốn tập hợp, động viên và phát huy sức mạnh của tất cả các lực lượng, theo
Hồ Chí Minh tất yếu phải san bằng những hố sâu ngăn cách đó: “Cần phải xóa bỏ
hết thành kiến, cần phải thật thà đồn kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ,
để cùng phục vụ nhân dân”.
Muốn xóa bỏ được những thành kiến, theo Người, phải có một lịng bao
dung, biết nâng niu, trận trọng và khuyến khích mặt tốt, mặt thiện trong mỗi con
người để khơi dậy phần tốt được nảy nở như hoa mùa xuân, và phần xấu bị héo
mòn đi để họ trở về với cộng đồng dân tộc. Đối với những người có thói hư tật
xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc, cũng cần giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho
phần thiện trong họ nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời.
Chính sách khoan hồng đại độ trong tư tưởng của Người là xóa bỏ những hận thù,
định kiến và mặc cảm quá khứ trên cơ sở khai thác những yếu tố “tương đồng”, tôn
trọng những yếu tố “dị biệt”; nhân lên mẫu số chung những yếu tố tâm lý, văn hóa,
lợi ích dân tộc; khơi dậy trong tâm hồn mọi người tinh thần của những người mang
dòng máu Lạc Hồng; trân trọng cái phần thiện, dù nhỏ nhất ở mỗi con người.
Trong nhận thức của Người, có tấm lịng độ lượng sẽ có được sự cảm hóa sâu sắc:
“Sơng to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và
sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng của nó
hẹp nhỏ...”. Như vậy, có thể khẳng định, mọi tư tưởng, mọi sự sáng tạo của Hồ Chí
Minh đều xuất phát từ lịng u thương, kính trọng và tin tưởng ở con người, tin

Học viên: Trịnh Duy Nhân


Lớp K13 8


tưởng ở nhân dân. Người từng nói rằng đã là người Việt Nam thì ai cũng có ít
nhiều lịng u nước. Với tấm lòng nhân ái bao la, lòng tin vô hạn đối với nhân
dân, dân tộc, Người đã giành trọn tình yêu thương và sự tin tưởng vào khả năng
tiến bộ của con người, biết khơi dậy trong họ những khả năng tiềm tàng, thức tỉnh
và giáo dục họ đứng lên đấu tranh cho sự nghiệp chính nghĩa của quốc gia dân tộc.
Trên thực tế, quan điểm khoan dung, độ lượng và niềm tin vào nhân tính con
người đã giúp Hồ Chí Minh: “Đồn kết tất cả những người thật sự u Tổ quốc,
u hịa bình, khơng phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo nào, tầng lớp nào
và quá khứ họ đã hợp tác với phe nào.Trên nền tảng vững mạnh là lực lượng vô
địch của tối đại đa số nhân dân ta (tức là giai cấp cơng, nơng), với một cương lĩnh
rộng rãi và một chính sách đúng đắn, với sự đồn kết nhất trí của tất cả những
người xứng đáng là con Lạc cháu Hồng - Mặt trận nhất định sẽ thành công trong
việc đánh tan âm mưu Mỹ và bè lũ tay sai của chúng và thực hiện hồ bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”.
Quán triệt sâu sắc, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về
đại đồn kết dân tộc, Đảng ta khẳng định: Đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam là
sự liên kết, gắn bó tất cả các thành viên các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp,
mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người ngoài
Đảng, người đang công tác, người đã nghỉ hưu và mọi thành viên trong đại gia
đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài thành một khối vững
chắc, ổn định, lâu dài nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện
thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong khối đại đồn kết đó, giai
cấp cơng nhân, giai cấp nơng dân và tầng lớp trí thức là lực lượng nịng cốt, đơng
đảo nhất, đồng thời là cơ sở vững chắc của khối đại đoàn kết tồn dân tộc. Thơng
qua khối liên minh này, Đảng, Nhà nước có thể tập hợp, vận động các tầng lớp
nhân dân lao động khác tham gia quản lý nhà nước, làm chủ xã hội, làm cho lợi ích

giai cấp gắn chặt với lợi ích dân tộc, tạo đồng thuận cao trong xã hội. Vì vậy, Đảng
ta chỉ rõ: “Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, là
đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ
yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Hiện nay, trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng
trong giai đoạn mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn
đề chiến lược của cách mạng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã đúc kết một trong những
bài học lớn của cách mạng Việt Nam là: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn
kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đồn kết dân tộc, đồn kết quốc tế. Đó
là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta”.
II. Thực trạng thực hiện xây dựng khối đoàn kết tại VNPT Bá Thước.
1. Khái quát đặc điểm cơ quan VNPT Bá Thước.
VNPT Bá Thước là đơn vị trực thuộc VNPT Thanh Hóa, có tư cách pháp
nhân, có con dấu và tài khoản riêng; có chức năng kinh doanh và phục vụ đảng,
chính quyền và nhân dân trên địa bàn huyện Bá Thước; Cung cấp các dịch vụ viễn

Học viên: Trịnh Duy Nhân

Lớp K13 9


thông, công nghệ thông tin, truyền thông trên địa bàn huyện; Đảm bảo thông suốt
thông tin trong các sự kiện của đảng, chính quyền các cấp: phịng chống lụt bảo,
hội nghị trực tuyến với tỉnh, với trung ương...; Đảm bảo hoạt động thơng suốt, an
tồn cho các dịch vụ cơng nghệ thông tin của các cơ quan, doanh nghiệp trong hoạt
động hàng ngày.
2. Kết quả đạt được từ vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đồn kết
ở VNPT Bá Thước.

Nhận thức được sức mạnh của Đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh,
trong những năm qua, Lãnh đạo VNPT Bá Thước luôn vận dụng một cách sáng tạo
Đại đoàn kết vào thực hiện nhiệm vụ được giao. Nhờ đó đã tăng cường mối quan
hệ gắn bó bền chặt giữa Chi bộ, các tổ chức đoàn thể và cán bộ công chức, người
lao động trong cơ quan, đạt được kết quả sau.
Hằng năm, ngay từ đầu năm, Chi bộ đã phối hợp với chuyên môn tập trung
lãnh đạo đơn vị xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể sát với nhiệm vụ
chính trị được giao; lãnh đạo cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nêu cao
tinh thần trách nhiệm trong công tác, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, lề lối làm
việc, chủ động, sáng tạo và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Chi bộ xác định cơng tác giáo dục chính trị cho cán bộ, đảng viên là khâu
quan trọng, quyết định trong công tác xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh. Vì
vậy, chi bộ đã quán triệt đến từng cán bộ, đảng viên nghiêm túc nghiên cứu, học
tập nâng cao trình độ nhận thức về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất
là các nội dung Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn
chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ
Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh”. Nhờ thường xuyên quan tâm giáo dục chính trị, tư tưởng, đến nay, 100%
cán bộ, đảng viên trong chi bộ có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục
tiêu lý tưởng cách mạng, tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Chi bộ đã phối hợp với lãnh đạo chuyên môn tạo điều kiện để cán bộ, đảng
viên và quần chúng được tham gia học tập, nghiên cứu quán triệt đầy đủ, kịp thời
các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, 100% cán bộ, đảng viên, công chức, người lao
động tham gia học tập Nghị quyết, viết bài thu hoạch, đạt loại Khá trở lên và ký
cam kết phấn đấu rèn luyện, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
Chính Minh.
Trong sinh hoạt Chi bộ thực hiện nghiêm chế độ sinh hoạt, nâng cao chất

lượng sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt chuyên đề; thực hiện tốt chế
thông tin báo cáo đối với cấp trên; lưu trữ hồ sơ, tài liệu của cấp uỷ, cơng tác tài
chính Đảng, việc thu, nộp, quản lý, sử dụng Đảng phí. Quán triệt sâu sắc đến cán
bộ, đảng viên và quần chúng trong cơ quan ý thức thực hành tiết kiệm, chống tham
nhũng, lãng phí; thực hiện tự phê bình và phê bình.

Học viên: Trịnh Duy Nhân

Lớp K13 10


Đối với công tác xây dựng Đảng, chi bộ chú trọng xây dựng Ðảng trên cả 4
mặt: chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức; ln giáo dục chính trị tư tưởng cho
cán bộ, đảng viên trau dồi phẩm chất, đạo đức, lối sống, chống các biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đồng thời giữ vững kỷ luật, kỷ cương hành chính, cải
tiến, đổi mới lề lối làm việc theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tận tụy
phục vụ Nhân dân; nghiêm khắc phê bình các hành động cửa quyền, gây phiền hà.
Là chi bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ VNPT Thanh Hóa, Chi bộ đã bám sát
Nghị quyết của Đảng ủy VNPT Thanh Hóa; kết hợp cùng chuyên môn triển khai
và xây dựng các chương trình cơng tác trong năm. Đề ra chủ trương, nhiệm vụ và
biện pháp xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh. Phân công nhiệm vụ cụ thể đến
từng cán bộ, đảng viên.
Công tác phát triển đảng viên là một nhiệm vụ thường xuyên nhằm bổ sung
nguồn lực cho Đảng. Chi bộ đã thường xuyên quan tâm chỉ đạo các đoàn thể theo
dõi và bồi dưỡng giới thiệu những quần chúng ưu tú cho Đảng để tạo nguồn phát
triển đảng viên mới. Trong năm 2020, đã cử 02 quần chúng đi học lớp bồi dưỡng
kiến thức về Đảng và xem xét kết nạp cho 02 đồng chí đảng viên mới, nâng tổng
số đảng viên trong Chi bộ lên 9 đồng chí và hiện đang theo dõi và đề nghị kết nạp
Đảng cho 02 quần chúng ưu tú do Đoàn Thanh niên giới thiệu.
Phối hợp với chuyên môn tạo điều kiện cho đảng viên tham gia các phong

trào ở địa phương, giữ mối liên hệ thường xuyên trong Chi ủy nơi cư trú theo Quy
định 76 QĐ/TW. Vì thế đảng viên trong Chi bộ luôn an tâm công tác và phát huy
được năng lực sở trường, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
Chi đoàn Thanh niên VNPT Bá Thước là tổ chức trực thuộc Đồn Thanh
niên VNPT Thanh Hóa, Chi đồn hiện nay có 07 đồng chí,Trong thời qua, mặc dù
số lượng đồn viên ít nhưng Chi đồn đã đạt được những kết quả tương đối tồn diện
trên các mặt cơng tác như: BCH Đồn đã tiếp tục đẩy mạnh cơng tác giáo dục chính
trị, tư tưởng cho ĐVTN; Bám sát Chương trình cơng tác của Chi bộ, Đồn cơ sở,
BCH Chi đồn đã xây dựng kế hoạch, chương trình cơng tác tồn khố, kế hoạch
cơng tác hàng tháng, q, năm; xây dựng kế hoạch sinh hoạt Chi đoàn theo chuyên
đề, xây dựng các chỉ tiêu phấn đấu, trong đó từng bước đổi mới nội dung, hình
thức sinh hoạt; tổ chức sinh hoạt đồn gắn với nhiệm vụ chun mơn. Năm 2019,
đoàn tổ chức sinh hoạt chuyên đề với nội dung: “Trách nhiệm nêu gương của cán
bộ, đoàn viên, nhất là cán bộ đoàn viên giữ cương vị quản lý”, năm 2020 với nội
dung: “Nâng cao hiệu quả thời gian làm việc”được các đồn viên trong Chi đồn
đồng tình và ủng hộ cao; BCH Chi đồn ln quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng
của ĐVTN để đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng.
Trong giai đoạn 2018 - 2020 Đoàn đã giới thiệu 04 đoàn viên được cử đi học lớp
bồi dưỡng kết nạp Đảng; kết nạp được 02 đoàn viên ưu tú được đứng vào hàng ngũ
của Đảng, 02 quần chúng đang đề nghị Đảng ủy VNPT Thanh Hóa kết nạp; Các
hoạt động xung kích, tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng có nhiều đổi mới theo
hướng thiết thực, ý nghĩa. BCH Chi đoàn đã vận động ĐVTN tích cực tham gia
các chương trình Hiến máu tình nguyện, trong 03 năm 2018, 2019 và năm 2020,
BCH Đồn đã tổ chức qun góp ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do mua lũ ở Mường

Học viên: Trịnh Duy Nhân

Lớp K13 11



Lát và Quan Sơn với tổng số tiền là gần 20 triệu đồng và các vật dụng khác, gồm
quần áo ấm, sách vở, cặp sách; hàng năm, hưởng ứng “Tháng thanh niên”, “Ngày
mơi trường thế giới 5/6”, BCH Chi đồn tổ chức các hoạt động tình nguyện tại chỗ
về cơng tác vệ sinh môi trường, tham gia lao động dọn vệ sinh trong cơ quan vào
“Ngày thứ 7 xanh”; chăm sóc bồn hoa, cây cảnh, xây dựng cơng sở văn minh, xanh sạch - đẹp.
Tổ Cơng đồn VNPT Bá Thước gồm 15 đồn viên cơng đồn trực thuộc
Cơng đồn VNPT Thanh Hóa. Trong thời gian qua, được sự quan tâm lãnh đạo,
cấp ủy, Tổ Cơng đồn đã thực hiện tốt nhiệm vụ của tổ chức mình, ngay đầu năm,
Tổ cơng đồn phối hợp với chun mơn tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức, viên
chức đầu năm để thảo luận, bàn giải pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch
công tác; tham gia xây dựng, bổ sung quy chế dân chủ ở cơ sở; quy chế chi tiêu nội
bộ; quy chế quản lý và sử dụng tài sản công… thông qua Hội nghị, việc thực hiện
quy chế dân chủ ở cơ sở ngày càng tốt hơn, phát huy được sức mạnh tập thể trong
việc hồn thành nhiệm vụ chính trị và góp phần tạo bầu khơng khí tin tưởng, phấn
khởi, đồn kết trong cơ quan. Cơng tác chăm lo đời sống, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp, chính đáng của CBCCVCLĐ đã được tổ cơng đồn triển khai thực hiện
có hiệu quả, trong đó chú trọng việc giám sát và tham gia thực hiện các chế độ
chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động. Do đó, các chế độ, chính sách
đối với người lao động được thực hiện đầy đủ như: BHXH, BHYT v.v.., công tác
qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, luân chuyển, nâng lương cán bộ được thực
hiện dân chủ, công khai, công bằng. Ngồi ra, Tổ trưởng tổ Cơng đồn đã chủ
động phối hợp với lãnh đạo cơ quan khai thác mọi tiềm năng để tạo nguồn quỹ đời
sống, tăng thêm thu nhập ngoài lương hàng tháng cho CBCCVCLĐ và trong dịp
Lễ, Tết; tổ chức cho cán bộ, đoàn viên đi thăm quan, du lịch, trao đổi kinh nghiệm
công tác, khám sức khỏe định kỳ, động viên, thăm hỏi, trợ cấp cho đồn viên có
hồn cảnh khó khăn, có việc vui, việc buồn, …
Hoạt động xã hội của cơng đồn tiếp tục được duy trì tốt, 100% đồn viên
cơng đồn tích cực tham gia xây dựng các quỹ, hưởng ứng các cuộc vận động ủng
hộ, cụ thể: quỹ “Mái ấm Cơng đồn - Hỗ trợ đồn viên”, quỹ “Vì người nghèo”,
quỹ “Phịng chống thiên tai”, quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, ủng hộ quỹ “khuyến học”,

ủng hộ đồng bào miền núi bị thiệt hại nặng nề do lũ lụt.
3. Hạn chế, nguyên nhân
3.1 Hạn chế
Bên cạnh kết quả đạt được như trên, trong những năm qua, việc vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về đại đồn kết vẫn cịn tồn tại một số hạn chế sau.
- Trong nội bộ của đơn vị vẫn cịn những “hạt sạn” nhỏ, gây ra sự so bì, tị
nạnh lẫn nhau trong thực hiện công việc giữa các bộ phận; vẫn cịn trường hợp phê
bình mang tính chỉ trích nhiều hơn là xây dựng nội bộ, né tránh khuyết điểm, đồn
kết một chiều, bằng mặt khơng bằng lịng, nói một đằng làm một nẻo, nói trong hội
nghị khác, nói ngồi hội nghị khác, một số ít cá nhân chưa nêu cao tinh thần tập
thể, làm việc cầm chừng, miễn cưỡng, khơng tự giác, khơng hồn thành chỉ tiêu
giao...

Học viên: Trịnh Duy Nhân

Lớp K13 12


- Công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đoàn viên về tầm quan trọng của
xây dựng khối đại đoàn kết của các tổ chức đoàn thể chưa được thực hiện thường
xuyên, nội dung, phương thức hoạt động chậm đổi mới và nhiều khi mang tính hình
thức.
- Việc triển khai chương trình kế hoạch hoạt động của tổ chức đồn thể cịn
chung chung, chưa cụ thể, chưa có tính sáng tạo, chủ yếu là nhắc lại nội dung của
năm trước, nên chưa lôi cuốn được sự hưởng ứng của cán bộ, công chức và người
lao động, nhất là các phong trào có nội dung về xây dựng khối đại đoàn kết trong
cơ quan, đoàn thể.
3.2. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
- Công tác tham mưu của tổ chức đồn thể chưa hiệu quả, các nhiệm vụ,
chương trình cơng tác triển khai chưa quyết liệt, chưa bám sát nội dung chỉ đạo của

Chi bộ và tổ chức đoàn thể cấp trên.
- Vai trò của người đứng đầu trong các tổ chức đồn thể chưa phát huy được
tính chủ động, sáng tạo trong triển khai nhiệm vụ.
- Cán bộ của các tổ chức đồn thể làm cơng tác kiêm nhiệm, thường chú
trọng chun mơn mà xem nhẹ cơng tác đồn thể.
- Do hoạt động mang tính kiêm nhiệm, nên chưa phát huy được tính tự chủ
trong sử dụng kinh phí cho hoạt động.
- Chế độ sinh hoạt của các tổ chức đoàn thể trong cơ quan chưa được thường
xuyên mà đơi lúc cịn thiếu và chậm. Cơng tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đảng
viên chưa được thường xuyên, liên tục.
- Công tác tham mưu chưa thực sự chủ động, cịn lúng túng, thiếu tính sáng
tạo; thực hiện nhiệm vụ đơi khi cịn chậm tiến độ so với quy định.
Chế độ thông tin, báo cáo của các bộ phận với lãnh đạo thực hiện chưa đầy
đủ, kịp thời, thiếu cụ thể mang tính hình thức.
III. Giải pháp tiếp tục tăng cường vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về
Đại đồn kết vào xây dựng, củng cố khối đoàn kết ở VNPT Bá Thước trong
giai đoạn hiện nay.
Để hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ được giao và tiếp tục tăng cường khối
đại đoàn kết, theo cá nhân, VNPT Bá Thước cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ
bản sau:
Một là, cấp ủy cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để tồn thể cán bộ cơng
chức và người lao động trong cơ quan nhận thức sâu sắc về sự cần thiết phải tăng
cường khối đại đoàn kết gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị
về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”
và chuyên đề năm 2020 về “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng
Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh”. Nội dung tuyên truyền phải đáp ứng đúng nguyện vọng,
quyền lợi của tồn thể cán bộ, cơng chức và người lao động trong cơ quan và yêu
cầu của thực tiễn đơn vị. Tuyên truyền, vận động phải phù hợp với từng đối tượng,
dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo; để đối tượng được tuyên truyền nhận thức được.


Học viên: Trịnh Duy Nhân

Lớp K13 13


- Đoàn kết là lẽ sống, đạo lý, là một đức tính cơ bản của người cách mạng, ai
khơng có khả năng tập hợp, đoàn kết quần chúng và các đồng chí của mình thì
khơng thể làm cách mạng, khơng thể làm cán bộ.
- Đồn kết là vấn đề có tính chiến lược, quyết định cho mọi thành cơng.
- Mỗi thành viên trong cơ quan phải biết được những phẩm chất đạo đức cần
thiết cần trau dồi: cán bộ lãnh đạo phải cần, kiệm, liêm, chính; kiên quyết chống
quan liêu, tham ơ, lãng phí; chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của Chính phủ và
pháp luật của Nhà nước; đối với mỗi đảng viên, Người cho rằng, muốn làm cách
mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên... “Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau
về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng
chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên
phải thật thà đoàn kết”; phải yêu q, kính trọng, giúp đỡ. Chớ nịnh hót người trên.
Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đồn
kết. Cùng với đó, cần qn triệt, thực hiện quan điểm của Đảng: “Đại đoàn kết toàn
dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực
to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
- Mỗi thành viên trong cơ quan cần nhận thức được những tật xấu, những
căn bệnh gây chia rẽ, mất đồn kết, đó là, bệnh hẹp hòi, là chủ nghĩa cá nhân, mà
như Bác nói : “Từ hẹp hịi mà sinh ra kéo bè kéo cánh, bè phái. “Từ bè phái mà đi
đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là
hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt
cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách
dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất.
Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của

mình. Nó làm mất sự thân ái, đồn kết giữa đồng chí”. Do chủ nghĩa cá nhân mà
cán bộ, đảng viên sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa; tham danh trục lợi, thích
địa vị quyền hành; tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, xa rời
thực tế, quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán, chuyên quyền. Người chỉ rõ: “Do cá nhân
chủ nghĩa mà mất đồn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách
nhiệm, khơng chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước,
làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa
mà phạm nhiều sai lầm”.Những người có tư tưởng này, việc gì cũng nghĩ đến lợi
ích riêng, khơng lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”.
Hai là, xây dựng tinh thần tự phê bình và phê bình thẳng thắn, góp ý mang
tính chất xây dựng, tiến bộ, phát triển, giúp nhau khắc phục khuyết điểm, tự vươn
lên hồn thiện bản thân. Tự phê bình và phê bình là phương thức tốt nhất để củng
cố và phát triển khối đại đoàn kết và thống nhất, tuy nhiên, phê bình phải được
thực hiện với tinh thần “yêu thương lẫn nhau”, vì trách nhiệm chung. Xây dựng
khối đồn kết nhưng phải tránh trường hợp đoàn kết một chiều, đoàn kết hình thức.
Những hành vi lợi dụng, đấu tranh, phê bình để chỉ trích làm ảnh hưởng đến khối
đại đồn kết trong tập thể cần được chỉ ra và khắc phục. Muốn vậy, Chi ủy, Lãnh
đạo, Chi bộ, các tổ chức đồn thể, phịng, cần khuyến khích, tạo điều kiện để mọi
người phát huy dân chủ, mạnh dạn trao đổi ý kiến, qua đó, tăng cường tinh thần
trách nhiệm của các thành viên trong việc xây dựng khối đại đoàn kết.

Học viên: Trịnh Duy Nhân

Lớp K13 14


Ba là, xây dựng môi trường làm việc thân thiện cởi mở, tin cậy lẫn nhau, có
sự bao dung, rộng lượng, tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội phát triển. Trong
quan hệ giao tiếp cần bình tĩnh, tơn trọng và lắng nghe, không suy diễn chủ quan
áp đặt, độc đoán; quan tâm tạo điều kiện động viên, chia sẽ khích lệ mọi người

trong thực hiện cơng việc chung, khơng tị nạnh, so bì để tạo sự gắn kết đồng thuận,
giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ, muốn làm tốt được vấn đề này, các tổ chức đoàn
thể cần tăng cường các hoạt động giao lưu (văn nghệ, thể thao), thơng qua các hoạt
động này mà các thành viên có điều kiện gần gũi, sẻ chia những tâm tư, nguyện
vọng, những khó khăn, tạo sự tin tưởng, gắn kết.
Bốn là, xây dựng niềm tin cho đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức và
người lao động. Niềm tin thể hiện qua mối quan hệ gần gũi, tin cậy lẫn nhau. Muốn
có niềm tin, Chi ủy, Lãnh đạo đơn vị cần tiếp tục thực hiện tính cơng khai, dân chủ.
Càng dân chủ, rộng rãi, mọi người càng có niềm tin vào sự lãnh đạo, từ đó tạo
được sự đồng thuận thực hiện những chủ trương, kế hoạch mà Chi bộ, Lãnh đạo
đơn vị đề ra.
Năm là, Xây dựng khối đại đoàn kết trên cơ sở cơ sở giải quyết hài hòa
quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong cơ quan; nghĩa là, Lãnh đạo đơn vị luôn
đảm bảo công bằng và bình đẳng cho mọi thành viên trong cơ quan trong việc thực
hiện nghĩa vụ, trách nhiệm cũng như quyền lợi chính trị, quyền lợi kinh tế; chăm lo
lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của cán bộ, cơng chức và người lao động
trong đơn vị, để mỗi thành viên thấy được thành quả cơng việc của mình được lãnh
đạo ghi nhận và từ đó có động lực, niềm tin trong nhiệm vụ được giao.
Sáu là, xây dựng, tạo lập sự đồng thuận trên dưới một lòng từ tập thể Chi ủy,
Lãnh đạo, đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động cùng phấn đấu vì một mục
tiêu chung là hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao. Muốn có sự đồng lịng, đảm
bảo sự cơng bằng và bình đẳng, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp
cho đội ngũ cán bộ, công chức và người lao động trong đơn vị.
Bảy là, Cấp ủy và người đứng đầu của các tổ chức đồn thể cần tăng cường
cơng tác kiểm tra, giám sát, kiên quyết giải quyết dứt điểm hiện tượng chia rẻ, gây
mất đoàn kết trong cơ quan.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Hơn một nửa thế kỷ đã qua từ khi Bác đi xa, tư tưởng của Người vẫn luôn
đồng hành cùng Đảng, dân tộc và cách mạng Việt Nam; soi sáng, dẫn dắt toàn

Đảng, toàn dân đạt nhiều thành tựu to lớn.
Với tất cả lịng kính u và biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần đẩy
mạnh hơn nữa việc xây dựng và củng cố Đại đoàn kết, nhằm tăng cường sức mạnh
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong
sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân và của mỗi tổ chức đảng, chính quyền, đồn thể các cấp, của mỗi
người dân chúng ta.
Năm 2020 là năm diễn ra nhiều sợ kiện quan trọng của tỉnh và đất nước, đặc
biệt là năm diễn ra Đại hội Đảng các cấp, để góp phần vào thành công của Đại hội

Học viên: Trịnh Duy Nhân

Lớp K13 15


Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX nhiệm kỳ 2020 – 2025. Với ý nghĩa về mặt lý luận và
thực tiễn, tôi hy vọng đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đồn kết
vào xây dựng, củng cố khối đoàn kết tại VNPT Bá Thước trong giai đoạn hiện
nay” sẽ góp phần vào việc nâng cao và củng cố khối đại đoàn kết tại VNPT Bá
Thước trong giai đoạn hiện nay, tiếp tục phát huy đại đoàn kết, chung sức, đồng
lịng, tham mưu cho VNPT Thanh Hóa, phát động các phong trào thi đua, đổi mới
và nâng cao chất lượng thi đua, khen thưởng, góp phần xây dựng Thanh Hóa thành
tỉnh kiểu mẫu như sinh thời Bác đã căn dặn./.
Học viên

Trịnh Duy Nhân

Học viên: Trịnh Duy Nhân

Lớp K13 16



TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 17/11/1993 của Bộ Chính trị về Đại đồn
kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất;
2. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ 7 BCH
TW Đảng khóa IX về phát huy sức mạnh Đại đồn kết dân tộc vì “Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”;
3. Kết luận số 62-KL/TW ngày 08/12/2009 của Bộ Chính trị khóa X về Tiếp
tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
Đồn thể chính trị;
4. Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học
tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh;
5. Hướng dẫn số 108-HD/BTGTW ngày 04/12/2019 của Ban Tuyên giáo
Trung ương về học tập theo chuyên đề năm 2020 về “Tăng cường khối đại đoàn
kết tồn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo
tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”;
6. Hướng dẫn số 98-HD/BTGTU ngày 06/12/2019 của Ban Tuyên giáo Tỉnh
ủy triển khai học tập chuyên đề năm 2020 về “Tăng cường khối đại đoàn kết tồn
dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Học viên: Trịnh Duy Nhân

Lớp K13 17



×