Tải bản đầy đủ (.doc) (8 trang)

Bài tham luận trịnh duy nhân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (115.31 KB, 8 trang )

CHI BỘ VNPT HUYỆN BÁ THƯỚC THỰC HIỆN TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ
BÌNH TRONG SINH HOẠT ĐẢNG NHẰM TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐỒN KẾT
Học viên Trịnh Duy Nhân
A.MỞ ĐẦU
Đại đồn kết dân tộc là truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân Việt Nam
trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Kế thừa truyền thống quý báu
đó, trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng đại đoàn kết toàn
dân tộc là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đại đồn kết tồn dân tộc là một chiến
lược cơ bản, nhất quán, lâu dài, là vấn đề sống cịn, quyết định thành cơng của cách
mạng. Theo Người, “Đồn kết là một lực lượng vơ địch của chúng ta để khắc phục
khó khăn, giành lấy thắng lợi”; “Đồn kết, đồn kết, đại đồn kết; Thành cơng,
thành công, đại thành công” (1). Lời dạy của Bác đã trở thành tư tưởng chỉ đạo,
phương châm hành động để Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát huy truyền
thống đoàn kết, tạo sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.
Theo Bác, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc chỉ được phát huy khi tập
hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cả dân tộc
hay toàn dân chỉ có thể tạo nên một sức mạnh to lớn, trở thành lực lượng vô địch
khi được tổ chức thành một khối chặt chẽ, được giác ngộ sâu sắc về mục tiêu lý
tưởng, được định hướng bởi một đường lối chính trị đúng đắn, nếu khơng thì dù
quần chúng nhân dân có số đơng tới hàng triệu người cũng chỉ là một số đơng
khơng có sức mạnh, rời rạc.
Để bảo đảm vai trị lãnh đạo, Đảng ta ln coi đồn kết thống nhất là một
trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong xây dựng Đảng; là vấn đề sống còn của
sự nghiệp cách mạng, là cơ sở để xây dựng, củng cố khối đại đồn kết tồn dân.
Bởi vì, Đảng Cộng sản là một bộ phận trong hệ thống chính trị nhưng là lực lượng
lãnh đạo, là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

1



Bằng cách nào để tồn Đảng đồn kết, nhất trí? Hồ Chí Minh chỉ ra biện
pháp cơ bản là: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm
chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết
và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” (2).
Như vậy, theo Bác, cùng với việc thực hành dân chủ trong Đảng thì tự phê
bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đồn kết, thống nhất
của Đảng, góp phần xây dựng Đảng thành một khối thống nhất, vững mạnh về tư
tưởng, chính trị, tổ chức để lãnh đạo nhân dân tiếp tục giành những thắng lợi vĩ đại
trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và hội nhập.
Đối với cơ quan VNPT, huyện Bá Thước, là cơ quan chun mơn thuộc Viễn
thơng Thanh Hóa, có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ viễn thông công nghệ thông tin
– truyền thơng, phục vụ các cơ quan Đảng, chính quyền và Nhân dân trên địa bàn
huyện Bá Thước. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ trên, những năm qua đội
ngũ cán bộ, nhân viên của cơ quan VNPT không chỉ tích cực nâng cao trình độ
chun mơn, nghiệp vụ, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, kiên định lập
trường chính trị tư tưởng mà cịn tích cực xây dựng chi bộ, cơ quan ngày càng vững
mạnh, thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng.
B. NỘI DUNG
1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hiện tự phê bình và
phê bình trong xây dựng Đảng
Trong Di chúc thiêng liêng mà Hồ Chí Minh để lại cho tồn Đảng, tồn dân
ta, Người luôn căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và
nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình” (3).
Theo Bác, tự phê bình (TPB) là tự đánh giá những mạnh, yếu của bản thân
làm cơ sở cho người khác đóng góp, tham gia ý kiến giúp sửa chữa khuyết điểm,
phát huy ưu điểm. Phê bình (PB) là việc tham gia góp ý kiến với người khác, vạch
rõ ưu điểm, khuyết điểm và cách thức sửa chữa để tiến bộ mãi. Người chỉ rõ:
Trong sinh hoạt và hoạt động thực tiễn ai cũng có ưu, khuyết điểm, có cái hay, cái
dở, cái tiên tiến và cái lạc hậu… ở mức độ khác nhau. Vì vậy, cần động viên,
khuyến khích làm cho phần tốt phát huy nảy nở, cịn những thói hư tật xấu khơng

2


có đất sinh sơi mà mất dần đi. Muốn vậy, phải thường xuyên sử dụng tự phê bình
và phê bình, phải coi đó như việc “rửa mặt” hằng ngày.
Theo Hồ Chí Minh, mục đích của TPB và PB là giúp đỡ lẫn nhau, vì sự tiến
bộ của mỗi người và sự phát triển vững mạnh của tổ chức. Bác chỉ rõ: “Giúp nhau
sửa chữa, giúp nhau tiến bộ… Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ” (4). Vì vậy,
trong TPB và PB phải chống tư tưởng hẹp hịi, ích kỷ, lợi dụng phê bình để hạ uy
tín, đả kích lẫn nhau gây chia rẽ mất đoàn kết, làm tổn hại, suy yếu tổ chức đảng.
Để thực hiện đúng mục đích trong sáng của phê bình, Người căn dặn: Phải có tình
đồng chí thương u lẫn nhau.
Vai trị của tự phê bình và phê bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ln
ln dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình, thì khuyết điểm nhất định
hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi” (5). Người
khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng.
Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình,… là một Đảng tiến bộ, mạnh
dạn, chắc chắn…” (5), “phải ráo riết dùng phê bình và tự phê bình… Có như thế
Đảng mới chóng phát triển” (6)
Ngun tắc phê bình là phải nhằm vào tư tưởng và công tác. Tư tưởng
không đúng đắn thì cơng tác ắt sai lầm… Phải vạch rõ vì sao có khuyết điểm ấy, nó
sẽ có kết quả xấu thế nào, dùng phương pháp gì để sửa chữa… Khơng phê bình là
bỏ mất một quyền dân chủ của mình… Dìm phê bình hoặc phớt phê bình là khinh
rẻ ý kiến nhân dân, là trái với dân chủ” (8).
Nội dung thực hiện tự phê bình và phê bình, gồm: mục đích, phương hướng,
trọng tâm, cách làm. Trong đó, cách làm bắt đầu từ thống nhất tư tưởng, nghiên
cứu các tài liệu hướng dẫn, kiểm thảo công việc, tiến hành từ trên xuống, dưới sự
lãnh đạo tập trung. Người cũng chỉ rõ các khuyết điểm hay gặp phải trong thực
hiện tự phê bình và phê bình là chưa biết tập trung vào những vấn đề trọng tâm;
vạch khuyết điểm nhiều, nêu ưu điểm ít; khơng có biện pháp sửa chữa khuyết

điểm, không biểu dương nhân rộng ưu điểm (Trong bài báo Tự phê bình và phê
bình đăng trên Báo Nhân Dân ngày 14-02-1952 của Chủ tịch Hồ Chí Minh).

3


Thái độ và phương pháp đúng đắn trong tự phê bình và phê bình của người
cán bộ, đảng viên được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phân tách rõ ràng, cái gì là
đúng, cái gì là sai”; muốn vậy phải “Ra sức học tập và nâng cao những kiểu mẫu
tốt”; “ra sức tranh đấu sửa chữa những khuyết điểm, khơng để nó phát triển ra,
khơng để nó có hại cho Đảng”; "khéo dùng cách phê bình và tự phê bình để giúp
đồng chí khác sửa đổi những sai lầm và khuyết điểm, giúp họ tiến bộ”; “Đoàn kết
Đảng bằng sự tranh đấu nội bộ. Nâng cao kỷ luật và uy tín của Đảng” (9) … Người
cách mạng khi thực hiện tự phê bình và phê bình “chớ dùng những lời mỉa mai,
chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm, chứ khơng phải phê bình người” (10), “phải
tự phê bình ráo riết, và lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình
đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đơi với nhau” (11), “Lúc phê bình họ, ta chớ có
thái độ gay gắt. Lúc khen ngợi họ, ta phải cho họ hiểu rằng: Năng lực của mỗi
người đều có giới hạn, tuy có thành cơng cũng chớ kiêu ngạo. Kiêu ngạo là bước
đầu của thất bại” (12). Trong TPB và PB, Người yêu cầu phải thực hiện tốt việc
nêu gương; phải lấy tự phê bình là chính, thực hiện phê bình mình trước, phê bình
người khác sau; trong cấp uỷ phải làm gương cho ngoài, cấp trên làm gương cho
cấp dưới, cán bộ phê bình trước, chiến sỹ phê bình sau, “phê bình là nêu ưu điểm
và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch
khuyết điểm của mình. TPB và PB phải đi đôi với nhau” và “cốt để giúp nhau sửa
chữa, giúp nhau tiến bộ… cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ”.
2.Thực trạng thực hiện tự phê bình và phê bình của đảng viên Chi bộ
VNPT Huyện Bá Thước hiện nay
2.1. Ưu điểm
Chi bộ VNPT Huyện Bá Thước có 8 đảng viên trên tổng số 15 cán bộ, nhân

viên chính thức. Trình độ chun mơn tương đối đồng đều: gồm 1 thạc sỹ, 5 đại
học, 6 cao đẳng và 3 trung cấp, năng lực chuyên môn được đào tạo đa dạng, phù
hợp với các vị trí cơng việc: chun mơn kế tốn tài chính, kỹ thuật điện tử viễn
thông, quản trị kinh doanh, công nghệ thông tin.

4


Thực hiện quy định của Đảng về sinh hoạt chi bộ, Chi bộ VNPT Huyện Bá
Thước đã thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt Đảng, như: duy trì nề nếp sinh
hoạt, thực hiện các nguyên tắc sinh hoạt, duy trì số lượng đảng viên tham gia.
Trong tổ chức sinh hoạt Đảng, Chi bộ VNPT Huyện Bá Thước thực hiện
nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Cụ thể
như:
Trong mỗi kỳ sinh hoạt, chi ủy nêu ra những vấn đề trọng tâm cần thảo luận
để đảng viên trong chi bộ tham gia đóng góp ý kiến, chi ủy phát huy dân chủ,
nghiêm túc lắng nghe ý kiến của đảng viên và gợi ý những nội dung quan trọng để
đảng viên tham gia thảo luận, thể hiện chính kiến của mình.
Nội dung sinh hoạt chi bộ, từ đánh giá tình hình lãnh đạo cơng tác tư tưởng,
lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ, đến các chủ trương, nhiệm vụ, kế hoạch, giải pháp,…
đều được chi bộ bàn bạc dân chủ để thống nhất, nếu có ý kiến khác nhau thì phân
tích, giải thích, xem xét kỹ, biểu quyết, quyết định theo đa số.
Trong sinh hoạt chi bộ, yêu cầu mỗi đảng viên thực hiện nghiêm tự phê
bình. Nhất là bí thư chi bộ, các chi ủy viên đều nêu gương tự phê bình, nêu ưu
điểm và vạch khuyết điểm của mình, khơng lẫn tránh, dấu khuyết điểm; đồng thời,
đa số thực hiện phê bình nghiêm túc, nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng
chí mình, chỉ ra cái đúng, cái sai với tinh thần xây dựng, thân ái, khơng lợi dụng
phê bình để hạ uy tín, đả kích lẫn nhau, khơng vạch lá tìm sâu,… Nhất là, trong tự
phê bình và phê bình chi bộ chú trọng việc biểu dương, khuyến khích những đảng
viên có thành tích trong cơng tác, cố gắng phấn đấu vì hiệu quả hoạt động của đơn

vị, vì sự đồng thuận, đoàn kết của chi bộ, của cơ quan; cùng với đó bàn bạc tìm
biện pháp sửa chữa khuyết điểm đối với những đảng viên mắc khuyết điểm.
Chi bộ thực hiện tự phê bình và phê bình gắn với trách nhiệm của cá nhân
đảng viên. Việc làm rõ trách nhiệm cá nhân trong quá trình tự phê bình và phê bình
đã nâng cao ý thức trách nhiệm của đảng viên.

5


Do thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình nên
Chi bộ đã tạo được sự đồng thuận, đoàn kết, đại đa số đảng viên trong chi bộ đã
phát huy được ý thức trách nhiệm, xây dựng tập thể chi bộ trong sạch, vững mạnh.
Lãnh đạo tập thể cán bộ, nhân viên cơ quan đoàn kết, đồng thuận hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao.
2.2.Hạn chế và nguyên nhân
Tuy có nhiều ưu điểm trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên
tắc tự phê bình và phê bình trong xây dựng chi bộ, nhưng thực tế, Chi bộ VNPT
huyện Bá Thước vẫn còn một số hạn chế trong sinh hoạt Đảng, như: tích tích cực,
hăng hái ở một số đảng viên chưa cao, việc phát biểu ý kiến chỉ tập trung vào đảng
viên giữ vị trí lãnh đạo, đảng viên lớn tuổi, cịn lại một số đảng viên, nhất là đảng
viên trẻ cịn ít phát biểu ý kiến trong sinh hoạt chi bộ.
Nguyên nhân của hạn chế nêu trên là do nhận thức về vai trò sinh hoạt chi
bộ ở một số đảng viên chưa thực sự đầy đủ; một số đảng viên trẻ có tư tưởng “ngại
va chạm”, nể nang, né tránh, ỷ lại trong việc đóng góp ý kiến cho chi bộ; kiến thức,
kinh nghiệm về công tác xây dựng Đảng ở một số đảng viên cịn hạn chế; bên cạnh
đó có một số cuộc họp Chi ủy chưa thực sự khích lệ, động viên được đảng viên
phát huy ý thức trách nhiệm trong xây dựng Đảng.
3. Một số biện pháp nhằm góp phần đẩy mạnh thực hiện ngun tắc tự
phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng của Chi bộ VNPT Bá Thước trong
thời gian tới

Để thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình, chi bộ VNPT Bá Thước
cần làm tốt một số vấn đề sau:
Một là, Chi bộ cần quan tâm chỉ đạo các đồng chí đảng viên nghiên cứu, học
tập nâng cao nhận thức về vai trò sinh hoạt chi bộ; hiểu đầy đủ, sâu sắc nội dung, ý
nghĩa, tầm quan trọng của nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng, hiểu rõ
lý do, mục đích, đối tượng, phương pháp, thái độ tự phê bình và phê bình theo Tư
tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó tạo cho đảng viên trong chi bộ có ý thức nghiêm túc
trong tự phê bình và phê bình; giúp đỡ đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị trong
sinh hoạt Đảng.
6


Hai là, thực hiện nề nếp sinh hoạt chi bộ. Trong sinh hoạt chi bộ, thực hiện
nghiêm việc tự phê bình và phê bình. Tự phê bình và phê bình phải có nội dung cụ
thể, gắn với cơng việc cụ thể được phân công, cương vị được đảm nhiệm; tránh tự
phê bình và phê bình một cách chung chung, chỉ dựa trên những căn cứ trừu tượng,
mà phải dựa trên lời nói và việc làm cụ thể của từng cá nhân. Trong đó, Bí thư chi
bộ, các chi ủy viên gương mẫu thực hiện.
Ba là, Chi bộ cần đề ra những chủ trương, nhiệm vụ và biện pháp xây dựng
chi bộ trong sạch, vững mạnh gắn với nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu
của Chi bộ và đội ngũ đảng viên, nhất là việc phát hiện và đấu tranh chống quan
liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác; chú trọng nâng cao chất
lượng sinh hoạt chi bộ, đảm bảo tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu.
Bốn là, Chi bộ xây dựng kế hoạch và tạo điều kiện cho đảng viên thực hiện
nhiệm vụ học tập, khơng ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt. Xây dựng kế hoạch,
biện pháp quản lý, phân công nhiệm vụ và tạo điều kiện để đảng viên hồn thành
nhiệm vụ được giao. Làm tốt cơng tác động viên, khen thưởng, kỷ luật đảng viên;
xử lý nghiêm, kịp thời những đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, Pháp luật của Nhà
nước, quy định của Ngành, của đơn vị,…
C. KẾT LUẬN

Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc, là quy luật phát triển của Đảng, góp
phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, uy tín của tổ chức đảng; nâng cao
chất lượng, uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên, thiết thực xây dựng và chỉnh đốn
Đảng, để Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo, là
linh hồn của khối đại đồn kết tồn dân tộc.
Tình hình trong nước và quốc tế còn nhiều diễn biến phức tạp, thuận lợi thách thức, thời cơ - nguy cơ đan xen nhau... đang đặt ra cho Đảng ta và toàn bộ hệ
thống chính trị nhiệm vụ ngày càng nặng nề. Chính vì vậy, nêu cao tự phê bình và
phê bình vừa là vấn đề cấp bách, vừa là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên. Vũ khí
sắc bén này phải thường xuyên được sử dụng và mài dũa để có đủ khả năng ngăn
chặn, đẩy lùi nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng
7


hiện nay, góp phần quan trọng cho cơng cuộc xây dựng một nước Việt Nam “dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, cơng bằng, văn minh”.
---------------------------1. Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb. CTQG, H.2011, T13, tr.455
2. Hồ Chí Minh: Tồn tập, t. 15, tr. 611.
3. Hồ Chí Minh: Tồn tập, t. 15, tr. 611
4. Hồ Chí Minh: Tồn tập, t. 5, tr. 232
5. Hồ Chí Minh: Tồn tập, t. 5, tr. 265
6. Hồ Chí Minh: Tồn tập, t. 5, tr. 261
7. Hồ Chí Minh: Tồn tập, t. 5, tr. 266 -267
8. Hồ Chí Minh: Tồn tập, t. 6, tr. 242
9. Hồ Chí Minh: Tồn tập, t. 5, tr. 264
10. Hồ Chí Minh: Tồn tập, t. 5, tr. 232
11. Hồ Chí Minh: Tồn tập, t. 5, tr. 239
12. Hồ Chí Minh: Tồn tập, t. 5, tr. 283

8




×