Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

3 qua n ly HIP revised oct 2018

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (562.72 KB, 5 trang )

Rối loạn chuyển hóa carbohydrate trong thai kỳ
Quản lý các tình trạng tăng đường huyết trong thai kỳ

Quản lý tăng đường huyết trong thai kỳ (Hyperglycemia In Pregnancy)
Trương Ngọc Diễm Trinh 1, Đỗ Thị Ngọc Mỹ 2
© Bộ mơn Phụ Sản, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
1

Giảng viên Bộ môn Phụ Sản, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. e-mail:

2

Giảng viên Bộ môn Phụ Sản, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. e-mail:

Mục tiêu bài giảng
Sau khi học xong, sinh viên có khả năng:
1. Trình bày được cách theo dõi thai kỳ có tình trạng tăng đường huyết
2. Trình bày được cách theo dõi chuyển dạ của thai kỳ có tình trạng tăng đường huyết
3. Trình bày được cách theo dõi hậu sản của thai kỳ có tình trạng tăng đường huyết
MỤC TIÊU CỦA QUẢN LÝ HIP
Tăng đường huyết trong thai kỳ (Hyperglycemia In
Pregnancy) (HIP) là một tình trạng ảnh hưởng xấu đến cục
của cả mẹ và thai-sơ sinh. HIP bao gồm đái tháo đường
trong thai kỳ (Diabetes In Pregnancy - DIP) và đái tháo
đường thai kỳ (Gestational Diabetes Pregnancy - GDM).
Các nghiên cứu so sánh kết cục thai sản giữa thai phụ bình
thường và thai phụ có HIP được kiểm soát tốt chưa đủ
mạnh để chứng minh sự khác biệt nếu có, nhưng trái lại,
có sự khác biệt rất lớn giữa kết cục sản khoa giữa người có
HIP được kiểm sốt tốt và khơng được kiểm sốt tốt.
Vì thế, quản lý hiệu quả HIP là một trong những mục tiêu


chính sau khi thực hiện tầm sốt thành cơng HIP. Quản lý
HIP gồm chăm sóc trước sanh, trong chuyển dạ và trong
thời kỳ hậu sản. Chiến lược quản lý cần được thiết kế phù
hợp với nguồn lực và cơ sở hạ tầng của quốc gia, địa
phương.
Mục tiêu của chăm sóc trước sanh là ổn định glycemia,
nhờ đó hạn chế khả năng xảy ra kết cục xấu cho thai kỳ.

LỊCH KHÁM THAI ĐỊNH KỲ KHUYẾN CÁO CHO
THAI PHỤ VỚI HIP

Khám lâm sàng và siêu âm đánh giá tăng trưởng Ở cơ sở y
mỗi 2-4 tuần đến khi đủ tháng
tế có nguồn
lực cao

1A

Bảng 1: Mục tiêu glycemia trong quản lý HIP 1

Khám lâm sàng và siêu âm đánh giá tăng trưởng Ở cơ sở y
từ khi được chẩn đoán đến đủ tháng
tế có nguồn
lực thấp
đến trung
bình

2A

Đái tháo đường thai kỳ

(GDM)

Đái tháo đường type 1 và
type 2 trong thai kỳ (DIP)

Trước ăn: ≤ 95 mg/dL (5.3 mmol/L)
và một trong hai

Buổi sáng, lúc đói với nhịn suốt đêm:
60-99 mg/dL (3.3-5.4 mmol/L)

1 giờ sau ăn: ≤ 140 mg/dL

Đỉnh glucose sau ăn: 100-129 mg/dL

(7.8 mmol/L)

(5.4-7.1 mmol/L)

2 giờ sau ăn: ≤ 120 mg/dL

HbA1C: < 6.0%

(6.7 mmol/L)

Theo khuyến cáo của FIGO, để đạt được mục tiêu ổn định
glycemia trong DIP/GDM, quy trình chăm sóc trước sinh
cần phải đảm bảo các điều kiện sau:
1. Theo dõi thường xuyên
2. Chăm sóc trước sinh với nhân viên y tế được huấn

luyện về đái tháo đường thai kỳ
3. Thai phụ bị đái tháo đường tự theo dõi đường huyết
1

Working group in Hyperglycemia In Pregnancy. FIGO declaration.
Vancouver 2015 and Rio de Janeiro 2018.

Khuyến cáo

Nguồn lực

Mức khuyến cáo

Khuyến cáo về lịch khám thai định kỳ
Khám thai định kỳ cần bao gồm:

Ở cơ sở y
1. Khám với nhân viên y tế có kỹ năng chăm tế có nguồn
sóc cho thai phụ bị đái tháo đường trong thai kỳ lực cao
(bác sĩ sản khoa, chuyên gia tiền sản, chuyên
gia về đái tháo đường, chuyên gia giáo dục về
đái tháo đường, chuyên gia dinh dưỡng v.v…)
mỗi 1-3 tuần nếu cần
2. Khám với nữ hộ sinh: cân nặng, huyết áp,
đạm niệu bằng que nhúng: mỗi 1-2 tuần nếu cần

1A

Tối thiểu mỗi tháng 1 lần với nhân viên y tế có Ở cơ sở y
kiến thức về đái tháo đường thai kỳ

tế có nguồn
lực thấp
đến trung
bình

2A

Khuyến cáo về theo dõi phát triển thai ở thai phụ đái tháo đường thai kỳ

Đánh giá sức khoẻ thai ở thai phụ đái tháo đường thai kỳ
Đánh giá sức khoẻ thai bằng biểu đồ tim thai- Ở mọi cơ
cơn gò và/hoặc trắc đồ sinh vật lý hoặc cử động sở y tế
thai tuỳ tình hình từng địa phương

1A

Mục tiêu glycemia là quan trọng.
Mục tiêu glycemia thay đổi tùy theo có hay khơng có rối
loạn đường trước mang thai (tức là DIP hay GDM).
Mục tiêu ổn định glycemia có thể đạt được bằng các
phương thức sau:
1. Liệu pháp dinh dưỡng nội khoa
2. Thuốc kiểm soát đường huyết
Ở thai phụ với HIP, glycemia là chỉ báo quan trọng. Các
chứng cứ xác nhận kiểm soát glycemia là mục tiêu quan
trọng nhất để cải thiện kết cục thai kỳ.
Ổn định glycemia là mục tiêu của các chăm sóc một thai
phụ với HIP.

1



Rối loạn chuyển hóa carbohydrate trong thai kỳ
Quản lý các tình trạng tăng đường huyết trong thai kỳ

Mục tiêu này thay đổi tùy theo thai phụ đã biết có rối loạn
glycemia trước khi mang thai hay không (DIP hay GDM).
Thai phụ với DIP
Các thai phụ có DIP cần được tiếp tục điều trị bằng các
biện pháp hiệu quả đang được dùng hay chuyển đổi sang
các chiến lược can thiệp hiệu quả khác trong trường hợp
chiến lược kiểm soát với các điều trị trước nay bị thất bại.
Thai phụ với DIP có thể đang được điều trị với tiết chế nội
khoa, hay với tác nhân tăng nhạy insulin đường uống (đái
tháo đường type 2) hay với insulin (đái tháo đường type
1). Họ cần được tiếp tục điều trị hiện hữu.
Dù rằng đồng thuận của FIGO kết luận rằng metformin đã
được chứng minh là an toàn cho thai kỳ, với hiệu quả kiểm
soát tốt kết cục thai kỳ, nhưng một số tổ chức, vì lý do
thận trọng, vẫn chưa cho phép (approve) cho việc tiếp tục
dùng nó trong thai kỳ (trong đó có Bộ Y tế Việt Nam).
Vì thế, nếu một thai phụ với DIP, bà ta cần được tiếp tục
điều trị hiện hữu hay chuyển sang insulin.
Thai phụ với GDM
Liệu pháp dinh dưỡng nội khoa là can thiệp sơ cấp cho các
thai phụ GDM.
Nếu thực hiện tốt MNT, rất nhiều thai phụ mắc GDM
khơng cần thiết phải dùng thuốc kiểm sốt đường huyết và
có kết cục chu sinh tốt.


Khơng có nghiên cứu chuyên biệt nào xác định được mức
năng lượng lý tưởng cho những thai phụ bị đái tháo đường
thai kỳ hay gợi ý rằng nhu cầu năng lượng của họ khác với
những thai phụ không bị đái tháo đường thai kỳ.
Tuy nhiên, bất luận chế độ dinh dưỡng thế nào thì vẫn cần
cung cấp tối thiểu 175 gr carbohydrate, 71 gr protein và 28
gr chất xơ mỗi ngày theo mức được ấn định bởi hướng dẫn
của Dietary Reference Intakes cho mọi thai phụ.
Theo ACOG và FIGO, năng lượng tiêu chuẩn cần cung
cấp mỗi ngày tùy thuộc vào cân nặng trước có thai.
1. Đối với những thai phụ GDM có cân nặng trước khi
có thai gấp trên 1.5 lần cân nặng lý tưởng thì cần cung
cấp 12-15 kcal/kg/ngày.
2. Đối với những thai phụ GDM có cân nặng trước khi
có thai bằng 1.2-1.5 lần cân nặng lý tưởng thì cung
cấp 24 kcal/kg/ngày.
3. Đối với những thai phụ GDM có cân nặng trước khi
có thai bằng 0.8-1.2 lần cân nặng lý tưởng thì cung
cấp 30 kcal/kg/ngày.
Hoặc có thể ước lượng một cách tổng quát một nhu cầu
năng lượng bằng 30 kcal/kg/ngày X cân nặng lý tưởng.
Đối với thai phụ béo phì mắc GDM, khơng có đủ bằng
chứng để khuyến khích hay chống lại việc hạn chế năng
lượng nhập vào.
Không nên hạn chế quá đáng cung cấp năng lượng nhập.

LIỆU PHÁP DINH DƯỠNG NỘI KHOA
Nguyên lý chung của MNT
Nền tảng của điều trị đái tháo đường thai kỳ là phải ổn
định được đường huyết (chế độ euglycemie). Vì vậy, điều

trị cốt yếu của GDM là thay đổi lối sống, điều chỉnh chế
độ ăn và theo dõi diễn biến đường huyết.
Liệu pháp dinh dưỡng nội khoa (Medical Nutrition
Treatment - MNT) là một chế độ dinh dưỡng riêng dành
cho từng cá nhân, được thiết kế bởi thai phụ và chuyên gia
dinh dưỡng có kinh nghiệm trong quản lý đái tháo đường
thai kỳ. Chế độ dinh dưỡng này phải phù hợp với BMI
trước khi mang thai của thai phụ, hoạt động thể lực, thói
quen, văn hố của từng quốc gia cũng như cá nhân.
Đề nghị với thai phụ một chế độ tập luyện, giáo dục, hỗ trợ
và theo dõi bởi những nhân viên y tế có kinh nghiệm và
được chứng nhận về chăm sóc thai phụ bị đái tháo đường
thai kỳ. Các vấn đề cần thảo luận khi thăm khám bao gồm:
khống chế cân nặng, ghi nhận các bữa ăn, tính tốn về
lượng carbohydrate nhập, phịng tránh hạ đường huyết, các
thực phẩm tốt cho sức khoẻ và tập luyện thể lực.
Chế độ dinh dưỡng cần đáp ứng được các mục tiêu sau:
1. Ổn định được đường huyết ở mức mục tiêu
2. Cung cấp đủ năng lượng đảm bảo sức khoẻ cho mẹ và
giúp thai phụ tăng cân hợp lý trong thai kỳ
3. Đảm bảo được sức khoẻ của thai
4. Ngăn ngừa tình trạng nhiễm cetone
Tổng năng lượng
Tổng năng lượng cung cấp được khuyến cáo là 1800-2500
kcal/ngày, tùy thuộc vào cân nặng trước có thai.

Tuy nhiên, khơng nên hạn chế quá 33% tổng số calories
cần thiết trong ngày, và cũng khơng nên cung cấp dưới
mức 1200 kcal/ngày, vì sẽ gây xuất hiện cetone máu dẫn
đến những hệ quả xấu trong sự phát triển tâm thần và vận

động của trẻ.
Phân bố các bữa ăn
Người đang thực hiện MNT nên ăn 5-7 bữa trong ngày.
Các bữa ăn khơng hồn tồn giống nhau.
Trong số đó có 3 bữa ăn chính và 2-4 bữa ăn nhẹ, cách
nhau mỗi 2-3 giờ. Việc điều chỉnh chế độ ăn cần dựa vào
kết quả theo dõi đường huyết, sự ngon miệng và diễn biến
cân nặng của thai phụ.
Phân bố các đại chất
Sự phân bố tỉ lệ các đại chất lần lượt là 33-40%
carbohydrate, 40% chất béo và 20% chất đạm.
Carbohydrate: cần chú ý đến lượng dùng, sự phân phối
trong các bữa ăn cũng như loại carbohydrate sử dụng.
Khuyến khích sử dụng những loại thực phẩm chưa đường
phức hơn đường đơn vì ít làm tăng đường huyết sau ăn.
Cần lưu ý là vào buổi sáng, cortisol sẽ tăng vọt gây phóng
thích glucose từ các nguồn dự trữ và glucose giải phóng từ
gan, dẫn đến làm tăng đường huyết. Vì vậy, cần giảm
lượng carbohydrate trong bữa sáng.
Việc hạn chế carbonhydrate là cần thiết để hạ nồng độ
đường huyết sau ăn, tuy nhiên nếu hạn chế đường quá mức
sẽ làm tăng tiêu thụ chất béo. Điều này có thể làm tăng ảnh
hưởng bất lợi đến tình trạng đề kháng insulin và cấu trúc
cơ thể thai.

2


Rối loạn chuyển hóa carbohydrate trong thai kỳ
Quản lý các tình trạng tăng đường huyết trong thai kỳ


Trong giai đoạn đầu khi thực hiện MNT, khuyến khích
thai phụ tự theo dõi thường xuyên đường huyết đói cũng
như đường huyết 3-4 lần/ngày:

Đường huyết đói: 1 lần/ ngày, sau khi nhịn đói ít nhất
8 giờ

Đường huyết sau ăn: sau ăn 1-2 giờ, 2-3 lần/ ngày,
xoay vòng cho các bữa ăn khác nhau trong tuần

Với những địa phương có nguồn lực thấp, ít nhất cũng
cần theo dõi đường huyết 1 lần/ngày và phải ghi nhận
tương quan với thời điểm bữa ăn
Cần có kế hoạch theo dõi định kỳ và điều chỉnh chế độ ăn
thông qua kết quả đạt được ban đầu và duy trì mục tiêu
điều trị. Khi đã đảm bảo đạt được mục tiêu về đường huyết
bằng MNT, việc theo dõi đường huyết có thể được nới
lỏng hơn.
Nếu thực hiện tốt MNT, rất nhiều thai phụ mắc GDM
không cần thiết phải dùng thuốc hạ đường huyết và có kết
cục chu sinh tốt.
Hình dưới trình bày một ví dụ về một cách phân phối bữa
ăn và phân phối lượng carbohydrate được khuyến cáo:

Hình 1: Ví dụ về phân phối bữa ăn và carbohydrate được khuyến cáo.
Nguồn: Textbook of Diabetes and Pregnancy. Moshe Hod. 3rd Ed. 2016

Hoạt động thể lực ở thai phụ mắc GDM
Ngoài thay đổi chế độ ăn, thai phụ mắc GDM nên có chế

độ vận động phù hợp với từng cá nhân:

Vận động khoảng 30 phút/ngày

Đi bộ nhanh hoặc tập thể dục vùng cánh tay khi ngồi
ghế trong 10 phút sau mỗi bữa ăn

Những thai phụ vận động tích cực trước khi mang thai
được khuyến khích duy trì chế độ vận động của họ
trong thai kỳ
THUỐC KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT
Thuốc hạ đường huyết được chỉ định khi MNT thất bại.
Có hai nhóm thuốc kiểm sốt đường huyết được dùng khi
khơng đạt được mục tiêu glycemia với MNT:
1. Insulin
2. Tác nhân tăng nhạy Insulin đường uống
Insulin, glyburide và metformin là những liệu pháp an toàn
và hiệu quả đối với GDM trong tam cá nguyệt 2 và 3, và
có thể khởi đầu sau khi thất bại trong việc khống chế
đường huyết bằng thay đổi lối sống.
Điều trị qui ước, cổ điển là điều trị với Insulin.
Insulin là thuốc an toàn.

Insulin
Insulin là thuốc được chọn trong GDM trong trường hợp
thất bại MNT, tức không đạt mục tiêu điều trị. Liều insulin
thay đổi tùy theo giai đoạn của thai kỳ.
Insulin được dùng 2 lần trong ngày. Mỗi lần cần phối hợp
NPH insulin và regular insulin.


Tam cá nguyệt 1:
0.7-0.8 U/kg/ngày

Tam cá nguyệt 2:
0.8-1.0 U/kg/ngày

Tam cá nguyệt 3:
0.9-1.2 U/kg/ngày
Tổng liều insulin sẽ được chia ra như sau: 2/3 buổi sáng và
1/3 buổi tối. Trong đó, liều buổi sáng chia 2/3 là NPH
insulin và 1/3 là regular hay lispro insulin. Liều buổi tối là
1/2 NPH insulin và 1/2 regular hay lispro insulin.
Các loại insulin sau đây có thể xem là an toàn và hiệu quả
trong thai kỳ: regular insulin, NPH, lispro, aspart và
detemir.
Tác nhân kiểm soát đường huyết uống
Metformin là một biện pháp có thể xem như một lựa chọn
thay thế (alternative).
Thuốc kiểm soát đường huyết uống dễ dung nạp, rẻ tiền,
ổn định đường huyết và khống chế sự tăng cân của mẹ tốt
hơn khi sử dụng insulin.
Khoảng 15 năm trở lại đây, các thuốc hạ đường huyết
uống đã được xem xét và đã trở thành một lựa chọn phù
hợp để thay thế cho insulin ở những thai phụ GDM cần
phối hợp thuốc hạ đường huyết (alternative treatment).
So sánh giữa insulin và các thuốc tăng nhạy insulin đường
uống (metformin và gluburide) cho thấy thuốc tăng nhạy
insulin đường uống dễ dung nạp, rẻ tiền, ổn định đường
huyết và khống chế sự tăng cân của mẹ tốt hơn khi sử
dụng insulin.

Bên cạnh đó, các kết cục sơ sinh như thai to cũng như hạ
đường huyết sơ sinh tương đương nhau giữa hai nhóm.
Theo dõi sau 2 năm cho thấy, sự phân bố mỡ toàn thân và
phân bố mỡ trung tâm ở trẻ khơng khác biệt nhau giữa hai
nhóm.
Trong các thuốc tăng nhạy insulin đường uống, metformin
có thể là lựa chọn tốt hơn so với glyburide.
Hầu hết những tổng quan hệ thống về những thử nghiệm
lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng so sánh giữa
metformin và glyburide khơng tìm thấy sự khác biệt rõ
ràng nào trên kết cục của mẹ và thai như thai to, hạ đường
huyết sơ sinh hoặc tăng bilirubin máu.
Tuy nhiên, tỉ lệ hạ đường huyết mẹ và hạ đường huyết sơ
sinh có khuynh hướng cao hơn ở nhóm sử dụng glyburide.
Vì vậy, đối với các thuốc tăng nhạy insulin đường uống,
FIGO khuyến cáo rằng metformin có thể là lựa chọn tốt
hơn so với glyburide.
Tỉ lệ thai phụ cần bổ sung hoặc chuyển sang insulin để
khống chế đường huyết khi điều trị với metformin và
glyburide lần lượt là 46% và 15-20%.
Những thai phụ béo phì hoặc đái tháo đường sẵn có hoặc
có đường huyết đói cao (≥ 115 mg/dL) là những người dễ
thất bại với các thuốc tăng nhạy insulin đường uống.

3


Rối loạn chuyển hóa carbohydrate trong thai kỳ
Quản lý các tình trạng tăng đường huyết trong thai kỳ


Insulin có thể được xem xét là chỉ định điều trị hàng đầu
với những thai phụ có nguy cơ cao thất bại với các thuốc
tăng nhạy insulin đường uống, đó là nhóm thai phụ có các
yếu tố sau:
1. Được chẩn đốn đái tháo đường trước thời điểm 20
tuần tuổi thai
2. Cần điều trị thuốc sau 30 tuần tuổi thai
3. Đường huyết đói > 110 mg/dL
4. Đường huyết 1 giờ sau ăn > 140 md/dL
5. Tăng cân > 12kg
Ở thời điểm hiện tại, không có số liệu thống kê đầy đủ để
khuyến cáo các thuốc kiểm soát đường huyết uống nào
khác ngoại trừ glyburide và metformin.
Insulin là điều trị qui ước, và vẫn là ưu tiên
Lưu ý rằng, theo ADA (2018) và ACOG (2018), insulin
vẫn được khuyến cáo ưu tiên lựa chọn trong điều trị đái
tháo đường thai kỳ vì nó khơng qua nhau thai.
Bộ Y tế Việt Nam chưa cho phép việc dùng Metformin
trong thai kỳ cho DIP/GDM.
Lý do là thiếu các số liệu về tính an tồn dài hạn.
Metformin và glyburide có thể sử dụng nhưng cả hai đều
qua nhau thai, trong đó metformin qua nhau thai nhiều hơn
glyburide. Cụ thể là khi dùng glyburide, nồng độ thuốc
trong máu cuống rốn khoảng 70% nồng độ thuốc trong
máu mẹ, còn khi dùng metformin nồng độ thuốc trong máu
cuống rốn cao gấp 2 lần nồng độ trong máu mẹ.
Mặc dù không gây ra dị tật thai cũng như theo dõi những
đứa trẻ có mẹ dùng metformin trong thai kỳ đến năm 2
tuổi không thây có sự khác biệt về sự phát triển tâm thần,
sự phân bố mỡ toàn thân và mỡ trung tâm. Nhưng tất cả

những tác nhân hạ đường huyết uống đều thiếu số liệu về
tính an tồn dài hạn (chứng cứ mức độ A). Những thai phụ
được kê toa thuốc hạ đường huyết uống cần phải được
thông tin về việc thuốc đi qua nhau và mặc dù khơng có
tác dụng phụ nào quan sát thấy trên thai nhưng vẫn chưa
đầy đủ chứng cứ để có thể kết luận về kết cuộc lâu dài.
Nếu dùng metformin để điều trị hội chứng buồng trứng đa
nang và gây phóng nỗn, cần ngưng khi xác nhận có thai
nếu thai phụ chưa có rối loạn dung nạp đường được chẩn
đốn trước đó (chứng cứ mức độ A).

hiện OGTT đối với thai phụ có tiền căn đái tháo đường
thai kỳ càng sớm càng tốt trong tam cá nguyệt 1. Siêu âm
thai xác định tuổi thai và độ sinh tồn thai.
16 tuần: khám mắt. Tự theo dõi đường huyết và OGTT
nếu đến khám lần đầu lúc tam cá nguyệt 2.
20 tuần: siêu âm hình thái thai đặc biệt siêu âm tim.
28 tuần: siêu âm đánh giá sự phát triển thai và AFI. Khám
mắt đối với các trường hợp đái tháo đường trước thai kỳ.
32 tuần: tương tự như lúc khám thai 28 tuần.
36 tuần: siêu âm đánh giá sự phát triển thai và AFI. Ngoài
ra, sẽ cung cấp và thảo luận về thời điểm, cách thức, xử trí
lúc sanh, phương pháp vô cảm, thay đổi điều trị tăng
đường huyết trong và sau sinh, chăm sóc bé sau sinh, ngừa
thai và theo dõi.
37-38 tuần: khởi phát chuyển dạ hay mổ lấy thai nếu có
chỉ định. Phụ nữ có thai có đái tháo đường type 1 hoặc
type 2 và khơng có biến chứng, nên khởi phát chuyển dạ
hay mổ lấy thai nếu có chỉ định ở tuần 37-38 tuần.
38 tuần: thực hiện test đánh giá sức khỏe thai.

39 tuần: thực hiện test đánh giá sức khỏe thai, lên kế hoạch
chấm dứt thai kỳ. Phụ nữ có đái tháo đường thai kỳ không
nên kéo dài quá 40 tuần 6 ngày.
Khuyến cáo về thời điểm chấm dứt thai kỳ đối với thai
phụ mắc GDM

Lưu đồ 1: Khuyến cáo của FIGO về thời điểm chấm dứt thai kỳ trong đái
tháo đường thai kỳ (GDM)
Lưu đồ này không sử dụng cho DIP.
Nguồn: FIGO, Working Group in HIP. 2018.

CHĂM SÓC TRONG THAI KỲ
Các mốc quan trọng trong chăm sóc trước sanh.
Cần lưu ý những điểm mốc trong chăm sóc thai kỳ với đái
tháo đường:
10 tuần: Thảo luận với thai phụ về những ảnh hưởng của
đái tháo đường trong thai kỳ, trong chuyển dạ và giai đoạn
hậu sản (cho con bú và chăm sóc trẻ sơ sinh). Nếu thai phụ
đã được tư vấn trước mang thai sẽ tiếp tục chế độ ăn để
giúp kiểm soát tốt đường huyết. Nếu thai phụ chưa được tư
vấn trước mang thai thì sẽ được tư vấn cũng như đánh giá
các biến chứng của đái tháo đường: khám mắt và thận nếu
chưa được đánh giá cách 03 tháng. Khám nội tiết cách 1-2
tuần trong thai kỳ. Đo HbA1C để đánh giá nguy cơ.
Hướng dẫn cách tự theo dõi đường huyết cũng như thực

MỤC TIÊU CỦA CHĂM SÓC TRONG CHUYỂN DẠ
LÀ ỔN ĐỊNH GLYCEMIA BẰNG INSULIN TÁC
DỤNG NGẮN
Thai phụ chuyển dạ có nhiều nguy cơ biến động đường

huyết. Do các biến động có thể xảy ra rất nhanh chóng,
gây ảnh hưởng trên thai nhi, nên phải kiểm soát nghiêm
ngặt đường huyết trong chuyển dạ.
Insulin tác dụng ngắn được dùng do có thể điều chỉnh một
cách dễ dàng khi chuyển dạ.
Mức đường huyết lí tưởng trong chuyển dạ để giảm nguy
cơ biến chứng trên trẻ sơ sinh chưa được biết rõ.
Đường huyết trong lúc sanh cần duy trì ở 70-126 mg/dL
với insulin tác dụng thời gian ngắn.

4


Rối loạn chuyển hóa carbohydrate trong thai kỳ
Quản lý các tình trạng tăng đường huyết trong thai kỳ

Theo dõi đường huyết trong chuyển dạ
Mức đường huyết lí tưởng trong chuyển dạ để giảm nguy
cơ biến chứng trên trẻ sơ sinh chưa được biết rõ. Điều này
trên thực tế cũng rất khó để đánh giá vì đường huyết trong
lúc chuyển dạ không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng
đến kết cục chuyển hoá của trẻ sơ sinh khi ra đời. Kiểm
soát đường huyết trong thai kỳ, tuổi thai, cân nặng lúc
sinh, các biến chứng trong thai kỳ và sơ sinh cũng ảnh
hưởng đến chuyển hoá của trẻ sơ sinh.
Trên thực tế này, một mức đường huyết được cho là hợp lý
trong quá trình chuyển dạ là tử > 70 và < 126 mg/dL (> 3.9
và <7 mmol/L), vì ngưỡng đường huyết này ghi nhận
khơng đưa đến tình trạng hạ đường huyết sơ sinh ở những
thai phụ cần điều trị insulin.

Mức đường huyết trong chuyển dạ > 140 đến 180 mg/dL
(7.8 đến 10 mmol/L) liên quan mật thiết đến tình trạng hạ
đường huyết sơ sinh và làm tăng nguy cơ nhiễm cetone
acid ở mẹ.
MỤC TIÊU CỦA CHĂM SÓC SAU SANH LÀ TẦM
SOÁT VÀ NGĂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2
Đái tháo đường thai kỳ (nhóm A1, A2) thường khơng cần
điều trị với insulin trong giai đoạn hậu sản.
Mục tiêu của chăm sóc hậu sản đối với bà mẹ mắc GDM:
1. Phát hiện sớm các bệnh lý nhiễm trùng

Hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ
Lời khuyên về khoảng cách giữa các lần sinh
Xét nghiệm lại rối loạn dung nạp đường sau 6-12 tuần
sau sinh
5. Các xét nghiệm đường huyết trong tương lai
Đái tháo đường thai kỳ (nhóm A1, A2) thường khơng cần
điều trị với insulin trong giai đoạn hậu sản. Đường huyết
hay nghiệm pháp 75 gr đường nên thực hiện ở tuần 6-12
hậu sản.
Nhiều thai phụ đái tháo đường không cần thiết điều trị
insulin trong 48 đến 72 giờ đầu sau sinh. Cần theo dõi
đường huyết để có quyết định điều trị thích hợp. Cần dùng
insulin trong trường hợp có đường huyết tăng. Liều khởi
đầu sẽ bằng 2/3 liều trước khi mang thai.
Thai phụ bị GDM cần được tiếp tục tư vấn về chế độ dinh
dưỡng lành mạnh sau khi sinh để giảm nguy cơ mắc đái
tháo đường type 2 sau này. Chế độ ăn cần được duy trì
giống với giai đoạn trước mang thai. Trong trường hợp
cho con bú mẹ, cần cộng thêm 500 kcal/ngày.

Ngừa thai: hầu như khơng có chống chỉ định của các
phương pháp ngừa thai ở đái tháo đường thai kỳ. Cần cẩn
trọng đến các yếu tố giới hạn chỉ định của thuốc viên tránh
thai nội tiết phối hợp (nguy cơ thuyên tắc tĩnh mạch hay
đột quỵ).
2.
3.
4.

TÀI LIỆU ĐỌC THÊM

1.
2.
3.
4.

Obstetrics and gynecology 8th edition. Tác giả Beckmann. Hợp tác xuất bản với ACOG. Nhà xuất bản Wolters Kluwer Health 2018.
Working group in Hyperglycemia in pregnancy. FIGO guidelines on diagnosis, management & care of girls and women with gestational diabetes.
/>Working group in Hyperglycemia in pregnancy. Vancouver declaration 2015 & Rio de Janeiro declaration 2018.
Bộ Y tế, Aug 2018. Hướng dẫn Quốc gia dự phịng và kiểm sốt đái tháo đường thai kỳ.
/>
5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×