Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

(Luận văn thạc sĩ) nhận thức của học viên học viện biên phòng về nghề sĩ quan biên phòng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.36 MB, 108 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ THỊ HẢI YẾN

NHẬN THỨC CỦA HỌC VIÊN HỌC VIỆN BIÊN PHÒNG
VỀ NGHỀ SĨ QUAN BIÊN PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI - 2014
1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ THỊ HẢI YẾN

NHẬN THỨC CỦA HỌC VIÊN HỌC VIỆN BIÊN PHÒNG
VỀ NGHỀ SĨ QUAN BIÊN PHÒNG

Chuyên ngành : Tâm lý học
Mã số
: 60310401

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. LÃ THỊ THU THỦY

HÀ NỘI - 2014




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả đạt được trong nghiên cứu này hồn tồn
mới, khơng có sự sao chép của các nghiên cứu khác. Các kết quả nghiên cứu khoa
học trên chưa từng được công bố hay sử dụng dưới bất kể hình thức nào.
Lời cam đoan trên là đúng sự thật và tơi xin chịu hồn tồn trách nhiệm với
lời nói của mình

Tác giả khóa luận

Đỗ Thị Hải Yến


LỜI CẢM ƠN.
Qua khóa luận tốt nghiệp này, tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến cơ
giáo PGS, TS Lã Thị Thu Thủy, người đã tận tình hướng dẫn, sửa chữa và
cung cấp những tri thức, kinh nghiệm q báu giúp tơi có thể hồn thành khóa
luận này.
Tơi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong và ngoài khoa Tâm lý
học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
đã nhiệt tình giảng dạy, truyền thụ kiến thức nền tảng, phương pháp nghiên
cứu khoa học và đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu
Tơi xin cảm ơn Thường vụ Đảng ủy Ban giám đốc, các đồng chí cán bộ
giảng viên, quản lý học viên và các đồng chí học viên trong Học viện Biên
phòng cùng những người thân trong gia đình đã động viên, khích lệ, giúp đỡ
tơi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng song do năng lực cịn hạn chế nên
luận văn khơng tránh khỏi những thiếu sót. Tơi rất mong được sự chỉ bảo của

các thầy cơ cùng những ý tưởng đóng góp của các bạn để luận văn được hoàn
thiện hơn.


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài. ....................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu: .................................................................................. 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................................. 2
4. Đối tượng nghiên cứu: ................................................................................ 3
5. Khách thể và phạm vi nghiên cứu: ............................................................. 3
6. Giả thuyết khoa học ................................................................................... 3
7. Các phương pháp nghiên cứu: ................................................................... 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NHẬN THỨC VỀ NGHỀ SĨ QUAN
BIÊN PHÒNG ................................................................................................ 4
1.1.Tổng quan nghiên cứu nhận thức nghề nghiệp ......................................... 4
1.2. Cơ sở lý luận nhận thức về nghề sĩ quan biên phòng ............................... 8
1.2.1. Một số khái niêm cơ bản .................................................................... 8
1.2.2 Nhận thức của học viên Học viện Biên phòng về nghề sĩ quan biên phòng..... 18
Chương 2: TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 29
2.1. Vài nét về Học viện Biên phòng ............................................................ 29
2.2. Tổ chức nghiên cứu ............................................................................... 30
2.3. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 32
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu. ..................................... 32
2.3.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi .............................................. 32
2.3.3. Phương pháp phỏng vấn sâu ........................................................... 33
2.3.4. Phương pháp quan sát ..................................................................... 34
2.3.5. Phương pháp sử dụng thống kê tốn học SPSS ............................... 34
2.4 Cách tính tốn các thang đo. ................................................................... 34

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC CỦA HỌC VIÊN
HỌC VIỆN BIÊN PHÒNG VỀ NGHỀ SĨ QUAN BIÊN PHÒNG ............ 36
3.1. Thực trạng nhận thức của học viên Học viện Biên phòng về nghề sĩ quan
biên phòng .................................................................................................... 36


3.1.1. Nhận thức của học viên Học viện Biên phòng về đặc trưng của hoạt
động nghề sĩ quan Biên phòng .................................................................. 36
3.1.2. Nhận thức của học viên Học viện Biên phòng về giá trị nghề sĩ quan
biên phòng ................................................................................................. 49
3.1.3. Nhận thức của học viên Học viện Biên phòng về những phẩm chất,
năng lực cần có của người sĩ quan biên phòng ......................................... 55
3.1.4. Mức độ vận dụng những hiểu biết về nghề sĩ quan biên phòng trong
hoạt động học tập của học viên ................................................................. 66
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của học viên Học viện Biên phòng
về nghề sĩ quan biên phòng .......................................................................... 71
3.2.1. Các yếu tố tâm lý cá nhân................................................................ 71
3.2.2. Các yếu tố tâm lý xó hi .................................................................. 77
3.3. Các biện pháp nhằm nâng cao nhn thc ca hc viên Hc vin Biên
phòng về nghề sĩ quan Biên phòng ............................................................... 88
3.3.1. Tăng c-ờng và đổi mới việc giáo dục nâng cao nhận thức về ngh s
quan biên phòng ........................................................................................ 88
3.3.2. Phát huy vai trò của các tổ chức, các lực l-ợng trong quá trình giáo
dục ĐHGTNN cho HV đào tạo sỹ quan cấp phân đội - bậc đại học. ........ 89
2.2.3. Phát huy vai trò tự giáo dục, tự nâng cao nhận thức nghề của HV học
viện Biên phòng ......................................................................................... 91
3.3.4. Tiếp tục thực hiện tốt chế độ chính sách đối với HV đáp ứng với yêu
cầu giáo dục đào tạo đội ngũ sỹ quan của sự nghiệp xây dựng quân đội,
xây dựng lực l-ợng biên phòng trong công cuộc bảo vệ và xây dùng Tỉ qc X·
héi Chđ nghÜa.............................................................................................. 92

3.3.5. TÝch cùc, chđ động phối hợp giữa đơn vị quản lý HV với địa ph-ơng, gia
đình trong quá trình giáo dục, nâng cao nhËn thøc nghỊ cho häc viªn. ......... 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ................................................................ 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................101
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BĐBP:

Bộ đội Biên phòng

HV:

Học viên

HVBP:

Học viện Biên phòng

NTNSQBP:

Nhận thức nghề sĩ quan Biên phòng

SQBP:

Sĩ quan Biên phòng



MỞ ĐẦU
1, Lý do chọn đề tài.
Từ sau đổi mới năm 1986, đất nước ta đi vào nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN, từng bước hội nhập kinh tế với nhiều động thái khác nhau, cụ thể là
việc gia nhập các tổ chức quốc tế. Điều đó đưa đến cho đất nước ta những cơ hội và
thách thức mới đòi hỏi chúng ta phải nhạy bén trong việc nắm bắt và tiếp thu các tri
thức tiên tiến, các thành tựu khoa học công nghệ từ các nước đang phát triển. Để có
thể hội nhập với nền kinh tế quốc tế, xã hội cần phải có đội ngũ nguồn nhân lực trí
tuệ, có trình độ chun mơn tay nghề cao và phải có tâm huyết với nghề
Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố đặc biệt là yếu
tố chủ quan của người học. Sự ảnh hưởng của những yếu tố tâm lý nhân cách của
người học đến diễn biến và kết quả học tập, trau dồi nghề nghiệp của bản thân đó là
nhận thức nghề nghiệp được hiểu một cách cụ thể ở sinh viên, học viên đang học
nghề. Nhận thức nghề nghiệp là sự hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến
nghề. Nhận thức đầy đủ và sâu sắc về nghề đã chọn và đang học sẽ thúc đẩy người
học học tập nỗ lực hơn, đạt kết quả tốt hơn; sau khi ra trường sẽ tâm huyết với nghề
và sẽ gặt hái được nhiều thành công hơn trong công việc và sự nghiệp.
Chuyển mình theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, mặc dù tạo ra sự biến
chuyển mạnh mẽ về mọi mặt nhưng Đảng và Nhà nước ta cũng phải đối mặt với rất
nhiều khó khăn, thử thách. Một trong những khó khăn, thử thách đó là các thế lực thù
địch đang ra sức chống phá công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng
thời mặt trái của nền kinh tế thị trường cùng những diến biến phức tạp sau khi mở
cửa biên giới, làm cho nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới vốn đã khó khăn
gian khổ nay lại càng khó khăn phức tạp hơn. Bảo vệ tổ quốc, bảo vệ chủ quyền an
ninh biên giới là nhiệm vụ của toàn Đảng, tồn dân và tồn qn, trong đó Bộ đội
Biên phịng là lực lượng chuyên trách, nòng cốt. Hoạt động của BĐBP liên quan đến
cả đường lối đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đấu tranh với nhiều loại đối
tượng khác nhau, mà thủ đoạn của chúng rất tinh vi, xảo quyệt. Cuộc đấu tranh ấy chỉ
đạt kết quả khi nào xây dựng được một đội ngũ sĩ quan Biờn phũng cú bn lnh chớnh
tr vng vng, thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ

Cựng vi s nghip i mi và phát triển của đất nước, Học viện Biên phịng
khơng ngừng đổi mới với nhiều đóng góp lớn lao vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc. Học viện là trung tâm đào tạo những sĩ quan Biên phòng ưu tú, võa hång võa

1


chuyên, có đủ phẩm chất và năng lực thực hiện tèt nhiƯm vơ. Cơng tác giáo dục của
Học viện Biên Phịng hiện nay khơng chỉ chú trọng đào tạo chun mơn nghiệp vụ
mà cịn giúp học viên nhận thức đầy đủ với nghề mà các em đã lựa chọn. Bởi thực
tiễn cho thấy mặc dù phần lớn học viên có lực học khá, giỏi, đảm bảo các tiêu chuẩn
về chính trị, sức khỏe; am hiểu sâu sắc về chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng làm
chủ các trang thiết bị vũ khí, làm chủ cảm xúc, tình cảm bản thân thì vẫn cịn một bộ
phận có cái nhìn lệch lạc về giá trị nghề nghiệp dẫn đến tình trạng chán nản, ỷ lại,
khơng tích cực học tập, rèn luyện phẩm chất nhân cách…
Vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới công tác giáo dục hiện nay của Học viện
Biên phòng là phải làm rõ thực trạng nhận thức nghề nghiệp của học viên đào tạo đại
học từ đó có những giải pháp nâng cao tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức cách
mạng, chất lượng đào tạo nhằm xây dựng nhận thức đúng đắn tích cực cho mỗi học
viên.
Những năm gần đây, tuy đã có một số cơng trình nghiên cứu về nhận thức nói
chung, một số vấn đề tâm lý học về nhận thức nghề nghiệp nói riêng. Cũng có những
đề tài nghiên cứu về xu hướng nghề nghiệp sĩ quan Biên phịng nhưng chưa có đề tài
nào nghiên cứu về nhận thức nghề nghiệp của học viên ở Học viện Biên phòng đối
với nghề đang được đào tạo. Chính vì vậy chúng tơi chọn đề tài “Nhận thức của học
viên Học viện Biên phòng về nghề sĩ quan Biên phịng”
2, Mục tiêu nghiên cứu:
- Tìm hiểu nhận thức về nghề sĩ quan Biên phòng của Học viên Học viện Biên
phịng. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao nhận thức nghề
nghiệp cho học viên ở Học viện Biên phòng

3, Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu đã nêu, đề tài tập trung giải quyết những
nhiệm vụ cụ thể sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến nhận thức và nhận thức
nghề nghiệp, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng nhận thức của Học viên Học viện Biên phòng về nghề sĩ
quan Biên phòng
- Khảo sát sự tác động của các yếu tố đến nhận thức nghề của học viên HVBP.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức nghề nghiệp cho học
viên ở Học viện Biên phòng

2


4. Đối tượng nghiên cứu:
Nhận thức đối với nghề sĩ quan Biên phòng
5. Khách thể và phạm vi nghiên cứu:
5.1. Khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu chính là 120 học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội - bậc
đại học. Mẫu nghiên cứu là 4 nhóm sinh viên: năm thứ nhất, năm thứ hai, năm thứ ba
và năm thứ tư (Mỗi nhóm: 30 sinh viên)
Ngồi ra khách thể nghiên cứu phụ là một số cán bộ giảng dạy và cán bộ quản
lý giáo dục của nhà trường
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài giới hạn ở mức độ tìm hiểu một số biểu hiện đặc trưng nhận thức đối
với nghề đang theo học của học viên đào tạo đại học ở Học viện Biên phòng.
6. Giả thuyết khoa học
Nhận thức của học viên đào tạo đại học ở Học viện Biên phịng đối với nghề
đang được đào tạo nhìn chung là khá sâu sắc nhưng chưa đồng đều. Phần lớn học
viên có sự am hiểu nhất định về những đặc trưng, cũng như nhưng giá trị của ngành

nghề mà mình đã lựa chọn do đó có sự hứng thú, say mê trong học tập, tiếp thu kiến
thức. Tuy nhiên sự am hiểu chưa thật đẩy đủ và toàn diện (đặc biệt là HV năm thứ
nhất), nhiều học viên có xu hướng đề cao những giá trị vật chất, kinh tế của nghề do
đó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập, cũng như rèn luyện thể chất và phẩm chất
đạo đức cách mạng của người sĩ quan Biên phòng
7. Các phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng đồng
bộ các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
- Phương pháp phỏng vấn:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thống kê toán học trong nghiên cứu tâm lý học

3


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NHẬN THỨC VỀ NGHỀ SĨ QUAN BIÊN PHÒNG
1.1.Tổng quan nghiên cứu nhận thức nghề nghiệp
Nghề xuất hiện khi sản xuất của xã hội loài người có sự phân cơng lao động xã
hội. Nghề nghiệp cổ xưa nhất được biết đến là nghề săn bắn, hái lượm, trồng trọt và
chăn nuôi. Khi nền sản xuất ngày càng đa dạng do những tiến bộ của khoa học kỹ
thuật đã làm xuất hiện ngày càng nhiều nghề mới. Sự gia tăng số lượng nghề mới tạo
ra nhiều cơ hội cho cá nhân lựa chọn cho mình một nghề phù hợp. Tuy nhiên nó cũng
đặt con người trước những thách thức mới, đó là nghề mà mình đã chọn có thực sự
phù hợp với phẩm chất, năng lực và có đáp ứng được mong muốn nguyện vọng của
bản thân hay khơng. Xung quanh vấn đề này có nhiều tác giả trong và ngoài nước
quan tâm nghiên cứu
a, Nghiên cứu nước ngoài

Khi nghiên cứu về vấn đề nhận thức nghề nghiệp của cá nhân, các nhà khoa
học luôn đặt trong mối quan hệ với vấn đề định hướng, lựa chọn nghề, hứng thú đối
với nghề, thái độ đối với nghề do đó khơng có các nghiên cứu thuần túy về nhận thức
về nghề đã chọn. Có thể điểm qua một số xu hướng nghiên cứu về vấn đề này của các
nhà nghiên cứu tâm lý học nước ngoài
Năm 1883, nhà Tâm lý học người Anh F.Gallton lần đầu tiên sử dụng test để
chuẩn đốn nhân cách nhằm mục đích tư vấn nghề nghiệp cho thanh niên. Chiến
tranh thế giới lần thứ I đã tạo ra nhu cầu tiếp tục mở rộng nghiên cứu những phương
pháp nhằm xác định đặc điểm nhân cách phù hợp của cá nhân để qua đó tuyển chọn
và đào tạo cấp tốc nguồn nhân lực phục vụ cho nhu cầu chiến tranh. Trong giai đoạn
này các nhà TLH đã lựa chọn ra những cá nhân có đủ năng lực, trí tuệ, phục vụ trong
quân đội. Phương pháp này sau đó được áp dụng trong nhiều ngành nghề và các nhà
nghiên cứu cho rằng: Cá nhân chỉ phát huy được hết khả năng của bản thân khi được
làm những công việc phù hợp với những khả năng mà họ có.
Ở Liên Xơ đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về vấn đề nghề nghiệp từ những
năm 20 của thế kỷ XX. Năm 1921, phịng thí nghiệm tâm lý chuyên nghiên cứu nhân
cách học sinh phục vụ cho hướng nghiệp thành lập. Năm 1927 Hội nghị toàn liên
bang về tâm sinh lý lao động và tuyển chọn nghề được tổ chức tại Matxcova, nhiều

4


nhà tâm lý học nổi tiếng như E.A.Climop, V.I.Segurova… đã đi sâu nghiên cứu về xu
hướng, hứng thú nghề nghiệp quyết định hiệu quả hoạt động nghề [8, tr.52]
Năm 1962, Hilton đã phát hiện ra các yếu tố chi phối quyết định lựa chọn nghề
của thanh niên. Ông cho rằng nhân tố quyết định đến việc chọn nghề là lòng tin của
con người vào 1 nghề nào đó đem lại ý nghĩa cho bản thân họ.
Về nhận thức nghề nghiệp cũng có một số tài liệu đề cấp đến như N.D
Lêvitôp, V.A. Cruchetxki, A.V Petropxki trong cuốn “Tâm lý học sư phạm”. Các ông
đều cho rằng cần phải đối chiếu bản thân với yêu cầu về mặt tâm lý của nghề nghiệp,

để xem nghề nghiệp đó có phù hợp với mình hay khơng. Nói về nhận thức nghề
nghiệp, đa số các tác giả đều đưa ra nhận xét tương đối giống nhau, đó là sự kém hiểu
biết về nghiệp định chọn. Điều đó ảnh hưởng đến kết quả chọn nghề và chất lượng
học tập, công tác sau này. Các tác giả đều nhận thấy cần phải nâng cao hiểu biết về
nghề cho người học
Khi nghiên cứu về nhận thức của người học với nghề nghiệp N.I Cơrulôp đã
nhận xét người học ln có ý thức trong việc lựa chọn nghề nghiệp và sự lựa chọn đó
thường có những căn cứ. Cùng với quan điểm của Cơrulôp, trong một nghiên cứu
khác V.A kruchetxki đã nhấn mạnh tầm quan trọng của ý thức khi tìm hiểu những
thơng tin về nghề đã chọn. Tác giả cho rằng: “Nghề được chọn phù hợp với nguyện
vọng của cá nhân và các năng lực tương ứng đối với dạng lao động ấy sẽ mang lại sự
thỏa mãn về mạt đạo đức cho con người và lợi ích tối đa cho xã hội”
Như vậy, trong các công trình nghiên cứu nước ngồi, rõ ràng rất nhiều tác giả
đã đề cập đến vấn đề về nhận thức nghề nghiệp, nhưng chủ yếu phục vụ cho công tác
hướng nghiệp, hay lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên, hầu như khơng có cơng
trình nghiên cứu nào về nhận thức nghề nghiệp của chính những người đã lựa chọn
được nghề và đã có những hiểu biết nhất định về nghề. Nhưng chúng tơi vẫn có thể
kế thừa các kết quả nghiên cứu của các cơng trình nghiên cứu trên làm nền tảng lý
luận cho cơng trình nghiên cứu của mình
b, Nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, để phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, những
vấn đề về người lao động nói chung được quan tâm nghiên cứu, trong đó có một số
nghiên cứu về nhận thức nghề nghiệp, tuy nhiên các cơng trình nghiên cứu cũng đặt
vấn đề nhận thức nghề nghiệp trong mối quan hệ với định hướng, lựa chọn nghề hay
hứng thú nghề nghiệp của người học

5


Trong hơn 3 thập niên trở lại đây, ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu thực

tiễn giới thiệu về thế giới nghề nghiệp, những yêu cầu của nghề nghiệp với sự phù
hợp tâm lý cá nhân, làm cơ sở cho mỗi người lựa chọn, quyết định trước khi bước vào
học một nghề nào đó như: “Phụ nữ và nghề nghiệp” (1978); “Nghề em yêu thích”
(1985) của Phạm Tất Dong; “Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho
thanh niên” (2005) của Nguyễn Hữu Dũng; “Tuổi trẻ và nghề nghiệp” (2007)- Tủ
sách hướng nghiệp nhất nghệ tinh của Nhà xuất bản Kim Đồng do Nguyễn Thắng
Vu, Phạm Quang Vinh chủ biên.
Khi nền kinh tế mở cửa cho nhiều thành phần kinh tế tham gia, thanh niên có
nhiều cơ hội để chọn cho mình một nghề nghiệp ổn định và phù hợp. Lúc này xuất
hiện nhiều nghiên cứu về vấn đề nghề nghiệp. Nhận thức nghề nghiệp và hoạt động
chọn nghề cho học sinh là một trong những hướng nghiên cứu được nhiều tác giả
nghiên cứu
Tiêu biểu là Giáo sư Nguyễn Quang Uẩn, trong các nghiên cứu về vấn đề nghề
nghiệp ơng đã nhấn mạnh vai trị quyết định của yếu tố nhận thức nghề nghiệp, từ đó
hình thành xu hướng nghề nghiệp, nảy sinh những tình cảm yêu- ghét với các ngành
nghề. Ông cho rằng, nhận thức về nghề của người học cịn yếu, hứng thú nghề nghiệp
hình thành muộn chưa tập trung và rõ nét. Trong những nghiên cứu này tác giả cũng
đã chỉ ra một số ngun nhân có ảnh hưởng tiêu cực đến q trình nhận thức nghề
của học sinh
Cũng theo hướng nghiên cứu này, khi đề cập đến đặc điểm nhận thức nghề
nghiệp lựa chọn của học sinh, tác giả Phan Tố Oanh (1986) trong “Nhận thức nghề và
dự định chọn nghề của học sinh PTTH”, luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội đã đưa ra
những đặc trưng cơ bản trong nhận thức về nghề của học sinh là : “Những hiểu biết
của các học sinh về nghề chỉ dừng lại ở những hiểu biết bên ngồi, khơng bản chất
của nghề, phần lớn học sinh chưa có hiểu biết sâu sắc về những đặc trưng của nghề và
quan trọng hơn cả là học sinh chưa biết cách so sánh, đối chiếu để tìm ra sự phù hợp
giữa những đặc điểm bản thân với yêu cầu của nghề nghiệp”
Tác giả Lê Khắc Thìn (1996) trong nghiên cứu “Tìm hiểu thực trạng lựa chọn
nghề nghề của học sinh lớp 12 và công tác hướng nghiệp ở trường PTTH” đã đưa ra
nhận xét: “Nhận thức về nghề của học sinh mới chỉ dừng lại ở biểu hiện bề ngồi của

nghề, chưa đi tìm hiểu những đặc trưng của nghề. Sự hiểu biết của các em mang tính
chất cảm tính…”

6


Nghiên cứu của tác giả Đỗ Ngọc Anh (2006) “Xu hướng nghề nghiệp của sinh
viên ngành văn hóa thơng tin trong quá trình đào tạo tại các trường cao đẳng, đại học
ở Thành Phố Hồ Chí Minh”, viện KHGD, Hà Nội là một trong những nghiên cứu
hiếm hoi tiếp cận dưới góc độ của người đã lựa chọn nghề. Tác giả cho rằng: “Ngay
cả sinh viên, những người đã lựa chọn nghề nghiệp nhưng nhận thức của họ về nghề
lựa chọn vẫn chưa đầy đủ. Sự định hướng giá trị nghề còn lệch lạc, sự phù hợp về
phẩm chất tâm lý với nghề chưa cao”
Nói về những thơng tin cung cấp cho học sinh, thanh niên về các loại nghề
trong xã hội, Tủ sách hướng nghiệp nhất nghệ tinh của Nhà xuất bản Kim Đồng có
nhiều loại sách giới thiệu về các nghành nghề khác nhau. Trong đó cuốn “Nghề bộ
đội” giới thiệu cho người đọc về những đặc thù, chức năng, yêu cầu, nhiệm vụ và
những giá trị xã hội của nghề bộ đội. Bên cạnh đó, cuốn sách còn cung cấp cho người
đọc hiểu rõ từng chức năng nhiệm vụ cụ thể của các lực lượng quân, binh chủng khác
nhau trong đó có Bộ đội Biên phịng.
Trong lĩnh vực quân đội, trong những năm vừa qua có nhiều đề tài khoa học,
cơng trình nghiên cứu ở các cấp khác nhau nghiên cứu về lĩnh vực quân đội nói
chung, nghề nghiệp quân sự nói riêng. Nhưng các nghiên cứu bao giờ cũng gắn với
một chuyên ngành đào tạo nhất định, với một loại hình cán bộ nhất định, như: “Ni
dưỡng giá trị văn hóa trong nhân cách người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam ”
(1999) do PGS, TS Đinh Xuân Dũng làm chủ nhiệm; “Định hướng giá trị nhân cách
đội ngũ sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam” (2002) do PGS, TS Lại Ngọc Hải
làm chủ nhiệm; báo cáo khoa học “định hướng giá trị nghề nghiệp cho học viên đào
tạo sĩ quan cấp phân đội – bậc đại học ở học viện hậu cần hiện nay” (2008) do Th.s,
đại tá Nguyễn Thanh Phong, Học Viên Hậu cần chủ biên

Dễ dàng nhận thấy vấn đề nghề nghiệp nhận được sự quan tâm nghiên cứu của
nhiều nhà khoa học, tuy nhiên các cơng trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam
thường tập trung vào một số vấn đề quen thuộc như xu hướng, hứng thú, động cơ,
định hướng giá trị nghề của học sinh. Trong khi đó những nghiên cứu về nhận thức
của sinh viên được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng, các trường dạy nghề ít
được đề cập một cách đầy đủ, sâu sắc cả về mặt lý luận và thực tiễn. Chính vì vậy qua
đề tài này, chúng tơi muốn khảo sát thực trạng nhận thức về nghề nghiệp của học viên
đang học tại Học viện Biên phòng, để từ đó đề xuất 1 số giải pháp góp phần nâng cao
nhận thức về nghề sĩ quan Biên phòng

7


1.2. Cơ sở lý luận nhận thức về nghề sĩ quan biên phòng
1.2.1. Một số khái niêm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm nhận thức
a, Định nghĩa nhận thức
Nhận thức là một trong những vấn đề lý luận cơ bản của những ngành khoa
học nghiên cứu về con người trong đó có triết học và tâm lý học.
Theo từ điển tiếng Việt-1992: “Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh
và tái hiện hiện thực vào trong tư duy; quá trình con người nhận biết và hiểu biết thế
giới khách quan hoặc kết quả của q trình đó” [21, tr.689]
Theo quan điểm của tâm lý học Mác - xít thì nhận thức là một trong ba mặt cơ
bản của đời sống tâm lý con người bên cạnh tình cảm và hoạt động. Giữa chúng có
mối quan hệ biện chứng chặt chẽ. Một đời sống tâm lý được coi là cân bằng khi có
sự thống nhất giữa nhận thức, tình cảm và hoạt động. Quá thiên về lý trí sẽ trở thành
con người khô khan, thiếu đi sức mạnh thúc đẩy của động cơ tình cảm, cịn nếu q
thiên về tình cảm dễ không sáng suốt, dễ xa rời quy luật khách quan, hành động tự
phát theo những cảm xúc chủ quan duy ý chí. Vì vậy hành động cũng phải dựa trên
nhận thức quy luật khách quan, nếu không là hành động theo ý chí mù quáng.

K.K.Platonốp - nhà tâm lý học Xô Viết định nghĩa : Nhận thức là quá trình thu
nhận tri thức chân thực trong thế giới khách quan, trong qúa trình hoạt động thực tiễn
xã hội.
Như vậy nhờ hoạt động nhận thức, con người không chỉ phản ánh được hiện
thực xung quanh mà còn nhận thức bản thân mình nữa, khơng chỉ phản ánh cái bên
ngồi mà cịn phản ánh cả cái bản chất bên trong, khơng chỉ phản ánh cái hiện tại mà
cả cái đã qua và cái sẽ tới các quy luật phát triển của hiện thực nữa. Lê Nin đã tổng
kết quy luật của hoạt động nhận thức nói chung như sau : “Từ trực quan sinh động
đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện
chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”
Từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện định nghĩa: “Nhận thức là quá
trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện thực vào trong tư duy, nhận biết và hiểu biết
thế giới khách quan” Tâm lý học xem nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời
sống tâm lý con người. Nhận thức có mối quan hệ với thái độ và hành vi. Trong đó
nhận thức là cơ sở của thái độ và hành vi.

8


Nguyễn Quang Uẩn cho rằng “Nhận thức là hoạt động đặc trưng của con
người. Trong quá trình sống và hoạt động con người nhận thức- phản ánh được hiện
thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ và
hành động đối với thế giới xung quanh và đối với chính bản thân mình” [46, tr.88]
Tóm lại từ các quan điểm nhận thức như trên chúng ta có thể tổng kết lại như
sau : “Nhận thức là quá trình thu nhận những tri thức chân thật về thế giới khách
quan trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, là quá trình tâm lý phản ánh sự vật,
hiện tượng xung quanh và bản thân con người, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ,
tình cảm và hành động”
Như vậy chúng ta nhận thấy: Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách
quan do đó nếu con người có nhận thức tốt tức là quá trình phản ánh hiện thực khách

quan đúng đắn, đầy đủ. Nhận thức có mối quan hệ với tình cảm, thái độ. Tức là khi
con người nhận thức tốt sẽ làm nảy sinh, định hướng, điều khiển tình cảm, thái độ và
giúp con người tỏ thái độ phù hợp. Nhận thức có mối quan hệ với hành động. Nhận
thức tốt sẽ làm động lực thúc đẩy con người hành động và đạt kết quả tốt.
b, Các giai đoạn của quá trình nhận thức
Trong việc nhận thức thế giới con người có thể đạt tới những mức độ nhận
thức khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp. Nhận thức bao gồm nhiều giai đoạn khác
nhau và sản phẩm của mỗi giai đoạn là khác nhau. Ta có thể chia hoạt động nhận
thức thành hai giai đoạn : nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận thức cảm
tính bao gồm 2 quá trình cảm giác và tri giác. Nhận thức lý tính gồm có q trình tư
duy và tưởng tượng. Giữa cảm tính và lý tính có cấp độ trung gian, đó là trí nhớ
 Nhận thức cảm tính
Nhận thức cảm tính mức độ nhận thức đầu tiên của con người. Đặc điểm của
nhận thức cảm tính là chỉ phản ánh được những thuộc tính khơng bản chất của sự vật,
hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta. Nhận thức cảm tính bao gồm
có 2 quá trình cơ bản là cảm giác và tri giác.
- Cảm giác
Cảm giác là một quá trình nhận thức đơn giản nhất, phản ánh những đặc điểm
riêng lẻ, bề ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác
quan tương ứng của con người
Mức độ cảm giác chúng ta mới chỉ có những hiểu biết rất mơ hồ, rất chung
chung về thế giới xung quanh, thậm chí cảm giác có thể khơng chính xác. Mặc dù

9


cảm giác là quá trình tâm lý rất đơn giản, nhưng nó có vai trị vơ cùng to lớn đối với
hoạt động nhận thức nói riêng và đối với cuộc sống con người nói chung. “Cảm giác
là những viên gạch đầu tiên từ đó dựng nên lâu đài nhận thức” (V.I.Lenin). Cảm giác
là công cụ duy nhất nối liên ý thức với thế giới bên ngồi. Khơng có cảm giác con

người không thể định hướng được trong môi trường xung quanh, không thể giao thiệp
được với mọi người, không thể lao động và không thể tránh khỏi các mối nguy hiểm
- Tri giác
Tri giác là một quá trình nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính
bề ngồi của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của
chúng ta.
Tri giác là một quá trình nhận thức cao cấp hơn cảm giác, là sự tổng hợp một
cách phức tạp của cảm giác. Để tạo ra hình ảnh trọn vẹn về thế giới xung quanh. Q
trình tri giác có sự tham gia của kinh nghiệm, của tư duy, của ngôn ngữ và nhiều chức
năng tâm lý khác nữa. Vì thế tri giác khơng chỉ là q trình tạo ra hình ảnh cảm tính
về sự vật, hiện tượng mà cịn là một hoạt động tích cực của con người. Tuy nhiên tri
giác cũng chỉ mới là cảm tính, vì vậy nó cũng thiếu chính xác và khơng sâu sắc.
Như vậy nhận thức cảm tính chỉ phản ánh những sự vật hiện tượng đang trực
tiếp tác động vào các giác quan của ta. Tuy nhiên, trong thực tiễn của đời sống lại
ln địi hỏi con người phải hiểu biết nhiều hơn những gì mà các giác quan trực tiếp
có thể đem lại. Và con người có khả năng đạt đến sự hiểu biết đó bằng một quá trình
nhận thức gián tiếp và khái quát cao hơn, đó là tư duy và tưởng tượng (cịn gọi là
nhận thức lý tính ).
 Nhận thức lý tính
Nhận thức lý tính là giai đoạn nhận thức cao hơn so với cảm tính, nó cho ta
biết cái bên trong, cái bản chất, cái qui luật của sự vật, hiện tượng. Nhận thức lý tính
bao gồm 2 q trình tư duy và tưởng tượng
- Tư duy
Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối
liên hệ và quan hệ có tính qui luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan,
nảy sinh trên cơ sở nhận thức cảm tính. Tư duy cho ta biết những thuộc tính bản chất
bên trong, những qui luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng, những cái mà bằng giác
quan, bằng nhận thức cảm tính con người chưa thể phản ánh được. Tư duy nảy sinh
trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ nhận thức cảm tính và vượt ra ngoài nhận thức cảm


10


tính. Tư duy là q trình tâm lý khơng tách rời ngơn ngữ, hình thành bởi xã hội, đi
tìm cái mới cơ bản, là quá trình phản ánh gián tiếp và khái qt hiện thực. Chính vì
thế tư duy cho phép ta tìm hiểu quá khứ xa xưa và cũng cho phép ta nhìn về tương lai.
- Tưởng tượng
Trong thực tế, khơng phải bất cứ tình huống có vấn đề nào ta cũng đều giải
quyết được bằng tư duy. Có nhiều trường hợp, khi đứng trước tình huống có vấn đề
con người không thể dùng tư duy để giải quyết mà phải dùng một quá trình nhận thức
khác, gọi là tưởng tượng.
Tưởng tượng là một quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa từng có
trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở
những biểu tượng đã có.
Như vậy, nhận thức lý tính là mức độ nhận thức cao hơn nhận thức cảm tính.
Phương thức phản ánh của nhận thức lý tính là phản ánh một cách gián tiếp. Đó
khơng chỉ là sự phản ánh hiện tại mà còn cả quá khứ và tương lai. Q trình nhận
thức lý tính có sản phẩm là những khái niệm, phán đoán, quy luật, quy tắc, những
biểu tượng mới ... Nhận thức lý tính có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính.
Nhận thức lý tính có vai trị vơ cùng quan trọng trong việc giúp con người hiểu biết
bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng tạo điều kiện để
họ làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân mình.
c, Các mức độ của quá trình nhận thức
Theo Bloom, hoạt động nhận thức được chia ra nhiểu cấp độ khác nhau, mỗi
cấp độ cung cấp cho con người những hiểu biết về thế giới khách quan, về các sự vật
hiện tượng. Sự hiểu biết này được thể hiện qua ba mức độ cơ bản đó là: Nhận biết,
thông hiểu và vận dụng
- Nhận biết
Biết là mức độ nhận thức thấp nhất, nhận thức cảm tính bao gồm nhiều mức
độ khác nhau: cảm giác, tri giác, trí nhớ

Cảm giác vừa là sự phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật thông qua
hoạt động của tổng giác quan. Cảm giác chưa phản ánh được một cách trọn vẹn, đầy
đủ các thuộc tính của sự vật, hiện tượng
Tri giác là mức độ nhận thức cao hơn so với cảm giác, phát sinh trên cơ sở
hoạt động thực tiễn của con người và sự lĩnh hội kinh nghiệm của họ. Sản phẩm của
tri giác bao giờ cũng là hình ảnh trọn vẹn của sự vật, hiện tượng.

11


Trí nhớ là sự phản ánh cái đã có trong kinh nghiệm cũ. Sự phản ánh đó dựa
trên việc thành lập những mối liên hệ tạm thời khá vững chắc (ghi nhớ) và việc khôi
phục lạ hoặc phục hồi lại những mối liên hệ sau này. Trí nhớ là quá trình theo đó ta
nhận ra một sự kiện kích thích nào đó, là sự kiện đã nhìn thấy hoặc nghe thấy trước đây
- Thơng hiểu
Hiểu là q trình nhận thức lý tính. Hiểu là q trình phản ánh gián tiếp, độc
lập và mang tính khái quát, nảy sinh trên cơ sở biết nhận thức cảm tính. Hiểu phản
ánh thuộc tính bản chất những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính qui luật của
sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan. Hiểu biểu hiện từ chưa đẩy đủ đến đầy
đủ, từ chưa sâu sắc đến sâu sắc từ nơng đến sâu.
Như vậy, hiểu là q trình phản ánh được bản chất, những mối liên hệ có tính
qui luật của các đối tượng và hiện tượng của hiện thực. Hiểu là hành vi của con người
bao gồm việc chỉ ra nguyên nhân khách quan của hoạt động, động cơ có ý nghĩa xã
hội của hoạt động đó. Hiểu là hoạt động phân tích, tổng hợp, trong đó phân tích là
tách ra những dấu hiệu bản chất, cịn tổng hợp là kết hợp những dấu hiệu, những
thuộc tính hay khía cạnh khác của đối tượng, là gợi lại những mối liên hệ đã có sẵn
hoặc mối liên hệ mới. Hai q trình phân tích, tổng hợp thường kết hợp chặt chẽ với
nhau và đảm bảo khách quan của sự hiểu.
- Vận dụng
Vận dụng là một tiêu chí quan trọng nhất của nhận thức. Vận dụng có nhiều

cấp độ: Cấp độ trừu tượng và cụ thể hóa. Vận dụng trở thành tiêu chí xem xét con
người, hiểu hay khơng hiểu. Hiểu thấp vận dụng ở mức độ thấp, hiểu cao vận dụng ở
mức độ cao
Vận dụng ở đây chính là sự vận dụng tri thức vào giải quyết các vấn đề thực
tiễn; tổng hợp, tái tạo lại một cái khác (con người biết liên kết các bộ phận tạo nên
tổng thể mới); biết phê phán, bình luận, đánh giá, vận dụng những tri thức biết phân
chia vấn đề lớn thành vấn đề nhỏ, làm sáng tỏ các mối quan hệ giữa các bộ phận…
Con người biết nhận định, phán đoán về giá trị, ý nghĩa, nguyên tắc, khái niệm.
1.2.1.2. Khái niệm nghề nghiệp
a, Định nghĩa nghề nghiệp
Nghề là một lĩnh vực được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, khơng
chỉ có Tâm lý học. Vậy nghề được hiểu như thế nào? Khi nói đến nghề nghiệp người
ta cũng nói đến một trình độ chun mơn nhất định (thấp hay cao) được lĩnh hội trong

12


hệ thống giáo dục và đào tạo của xã hội hay được truyền lại theo kinh nghiệm của gia
đình hoặc người thân.
Theo E.A.Klimov nghề là lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần
của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân cơng lao động
mà có) nó tạo ra khả năng cho con người sử dụng sức lao động của mình để thu lấy
những phương tiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển.
Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Như Ý định nghĩa về nghề trong Đại từ điển
Tiếng Việt là “công việc chuyên làm theo phân công của xã hội” cịn nghề nghiệp là
nghề nói chung. Như vậy, khái niệm nghề nghiệp ở đây gắn liền với chuyên mơn và
có điểm mới là làm theo phân cơng lao động xã hội. Chữ “nghiệp” theo văn hóa
phương Đơng cịn được hiểu là định mệnh, là cái gắn bó lâu dài và quan hệ chi phối
của nghề đối với con người.
Nguyễn Viết Sự trong tuổi trẻ với nghề truyền thống đã định nghĩa về nghề

như sau: Nghề là khái niệm chỉ cơng việc chun làm theo địi hỏi của đời sống xã
hội hoặc theo sự phân công của xã hội. Giá trị xã hội của mỗi người được xác định
thông qua kết quả lao động nghề nghiệp mà người đó tạo ra cho xã hội và bản thân
[31, tr 56]
Theo từ điển tiếng Việt: Nghề là chuyên môn theo sở trường hoặc theo sự
phân công của xã hội. Nghề là một thuật ngữ chỉ một hình thức lao động trong xã hội,
theo sự phân công lao động xã hội, mà ở đó con người sử dụng sức lao động của
mình để tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần cho các cá nhân và xã hội. Con
người thông qua việc hành nghề để duy trì, phát triển cuộc sống cá nhân, gia đình
đồng thời góp phần tạo ra sự phát triển cho xã hội [18, tr43].
Nghề theo nghĩa Latinh có nghĩa là cơng việc chun mơn được hình thành
một cách chính thống, là dạng lao động địi hỏi một trình độ học vấn nào đó, là cơ sở
hoạt động cơ bản nhất giúp con người tồn tại.
Nghề là tổ hợp những chun mơn có quan hệ cùng loại. Ở bất kỳ quốc gia
nào cũng tồn tại hai loại nghề: nghề được đào tạo và nghề không được đào tạo
Nghề khơng được đào tạo là nghề được hình thành tự phát do nhu cầu của xã
hội, do tích lũy kiến thức hoặc do sự truyền nghề từ người này sang người khác, từ
đời này sang đời khác mà có.
Nghề được đào tạo là do trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà con người cần
đạt được nhờ quá trình đào tạo dài hạn hoặc ngắn hạn nhằm tạo ra sản phẩm để trao

13


đổi trên thị trường và được con người gắn bó lâu dài với hoạt động đó như là lẽ sống
của mình
Như vây có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nghề, nhưng tựu chung lại, các
tác giả đều thống nhất ở quan điểm cho rằng nghề được hiểu là một thuật ngữ dùng
để chỉ một hình thức lao động đặc thù vừa mang tính xã hội (làm theo sự phân cơng
của xã hội), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân), trong đó con người sử dụng

sức lao động (trí tuệ và cơ bắp) của mình để tạo ra những sản phẩm vật chất hoặc
tinh thần phục vụ cho nhu cầu bản thân và cho xã hội. Thông qua hoạt động nghề
con người khơng chỉ duy trì, phát triển cuộc sống cá nhân mà cịn góp phần xây dựng
và đảm bảo các nhu cầu khác nhau của xã hội. Trên cơ sở tổng hết các quan điểm của
các nhà Tâm lý học căn cứ vào thực tiễn hoạt động lao động, nghề nghiệp hiện nay,
chúng tôi cho rằng: Nghề là một dạng hoạt động đặc thù của con người, được tạo ra
do sự phân cơng xã hội, trong đó người ta sử dụng sức lao động vật chất, tinh thần
được đào tạo và tự đào tạo của bản thân nhằm tạo ra sản phẩm cần thiết phục vụ cho
nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân xã hội
b, Giá trị của hoạt động nghề
Giá trị là cái có ý nghĩa đối với mỗi cá nhân, tập thể và xã hội, phản ánh mối
quan hệ chủ thể và khách thể, được đánh giá xuất phát từ những điều kiện lịch sử xã
hội cụ thể và phụ thuộc vào trình độ nhân cách.
Giá trị nghề nghiệp là những quan niệm về nghề nghiệp (nghề chính, nghề
phụ) qua các đặc điểm văn hóa, giá trị tồn tại hiện hữu mang những ý nghĩa chi phối
hành vi, thái độ đánh giá như đề cao, coi thấp hoặc miệt thị nghề nào đó. Các giá trị
của hoạt động nghề bao gồm:
- Giá trị kinh tế
Nghề đã tạo ra những sản phẩm hết sức thiết dụng đến độc đáo, từ vật dụng
thường ngày trong gia đình tới các mặt hàng tinh xảo trong các lễ hội đình chùa,
cung đình. Nó khơng chỉ đem lại giá trị kinh tế trong nước mà còn cả giá trị ngoại tệ
xuất khẩu ra nước ngoài.
Đối với mỗi con người, làm việc trước hết là để kiếm tiền cho chi phí mọi mặt
của cuộc sống cả vật chất lẫn tinh thần của bản thân và gia đình. Mặt khác, nó cũng
đóng góp vào sự phát triển kinh tết đất nước… Nhưng nếu coi tiền là động lực duy
nhất thúc đẩy con người làm việc và khơng ít trường hợp coi tiền trở thành tiêu chí

14



duy nhất đánh giá năng lực làm việc của người lao động thì chưa đúng, vì ngồi giá
trị kinh tế ra hoạt động nghề (lao động) đem lại cho con người nhiều giá trị khác.
- Giá trị văn hóa- xã hội
Nhìn vào sản phẩm lao động người ta khơng chỉ thấy được phong tục tập quán
truyền thống , phong cách, đặc điểm tâm lý của dân tộc mà còn thấy được khả năng
tư duy, sắc thái đặc trưng của từng cá nhân.
Ở một khía cạnh khác, các thành quả lao động mà mỗi người làm ra sẽ là tiêu
chí để tập thể, xã hội đánh giá năng lực của mỗi người và ở góc độ cá nhân hay tập
thể thì các sản phẩm làm ra dù là hết sức thông dụng độc đáo, từ các vật dụng hàng
ngày trong gia đình hay mặt hàng tinh xảo trong các lễ hội đình chùa cũng mang giá
trị khẳng định vai trị, vị trí của cá nhân đó trong nền kinh tế quốc dân, trong nền văn
hóa dân tộc và nhân loại. Các sản phẩm đó là sản phẩm của cả quá khứ và là cơng cụ
của tương lai nữa.
- Giá trị hồn thiện nhân cách mỗi người
Trong quá trình mỗi người vươn tới đối tượng, để nhận thức sự vật, sản xuất ra
sản phẩm, phát minh, tạo ra cuộc sống, đồng thời tạo ra bản thân (tâm lý, nhân cách,
ý thức…) với tư cách là một nhân cách.
Mỗi người lĩnh hội kinh nghiệm, tri thức của loài người, của dân tộc biến
thành kinh nghiệm, tri thức, cách suy nghĩ, vốn sống riêng của mình, tâm lý người là
kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người đã biến thành cái riêng của từng người. Tâm lý
người mang bản chất xã hội lịch sử. Càng sống nhiều càng tham gia vào vận hành các
mối quan hệ kể trên, càng hăng hái lao động, càng kiên trì học tập, càng tích cực đấu
tranh cho tiến bộ xã hội, thế giới tâm lý con người càng phong phú.
Ở góc độ cá nhân, mỗi người phù hợp với 1 nghề hay một nhóm nghề nhất
định, vì vậy hoạt động nghề nghiệp sẽ là cơ sở để mỗi cá nhân tự hoàn thiện nhân
cách bản thân
Qua hoạt động lao động, một mặt con người có điều kiện thỏa mãn các nhu
cầu khác nhau của bản thân, mặt khác hình thành trong mỗi con người tích cực hoặc
khơng tích cực với đối tượng lao động, từ đó hình thành lịng say mê, hứng thú với
cơng việc của mình và con người càng có nhu cầu được làm việc, được cống hiến,

được hiện thực hóa các năng lực của bản thân, từ đó ngày càng làm giàu cho bản thân
mình và cho xã hội

15


Thơng qua q trình lao động, đạt được các kết quả khác nhau được tập thể,
gia đình, xã hội cơng nhận và đánh giá, càng làm cho con người tin tưởng bản thân,
hăng say nỗ lực hơn, từ đó làm gia tăng giá trị của bản thân và tự hoàn thiện nhân
cách của mình.
Nhờ lao động ở mỗi người hình thành nên những phẩm chất cần cù, siêng
năng, chăm chỉ
Qua lao động mà kỹ năng, kỹ xảo, chuyên môn của mỗi người được hình
thành và phát triển, hồn thiện, tri thức nghề nghiệp càng phong phú
Lao động hình thành ở mỗi cá nhân một phong cách độc đáo, có thể thông qua
cách ăn mặc, giao tiếp của mỗi người, khi hợp lý trở thành nét văn hóa của cá tập thể
làm nghề đó và khi đó nó có tác dụng ngược trở lại với từng cá nhân, nó trở thành
khn mẫu ứng xử của từng người trong tập thể.
Có thể nói rằng bằng lao động, thơng qua lao động các cá nhân có điều kiện
phát huy, hồn thiện năng lực nghề nghiệp và hồn thiện nhân cách của mỗi mình,
vấn đề đặt ra là làm sao để mỗi cá nhân có điều kiện tốt nhất phát huy năng lực nghề
nghiệp của mình qua đó hồn thiện mình.
1.2.1.3. Nghề sĩ quan biên phòng
- Sĩ quan
Quân đội nhân dân Việt Nam với bản chất trung thành vô hạn với Tổ quốc, với
nhân dân, với Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ nghĩa xã hội khơng chỉ có nhiệm vụ
canh giữ, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, từ biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà cịn
là đội qn cơng tác và sản xuất. Tùy thuộc vào khả năng, trình độ và nguyện vọng,
cấp bậc trong quân đội có: Sĩ quan, quân nhân chun nghiệp, cơng nhân viên quốc
phịng, hạ sĩ quan và binh sĩ.

Trong đó, Theo Điều 1 “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sĩ quan
Quân đội nhân dân Việt Nam” do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng ký ngày
3/6/2008 thì “Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam là cán bộ Đảng Công sản Việt
Nam và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực
quân sự, được Nhà nước phong hàm từ cấp úy, cấp tá, cấp tướng”[43]
Như vậy có thể nói sĩ quan là những cán bộ được đào tạo cơ bản về chuyên
ngành quân sự, chỉ huy các đơn vị quân đội, làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc.

16


- Sĩ quan Biên phòng
- Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận của lực lượng vũ trang có
nhiệm vụ bảo vệ sự tồn vẹn lãnh thổ, chủ quyền của quốc gia, chống ngoại xâm.Với
bản chất là trung thành vô hạn với tổ quốc, với nhân dân với Đảng cộng sản Việt
Nam và chủ nghĩa xã hội không chỉ có nhiệm vụ canh giữ, bảo vệ tồn vẹn lãnh thổ,
từ biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà cịn là đội qn cơng tác và sản xuất.
Lực lượng quân đội nhân dân Việt bao gồm Lục quân, Hải qn, Khơng qn, Biên
phịng, Tuần dun và Phịng khơng, đặt dưới sự quản lý của Bộ Quốc phòng và chịu
sự điều động của Bộ Tổng tham mưu
- Bộ đội Biên phòng là lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng Cộng sản Việt
Nam, của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là một thành phần
của Quân đội Nhân dân Việt Nam, làm nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự biên giới quốc gia trên đất liền, các hải đảo,
vùng biển và tại các cửa khẩu theo phạm vi nhiệm vụ do pháp luật quy định và là một
lực lượng thành viên trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện biên giới của nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
BĐBP là một trong 3 thành phần của quân đội nhân dân Việt Nam, cũng giống
như các lực lượng thành phần khác, dựa vào trình độ, năng lực chuyên môn, nhu cầu
đào tạo, cấp bậc trong lực lượng BĐBP bao gồm: Sĩ quan; Quân nhân chuyên nghiệp;

Công nhiên viên chức quốc phòng; Hạ sĩ quan chiến sĩ.
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Sĩ quan Quân đội nhân dân
Việt Nam năm 2008 và dựa vào đặc thù riêng của lực lượng Bộ đội Biên phòng. Sĩ
quan Biên phòng được định nghĩa như sau:
Sĩ quan Biên phòng là một bộ phận của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, là
cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt
động trong lĩnh vực Biên phòng, được Nhà nước phong hàm từ cấp úy, cấp tá, cấp tướng
- Nghề sĩ quan Biên phòng
Căn cứ vào những nội dung phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm về nghề
sĩ quan Biên phòng như sau:
Nghề sĩ quan Biên phòng là một lĩnh vực lao động đặc biệt mà chủ thể là đội
ngũ sĩ quan được đào tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ luôn sẵn sàng chỉ huy
chiến đấu và chiến đấu bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự biên giới
quốc gia

17


1.2.2 Nhận thức của học viên Học viện Biên phòng về nghề sĩ quan biên phòng
1.2.2.1. Vài nét về học viên Học viện Biên phòng
HV ở HVBP là khách thể nghiên cứu chính của đề tài. Hiện nay HVBP có
nhiều đối tượng đào tạo khác nhau: Đào tạo sĩ quan Biên phòng bậc đại học, cao học,
tiến sĩ; các lớp cán bộ ngắn hạn, cảnh sát bảo vệ mục tiêu, học viên Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia...Mỗi đối tượng HV có những nét đặc thù
khác nhau về tâm sinh lý, lứa tuổi, chương trình đào tạo…
Trong đó HV đào tạo đại học thực hiện khóa học 04 năm (bao gồm 06 tháng
huấn luyện quân sự tại Đại học Trần Quốc Tuấn). HV đào tạo đại học ở HVBP được
tuyển chọn từ những thanh niên đã tốt nghiệp phổ thơng trung học, có đủ điều kiện,
đảm bảo về sức khỏe, phẩm chất chính trị, năng lực để tham gia quân đội và đào tạo
tại học viên. Đối tượng là HV đào tạo đại học (4 năm) cũng bao gồm 2 đối tượng: HV

cử tuyển, và HV thi tuyển. HV cử tuyển là con em của những đồng bào dân tộc thiểu
số có đủ phẩm chất chính trị, năng lực và sức khỏe được tuyển chọn vào Học viện
(khơng qua thi cử) tham gia chương trình đào tạo đại học. Kết thúc khóa học phần lớn
HV cử tuyển được điều động về q hương của mình cơng tác. HV thi tuyển là những
thanh niên tốt nghiệp phổ thơng trung học, có đủ kiến thức, năng lực, và phải có đủ
điều kiện về sức khỏe, phẩm chất đạo đức tham gia kỳ thi tuyển sinh và trúng tuyển.
Sau q trình đào tạo 04 năm sẽ được phân cơng công tác theo chuyên ngành và theo
sự điều động của tổ chức.
Hiện nay số lượng HV đào tạo đại học ở HVBP khoảng hơn 2000 sinh viên
được phân bổ từ năm thứ nhất đến năm thứ tư.
HV năm thứ nhất, sau kỳ thi tuyển sinh và trúng tuyển được tập trung về Đại
học Trần Quốc Tuấn tham gia khóa huấn luyện quân sự 06 tháng. Sau đó các em
được làm quen với môi trường học tập tại HVBP. Thời gian còn lại của năm thứ nhất
các em sẽ tiếp cận với một số môn khoa học cơ bản (ngoại ngữ, tin học, tốn cao cấp,
triết học, tư tưởng Hồ Chí Minh,…) và một số môn rèn luyện thể chất (điều lệnh đội
ngũ, võ thuật…) Do vậy các em đã bước đầu có những hiểu biết cơ bản về yêu cầu
thể chất, kiến thức nền tảng đối với nghề SQBP
Sang năm thứ 2, phần lớn HV đã hình thành thói quen học tập, nghiên cứu ở
trường đại học, các em tiếp tục được học một số môn cơ bản (tâm lý, giáo dục,
phương pháp nghiên cứu khoa học…), một số môn chính trị (Cơng tác đảng, cơng tác
chính trị,pháp luật…) và bắt đầu học các môn chuyên ngành, nghiệp vụ biên phòng

18


×