Tải bản đầy đủ (.doc) (149 trang)

Văn hoá tộc người hmông ở lào cai trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (538.08 KB, 149 trang )

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu của cơng nghiệp hố, hiện đại hố ở nước ta là chuyển đổi nền
sản xuất từ sản xuất nông nghiệp lạc hậu dựa trên lao động thủ công và lao
động phổ thông sang phát triển nền sản xuất công nghiệp hiện đại, nông
nghiệp hiện đại, dịch vụ tiên tiến dựa trên những thành tựu của cách mạng
khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong sự nghiệp này, văn hố có vai trị hết sức quan trọng, khơng chỉ
tác động đến nâng cao tầm nhìn, phát triển tư duy khoa học, xây dựng nguồn
nhân lực chất lượng cao cho q trình cơng nghiệp hố, văn hố cịn góp phần
chuyển đổi lối sống, tác phong của xã hội tiền công nghiệp sang xã hội công
nghiệp, đô thị và hội nhập quốc tế, góp phần giữ gìn bản sắc tốt đẹp của dân
tộc, khắc phục những mặt trái của quá trình cơng nghiệp hố, đơ thị hố.
Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng tới việc bảo tồn và phát triển
văn hoá.
Riêng đối với vùng miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Nghị
quyết số 22 NQ/TƯ ngày 27/11/1988 của Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khố VI nêu rõ:
Tơn trọng và phát huy những phong tục tập quán truyền thống
văn hoá tốt đẹp của các tộc người. Nền văn minh ở miền núi phải
được xây dựng trên cơ sở mỗi tộc người phát huy bản sắc văn hố
của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn hố các dân tộc người khác và
góp phần phát triển văn hoá chung của cả nước tạo ra sự phong phú
đa dạng trong nền văn minh của các cộng đồng các tộc người Việt
Nam [8].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá
VIII tiếp tục khẳng định: “Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị về
văn hoá, văn học nghệ thuật của các tộc người thiểu số” [27]. Có thể nói,



2
việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của các tộc người là
một chủ trương và chính sách lớn của Đảng, Nhà nước ta, đã và đang từng
bước triển khai trong thực tiễn ở khắp các địa phương.
Nằm ở địa đầu biên giới phía Bắc, với diện tích tự nhiên là
8.049,45km2, có 203km đường biên giới giáp với Trung Quốc, Lào Cai là nơi
sinh sống của 25 dân tộc. Trong nhiều năm qua, được sự quan tâm của Đảng
và nhà nước cùng với việc Chính phủ hai nước Việt Nam - Trung Quốc thống
nhất hợp tác thực hiện chiến lược “Hai hành lang một vành đai”, trong đó
xác định Lào Cai là cửa ngõ quan trọng trong hành lang kinh tế Côn Minh Lào Cai - Hà Nội - Hải Phịng, các cơng tác triển khai mạnh mẽ mang tính
chiến lược đó đã tạo ra cho Lào Cai một vị thế tương xứng với tiềm năng và
thu hút được sự chú ý từ các nhà đầu tư trong và ngồi nước. Vì vậy, đời sống
của các đồng bào dân tộc trong tỉnh ngày càng được nâng cao rõ rệt. Trong
cơng nghiệp hố, hiện đại hố Lào Cai cũng như các tỉnh miền núi phía Bắc
và cả nước đều hướng tới mục tiêu tiến bộ xã hội, sự tăng trưởng về kinh tế đi
liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất tinh thần của
nhân dân, thực hiện tiến bộ và cơng bằng xã hội, thực hiện tốt vai trị đại đồn
kết trong việc xây dựng ngơi nhà chung của 25 dân tộc anh em.
Hmơng là một tộc người có vị trí quan trọng trong đại gia đình các dân
tộc ở Lào Cai. Khơng chỉ có tỷ lệ dân số chỉ sau người Kinh (123.773 người),
nền văn hoá truyền thống rất độc đáo mà cho tới nay vẫn lưu giữ được nhiều
nét sắc thái. Bản sắc của người Hmông là phần quan trọng trong việc làm nên
diện mạo của văn hoá Lào Cai.
Trong xu thế hội nhập và phát triển của thời kỳ cơng nghiệp hố, hiện
đại hố, văn hố của người Hmơng đã và đang có những biến đổi sâu sắc. Để
văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu của sự phát triển
kinh tế xã hội, việc tìm hiểu, đánh giá thực trạng văn hố dân tộc Hmơng ở
Lào Cai là vấn đề vừa mang tính lý luận, vừa đáp ứng những địi hỏi thực tiễn
xây dựng và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào Hmơng nói riêng và tỉnh



3
Lào Cai nói chung. Hiện tại, chưa có cơng trình nghiên cứu nào đi sâu xem
xét văn hoá tộc người Hmơng như một yếu tố động trong q trình cơng
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trên cơ sở ý nghĩa và tình hình thực tế nghiên cứu
nêu trên, chúng tơi tiến hành nghiên cứu đề tài “Văn hố tộc người Hmơng ở
Lào Cai trong q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố” nhằm góp phần
đưa ra cái nhìn tổng thể về văn hố của tộc người Hmơng, từ đó xác định
những giải pháp hữu hiệu nhằm bảo tồn và phát triển giá trị văn hố của tộc
người Hmơng ở tỉnh Lào Cai nói riêng và vùng đồng bào dân tộc Hmơng nói
chung.
2. Tình hình nghiên cứu
Văn hố tộc người Hmơng là đối tượng đã được giới nghiên cứu quan
tâm sâu sắc. Cho đến nay, dù chưa có cơng trình nghiên cứu trực tiếp về văn
hố tộc người Hmơng Lào Cai trong q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố,
nhưng những cơng trình liên quan trong hệ thống nghiên cứu về văn hố
Hmơng mà đề tài có thể kế thừa trên phương diện lý luận và phương pháp
nghiên cứu là khá nhiều. Về cơ bản có thể thấy như sau:
Thứ nhất là các cơng trình nghiên cứu về dân tộc Hmơng ở Việt Nam
Trong Dân tộc Mèo - các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía
Bắc) của Bế Viết Đẳng; Dân tộc Hmơng ở Việt Nam của Cư Hồ Vần và
Hoàng Nam các tác giả đã đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực nếp sống văn hố,
trang phục, món ăn, tập quán. Tác giả Đỗ Đức Lợi trong Tập tục chu kỳ đời
người của các dân tộc người-ngôn ngữ Hmông-Dao ở Việt Nam đã lý giải về
các phong tục tập quán trong chu kỳ đời người bao gồm các tục liên quan đến
sinh đẻ và nuôi con, tập tục đánh dấu sự trưởng thành, tập tục trong cưới xin,
ma chay…; Văn hố tâm linh của người Hmơng ở Việt Nam - Truyền thống
và hiện đại của tác giả Vương Duy Quang đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn văn
hoá tâm linh của người Hmông ở Việt Nam, sự biến đổi của nó ra sao qua thời
gian và những biến cố trong lịch sử, nhất là giai đoạn gần đây khi Việt Nam

đang thực thi chính sách đổi mới và đang chịu tác động mạnh mẽ của những


4
biến động trên thế giới và khu vực như hội nhập và phát triển, tồn cầu hố;
Văn hố dân tộc Hmơng Hà Giang của Trường Lu và Hùng Đình Q, Văn
hố người Hmơng ở Nghệ An của tác giả Hồng Xuân Lương cho chúng ta
thấy các đặc trưng văn hoá đặc sắc, độc đáo của người Hmông trên địa bàn
tỉnh Hà Giang, Nghệ An…ngồi ra cịn nhiều cơng trình nghiên cứu như Văn
hoá các dân tộc Tây Bắc - Thực trạng và những vấn đề đặt ra của tác giả Trần
Văn Bính, Giải quyết vấn đề dân tộc qua việc thực hiện tự do tín ngưỡng tơn
giáo ở vùng dân tộc Hmông hiện nay, luận án tiến sỹ của Nông Văn Lu, Vấn
đề đạo Tin lành trong dân tộc Hmông các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta
hiện nay - luận án tiến sỹ của Phan Viết Phong…cũng đã phân tích đánh giá
tương đối tồn diện, khách quan về thực trạng đời sống văn hố tộc người
Hmơng đồng thời dự báo xu hướng, đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục
phát triển đời sống văn hoá trong giai đoạn hiện nay.
Thứ hai là các cơng trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp tới tộc
người Hmơng ở Lào Cai
Có thể kể tới các cơng trình Văn hố Hmơng của tác giả Trần Hữu Sơn;
Đề án Các nhân tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội đối với
cộng đồng người Hmông Lào Cai và những giải pháp phát triển bền vững dự án do nhóm tác giả nghiên cứu, tiến sỹ Trần Hữu Sơn chủ nhiệm đề tài; Tổ
chức hoạt động văn hoá tại chợ của dân tộc Hmông tỉnh Lào Cai - Luận văn
của Trần Thị Phương Thuý, Tìm hiểu tục kéo vợ của người Hmông ở huyện
Sa Pa tỉnh Lào Cai - luận văn của Giàng Seo Gà. Từ nhiều góc độ, các cơng
trình nêu trên có những khám phá đáng ghi nhận, cho người đọc những thông
tin về lịch sử tộc người, trang phục, nhà cửa, lễ hội, chợ tình, phong phục tập
quán, tín ngưỡng truyền thống của người Hmơng ở Lào Cai.
Những cơng trình theo tìm kiếm sơ bộ ban đầu nêu trên sẽ là những tư
liệu, những gợi mở hết sức quan trọng mà đề tài kế thừa trong việc nghiên

cứu về văn hố dân tộc Hmơng ở Lào Cai trong cơng nghiệp hố, hiện đại
hố.


5
3. Mục tiêu và nhiệm vụ
Đề tài làm rõ thực trạng văn hố của dân tộc Hmơng ở Lào Cai trong
q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp
bảo tồn và phát triển văn hoá, nâng cao chất lượng cuộc sống, ổn định dân cư
của dân tộc Hmông ở Lào Cai trong cơng nghiệp hố, hiện đại hố.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các lĩnh vực cơ bản của văn hố dân tộc Hmơng gắn
liền với phát triển kinh tế - xã hội ở Lào Cai trong cơng nghiệp hố, hiện đại hố.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp lịch sử và logic,
phương pháp liên ngành, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp quan
sát phỏng vấn, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp điền dã…để
làm rõ mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài.
6. Cái mới của đề tài
Đề tài đưa ra cái nhìn tổng thể về văn hố của dân tộc Hmông (các yếu
tố bị phai nhạt, biến mất; các yếu tố truyền thống được lưu giữ và biến đổi,
các yếu tố mới phát sinh) ở Lào Cai trong quá trình cơng nghiệp hố, hiện đại
hố và đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển văn hoá, nâng cao chất
lượng cuộc sống, ổn định dân cư của tộc người Hmơng ở Lào Cai trong thời
gian tới.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu để vận
dụng vào thực tiễn xây dựng đời sống văn hố cơ sở; làm tài liệu tham khảo
trong cơng tác nghiên cứu, giảng dạy mơn Lý luận văn hóa trong hệ thống các
trường địa phương.

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tham khảo, luận văn
chia làm 3 chương, 13 tiết.


6


7

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ TỘC NGƯỜI;
CƠNG NGHIỆP HỐ, HIỆN ĐẠI HỐ Ở TỈNH LÀO CAI VÀ CÁC
NỘI DUNG TRIỂN KHAI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
VÙNG ĐỒNG BÀO HMÔNG LÀO CAI
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ TỘC NGƯỜI

1.1.1. Quan niệm về văn hố
Trong lịch sử hình thành và phát triển văn hóa của nhân loại, cho đến
nay có hàng trăm cách quan niệm, định nghĩa về văn hóa. Do trở thành đối
tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: khảo cổ học, dân tộc học,
nhân học, xã hội học, triết học, văn hoá học, lịch sử và gần đây là sự tham gia
một cách mạnh mẽ của các ngành kinh tế (văn hoá trong kinh doanh, văn hố
cơng sở, văn hố doanh nhân…), mỗi ngành khoa học này lại bao gồm nhiều
trường phái lý thuyết khác nhau nên định nghĩa văn hoá ngày càng đa nghĩa.
Theo Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn (Mỹ), tại thời điểm năm 1952, đã
có 164 khái niệm văn hố trên thế giới. Và 400 khái niệm văn hoá trên thế
giới là con số được Giáo sư Phan Ngọc đưa ra vào năm 1994. Có thể nói,
những khái niệm về văn hố sẽ cịn khơng ngừng được đưa ra khi nền kinh tế
tồn cầu ngày càng phát triển, các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau.

Trong quá trình phát triển của các quốc gia, các dân tộc và hẹp hơn là các tộc
người, những nhận thức mới luôn luôn được đặt ra và bổ sung vào đó những
phát hiện góp phần đáp ứng nhu cầu của tộc người, của dân tộc và thời đại.
Tùy theo từng giai đoạn, từng quốc gia, dân tộc và dưới các góc độ về động
cơ, mục đích, đối tượng, cách tiếp cận văn hóa mà người ta có thể đưa ra
những định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khái niệm văn hố có nguồn gốc từ
tiếng Latinh Colère - Cultura (từ dùng để chỉ sự chăm sóc đất đai, canh tác),
nghĩa là “trồng trọt”. Ở Phương Đơng, văn hố từng được giải thích như một
phương thức dùng văn - tức vẻ đẹp để cải hoá, giáo hoá con người theo hướng


8
tích cực "Quan hồ nhân văn dĩ hố thành thiên hạ", nghĩa là: cái nhân văn vẻ đẹp của con người có thể giáo hố cho tồn thiên hạ (theo sách Chu Dịch)
Còn ở phương Tây thời cận hiện đại, khái niệm văn hoá được sử dụng phổ
biến để chỉ trình độ học vấn, học thức, tri thức, phép lịch sự.
Văn hố, trong quan niệm triết học mácxít, là kết quả của quá trình biến
đổi bản thân con người, với tư cách là sự hình thành lịch sử hiện thực của con
người. Văn hố là một q trình cải biến con người thành chủ thể của sự vận
động lịch sử, thành một cá nhân toàn vẹn. Trên cơ sở gắn văn hoá với phương
thức sản xuất xã hội, cá nhân với cộng đồng, truyền thống với hiện đại, dân
tộc với quốc tế, đặc biệt là coi trọng vai trò nhân dân lao động, các nhà mácxít
khẳng định văn hố là một hiện tượng xã hội gắn liền với các hoạt động nhiều
mặt của con người, được biểu thị như phương thức hoạt động người bao chứa
toàn bộ các sản phẩm vật chất và tinh thần của con người cũng như năng lực
phát triển của chính bản thân con người. Văn hoá là thế giới của con người“thiên nhiên thứ hai”- do con người tạo ra và tồn tại, phát triển vì con người.
Là người tiếp thu tư tưởng mácxít, trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam,
Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng vấn đề văn hoá và tư tưởng. Người
cho rằng:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người

mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp
luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hố. Văn hố là
sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà lồi người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời
sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [53, tr.431].
Theo Tuyên ngôn của Hội nghị quốc tế về chính sách văn hố (Mêhicơ,
tháng 8/1982), văn hố là tổng thể các dấu hiệu tinh thần, vật chất, trí tuệ và
tình cảm đặc biệt, xác định tính cách của một xã hội hay một nhóm xã hội,


9
bao hàm không chỉ nghệ thuật và khoa học, mà còn cả lối sống, các quyền cơ
bản của sự tồn tại nhân sinh, những hệ thống giá trị, các truyền thống và các
quan niệm…. Còn theo Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor:
Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các
cá nhân và cộng đồng, trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế
kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành tạo nên hệ thống giá trị, các
truyền thống, thị hiếu - đặc trưng riêng của mỗi dân tộc [77, tr.23].
Tuy có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về văn hóa, song về cơ
bản đều thống nhất ở chỗ:
Thứ nhất, coi văn hóa là những gì mà con người sáng tạo để hình thành
nên các giá trị, các chuẩn mực xã hội trong quá trình lao động, hoạt động thực
tiễn xã hội. Các giá trị và chuẩn mực đó tác động, chi phối, điều chỉnh đời
sống tâm lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động trên mọi lĩnh vực đời sống của
con người. Văn hoá bao gồm tất cả các giá trị được kết tinh trong “thiên nhiên
thứ hai” - sản phẩm của hoạt động “mang tính tộc loại” của con người. Đây là
phương diện hết sức cơ bản và quan trọng, quy định đặc điểm về nội dung và
quy luật phát triển có tính đặc thù của văn hố.

Thứ hai, coi văn hoá là sự thể hiện năng lực bản chất người trong quan
hệ với thiên nhiên, xã hội và với chính bản thân mình. Văn hố gắn liền với
hoạt động sống của cá nhân và của cộng đồng, là dấu hiệu phân biệt đặc trưng
và trình độ của lồi người, từ sinh hoạt ăn, mặc, ở, đi lại đến các hoạt động
chính trị, khoa học, giáo dục, nghệ thuật, lối sống, phong tục, tập qn, tín
ngưỡng v.v… Ngồi việc phản ánh, văn hố cịn là chỗ dựa, là tiêu chí cho cá
nhân và cộng đồng hướng tới trong phát triển kinh tế - xã hội. Mọi hoạt động
sống của con người luôn chịu sự can thiệp và định hướng của nhân tố văn
hoá.
Từ việc xác định nội hàm và ngoại diên của khái niệm văn hóa qua
những quan điểm nêu trên, có thể khẳng định, văn hố là tổng hồ các giá trị
mà con người sáng tạo ra trong suốt quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã


10
hội của mình. Bản chất đặc trưng của văn hố chính là sự sáng tạo vươn tới
giá trị nhân văn, khẳng định chất lượng sống của con người (gồm cả cá nhân
và cộng đồng), biểu hiện sức sống, sức sáng tạo của một dân tộc, tạo nên một
hệ thống giá trị mà trong đó giá trị chân - thiện - mỹ là những giá trị cơ bản, là
cốt lõi làm nên nền tảng văn hóa của mỗi dân tộc.
1.1.2. Quan niệm về tộc người
Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo tạp chí,
diễn đàn chính trị - xã hội chính thức của Đảng và Nhà nước ta, thuật ngữ dân
tộc được sử dụng với cả hai nghĩa: dân tộc với ý nghĩa tộc người và dân tộc
với ý nghĩa quốc gia. Chính vì vậy mà nhà nghiên cứu Lê Sĩ Giáo cùng nhiều
tác giả đã khẳng định khái niệm dân tộc (trong trường hợp chỉ từng dân tộc cụ
thể trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam) thực chất phải là tộc người
(ethnic).
Trong cơng trình Dân tộc học đại cương, tộc người được xác định là
hình thái đặc biệt của một tập đoàn xã hội xuất hiện không phải do ý nguyện

của con người mà là trong kết quả của quá trình tự nhiên - lịch sử . Cịn theo
nhóm tác giả Đặng Nghiêm Vạn, Ngơ Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp cho rằng dân
tộc (tộc người) là một tập đoàn người ổn định dựa trên những mối liên hệ
chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt, kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt
văn hoá, trên cơ sở mối liên hệ đó, mỗi tộc người có ý thức về thành phần tộc
người và tên gọi của mình. Trần Long cũng cho rằng tộc người theo nghĩa hẹp
là tổng hợp những con người được hình thành về mặt lịch sử trên một lãnh thổ
nhất định, dưới một cái tên tự gọi (tộc danh), có những đặc điểm chung tương
đối bền vững về mặt văn hoá tâm lý (trong đó nổi trội là ngơn ngữ); có ý thức
thống nhất của họ cũng như khác nhau giữa họ với các tộc người khác (nói
ngắn gọn là ý thức tộc người). GS, TS. Phan Hữu Dật khẳng định tộc người là
cộng đồng người, hình thành trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, cũng
có những đặc điểm tương đồng bền vững về ngơn ngữ, văn hố, tâm lý, tự ý


11
thức sự thống nhất của mình và làm cho mình khác với các tộc người khác,
thông qua tên tự gọi.
Cơ bản về tộc người, có thể thấy như sau:
Thứ nhất, điểm đặc trưng của tộc người là ở chỗ nó có tính bền vững
giống như là những quy tắc (có tính ổn định về khơng gian) và tồn tại hàng
trăm năm bên cạnh những tộc người khác (trải dài theo thời gian phát triển
của xã hội). Mỗi tộc người có sự thống nhất bên trong được xác định tương
đối bền chặt trên một nền tảng văn hoá lâu đời và cả những nét đặc thù bên
ngồi để phân biệt nó với các tộc người khác. Từng cá nhân trong tộc người
ln ý thức tự giác hình thành cho tộc người mình có những nét riêng biệt
khơng thể nhầm lẫn với các tộc người khác (khi nhắc đến cây đàn tính, người
ta nhớ ngay đến người Tày; tiếng Khèn gắn liền với những chàng trai, cô gái
Hmông; tiếng cồng - chiêng lại là giá trị biểu trưng của cộng đồng các dân tộc
Tây Nguyên…). Có thể nói, mỗi tộc người đều có một giá trị biểu trưng đi

kèm và những giá trị này được sử dụng làm thước đo cho sự phân định gắn
liền với tộc người đó.
Thứ hai, ngơn ngữ là phương tiện giao tiếp xã hội trong nội bộ tộc người,
là sự sáng tạo riêng, độc đáo của tộc người và chỉ xuất hiện ở tộc người đó. Sự
hình thành và phát triển ngôn ngữ của một tộc người gắn liền với số phận lịch sử
của tộc người đó. Tuy nhiên, ngôn ngữ của một tộc người không mang tính cố
định vì q trình tồn tại và phát triển có sự thay đổi về lãnh thổ. Với một lãnh thổ
nhất định ngồi sự đồng nhất cịn có sự khác biệt. Tộc người ít có những va
chạm thì ngơn ngữ thuần bản sắc tộc người hơn. Càng va chạm nhiều, càng tiếp
xúc nhiều thì ngơn ngữ tộc người lập tức có sự vay mượn, pha trộn.
Thứ ba, lãnh thổ (địa bàn cư trú) của mỗi tộc người có ảnh hưởng nhất
định đến q trình tồn tại của tộc người đó. Trong cùng một lãnh thổ có thể
khơng chỉ có một hay hai mà là nhiều các tộc người cùng tồn tại và phát triển
trên một nền tảng văn hoá tồn tại từ nhiều năm trước. Nhưng về cơ bản, với
từng địa bàn cư trú khác nhau là sự tồn tại của các tộc người khác nhau (lãnh


12
thổ của người Tày, Thái được xác định là khu vực gần thềm sơng suối; người
Kinh (nhóm người tồn tại trước và sau thề kỷ XX tại Lào Cai) lại lựa chọn
những vùng đồng bằng vừa và nhỏ làm nơi sinh sống; cịn với người Hmơng
thì độ cao từ 700m đến 1500m so với mực nước biển mới là địa bàn cư trú
được lựa chọn …).
Ngày nay, do tác động của việc chuyển dịch sắp xếp cơ cấu kinh tế, sự
tác động của các yếu tố chính trị, hội nhập thúc đẩy nên địa bàn cư trú của các
tộc người ít nhiều có thể có sự thay đổi. Sự thay đổi này khơng chỉ diễn ra với
một gia đình hay một tộc người nhất định mà nó có tính chất dẫn dụ mà hệ
quả của nó là dẫn tới những phương thức sống mới của các tộc người theo
điều kiện mới (theo thống kế của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lào Cai trước năm
1975 số lượng người dân tộc thiểu làm ăn sinh sống ở thị xã Lào Cai (nay là

thành phố Lào Cai) chiếm 11% số dân, đến năm 2005 con số này tăng lên trên
20%.
Ý thức tộc người là những giá trị bên trong quan trọng nhất của mỗi tộc
người (nội hàm). Nó giúp cho mỗi tộc người là chính họ trong mối quan hệ
với các tộc người khác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Ý thức tộc
người giúp cho mỗi tộc người là chính mình trong khi ngơn ngữ hay địa bàn
sinh sống có sự thay đổi nhất định. Thực tế cho thấy, sự thay đổi về ngoại
diên không tác động xấu đến nội hàm bên trong của mỗi tộc người với những
giá trị truyền thống tồn tại hàng trăm năm nay cùng với sự phát triển của tộc
người đó. Sự thay đổi về ngoại diên chỉ gia cố thêm cho nội hàm bên trong
mà thơi. Đây chính là yếu tố giúp cho mỗi tộc người nói riêng và dân tộc Việt
Nam nói chung giữ gìn được bản sắc và nó được phát huy tối đa trong q
trình cơng nghiệp hố hiện đại hố đất nước.
Tóm lại, tộc người là một cộng đồng người có lịch sử hình thành và
phát triển riêng, có tộc danh, ngôn ngữ, địa bàn cư trú và các yếu tố văn hoá
độc đáo riêng gắn với một ý thức tộc người.


13
1.1.3. Quan niệm về văn hoá tộc người
Văn hoá tộc người là tổng thể các thành tố văn hoá thuộc về một tộc
người cụ thể. Là các giá trị, các chuẩn mực được hình thành và lựa chọn qua
quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, văn hoá tộc người luôn tác động, chi
phối, điều chỉnh đời sống tâm lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động trên mọi
lĩnh vực đời sống của các cá nhân cũng như cộng đồng tộc người. Văn hoá tộc
người là sản phẩm “mang tính tộc loại” rõ nét nhất, thể hiện đầy đủ đặc điểm
về nội dung và quy luật phát triển có tính đặc thù của tộc người.
Văn hố tộc người cũng chính là sự thể hiện năng lực bản chất người
trong quan hệ với thiên nhiên, với các tộc người khác và với chính bản thân
mình của một cộng đồng tộc người. Nó gắn liền với hoạt động sống của cá

nhân và của cộng đồng tộc người, là dấu hiệu phân biệt đặc trưng và đặc thù
tộc người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người và phân biệt tộc người này
với tộc người khác. Không chỉ phản ánh, văn hố tộc người cịn là chỗ dựa, là
tiêu chí cho cá nhân và cộng đồng tộc người hướng tới trong phát triển kinh tế
- xã hội.
Các yếu tố của văn hố tộc người, từ góc độ truyền thống, phải kể tới là
ngơn ngữ mẹ đẻ, trang phục, tập qn, tín ngưỡng, lễ nghi, là vốn văn hoá dân
gian truyền miệng, là những tri thức về tự nhiên, xã hội, con người, là những
kinh nghiệm sản xuất, chữa bệnh, là khẩu vị và cách thức chế biến ẩm thực, là
tâm lý tộc người v.v…
Nhìn từ góc độ phát triển, văn hố tộc người là cái riêng, cái nhận diện,
cái truyền thống có tính kế thừa bền vững, gắn liền với ý thức tộc người
nhưng khơng phải là cái khép kín. Trong q trình phát triển, tn thủ quy
luật tiếp biến, khơng ít các hiện tượng văn hoá lúc đầu là yếu tố tiếp thu, vay
mượn rồi được “tộc người hoá”, “bản địa hoá” mà trở thành yếu tố văn hoá
tộc người (khăn Piêu của người Hmơng). Hơn nữa, văn hố tộc người là sản
phẩm của lịch sử và chịu sự chi phối sâu sắc của những hoàn cảnh lịch sử cụ
thể. Bởi vậy mà trong thực tiễn, có nhiều tộc người có nền văn hố bảo lưu


14
được hệ thống sắc thái đặc trưng nhưng cũng không ít tộc người đã bị đồng
hoá và mờ nhạt sắc thái, thậm chí khơng cịn ngơn ngữ mẹ đẻ.
Trước thực tế cư trú đan cài do quá trình dịch chuyển tự thân cũng như
do sắp xếp quy hoạch cơ cấu vùng đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, sự giao
lưu, ảnh hưởng văn hoá lẫn nhau giữa các tộc người, sự biến đổi cũng như
phát triển các nhân tố mới của văn hoá tộc người dưới tác động của quá trình
chuyển đổi căn bản, tồn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và
quản lý kinh tế - xã hội là đương nhiên và rất sôi động, sâu sắc. Bởi vậy văn
hố tộc người khơng chỉ thể hiện mà cịn cần được nhìn nhận một cách sâu

sắc trên cả hai phương diện: cái đặc thù và khả năng phát triển gắn liền với
điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng tộc người.
Với tư cách của một “hệ điều tiết”, văn hố tộc người khơng chỉ mang
các giá trị tự thân mà cịn đóng vai trị quan trọng đối với sự phát triển của các
tộc người nói riêng cũng như cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung.
Để phù hợp với định hướng nghiên cứu của đề tài, trên cơ sở những nội
dung về văn hoá, tộc người và đặc điểm văn hoá tộc người nêu trên, chúng tơi
quan niệm cấu trúc của văn hố tộc người dựa trên sự cấu thành của các thành
tố làm nên đặc trưng của văn hoá cộng đồng tộc người bao gồm cả các thành
tố truyền thống cùng các thành tố mới xuất hiện trên cơ sở biến đổi, phát triển
của văn hoá tộc người bao gồm:
- Văn hoá cư trú, sản xuất
- Ngơn ngữ, trang phục
- Phong tục, tập qn, tín ngưỡng, tôn giáo
- Lề hội truyền thống
- Tổ chức cộng đồng
- Văn học dân gian
- Giáo dục, y tế
- Các thiết chế văn hoá và cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động văn
hố
- Truyền thơng


15
….
Thực ra các thành tố của văn hóa tộc người đều gắn bó, thậm chí là bao
hàm nhau một cách mật thiết. Tuy nhiên từ góc độ nghiên cứu và với cách
nhìn tương đối mục tiêu của đề tài là phát hiện những giá trị riêng của từng
thành tố trên cả hai phương diện: duy trì, bảo tồn bản sắc truyền thống cũng
như vận động biến đổi và hiện hữu với tư cách là những giá trị tinh thần của

cộng đồng người Hmơng ở Lào Cai.
1.2. CƠNG NGHIỆP HỐ HIỆN ĐẠI HOÁ Ở LÀO CAI VÀ NHỮNG NỘI
DUNG TRIỂN KHAI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỘC
NGƯỜI HMƠNG Ở LÀO CAI

1.2.1. Quan niệm về cơng nghiệp hố, hiện đại hố
Cơng nghiệp hố, hiện đại hố là q trình chuyển đổi căn bản, tồn
diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế từ sử
dụng lao động thủ cơng là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động
cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên
sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất
lao động xã hội cao.
Cơng nghiệp hố khơng chỉ là phát triển nền công nghiệp mà là phát
triển mọi lĩnh vực, từ sản xuất vật chất và dịch vụ của nền kinh tế cho đến các
khâu trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác phong lao động, kỹ năng sản
xuất… Hiện đại hoá cũng không chỉ là đưa khoa học - công nghệ, kỹ thuật
thông tin - điện tử hiện đại vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế, mà là quá trình
vận dụng tất cả những phương tiện đó vào tổng thể hệ thống kinh tế, chính trị,
xã hội, địi hỏi phải thực hiện cách mạng công nghệ trong cơ cấu kinh tế - xã
hội một cách hợp lý, cân đối, tạo lập cơ chế quản lý xã hội ở trình độ chuyên
môn cao với phương pháp quản lý hiện đại. Công nghiệp hố - hiện đại hố
tạo ra sự hồn thiện cơ cấu - tổ chức - vận hành xã hội, chun mơn hố chức
năng ngày càng sâu của các thể chế, nâng cao chất lượng các phương tiện
thông tin đại chúng và chất lượng sống nhằm dân chủ hoá đời sống xã hội


16
trong khuôn khổ một Nhà nước pháp quyền, phát triển nguồn nhân lực, nâng
cao dân trí và dân đức thơng qua việc phát triển nền giáo dục quốc gia.
Công nghiệp hoá ở nước ta hiện nay gắn liền với quá trình hiện đại hố

và từng bước phát triển kinh tế tri thức, được tiến hành ở mọi ngành, mọi
lĩnh vực, khu vực theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Sự
nghiệp cơng nghiệp hố được xác định là sự nghiệp của toàn dân, của mọi
thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; được tiến
hành theo chiến lược kinh tế mở, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm
yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; đa dạng hoá, đa phương
hoá quan hệ kinh tế đối ngoại trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền, kết
hợp kinh tế với quốc phòng an ninh; lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước
đo, tiêu chuẩn để xác định phương án phát triển nhằm đầu tư có chiều sâu,
khai thác tối đa năng lực hiện có và đầu tư thích hợp với từng ngành, từng
lĩnh vực, từng địa phương.
Trong điều kiện đi lên của một đất nước nơng nghiệp, cơng nghiệp hố,
hiện đại hố nơng nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu của cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước. Đảng ta khẳng định chủ
trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình
phát triển kinh tế tổng quát của đất nước ta trong quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
trong đó phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong nông
nghiệp và kinh tế nông thôn là thành tố khơng thể tách rời trong mơ hình tổng
qt này. Trên cơ sở ưu tiên bảo vệ mơi trường, phịng chống, hạn chế và
giảm nhẹ thiên tai, kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và xã hội, quá trình
cơng nghiệp hố, hiện đại hố nơng nghiệp, nơng thơn nhằm tới mục tiêu giải
quyết việc làm, xố đói giảm nghèo, ổn định xã hội và phát triển kinh tế, nâng
cao đời sống vật chất và văn hoá của người dân nơng thơn, đồng thời giữ gìn,
phát huy truyền thống văn hoá và thuần phong mỹ tục. Việc quy hoạch phát
triển nông nghiệp, nông thôn được đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội cả nước, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Vấn đề xây


17
dựng đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của người nông thôn được coi là

mục tiêu then chốt của các chủ trương, chính sách phát triển nơng nghiệp và
nơng thơn.
Cơng cuộc cơng nghiệp hố - hiện đại hố hiện nay ở nước ta cũng thực
sự là một cuộc tiếp biến lớn lao, rất căn bản của văn hoá Việt Nam với văn
hoá thế giới hiện đại. Mục tiêu của cơng nghiệp hố - hiện đại hố là đạt đến
một nền văn hố nhân văn tất cả vì con người, tạo điều kiện cho con người
được phát triển toàn diện, hài hòa, mang tâm hồn, lý tưởng, sắc thái Việt Nam.
Để hồ vào được trình độ phát triển thế giới, chúng ta cần phát huy các giá trị
truyền thống, lấy yếu tố nội sinh làm chủ thể trong việc định hướng các mối
quan hệ với các yếu tố ngoại sinh, làm cho các yếu tố ngoại sinh trở thành tố
chất kích thích sự tiến hố của các yếu tố nội sinh nhằm làm phong phú và
hiện đại hoá văn hố Việt Nam.
Xu thế tồn cầu hố nền kinh tế mà trước hết là q trình quốc tế hố,
khu vực hoá các quan hệ kinh tế, các hoạt động sản xuất thương mại, trao đổi
thông tin khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ... buộc chúng ta phải đẩy
nhanh việc thực hiện cơng nghiệp hố, hiện đại hố để có thể tận dụng vốn,
khoa học, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài vào hoàn cảnh thực
tiễn của quá trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố nước ta, đồng thời tránh nguy
cơ tụt hậu về kinh tế hoặc lệ thuộc kinh tế nước ngoài. Trước những yêu cầu
đổi mới đang đặt ra, cơng nghiệp hố, hiện đại hố nói chung và cơng nghiệp
hố, hiện đại hố nơng nghiệp nói riêng là con đường đúng đắn, là "nhiệm vụ
trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội", là con đường tất
yếu để đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và "nguy cơ tụt hậu" so với
các nước trong khu vực.
1.2.3. Cơng nghiệp hố, hiện đại hố ở tỉnh Lào Cai
Tên gọi Lào Cai có nguồn gốc từ địa danh đô thị “Lão Nhai”, nghĩa là
phố cổ. Tỉnh Lào Cai được thành lập ngày 12/7/1907, gồm 2 châu Thuỷ Vĩ,


18

Bảo Thắng và các đại lý Mường Khương, Bát Xát, Phong Thổ, Bắc Hà và đặc
khu Sa Pa. Ngày 01/10/1976 Lào Cai sáp nhập với hai tỉnh Yên Bái và Nghĩa
Lộ thành tỉnh Hoàng Liên Sơn. Đến ngày 01/10/1991 tỉnh Lào Cai được tái
lập, đến nay gồm 9 huyện, thành phố (Bảo Yên, Bảo Thắng, Văn Bàn, Bắc
Hà, Si Ma Cai, Mường Khương, Bát Xát, Sa Pa và thành phố Lào Cai) và 164
xã phường, trong đó có 81 xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn.
Tỉnh Lào Cai có địa hình khá phong phú bao gồm vùng đồi núi thấp, vùng
núi cao và rất cao (cao nguyên Bắc Hà, dãy Hồng Liên Sơn có đỉnh Phan Xi
Păng cao 3.143m). Khí hậu Lào Cai về cơ bản là khí hậu nhiệt đới gió mùa, bên
cạnh đó, do đặc điểm địa hình nên Lào Cai cịn có tiểu vùng khí hậu ơn đới. Dân
số Lào Cai có gần 60 vạn người thuộc 25 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh có
220.821 người chiếm 33%, dân tộc Hmông 137.649 chiếm 22%, dân tộc có Tày
90.019 người chiếm 12%, dân tộc có Dao 93.610 người chiếm 14%, các dân tộc
khác chiếm 19%. Điểm nổi bật của Lào Cai là văn hoá đa dân tộc, giầu bản sắc
với những đặc trưng vùng rõ rệt: vùng thấp của người Tày, Thái, Nùng, Giáy với
truyền thống văn hoá lúa nước; vùng giữa của người Kháng, La Ha, Phù Lá với
văn hoá nương dẫy, phát triển kinh tế đồi rừng; vùng cao của người Hmơng, Hà
Nhì, Dao truyền thống ruộng bậc thang, làm nương rẫy.
Tỉnh Lào Cai có nhiều tiềm năng tài nguyên thiên nhiên. Tán che phủ
rừng 32,4% rất đa dạng về hệ sinh thái, có vườn quốc gia Hồng Liên rộng
gần 30.000ha, Trong lịng đất có trên 30 loại khống sản, trong đó có
Apatit, đồng Sinh Quyền có trữ lượng lớn, kinh tế cửa khẩu, du lịch là thế
mạnh đang được khai thác. Các dân tộc Lào Cai đoàn kết ổn định là nguồn
lực nội sinh thực hiện mục tiêu cơng nghiệp hố, hiện đại hố xây dựng Lào
Cai giầu mạnh.
Ngay từ những năm đầu tái lập tỉnh (10/10/1991), Tỉnh uỷ, Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh và toàn thể nhân dân các dân tộc Lào Cai đã
xác định được điều kiện cơ sở hạ tầng cũng như kiến trúc thượng tầng xã hội
của tỉnh còn một khoảng cách khá xa so với cả nước, nhưng khơng thể vì



19
những khó khăn đó mà chỉ khoanh tay chờ sự chi viện của Trung ương. Nghị
quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ qua các thời kỳ từ 1991 đến nay đều xác định mục
tiêu phát triển cơng nghiệp hố, hiện đại hoá, tăng trưởng kinh tế - xã hội,
đảm bảo quốc phòng - an ninh, nâng cao đời sống dân cư là những mục tiêu
hàng đầu. Với sự đoàn kết của toàn dân, sự mạnh dạn, sáng tạo của các cấp
lãnh đạo, các ngành trong tỉnh, có thể nói qua gần 20 năm đổi mới, Lào Cai
đã có được những bước chuyển, bước phát triển vô cùng quan trọng, đạt được
những thành tựu đáng kể so với điểm xuất phát của địa phương, cụ thể:
Giai đoan 1991 - 1995:
Đây là giai đoạn có nhiều khó khăn của một tỉnh vừa được thành lập
trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng, nhận rõ các yếu tố thuận lợi, khó khăn cơ
bản, với tinh thần đổi mới, quyết tâm cao, trong 5 năm tỉnh Lào Cai đã đạt
được những thành tựu lớn.
Về kinh tế: Sản xuất nơng, lâm nghiệp đã có những chuyển biến rõ rệt,
khắc phục được sản xuất độc canh chuyển sang sản xuất đa canh, bước đầu
tạo được một số sản phẩm mang tính hàng hố. Năng lực sản xuất được giải
phóng, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường một bước, khoa học, kỹ thuật
tiên tiến ngày càng được chuyển giao và áp dụng vào sản xuất, năng suất chất
lượng cây trồng, vật nuôi được tăng lên khá rõ, bộ mặt nơng thơn đã có nhiều
thay đổi, đời sống của nông dân được nâng lên một bước. Trong 4 năm (19921995) đã tu sửa nâng cấp và làm mới 618 cơng trình thuỷ lợi vừa và nhỏ, tưới
tiêu cho 11.368 ha ruộng, xây dựng mới 479 cơng trình cấp nước sinh hoạt
cho 33.790 người (chủ yếu là đồng bào vùng cao). Công tác khuyến nông
được đầu tư 330 triệu đồng (1992) lên 2,3tỷ đồng (1995). Số hộ vay vốn để
xố đói giảm nghèo từ 12.500 hộ năm 1992 lên 35.000 hộ năm 1993, chiếm
55% số hộ nông thôn. Diện tích cây lương thực hàng năm tăng 2,4%. Năng
xuất lúa hàng năm tăng 3tạ/ha, sản lượng ngơ bình qn tăng hàng năm 10%.
Tổng sản lượng lương thực quy thóc năm sau cao hơn năm trước. Năm 1991



20
đạt 114.454 tấn, năm 1992 đạt 127.000 tấn, năm 1993 đạt 135.480 tấn, năm
1995 đạt 141.050 tấn [19].
Các dự án phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả được mở rộng và trở
thành hướng phát triển mạnh trong nông thôn, diện tích tăng bình qn 365,5
ha (8,5%), cây ăn quả tăng 301 ha (10,5%). Cùng với trồng trọt, chăn nuôi
cũng có bước phát triển khá, giá trị sản lượng bình quân hàng năm tăng
5,25%. Nhiều giống mới có năng xuất cao được đưa vào thực nghiệm như: dê
sữa, bò lai, lợn ngoại, gà công nghiệp…[19].
Ngành lâm nghiệp đã chuyển hướng từ quốc doanh, tập thể sang lâm
nghiệp xã hội. Trong 4 năm đã trồng và chăm sóc rừng được 20.147ha,
khoanh nuôi, tái sinh 70.000 ha, giao đất giao rừng 32.000 ha, khai thác
116.568m3 gỗ tròn, nâng độ tán che phủ lên 23%.
Ngành cơng nghiêp có bước phát triển rõ nét, tỉnh đã đầu tư 77,5tỷ
đồng để phát triển ngành công nghiệp Trung ương (Công ty Apatit Việt Nam)
và 45tỷ đồng cho ngành cơng nghiệp địa phương. Doanh nghiệp ngồi quốc
doanh được mở rộng, đầu tư hàng trăm tỷ đồng. Các hộ sản xuất nhỏ cũng
đầu tư trên 80 tỷ đồng cho hoạt động kinh doanh, đến năm 1995 toàn tỉnh có
51 doanh nghiệp quốc doanh, 235 doanh nghiệp vừa và nhỏ và trên 6.000 hộ
sản xuất nhỏ, đã sản xuất nhiều loại sản phẩm mới như tinh quặng đồng,
penspat, cao lanh, gạch tuynen, nước giải khát, đồ mộc cao cấp, gỗ xuất
khẩu… Tổng sản lượng 5 năm đạt 112,4 tỷ đồng tăng 25% so với kế hoạch
[19].
Trong 5 năm (1991-1995) tổng sản phẩm bình quân (GDP) tăng hàng
năm bình quân 11,8%, GDP bình quân đầu người đạt 107,14 USD (1993) lên
180 USD (1995). Giá trị thu nhập bình quân người/tháng từ 80.700đ (1992)
lên 118.400đ (1994). Kim ngạch xuất tăng từ 495.000 USD (1991) lên
2.214.000 USD (1995). Thu ngân sách địa phương tăn từ 38,8 tỷ đồng (1992)
lên 82,6 tỷ đồng (1995) [19].



21
Về văn hoá - xã hội: Sự nghiệp giáo dục không ngừng phát triển, các
ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên hàng năm đều tăng cả
về quy mô và chất lượng dạy và học. Đến năm học 1995-1996 tồn tỉnh có 22
trường mẫu giáo thu hút 7.321 trẻ, có 260 trường phổ thơng thu hút 93.709
học sinh, 48 lớp bổ túc văn hoá gồm 968 học viên. Trong 4 năm đã mở 749
lớp xoá mù cho 18.670 đối tượng từ 15-35 tuổi. Nhiều huyện đạt 80-90% việc
xoá các thôn bản trắng trường lớp. Ngành giáo dục đã đổi mới cơng tác quản
lý, xây dựng mơ hình phù hợp với đặc điểm của tỉnh miền núi. Để đào tạo
nguồn cán bộ dân tộc tỉnh đã sớm hình thành các trường dân tộc nội trú, phối
hợp với trường Đại học Ngoại ngữ mở lớp chuyên ngữ cho 110 học sinh dân
tộc ít người của tỉnh, gửi đi đào tạo tại trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ 33
giáo viên tiếng Anh hệ cử nhân. Để nâng cao trình độ lý luận chính trị, tỉnh đã
sớm thành lập các trung tâm bồi dưỡng chính trị ở các huyện và hình thành
trường chính trị của tỉnh mở các lớp chính trị cao cấp cho cán bộ các Sở, Ban
ngành trong tỉnh, đồng thời mở các lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước, đồn thể.
Hàng năm tỉnh cịn cử hàng trăm cán bộ, học sinh đi học ở các trường đại hoc,
cao đẳng, trung học chuyên nghiệp vì thế mặt bằng dân trí được nâng cao [19].
Sự nghiệp Y tế có bước chuyển biến mới. Cơng tác chăm sóc, bảo vệ
sức khoẻ của nhân dân được quan tâm giải quyết, nhất là việc chăm sóc sức
khoẻ ban đầu cho nhân dân. Mạng lưới y tế được mở rộng, các trạm y tế, các
đội vệ sinh phòng dịch được củng cố và nâng cao chất lượng. Các trung tâm y
tế cấp huyện được đầu tư nâng cấp từ 50 - 80 giường bệnh mỗi huyện, đảm
bảo đủ trang thiết bị, số lượng y, bác sỹ để khám và chữa bệnh. Trong 4 năm
đầu tư thêm 26 trạm y tế xã, phường đưa tổng 161 trạm, tăng 156 giường
bệnh và 722 y, bác sỹ; đưa số giường bệnh từ 1.062 (1991) lên 1.358 (1995)
tăng 28%, số y, bác sỹ từ 439 (1991) lên 663 (1995) tăng 51%. Các chương
trình quốc gia về y tế được chỉ đạo chặt chẽ, có hiệu quả thiết thực. Cơng tác

dân số và kế hoạch hố gia đình đạt kết quả cao tỷ lệ phát triển dân số từ 3,7%
xuống 3,5% [19].


22
Hoạt động văn hoá thể thao được quam tâm. Vốn văn hoá phong phú
các dân tộc được bảo tồn, khai thác và phát huy, hàng năm đều mở hội thi văn
hoá - thể thao các dân tộc trong tỉnh thu hút nhiều nghệ nhân, diễn viên, vận
động viên tham gia. Thiết chế văn hoá được đầu tư nâng cấp, xây dựng mới.
Các trung tâm văn hoá, nhà văn hoá và đoàn Nghệ thuật dân tộc tỉnh được
thành lập. Hàng năm tỉnh đều tổ chức giao lưu văn hoá - thể thao với tỉnh Vân
Nam Trung quốc.
Hệ thống phát thanh truyền hình được mở rộng, bảo đảm định hướng
thơng tin tun truyền được nhanh chóng và kịp thời đưa các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước đến với dân. Báo Lào Cai, cơ quan của
Đảng bộ, tiếng nói của Đảng, chính quyền và các dân tộc Lào Cai sớm đi vào
hoạt động có nhiều đổi mới về nội dung và hình thức [19].
Giai đoạn 1996 -2000:
Về kinh tế: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân hàng năm
5,3%, riêng năm 2000 mức tăng đạt 7,11%, GDP bình quân đầu người tăng từ
1,667 triệu đồng năm 1995 lên 2,258 triệu đồng năm 2000; nông nghiệp và
nông thôn được tập trung đầu tư có nhiều chuyển biến tích cực. Tỉnh đã xây
dựng chiến lược phát triển, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội gắn
với an ninh quốc phòng giai đoạn 1996 - 2010. Nhiều quy hoạch chi tiết của
ngành, lĩnh vực đã được phê duyệt và triển khai như quy hoạch trung tâm cụm
xã, chương trình 135, các xã biên giới, khu kinh tế cửa khẩu, giao thông, thủy
lợi, vùng nguyên liệu chè, cây ăn quả, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng. Tập trung đầu tư cải tạo nâng cấp và xây dựng mới trên 700 cơng trình
thủy lợi, đẩy mạnh khai hoang, tích cực áp dụng kỹ thuật thâm canh, sử dụng
giống mới, vật tư nơng nghiệp, thực hiện chính sách trợ cước, trợ giá, trợ lãi

suất, khuyến nông - lâm và nhiều biện pháp khuyến khích khác đã làm cho giá
trị sản xuất đa dạng theo hướng sản xuất hàng hóa và theo mơ hình trang trại,
cả trong trồng trọt và chăn ni. Tổng sản lượng lương thực quy thóc năm
2000 đạt 175 ngàn tấn, vượt chỉ tiêu đề ra 10,9%. Các đàn gia súc, gia cầm


23
tăng bình quân hàng năm từ 2% đến 12%. Cây công nghiệp, cây ăn quả, cây
kinh tế, cây dược liệu tăng mạnh cả diện tích và sản lượng, bước đầu hình
thành các vùng nguyên liệu tập trung cho sản xuất hàng hóa và cơng nghiệp
chế biến. Trồng mới, khoanh ni tái sinh, bảo vệ rừng, giao đất giao rừng,
trồng cây lâm nghiệp xã hội được thực hiện. Đã giao trên 260 ngàn ha cây
phân tán, nâng tỷ lệ tán che phủ từ 23% năm 1995 lên 32,4% năm 2000, xây
dựng 69 dự án định canh định cư phục vụ 38.900 hộ, 234.000 khẩu đạt 65%
số hộ trong diện vận động. Đã tiến hành sắp xếp lại dân cư cho 2.548 hộ,
13.447 khẩu trong đó có 650 hộ ra biên giới, cơ bản xóa bỏ cây thuốc phiện
trên địa bàn tồn tỉnh, hình thành 2.813 trang trại, số hộ sản xuất giỏi tăng
nhanh đến nay đã có trên 14 ngàn hộ, chiếm 14,7 số hộ trong nông thôn, làm
cho bộ mặt của nhiều vùng nông thôn được thay đổi [20].
Tổng giá trị sản xuất cơng nghiệp trên địa bàn tăng bình quân 9,37%
năm và đạt 307 tỷ đồng năm 2000 (theo giá cố định 1994), tổng nguồn vốn
đầu tư xây dựng cơ bản trên lãnh thổ giai đoạn 1996 - 2000 từ nguồn vốn
ngân sách Nhà nước tăng 10 lần, tín dụng tăng 2,8 lần, huy động trong dân
và các nguồn khác tăng 17% so với thời kỳ 1991 - 1995 và đạt 2.644 tỷ
đồng, trong đó tập trung đâu tư cho khu kinh tế cửa khẩu, khu du lịch Sa Pa,
hệ thống thủy lợi, nước sạch và kết cấu hạ tầng. Nhiều ngành có tốc độ tăng
trưởng nhanh như bưu chính viễn thơng, đưa thơng tin liên lạc điện thoại về
cả trung tâm 10 huyện, thị và 100 xã, phường; phủ sóng điện thoại di động
thị xã Lào Cai và thị trấn Sa Pa, nâng tổng số máy điện thoại tồn tỉnh lên
trên 10.000 máy năm 2000, đã có 52 điểm bưu điện văn hóa xã; xây dựng 35

năm cơng trình lưới điện đến trung tâm 11 huyện, thị và 67 xã, phường, thị
trấn; xây dựng cầu đường phát triển mạnh, nhất là phong trào làm đường
giao thông nông thôn, tồn tỉnh chỉ cịn 17 xã chưa có đường ơ tơ đến trung
tâm (trong đó có 6 xã chưa có đường ô tô tới địa giới); công nghiệp quốc
doanh đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm 9,85% chiếm tỷ trọng
86,8% trong giá trị công nghiệp trên địa bàn, công nghiệp khai khoáng tăng


24
khá, giữ tỷ trọng 67,6% trong sản xuất công nghiệp của tỉnh. Một số ngành
nghề tiểu thủ công nghiệp được duy trì và phát triển như sản xuất thổ cẩm,
chế biến nông - lâm sản... [20].
Tổng giá trị ngành thương mại, du lịch và dịch vụ có mức tăng bình
qn 9,19%/năm, tổng mức bán lẻ xã hội tăng 13,1% năm. Thương nghiệp
quốc doanh được củng cố và đảm bảo cung ứng mặt hàng chính sách và vật tư
phục vụ sản xuất nông nghiệp cho nhân dân vùng cao. Thương nghiệp ngoài
quốc doanh phát triển mạnh. Hệ thống chợ thị xã, thị trấn và nơng thơn vùng
cao đã hình thành được 59 chợ theo hướng kết hợp kinh doanh với giao lưu
văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc. Kinh tế du lịch có bước phát triển khá cả về
xây dựng quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, xúc tiến và quảng bá, đã
quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ và nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường
quản lý Nhà nước về du lịch. Lượng du khách tăng bình quân hàng năm 57%,
doanh thu tăng 73% và nộp ngân sách tăng 18% [20].
Triển khai nghị quyết về kinh tế đối ngoại, tỉnh đã xây dựng nhiều dự
án và những chính sách thu hút để gọi đầu tư vì vậy đã có 25 tổ chức quốc tế
và phi chính phủ đầu tư cho 155 dự án từ nguồn ODA, NGO, FDI vào các cơng
trình điện, đường, trường học, nước sạch, bệnh viện và giúp đỡ đồng bào ở các
xã khó khăn, xóa đói giảm nghèo với số vốn 44,5685 tỷ đồng. Kim ngạch xuất
nhập khẩu trên địa bàn năm 2000 đạt 14,300 triệu USD, tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh đạt 100 triệu USD. Thực hiện có hiệu quả

quyết định 100/QĐ-TTg ngày 26/5/1998 của Thủ tướng Chính phủ về áp dụng
một số chính sách ưu đãi khu kinh tế cửa khẩu, tăng thu ngân sách, giữ vững an
ninh biên giới và làm cho quan hệ đối ngoại ngày càng phát triển.
Nhờ triển khai có hiệu quả Luật ngân sách và các luật thuế mới nên thu
ngân sách trên địa bàn tăng bình quân hàng năm 18%, tỷ lệ huy động từ GDP
vào ngân sách đạt 12,3% và đạt 210 tỷ đồng năm 2000 [20].
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng khai thác lợi thế, đến năm 2000
tỷ trọng các ngành trong GDP của tỉnh thể hiện: Ngành nông, lâm nghiệp


25
giảm từ 52,59% năm 1995 xuống 49,02%, thương mại du lịch - dịch vụ tăng
từ 26,04% lên 32,94%, công nghiệp - xây dựng cơ bản giảm từ 21,37% xuống
18,04%. Có các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu như xây dựng dự án
tổng quan định canh định cư, dự án quy hoạch sản xuất, bố trí lại dân cư 26 xã
biên giới, dự án trung tâm cụm xã, các biện pháp chính sách huy động vốn
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách trợ cước, trợ giá, khuyến nơng lâm, trợ lãi suất, giảm thuế và phí, chính sách huy động nguồn nhân lực, đầu
tư ứng dụng khoa học kỹ thuật, cho nên cơ cấu trong ngành nơng - lâm nghiệp
đã có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng sản xuất hàng hóa, cây cơng nghiệp,
cây ăn quả, chăn nuôi và nghề rừng bước đầu phát triển; diện tích trồng lúa
nương, trồng sắn giảm mạnh. Trong cơng nghiệp đã có sản phẩm thay thế một
phần nhập từ ngồi xi măng, bia và có sản phẩm xuất khẩu như quặng sắt,
tinh quặng đồng, Apatit, giấy dế, đũa… Ngành du lịch, dịch vụ đã được tập
trung đầu tư và có bước tăng trưởng khá [20].
Về văn hóa - xã hội: Sự nghiệp giáo dục đào tạo có tiến bộ nhanh và
đạt được nhiều thành tích quan trọng. Tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi đến
lớp năm 2000 là 90%, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ
vào tháng 5/2000, xã hội hóa giáo dục bước đầu được thực hiện. Hoạt động
khoa học công nghệ có nhiều tiến bộ, đã hướng vào phục vụ sản suất phát
triển, nhất là trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp. Công nghệ thông tin đang được

triển khai ứng dụng ở một số lĩnh vực. Việc bảo vệ môi trường sinh thái được
quan tâm hơn trước. Các hoạt động văn hóa, phát thanh truyền hình, báo chí,
xuất bản đã có sự đổi mới về nội dung, đa dạng về hình thức và phong phú về
cách tuyên truyền, cung cấp một lượng thông tin nhằm nâng kiến thức và mức
hưởng thụ của nhân dân lên một bước; hiện có 108 xã, phường, thị trấn được
phủ sóng truyền hình, 37,2% hộ dân có ti vi, có 98 xã, phường, thị trấn được
phủ sóng phát thanh, 37% hộ dân có radio, nhiều huyện, thị xã được xem báo
trong ngày. Cuộc vận động xây dựng nếp sống văn hóa được phát động rộng
rãi và đông đảo các tầng lớp nhân dân ủng hộ. Công tác chăm sóc sức khỏa


×