Tải bản đầy đủ (.doc) (108 trang)

Chất lượng công tác tư tưởng của các đảng bộ huyện tỉnh bo kẹo nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (594.05 KB, 108 trang )

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để thực hiện vai trị lãnh đạo của mình đối với tồn xã hội, Đảng phải
được xây dựng vững mạnh trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Cơng tác tư tưởng là một trong những nhiệm vụ quan trọng, then chốt của
cơng tác xây dựng Đảng. Nó đảm bảo cho Đảng khơng ngừng phát triển về
mặt lý luận, hồn thiện đường lối, nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng
phương pháp khoa học, tuyên truyền và vận động quần chúng thực hiện các
nhiệm vụ của Đảng; giáo dục phẩm chất chính trị cho cán bộ đảng viên; dự
báo tình hình diễn biến tư tưởng trong Đảng và các vấn đề lý luận sẽ nảy
sinh ở từng giai đoạn phát triển...
Với vai trị quan trọng của mình, cơng tác tư tưởng càng trở nên bức
thiết trong điều kiện Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước ngày càng đi
vào chiều sâu và thực hiện chính sách mở cửa hội nhập với thế giới. Ở trong
nước, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vừa chỉ đạo thực tiễn, đúc kết thành lý
luận để làm rõ hơn con đường và bước đi lên của đất nước; động viên toàn
Đảng, toàn dân tổ chức thực hiện thắng lợi từng bước công cuộc đổi mới,
đồng thời mở rộng với bên ngoài để tranh thủ vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm
quản lý... của các nước tiên tiến để xây dựng đất nước. Thực tế đó địi hỏi
cơng tác tư tưởng của Đảng phải nâng lên tầm cao mới, bảo đảm chất lượng,
hiệu quả và chủ động sáng tạo trong cơng tác để làm trịn sứ mệnh của mình.
Bo Kẹo là một tỉnh lớn của nước Cộng hịa Dân chủ Nhân dân Lào.
Trong Báo cáo Chính trị tại Hội nghị Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII đã nêu:
"Trong thời kỳ 5 năm vừa qua, đời sống về vật chất và tinh thần của nhân
dân các bộ tộc đã được củng cố từng bước, đảng viên, cán bộ, quân đội,
cơng an, nhân dân các bộ tộc đã có lịng tin với đường lối đổi mới của


2
Đảng và có sự thống nhất thực hiện mục đích xây dựng tỉnh theo hướng


chủ nghĩa xã hội, quan hệ hợp tác về kinh tế đối ngoại đã được củng cố và
mở rộng, các ngành nghề góp phần tích cực nhiều mặt vào việc phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh".
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được trong q trình lãnh đạo
sự nghiệp đổi mới nói trên các Đảng bộ huyện tỉnh Bo Kẹo cũng đã bộc lộ
một số yếu kém trong công tác tư tưởng cần được khắc phục như: nhận thức
chưa sâu, chưa đầy đủ những chủ trương, quan điểm đổi mới của Đảng, trước
hết là trên lĩnh vực kinh tế, nên tuy tiềm năng thế mạnh của tỉnh rất đa dạng
nhưng nhịp độ phát triển chưa tương xứng. Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội còn
nhiều vấn đề bức xúc chưa được giải quyết có hiệu quả, trong Đảng bộ đã có
tình trạng phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu ở một số bộ phận cán
bộ, đảng viên; một số đảng viên là cán bộ có chức có quyền, thối hóa biến
chất, vi phạm kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước phải xử lý kỷ luật,
kể cả xử lý bằng pháp luật, trong khi đó cơng tác tư tưởng của Đảng bộ còn
nhiều lúng túng, tổ chức thực hiện chính sách chưa được đề cao đúng mức.
Tình hình đó càng trở nên lo ngại hơn khi các thế lực thù địch tăng cường các
hoạt động "diễn biến hòa bình" nhằm chống phá Đảng và sự nghiệp cách mạng
của Đảng ta như: Một mặt, bọn phản động người Lào đứng trên địa bàn Thái
Lan ln ln tìm cách xun tạc chính sách của Đảng, chia rẽ khối đồn kết
giữa bộ tộc với bộ tộc, giữa Đảng với quần chúng bằng cách tuyên truyền mua
chuộc cán bộ đảng viên, những người có chức, có quyền trong tổ chức Đảng,
trong cơ quan nhà nước làm suy thoái phẩm chất đạo đức cách mạng, làm giảm
sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Bên cạnh đó, các tệ nạn xã hội như:
bn lậu, ma túy, mại dâm, mê tín dị đoan có nhiều gia tăng. Đúng như Báo
cáo Chính trị tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh ủy lần thứ VIII của tỉnh Bo
Kẹo năm 2001 đánh giá: "Công tác chính trị - tư tưởng và tổ chức trong một số
mặt chưa đáp ứng được nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới, nó thể hiện


3

trong việc giáo dục chính trị - lãnh đạo tư tưởng chưa sâu rộng vào từng đối
tượng, là hình thức tổ chức thực hiện chưa đầy đủ toàn diện, một số đảng ủy,
một số cấp chính quyền nhà nước ở một số cơ quan, cơ sở địa phương huyện
còn coi nhẹ cơng tác tư tưởng - chính trị; việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng
vững mạnh, đảng viên mạnh, biết lãnh đạo toàn diện chưa được quan tâm đúng
mức, coi nhẹ nguyên tắc phê bình và tự phê bình; một số cán bộ đảng viên
chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo, tìm tịi về sự nhận thức mới, kiến
thức mới và làm tấm gương là đội tiên phong cho quần chúng, hơn nữa cịn bị
kỷ luật vì tham nhũng, vì hối lộ...". Tất cả những tình hình nêu trên là không
thể xem thường, đang tác động hàng ngày vào đội ngũ cán bộ đảng viên, địi
hỏi cơng tác tư tưởng phải có những câu trả lời thích đáng. Trước những yêu
cầu bức thiết của thực tiễn công tác tư tưởng ở địa phương, tôi chọn đề tài:
"Chất lượng công tác tư tưởng của các Đảng bộ huyện tỉnh Bo Kẹo nước
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay" làm luận văn tốt
nghiệp của mình với hy vọng góp phần lý giải một số vấn đề lý luận và thực
tiễn công tác tư tưởng của các đảng bộ huyện tỉnh Bo Kẹo hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Về nâng cao chất lượng cơng tác tư tưởng nói chung đã có nêu trong
nhiều Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và của Đảng
Cộng sản Việt Nam; trong báo cáo tổng kết hàng năm, 5 năm của Ban Tuyên
huấn Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và của Ban Tuyên huấn
tỉnh Bo Kẹo, các bài viết trong Tạp chí Xây dựng Đảng, Tạp chí Tuyên
truyền, Tạp chí Alun Mây, Tạp chí Xavan Phát Tha Na của Lào; trong Tạp chí
Xây dựng Đảng, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu lý luận của Việt Nam
và một số luận án tiến sĩ khoa học lịch sử ở Việt Nam do nghiên cứu sinh Việt
Nam và Lào thực hiện.
Trong thực tế đến nay ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nói chung
chưa có cơng trình nào nghiên cứu tương đối cơ bản, toàn diện về nâng cao



4
chất lượng công tác tư tưởng trong Đảng bộ cấp tỉnh nói chung và ở tỉnh Bo
Kẹo nói riêng.
Sau đây làmột số cơng trình tiêu biểu:
- Chất lượng cơng tác tư tưởng của tổ chức cơ sở đảng (cấp xã) vùng
đồng bào dân tộc ít người ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay,
Luận án Tiến sĩ lịch sử của Cao Văn Định, 2000.
- Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng trong Đảng bộ tỉnh Kiên Giang
hiện nay, Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử của Phan Trường Chiến, 2000.
- Chất lượng công tác tư tưởng của các Đảng bộ quận mới thành lập ở
thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Khoa học chính
trị của Nguyễn Hồng Năng, 2005.
- Công tác lý luận của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong thời kỳ
mới, Luận án Tiến sĩ Lịch sử của Phăn Đuông Chit Vông Sa, 2002.
- Công tác tư tưởng của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào hiện nay,
Luận án Tiến sĩ Lịch sử của Xác Xa Vát Xuân Thêp Phim Ma Son, 2003.
Ngoài ra, đã được đề cập trong nhiều chỉ thị, nghị quyết và các văn kiện
của Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, đặc biệt là Hội nghị cơng tác tổ
chức tồn quốc lần thứ 7, tháng 12/1991; Nghị quyết số 13/BCTTW ngày 31
tháng 3 năm 1995 về Công tác tư tưởng trong giai đoạn mới; Hội nghị CTTT
toàn quốc lần thứ ba năm 1997 về Phấn đấu nâng cao chất lượng CTTT - lý
luận đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng; Giáo trình tập huấn cán bộ
lãnh đạo năm 1999 về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết
định sự tồn tại của chế độ dân chủ nhân dân"; Văn kiện Đại hội VII (2001
của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng,
xây dựng Đảng vững mạnh biết lãnh đạo toàn diện; Nghị quyết số
60/BCTTW Đảng tháng 7 năm 2003 về Phương hướng chung và nhiệm vụ cơ
bản của công tác tư tưởng trong giai đoạn mới và các bài viết, bài báo khác
được cơng bố trên các tạp chí của Lào.



5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất những giải pháp nhằm góp
phần nâng cao chất lượng cơng tác tư tưởng của các Đảng bộ huyện tỉnh Bo
Kẹo trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về công tác tư tưởng liên quan
đến chủ đề luận văn.
- Đánh giá đúng thực trạng chất lượng của công tác tư tưởng của các
Đảng bộ huyện tỉnh Bo Kẹo và nguyên nhân của thực trạng ấy trong giai đoạn
hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao chất
lượng công tác tư tưởng của các đảng bộ huyện tỉnh Bo Kẹo trong giai
đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng công tác tư tưởng của các
đảng bộ huyện tỉnh Bo Kẹo nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát, đánh giá chất lượng công tác tư tưởng của
các đảng bộ huyện tỉnh Bo Kẹo từ năm 2000 đến nay. Các giải pháp tính đến
năm 2015.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác
– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng nhân dân
cách mạng Lào về tư tưởng và công tác tư tưởng của Đảng.



6
5.2. Cơ sở thực tiễn
Cơ sở thực tiễn của luận văn là tình hình cơng tác tư tưởng và thực
trang chất lượng công tác tư tưởng của các đảng bộ huyện tỉnh Bo Kẹo trong
thời giai qua. Đồng thời luận văn căn cứ vào yêu cầu và nhiệm vụ của các
đảng bộ huyện tỉnh Bo Kẹo nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong giai
đoạn mới.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, đồng thời kết hợp sử dụng các phương pháp chuyên ngành cụ
thể: phân tích, tổng hợp, điều tra, thống kê, tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ
vấn đề nghiên cứu.
6. Những đóng góp về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn làm rõ cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng công tác
tư tưởng của các đảng bộ huyện tỉnh Bo Kẹo.
- Đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm góp phần nâng cao chất
lượng cơng tác tư tưởng của các đảng bộ huyện tỉnh Bo Kẹo trong giai đoạn
hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo
cho các cấp ủy, chính quyền các cấp huyện của tỉnh Bo Kẹo, các cơ quan chức
năng, cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng của các đảng bộ huyện tỉnh
Bo Kẹo để nâng cao hiệu quả cơng tác của mình. Đồng thời có thể làm tài liệu
nghiên cứu, học tập, giảng dạy ở các Trường Chính trị Tỉnh của nước Cộng
hịa Dân chủ Nhân dân Lào.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 02 chương, 05 tiết.



7
Chơng 1
Chất lợng công tác t tởng của các Đảng bộ huyện tỉnh
Bo Kẹo hiện nay - những vấn đề
lý luận và thực tiễn
1.1. Khái quát tình hình các huyện, Đảng bộ huyện tỉnh Bo
Kẹo

1.1.1. Điều kiện địa lý, tự nhiên, dân số
Tỉnh Bo Kẹo nằm ở miền Bắc nớc Cộng hoà Dân chủ
nhân dân Lào; với diện tích 21,774 km2 chia thành hai vùng:
vùng đồng bằng với diện tích 31,109 km2 và vùng núi cao
nguyên với diện tích 15,335 km2. Phía Bắc giáp với tỉnh
Luông Năm Tha, phía Nam giáp với tỉnh Xay Nhạ Bu Lý, phía
Đông giáp với tỉnh U Đôm Xay, phía Tây giáp với tỉnh Xiêng
Khoảng, Xiêng Lai (Vơng quốc Thái Lan) mà ranh giới bởi sông
Mê Kông dài 222 km.
Tỉnh Bo kẹo là tỉnh nhỏ trong 17 tỉnh của nớc Cộng
hoà Dân chủ nhân dân Lào. Sau Thủ đôViêng Chăn, là vùng
khí hậu nhiệt đới, gió mùa nắng. Có nhiều điều kiện thiên
nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế, có diện tích đất nông
nghiệp khoảng 300.000 ha, diện tích rừng gỗ các loại có thể
khai thác hơn 132.300 ha, trên địa bàn toàn tỉnh còn có
nhiều địa bàn du lịch tự nhiên và văn hoá nh: Thát Chom
Khâu, Thát Pha Khăm. Tỉnh còn có nhiều đặc điểm, đặc
sắc về văn hoá trong cả nớc nh: Khắp L, Lăm Phu Thay, Lăm
Tăng Vai, tỉnh Bo kẹo là một trong những địa phơng có



8
truyền thống cách mạng và cũng là địa hình của dân c
nông nghiệp trồng lúa nớc.
Về hành chính tỉnh có 5 huyện, 291 làng với 27.606 hộ
gia đình, dân số toàn tỉnh là 158.683 ngời thuộc ba dân
tộc Lào Lùm chiÕm 4,04%, Lµo Kang chiÕm 1,60%, Lµo Xđng
chiÕm 2,17%, mËt độ dân số trung bình là 35 ngời/km2, tỷ
lệ tăng trởng dân số là 2,1% [52, tr.2].
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII tháng 3-2006 đề ra
phấn đấu đa đất nớc thoát khỏi tình trạng chậm phát triển,
kinh tế - xà hội có sự chuyển biến mới, sản xuất nông nghiệp
và cơ sở phát triển hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân ổn định và ngày càng đợc nâng cao; mọi
công dân đợc học hành và chăm sóc sức khoẻ, nền văn hoá
tốt đẹp của dân tộc đợc phát triển phong phú, phúc lợi xà hội
cơ bản đợc đảm bảo, đội ngũ cán bộ nhân viên và lực lợng
lao động có năng lực đáp ứng đợc yêu cầu cơ bản của sự
phát triển đất nớc, xà hội có trật tự, hệ thống chính trị dân
chủ nhân dân mà Đảng là hạt nhân lÃnh đạo vững mạnh, nớc
ta có quan hệ hợp tác quốc tế rộng rÃi và có khả năng hoà hợp
với xu thế chung của thời đại [45, tr.29].
Tỉnh Bo Kẹo là vùng có kết cấu hạ tầng đầy đủ hơn
các vùng khác, có hệ thống đờng giao thông thuận lợi nhất là
đờng quốc lộ số A3 từ Bắc đến Nam, số 13 và các đờng
khác từ tỉnh đến tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao
lu với khu vực tỉnh Luông Năm Tha và tỉnh U Đôm Xay và
trong nớc; là vùng miền Bắc lớn có nhiều sông chảy quanh
năm, có hệ thống thủy lợi khá lớn tạo điều kiện cho việc phát



9
triển trồng trọt và chăn nuôi. Theo số liệu tổng kết trong văn
kiện Đại hội Đảng của các Đảng bộ, diện tích đất nông nghiệp
của 5 huyện đạt 51,775 ha, tăng 12.730 ha so với đầu năm
2009, trong đó diện tích lúa mùa đạt 47.220 ha, tăng 12.124
ha bằng 2,56%. Tổng sản lợng 14.535 tấn, tăng 2,35%; diện
tích lúa chiếm có 28.533 ha, tăng 4,020%; diện tích rẫy có
2.861 ha, giảm 1.112 ha, bằng 3,88%. cùng với sự phát triển
của diện tích trồng lúa, các cây rau màu khác cũng phát
triển: ngô, khoai, đậu, rau, cây công nghiệp, cây ăn quả
cũng phát triển lên 1.179 ha so với năm 2009, tăng thêm
16.214 ha bằng 4,67%, chăn nuôi phát triển khá, cả 5 huyện
có 25 trang trại nuôi trâu, bò, 420 trang trại nuôi dê, lợn, 28
trang trại nuôi gia cầm và hơn 12.000 ha diện tích nuôi cá.
Nh vậy, so với năm 2009 các vật nuôi coả 5 huyện từng bớc
tăng lên, tính đến năm 2009 số bò có 4.166 con, trâu
52.575 con, lợn có 78.373 con, dê có 65.803 con, gia cầm các
loại có tới 535.733 con và sản phẩm cá khoảng 1.521 tấn.
Công trình thủy lợi, đờng giao thông cũng phát triển và
mở rộng có tới 3 công trình thủy lợi, ngoài các đờng quốc lộ
số A3, đờng từ tỉnh xuống huyện, từ huyện xuống các xÃ,
làng, bản cũng đợc phát triển, làm cho việc đi lại giao lu và
vận chuyển hàng hoá từ thành thị về nông thôn và ngợc lại
tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và cho
việc lu thông hàng hoá, làm cho đời sống của nhân dân
ngày càng đợc cải thiện.
Cùng với phát triển kinh tế, Đảng bộ tỉnh đều quan tâm
đến công tác giáo dục. Theo thống kê của Sở Giáo dục cả 5



10
huyện có trờng mầm non mẫu giáo của Nhà nớc là t nhân là
10 trờng, trong đó t nhân có 8 trờng của năm 2006, số trẻ
em tới trờng là 230 em, có 55 giáo viên, trờng phổ thông cấp I
có 45 trờng, tăng 1,62%, số học sinh 2.864 em, tăng 2,94%;
số giáo viên là 80; trờng phổ thông cấp II là 12 trờng, tăng
1,02%, số học sinh 2.614 học sinh, tăng 10,21%; cấp III có 6
trờng, tăng 0,1%, số lợng học sinh 2.961, số giáo viên cấp II +
III là 135 giáo viên.
Các trờng sơ cấp và trung cấp chuyên nghiệp nh trờng
nông nghiệp, trờng y tế và trờng hành chính doanh nghiệp
đà mở ra tùy theo điều kiện và tiềm năng của tỉnh. Theo
thống kê số lợng học viên của các trờng sơ cấp 530 em, trung
cấp có 625 em, và số lợng giáo viên giảng dạy ở các trờng
chuyên nghiệp là 89 ngời.
Cùng với việc chăm lo đến giáo dục, các đảng bộ huyện
tỉnh Bo Kẹo nớc CHDCND Lào còn quan tâm đến việc củng
cố, phát triển và mở rộng mạng lới y tế xuống cơ sở đến
thôn, làng và các huyện, cả 5 huyện có 43 bệnh viện so với
năm 2006 tăng 3,23%, số lợng trạm y tÕ cã tíi 68 tr¹m, víi m¹ng
líi hiƯu thc bán lẻ xuống đến các thôn, làng, vùng sâu, vùng
xa, tạo điều kiện cho nhân dân các bộ tộc đợc khám, chữa
bệnh, mạng lới tuyên truyền bảo vệ, giữ gìn sức khoẻ và
phòng chống dịch bệnh đợc thờng xuyên củng cố, chăm lo
nên đà giảm đợc các dịch bệnh; việc chăm sóc sức khoẻ bà
mẹ trẻ em đà đợc mở rộng rõ rệt, hơn 70% dân số đợc chăm
sóc về y tế ở mức độ khác nhau.



11
Do nắm vững và kiên trì tổ chức thực hiện Nghị
quyết số 36/BCTTW, ngày 13 tháng 3 năm 2006 về việc tăng
trởng sự lÃnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nớc về
thông tin đại chúng trong giai đoạn mới, thông tin đại chúng
đà trở thành công cụ sắc bén của công tác t tởng trong việc
đa đờng lối, chính sách của Đảng thấm sâu vào quần
chúng, đồng thời công tác t tởng đà tham gia vào nhiệm vụ
an ninh - quốc phòng, phát huy dân chủ nhân dân, đấu
tranh chống các hiện tợng tiêu cực và đảm bảo sự hớng dẫn
cho ngời nghe. Nh vậy Đảng bộ tỉnh đà làm tốt công tác
tuyên truyền, giáo dục phát động quần chúng nhân dân các
bộ tộc nhận thức thống nhất về chủ trơng, đờng lối của Đảng
và chính sách pháp luật của Nhà nớc. Theo tổng kết năm
2009, đà có Đài phát thanh đều đợc phát sóng theo hai tần
số nh AM và FM, tần số AM thờng phát sóng 15 tiếng/ngày và
phủ sóng từ 80-100% trên địa bàn tỉnh, tần số FM phát sóng
11 tiếng/ngày với diện phủ sóng từ 30-50% của địa bàn tỉnh
đều có tuyến truyền hình thờng phát sóng từ 6 đến 11
tiếng/ngày với diện phủ sóng từ 40-60%, trên địa bàn tỉnh
đối với tỉnh Viêng Chăn là tỉnh mới tách từ Thủ đô Viêng
Chăn, dù cha có đài phát thanh và vô tuyến truyền hình
riêng phải sử dụng đài phát thanh vô tuyến của Thủ đô Viêng
chăn và Trung ơng đợc phủ sóng 85-100% địa bàn tỉnh.
Cùng với sự phát triển của thông tin đại chúng nói trên
thì các tạp chí, các báo của Trung ơng đà đợc phân chia
xuống tỉnh nh: Tạp chí Khô Xa Na ốp Hôm, Tạp chí Tuyên
truyền, xuất bản 2 tháng/ số với 469 bản, Tạp chí A Lun May



12
xuất bản 2 tháng số với 481 bản, Tạp chí Xây dựng Đảng xuất
bản 2 tháng, số với 560 bản. Về báo có: Báo Nhân dân 820
bản/ngày; Báo Pạ Thết Lào 675 bản/ngày, Báo Viêng Chăn
May 120 bản/ngày; Báo Chủ nhật (hàng tuần) có 210
bản/ngày; Báo Phụ nữ, xuất bản hàng tháng có 130 bản/ngày;
Báo Thanh niên (hàng tháng) có 220 bản/tháng, Báo Lao động
hàng tháng có 150bản/tháng, ngoài ra còn có Báo An ninh,
Báo Thể thao, Báo Doanh nghiệp và các báo của địa phơng.
Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh đà phát huy, bảo tồn các di
sản văn hoá truyền thông của nhân dân các bộ tộc, nh tổ
chức các hoạt động văn hoá nghệ thuật trong những ngày lễ
lớn; những nét đặc sắc văn hoá truyền thống của địa phơng đà đợc phát huy ngày càng tiến bộ hơn nh: làm khắp lứ
ở tỉnh, làm tăng vai, khắp thúm.
1.1.2. Đặc điểm về con ngời, văn hoá, tập quán,
dân tộc tôn giáo
Xây dựng Đảng nói chung và xây dựng Đảng về t tởng
nói riêng ở tỉnh Bo Kẹo chịu sự tác động của nhiều yếu tố,
đó là những điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, chính
trị, văn hoá, xà hội và an ninh quốc phòng.
- Về điều kiện tự nhiên:
Tỉnh Bo kẹo nằm ở miền Bắc nớc CHDCND Lµo, víi diƯn
tÝch 21.774 km2 chia thµnh hia vïng: vùng đồng bằng với diện
tích 37.109 km2 và vùng núi cao nguyên với diện tích 15.335
km2, phía Bắc giáp tỉnh Luông Năm Tha, phía Nam giáp với
tỉnh Xay Nhạ Bu Lý, phía Đông giáp với tỉnh U Đôm Xay, phía


13
Tây giáp với tỉnh Xiêng Khong, Xiêng Lai (Vơng quốc Thái

Lan) mà ranh giới bởi sông Mê Kông dài 222 km.
TØnh Bo KĐo lµ tØnh nhá trong 17 tØnh cđa nớc CHDCND
Lào sau Thủ đô Viêng Chăn, là vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa,
nắng. Có nhiều điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho phát triển
kinh tế; có diện tích đất nông nghiệp khoảng 67.146 ha, diện
tích rừng, gỗ các loại có thể khai thác hơn 45.372 ha; trên địa
bàn toàn tỉnh còn có nhiều địa bàn du lịch tự nhiên và văn
hoá nh: Thát Chóm Khâu, Thát Pha Khăm và Thát Đòi Đeng.
Tỉnh còn có nhiều đặc điểm đặc sắc về văn hoá trong cả
nớc nh: Khắp Lứ, Lăm Phu Thay, Lăm Tăng Vai, Khắp Thúm, An
Năng X. Tỉnh Bo Kẹo là một trong những địa phơng có
truyền thống cách mạng và cũng là sự định hình của dân c
n«ng nghiƯp trång lóa níc.
TØnh Bo KĐo cã 5 hun, 291 buôn làng, 27.606 hộ gia
đình với số dân 158.683 ngời chiếm 7,6% dân số toàn
quốc, nữ 79.516 ngời, gồm 3 bộ tộc lớn nh Lào Lùm, Lào
Thâng và Lào Xủng, trong đó Lào Lùm có 78.015 ngời chiếm
4,91%, nữ 76.141 ngời, Lào Thâng có 40.534 ngời chiếm
2,52%, nữ có 40.198 ngời.
Dới đây là bảng số liệu thống kê số dân của các huyện
(theo số liệu Văn kiện Đại hội của các Đảng bộ huyện cuối năm
2009).
Bảng 1.1: Thống kê số dân của 5 huyện tỉnh Bo Kẹo
nớc CHDCND Lào
TT

Tên các

Số buôn


Số hộ

huyện ở tỉnh

làng

gia

Số dân
Nam
Nữ


14

1
2
3
4
5

Bo kẹo
Huyện
Huổi
Sai
Huyện

Tộn

Phâng

Huyện Pác Tha
Huyện Pha U
Đôm
Huyện Mâng

89

đình
10.950

62.233

31.500

50

5.119

26.699

13.117

36

3.132

18.558

8.947


88

6.364

39.175

20.071

28

2.041

12.018

5.881

Nguồn: Số liệu cộng từ Văn kiện Đại hội Đảng bộ cuối
năm 2009.
Bộ tộc Lào Lùm c trú chủ yếu ở tỉnh, đô thị và các trục
giao thông, một bộ phận lớn có trình độ dân trí cao, sản
xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch
vụ và sản xuất nông - lâm nghiệp theo hớng sản xuất hàng
hoá, nhất là làm ruộng, trồng lúa.
Bộ tộc Lào Thâng và Lào Xủng thuộc dân tộc ít ngời
sống ở các vùng cao nguyên và thung lũng theo các buôn làng
mang tính xà hội tơng đối hoàn chỉnh, độc lập, khép kín
theo các khu vực sản xuất phần lớn là làm rẫy.
Từ xa đến nay nhân dân các bộ tộc ở tỉnh Bo Kẹo nớc
CHDCND Lào có truyền thống trong lao động sản xuất phát
triển kinh tế, đời sống từng bớc tiến lên cũng nh truyền

thống đấu tranh cách mạng bất khuất chống giặc ngoại
xâm, chống lại phong kiến Thái Lan và phong kiến Miên Ma
trớc đây cũng nh thực dân Pháp và quốc tế Mỹ vừa qua.
Truyền thống đó đợc thể hiện rõ trong cuộc đấu tranh
chống thực dân Pháp xâm lợc bằng nhiều hình thức, mà nổi
bật trong lịch sử Lào và vận động xây dựng lực lợng cách


15
mạng trong quần chúng nhân dân, nhất là hàng ngũ công
nhân, nông dân, các nhà trí thức tiến bộ dới sự lÃnh đạo của
Đảng Cộng sản Đông Dơng.
Tỉnh có nhiều điều kiện thuận lợi và nằm giữa Bắc,
Nam của đất nớc, từ khi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
chiếm Lào, bọn chúng đà lấy vùng này làm trung tâm kinh
tế, quân sự và văn hoá - xà hội, nh vậy, để đào tạo, bồi dỡng
tay sai cho mình chúng đà mở nhiều trờng học, trung tâm
đào tạo làm cho nhân dân các bộ tộc ở tỉnh có trình độ
dân trí cao hơn. Với những điều kiện thuận lợi nói trên Đại
hội VIII (2006) của Đảng NDCM Lào đà xác định xây dựng
tỉnh trung tâm kinh tế để thúc đẩy tăng trởng kinh tế về
CNH, HĐH đất nớc" [31, tr.119]. Víi viƯc tiÕp tơc tỉ chøc thùc
hiƯn s¶n xt nông nghiệp theo Nghị quyết Đại hội VIII của
Đảng NDCM Lào (3-2006) đề ra: "Phấn đấu đa đất nớc thoát
khỏi tình trạng chậm phát triển; kinh tế - xà hội có sự chuyển
biến mới, sản xuất nông nghiệp có sự phát triển hiện đại, đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân ổn định và ngày
càng đợc nâng cao..." [32, tr.77]. Sau đó, Nghị quyết Đại hội
VIII của Đảng (3-2006) đề ra kế hoạch phát triển kinh tế - xÃ
hội 5 năm lần thứ VI (2006-2010) là: "Làm cho kinh tế thờng

xuyên phát triển liên tục; xây dựng một số công trình cơ
bản làm cơ sở cho tích luỹ ban đầu về cơ sở vật chất kỹ
thuật, củng cố tốt các hình thức tổ chức kinh doanh, nhất là
các doanh nghiệp nhà nớc" [33, tr.75].
Tổ chức thực hiện các nghị quyết nói trên các Đảng bộ
tỉnh đà tổ chức quán triệt cho các cấp uỷ Đảng trực thuộc và


16
các chính quyền địa phơng, các ban, ngành, đơn vị sản
xuất để sau đó triển khai thành kế hoạch, dự án và chơng
trình tiến hành cho phù hợp với điều kiện cụ thể cho địa phơng mình. Với đẩy mạnh khai thác tiềm năng các thành phần
kinh tế và sản xuất hàng hoá một cách rộng rÃi, làm cho kinh
tế quốc nội của tỉnh tăng hàng năm từ 8-10%, bình quân
đầu ngời từ 500-881,71 USD, cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
công nghiệp và dịch vụ đều phát triển, cơ sở hạ tầng và vật
chất kỹ thuật đà đợc xây dựng lên, tùy theo điều kiện và
tiềm năng của tỉnh, đời sống của nhân dân đợc cải thiện
rõ rệt.
Với đờng biên giới phía Tây dài từ Bắc đến Nam giáp với
Thái Lan về chế độ chính trị, do vậy tỉnh Bo Kẹo nớc
CHDCND Lào là địa bàn chiến lợc về an ninh biên giới, là một
trọng điểm của âm mu "diễn biến hoà bình" của kẻ thù,
nhất là các huyện giáp với Vơng quốc Thái Lan đang thờng
xuyên và trực tiếp bị tác động của tình hình diễn biến khá
phức tạp từ bên ngoài vào.
Bọn phản động quốc tế và bọn phản động Lào lu vong
đà và đang lợi dụng Vơng quốc Thái Lan làm địa bàn để
thâm nhập và câu móc với bọn phản động bên trong để
chống phá. Trong khi đó, tình hình bên trong tuy có bớc phát

triển có lợi cha vững chắc, còn có nhiều yếu tố có thể gây
mất ổn định về chính trị, mà một trong những mũi nhọn
của "diễn biến hoà bình" là vấn đề biên giới, đặc biệt là
vấn đề tranh giành các đảo nhỏ trên sông Mê Kông và vấn
đề buôn lậu, ma tóy qua biªn giíi.


17
Về hoạt động chính trị, kẻ thù và bọn phản động đÃ
dùng hình hức tuyên truyền xuyên tạc để phá hoại đờng lối
chính sách và vai trò lÃnh đạo của Đảng, nhất là nêu lên vấn
đề nhân quyền, nhân đạo và dân chủ, tuyên truyền xuyên
tạc, chia rẽ tình đoàn kết trong nội bộ Đảng, chia rẽ giữa
Đảng với nhân dân, phủ định công lao đà đạt đợc; chia rẽ
tình đoàn kết giữa Lào với Việt Nam và các nớc xà hội chủ
nghĩa còn lại bằng cách gửi tờ rơi, đơn th nặc danh, các tạp
chí có nội dung xuyên tạc và gây mối hoài nghi cho nhân
dân, hơn nữa lại tìm mọi cách làm mất ổn định chính trị
bằng cách gây tiếng nổ ở các cơ quan Đảng, chính quyền
nhà nớc và ở nơi công cộng (chợ, bến xe...). Đồng thời chúng lợi
dụng các Hội giáo nớc ngoài truyền bá vào Lào, sử dụng
những ngời cha hiểu biết rõ về chủ trơng, đờng lối của Đảng
và những kẻ bất mÃn làm phơng tiện hoạt động tuyên truyền
và lôi kéo nhân dân đi theo nhằm hạ thấp uy tín và vai trò
lÃnh đạo của Đảng, uy tín đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng và
chính quyền địa phơng, ra sức chống phá chủ trơng, đờng
lối của Đảng và ngăn chặn kế hoạch phát triển kinh tế - xà hội
của đất nớc. Hơn nữa, với hàng chục các phơng tiện thông tin
đại chúng của Thái Lan, nhất là Đài phát thanh và Đài truyền
hình phát sóng mạnh dọc theo lu vực sông Mê Kông với các chơng trình phát bằng tiếng Thái là ngôn ngữ có chung nguồn

gốc với Lào cùng với đó là các ấn phẩm báo chí xuất bản bằng
tiếng Thái đợc đa bằng nhiềunguồn khác nhau vào đất Lào,
trong những thông tin đợc phát đi từ những nguồn tin, có
nhiều thông tin hoàn toàn đi ngợc lại chủ trơng và đờng lối
chính trị của Đảng NDCM Lào gây nên những tác động tiêu


18
cực và làm sai lạc đi hớng phát triển đúng đắn của xà hội.
Trong điều kiện Lào còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế,
đội ngũ những ngời làm báo chí tuyên truyền nói riêng, làm
công tác t tởng nói chung còn mỏng và yếu, cộng thêm trình
độ khoa học và lý luận chính trị còn hạn chế để giải thích
chống lại sự hiện diện thờng xuyên của các phơng tiện thông
tin đại chúng từ Thái Lan đà và đang tác động trực tiếp đến
nhân dân các bộ tộc Lào ở tỉnh Bo Kẹo nh hiện nay, nó đòi
hỏi các Đảng bộ tỉnh nhất là các "binh chủng" làm công tác t
tởng phải tìm câu trả lời thích đáng.
Nhng với tinh thần làm chủ đất nớc và kiên trì chính
sách an ninh - quốc phòng, nhân dân các bộ tộc Lào ở tỉnh
Bo Kẹo nớc CHDCND Lào đà giác ngộ xây dựng lực lợng an ninh
- quốc phòng vững mạnh, thờng xuyên nắm chắc tình hình
để kịp thời bảo vệ quê hơng bản làng. Cùng với lực lợng Công
an, Quân đội nhân dân các bộ tộc trên địa bàn đà tích cực
hăng hái làm nhiệm vụ, tìm hiểu các đối tợng gây nên tệ nạn
xà hội và tuyên truyền giáo dục cổ động các đối tợng kể cả
trực tiếp, gián tiếp với các tệ nạn xà hội: mại dâm, ma túy, cờ
bạc... Để đảm bảo ổn định chính trị, an toàn cho xà hội, các
lực lợng an ninh - quốc phòng của tỉnh, huyện đà cùng toàn thể
quân dân du kÝch ra søc häc tËp, båi dìng vỊ phÈm chÊt

chÝnh trị, chuyên môn, đạo đức, củng cố sự đoàn kết nội bộ
trở thành lực lợng vững chắc bảo vệ an toàn đơn vị, địa phơng cũng nh đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh đợc ổn
định. Các cơ quan lập pháp và thẩm phán đà tích cực hoạt
động thực hiện vai trò và chức năng của mình, bằng cách đa
đờng lối chính sách của Đảng, giáo dục pháp luật cđa Nhµ níc


19
vào tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân các bộ
tộc Lào, phối hợp cùng các tổ chức, các ban ngành cùng làm
công tác giáo dục pháp luật đà đợc củng cố hoạt động, thích
hợp hơn, đảm bảo sự đúng đắn chính nghĩa, ý thức coi
trọng pháp luật của nhân dân các bộ tộc đợc từng bớc nâng
lên.
1.1.3. Đặc điểm các huyện và Đảng bộ huyện
tỉnh Bo Kẹo
Với việc giữ vững nguyên tắc và phơng hớng về xây
dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ theo tinh thần Nghị
quyết Đại hội VIII của Đảng NDCM Lào về tăng cờng sự lÃnh
đạo của Đảng trong sự nghiệp đổi mới là:
Tiếp tục củng cố xây dựng Đảng vững mạnh về
chính trị - t tởng, tổ chức và lối làm việc là nhiệm
vụ hàng đầu trớc mắt và lâu dài, củng cố Đảng và
làm cho Đảng có đủ năng lực, sức chiến đấu và vai
trò hạt nhân lÃnh đạo trong hệ thống chính trị và
đại diện cho quyền lợi của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động các bộ tộc Lào [31, tr.72].
Tổ chức thực hiện triển khai nghị quyết đó, đòi hỏi
các Đảng bộ huyện, tỉnh Bo Kẹo phải coi trọng việc giáo dục
tuyên truyền về chính trị, t tởng, coi đó là vấn đề hàng

đầu và đi sâu vào tất cả các công việc làm cho hàng ngũ
cán bộ, đảng viên và nhân dân các bộ tộc nhận thức, nắm
vững về chính trị, t tởng và tổ chức quan tâm củng cố các
tổ chức đảng gắn với phơng hớng, nhiệm vụ chính trị của
Đảng trong giai đoạn mới.


20
Dới sự lÃnh đạo của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng và
Ban Tổ chức Trung ơng Đảng; các Ban Thờng vơ TØnh ủ, Ban
Tỉ chøc TØnh ủ cđa tØnh ®· nghiên cứu và đa ra phổ biến
các tài liệu về công tác củng cố xây dựng Đảng, đồng thời
coi công tác xây dựng Đảng vững mạnh, biết lÃnh đạo toàn
diện là trọng tâm, qua đó chất lợng của các cấp uỷ đảng đÃ
từng bớc đợc nâng lên, những đảng viên đợc sắp xếp vào
ban lÃnh đạo của các cấp uỷ đảng đà từng bớc đủ tiêu chuẩn,
có trình độ, năng lực, quan điểm, lập trờng chính trị ngày
càng vững vàng.
Theo thống kê, tháng 6-2009 các Đảng bộ tỉnh Bo kẹo nớc CHDCND Lào gồm có:
- Uỷ viên Tỉnh uỷ có 27 đồng chí, nữ 2 đồng chí.
- Uỷ viên huyện uỷ có 91 đồng chí, nữ 8 đồng chí.
- Uỷ viên tổ chức cơ sở đảng có 144 đồng chí, nữ 5
đồng chí.
- Uỷ viên chi bộ đảng có 502 ®ång chÝ, n÷ 43 ®ång
chÝ. Trong ®ã 1 BÝ th TØnh ủ, 5 BÝ th Hun ủ vµ 320 chi
bé đảng viên với 4129 đảng viên, nữ 548 đồng chí, trong
đó Lào Lùm 3.040 đồng chí, nữ 485 đồng chí; Lào Thâng
878 đồng chí, nữ 44 đồng chí; Lào Xủng 211 đồng chí, nữ
19 đồng chí. Số đảng viên dự bị 644 đồng chí, nữ 132
đồng chí. Những đảng viên nói trên đà đợc phân chia theo

lĩnh vực khác nhau: ở cơ quan đơn vị có 1054 đồng chí,
nữ 190 đồng chí; ở trờng học, bệnh viện và các trung tâm
khác có 573 đồng chí, nữ 146 đồng chí, doanh nghiệp nhà
nớc 66 đồng chí, nữ 14 đồng chí; doanh nghiƯp t nh©n 0


21
đảng viên, nữ 0 đồng chí; ở nông thôn, bản làng có 1.705
đảng viên, nữ 145 đồng chí, trong đó nông dân 0 đồng
chí, nữ 0 đồng chí; ngời buôn bán 0 đồng chí, nữ 0 đồng
chí và viên chức có giáo viên ở các trờng phổ thông tiểu học,
trung học và cán bộ y tế ở các trạm xá 41 đồng chí, nữ 21
đồng chí.
Theo thống kê 6 tháng cuối năm 2009, tổng số cán bộ là
3.0127 ngời, nữ 1.028 ngời, trong đó số cán bộ có trình độ
học vấn phổ thông cấp I là 18 ngời, cấp II là 18 ngời, cấp III là
2.891 ngời; có trình độ chuyên môn sơ cấp là 42 ngời; trung
cấp là 476 ngời; cao cấp và đại học là 2.393 ngời; thạc sĩ 16
ngời; tiến sĩ 0 ngời và không có chuyên môn là 187 ngời; có
trình độ lý luận sơ cấp hay tập huấn ngắn hạn là 64 ngời;
trung cấp là 164 ngời; cao cấp và cử nhân là 174 ngời; thạc
sĩ là 16 ngời, tiến sĩ 0 ngời và không có trình độ lý luận
chính trị là 2.952 ngời.
Báo cáo chính trị tại Đại hội VIII của Đảng NDCM Lào đÃ
khẳng định: "Cán bộ là ngời giữ vai trò quyết định trong
công tác tổ chức thực hiện các đờng lối chính sách của
Đảng. Vì vậy việc đào tạo, bồi dỡng, sử dụng cán bộ phải dựa
vào nhu cầu thực tế trớc mắt và lâu dài của mọi lĩnh vực
công việc" [33, tr.54]. Triển khai nghị quyết đó, Hội nghị về
công tác tổ chức đảng - cán bộ của Ban Tổ chức Trung ơng

Đảng ngày 13-3-2001 đề ra mục tiêu phấn đấu 5 năm (20012006) là:
Đào tạo, bồi dỡng cán bộ các loại trên tất cả các cấp
các ngành Đảng, Nhà nớc tổ chức quần chúng và sản


22
xuất kinh doanh nhằm nâng cao trình độ kiến thức,
năng lực chuyên môn nghiệp vụ, vững vàng về chính
trị, phẩm chất đạo đức cách mạng; tăng cờng phong
cách quản lý cán bộ bằng cách phối hợp với các cơ
quan, đơn vị có liên quan để có chế độ chính sách
hợp lý với cán bộ quân đội, công an, cán bộ lÃo thành
có công với cách mạng theo điều kiện kinh tÕ - x· héi
cđa níc ta [34, tr.72].
§Ĩ thùc hiƯn nghị quyết, cấp uỷ đảng của các đảng bộ
huyện tỉnh Bo Kẹo đà tổ chức giáo dục chính trị, đạo đức
cách mạng cho cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng ở cơ sở đà đợc củng cố vững chắc, đồng thời phong cách lÃnh đạo và lối
làm việc của cán bộ, đảng viên dần dần đi đúng hớng, đúng
nguyên tắc.
Để tiếp tục củng cố tổ chức trong cơ quan nhà nớc, phát
huy những thành quả ban đầu đà đạt đợc và kinh nghiệm
trong tổ chức thực hiện. Bộ Chính trị Trung ơng Đảng đề ra
các quy định, chỉ dẫn nh: Quy định 01/BCTTW ngày
13/3/2006 về đánh giá, xếp loại cán bộ; số 02/BCTTW ngày
16/3/2006 về việc sắp xếp luân chuyển cán bộ; số
03/BCTTW ngày 19/3/2006 về công tác quản lý cán bộ và số
04/BCTTW ngày 19/3/2006 về tiêu chuẩn cán bộ và quy định
về quy chế nhân sự số 171/CP đợc sửa đổi thành quy định
về quy chế nhân sự số 82/CP ngày 19/6/2006 nhằm làm
hoàn thiện tiêu chuẩn nhân sự và hợp lý với nhu cầu thực tế

hơn.


23
Dựa vào nghị quyết và các quy định nói trên, các cấp
uỷ đảng đà coi trọng đến vấn đề đào tạo, bồi dỡng cán bộ ở
ngay trong nớc với phong trào thực tế đi đôi với việc cử đi
đào tạo, bồi dỡng nâng cao trình độ ở nớc ngoài, khẩn trơng
tập huấn và đào tạo cán bộ để đa xuống cơ sở địa phơng,
nhất là cấp huyện và bản. Do đó trờng chính trị - hành
chính của tỉnh đà đợc khôi phục lại, mở lớp tập huấn theo chơng trình 15 ngày với bí th chi bộ đảng và Chủ tịch bản,
làng, 45 ngày với cán bộ chuyên môn ở các ngành nghề của
các sở trong tỉnh và cán bộ chuyên môn ở các phòng cấp
huyện; 1 năm với cán bộ lÃnh đạo các ngành ở các cơ sở tỉnh,
uỷ viên huyện uỷ và cán bộ lÃnh đạo các phòng của cấp
huyện, đồng thời đa môn chính trị - xà hội vào giảng dạy ở
các trờng chuyên nghiệp và trờng phổ thông cấp III. Nh vậy
làm cho cán bộ lÃnh đạo cũng nh cán bộ chuyên môn đà dần
dần phát triển, đạt tiêu chuẩn và ngày càng làm việc có hiệu
quả hơn.
* Về cơ cấu tổ chức của cơ quan làm CTTT
Triển khai tinh thần Nghị quyết Hội nghị CTTT toàn
quốc lần thứ V (2010) về phơng hớng và nhiệm vụ CTTT trong
những năm tới là: phải tăng cờng củng cố, nâng cao chất lợng
về mọi mặt cho cơ quan làm CTTT lý luận, tổ chức giáo dục
tuyên truyền và nghiên cứu chủ trơng, đờng lối của Đảng với
những hình thức thích hợp, với từng đối tợng, đặc biệt quan
tâm đào tạo, bồi dỡng và giáo dục cán bộ chuyên trách làm
CTTT và cổ động tuyên truyền trớc hết là đội ngũ giáo viên



24
giảng dạy môn khoa học chính trị ở các trờng chính trị hành chính của tỉnh [35, tr.60].
Nh vậy các đảng bộ huyện tỉnh Bo Kẹo đà quan tâm
củng cố cơ quan đó cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ
thể của tỉnh đà có cán bộ tuyên huấn 45 ngời, nữ 8 ngời, trong
đó ở Ban tuyên huấn tỉnh 15 ngời, nữ 1 ngời. Số cán bộ có
trình độ học vấn phổ thông cấp I có 18 ngêi, cÊp II cã 18 ngêi, cÊp III cã 2.891 ngời, trình độ chuyên môn sơ cấp là 42 ngời, trung cÊp lµ 476 ngêi, cao cÊp lµ 486 ngêi, đại học là 273
ngời, sau đại học là 0 ngời, không có chuyên môn là 2.952 ngời
có trình độ lý luận sơ cấp là 175 ngời, đại học là 16 ngời, sau
đại học 5 ngời và không có trình độ lý luận là 175 ngời.
Số lợng cán bộ trong Sở Thông tin văn hoá là 79 ngời, nữ
14 ngời, trong đó trình độ học vấn phổ thông cấp I có 54
ngêi; cÊp II cã 18 ngêi; cÊp III cã 2.891 ngời, trình độ chuyên
môn sơ cấp có 42 ngời, trung cấp có 476 ngời, cao cấp có
486 ngời, đại học có 273 ngời, không có chuyên môn 952 ngời, có trình độ lý luận chính trị sơ cấp và tập huấn ngắn
hạn là 184 ngời, trung cấp 78 ngời, cao cấp có 220 ngời, đại
học là 94 ngời; cha qua lý ln chÝnh trÞ 89 ngêi.
TriĨn khai NghÞ qut Héi nghị CTTT toàn quốc lần thứ
IV (2010) trờng chính trị - hành chính của tỉnh đà lựa chọn
những cán bộ, giáo viên đợc đào tạo trong nớc đa số là tại Đại
học Quốc dân, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Lào và đợc đào tạo từ Cộng hoà x· héi chđ nghÜa ViƯt Nam ë
trêng Ngun ¸i Qc X trớc đây và Học viện Chính trị Hành chính qc gia Hå ChÝ Minh hiƯn nay. §Õn nay, trêng


25
Chính trị - Hành chính tỉnh đà có cán bộ giáo viên và công
chức 15 ngời, nữ 5 ngời, trong đó có trình độ học vấn phổ
thông cấp II là 2 ngời, nữ 1 ngời, cấp III 13 ngời, trình độ

chuyên môn sơ cấp 4, trung cấp 5 ngời, cao cấp 3 ngời, đại
học 3 ngời, có trình độ lý luận chính trị sơ cấp 2 ngời,
trung cấp 4 ngời, cao cấp 4 ngời, đại học 4 ngời, sau đại học
0 ngời và không có trình độ lý luận chính trị 3 ngời.
1.2. Chất lợng công tác t tởng của các đảng bộ huyện, tỉnh
Bo Kẹo hiện nay - quan niệm và tiêu chí đánh giá

1.2.1. Quan niệm về chất lợng công tác t tởng
Theo Đại từ điển tiếng Việt, chất lợng là "cái làm nên
phẩm chất, giá trị của mét con ngêi, sù vËt, sù viƯc" [9,
tr.331]. ChÊt lỵng theo nghÜa triÕt häc lµ tÝnh quy lt cđa sù
vËt, khiến cho nó là sự vật này, chứ không phải là sự vật
khác. Chất lợng là phạm trù liên quan đến sự đánh giá mức độ
đạt đợc so với những tiêu chuẩn đợc quy định, là sự thể hiện
những yếu tố khách quan tạo ra nó và những nỗ lực chủ quan
để đạt tới nó.
Trên bình diện xà hội, CTTT nhằm vào hai mục đích:
hình thành ý thức xà hội và tính tích cực xà hội. Đối với từng
con ngời CTTT giải quyết ba vấn đề: nâng cao nhận thức,
hình thành và củng cố niềm tin, thúc đẩy hành động. Nh
vậy, chất lợng CTTT là phạm trù chỉ mức độ đạt đợc về nội
dung, hình thức, phơng pháp tiến hành CTTT đáp ứng yêu
cầu khách quan của sự phát triển nhằm tác động đến suy
nghĩ, t tởng của con ngời, hớng dẫn hoạt động của con ngời
trong đời sống hiện thùc.


×