Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

báo cáo vi phạm đạo đức hành nghề công chứng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (179.22 KB, 20 trang )

MỞ ĐẦU
I. Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua thời gian, đối với mỗi người khi làm bất cứ cơng việc nào cũng
cần phải có đạo đức nghề nghiệp, nghề công chứng là một nghề đặc biệt hơn nữa
bởi so với các nghề khác mặc dù với tư cách cá nhân nhưng công chứng viên
được Nhà nước tin tưởng, bổ nhiệm để trao cho một phần quyền lực công của
Nhà nước (thực hiện dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm) nhằm thực hiện chức
năng chính là chứng nhận tính xác thực, tính chính xác, tính hợp pháp và tính
phù hợp với đạo đức xã hội của các hợp đồng, văn bản giao dịch dân sự hoặc các
giấy tờ dân sự khác.
Có thể nói thơng qua hoạt động công chứng, làm cho các văn bản, giấy tờ
này trở thành có hiệu lực pháp luật như các văn bản của Nhà nước ban hành ra,
được nhân dân và Nhà nước thừa nhận, thì chính cơng chứng viên là người góp
phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người u cầu
cơng chứng khi tham gia giao kết các hợp đồng giao dịch. Đồng thời, với chức
năng nói trên của mình, hành vi của cơng chứng viên cịn được tồn bộ xã hội
nhìn nhận như một chuẩn mực về sự đúng đắn, đặt vào đó một sự tin cậy rất cao
nếu như khơng muốn khẳng định gần như là tuyệt đối.
Hiện nay với luật Công chứng ra đời, các Quy tắc đạo đức hành nghề công
chứng đã được soạn thảo và ban hành rõ rang là kim chỉ nam cho các công
chứng viên. Quy tắc bao gồm các chuẩn mực đạo đức, hành vi ứng xử của công
chứng viên trong hành nghề công chứng, là cơ sở để công chứng viên tự giác
rèn luyện tu dưỡng đạo đức trong hành nghề và trong đời sống xã hội, nhằm
nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp của cơng chứng viên, nâng cao uy tín của
cơng chứng viên, góp phần tơn vinh nghề cơng chứng trong xã hội.
Tuy nhiên, từ quy định cho đến kết quả thực thi là một khoảng cách còn
khá lớn. Biểu hiện trên thực tế là, cho đến hiện tại, những sai phạm về đạo đức
hành nghề của cơng chứng viên vẫn cịn rất nhiều và có xu hướng ngày càng gia
tăng với tính chất và mức độ nghiêm trọng hơn trước.



Do đó tơi chọn đề tài “Từ một số tình huống thực tiễn về vi phạm đạo
đức hành nghề công chứng, hãy đề xuất và hoàn thiện quy tắc đạo đức hành
nghề công chứng hiện hành” để làm báo cáo của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu vấn đề thực tiễn và lý luận về vi phạm đạo đức hành nghề
công chứng;
- Đánh giá đúng thực trạng về cách hành nghề của công chứng viên, tổ
chức hành nghề công chứng và sự quản lý của Nhà nước đối với công chứng
viên, các tổ chức hành nghề công chứng;
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện sự quản lý của Nhà nước, hồn thiện
quy tắc đạo đức hành nghề cơng chứng nhằm góp phần giúp nghề cơng chứng
vững từ phần gốc rễ và phát triển theo kịp trình độ thế giới, mang đến cho
người u cầu cơng chứng có cái nhìn tin tưởng và yên tâm về nghề công
chứng của nước nhà.
b. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
- Từ quy tắc đạo đức hành nghề công chứng, đưa ra được thực trạng vi
phạm đạo đức hành nghề công chứng, làm rõ bản chất và nêu cơ sở của những vi
phạm. Qua đó, đề xuất được các giải pháp nhằm hồn thiện quy tắc đạo đức
hành nghề cơng chứng, góp phần vào sự phát triển của nghề cơng chứng nói
riêng và sự phát triển của xã hội nói chung.
- Đối tượng nghiên cứu của báo cáo là Quy tắc đạo đức hành nghề công
chứng và thực tiễn của hoạt động công chứng trong phạm vi cả nước (chú trọng
vào địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Cơ cấu của bài báo cáo
Ngồi phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
bài báo cáo gồm 03 chương:
Chương 1: Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng
Chương 2: Một số tình huống thực tiễn về vi phạm đạo đức hành nghề

cơng chứng.
Chương 3: Đề xuất và hồn thiện quy tắc đạo đức hành nghề công chứng hiện
hành


CHƯƠNG 1: QUY TẮC ĐẠO ĐỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
1. Quy tắc Đạo đức hành nghề công chứng
Quy tắc Đạo đức hành nghề công chứng được ban hành căn cứ Luật công
chứng số 82/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006; Căn cứ
Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 1 năm 2008 của
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật công chứng; Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày
22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
1.1. Quy tắc chung
- Bảo vệ quyền, lợi ích Nhà nước, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
- Nguyên tắc hành nghề cơng chứng.
- Tơn trọng, bảo vệ uy tín, thanh danh nghề nghiệp.
- Rèn luyện, tu dưỡng bản thân.
1.2. Quan hệ với người yêu cầu công chứng
- Trách nhiệm nghề nghiệp:
Công chứng viên phải tận tâm với công việc, phát huy năng lực, sử dụng
kiến thức chuyên môn, các kỹ năng nghề nghiệp để bảo đảm tốt nhất tính an
tồn pháp lý cho hợp đồng, giao dịch; có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết yêu
cầu công chứng của cá nhân, tổ chức một cách nhanh chóng, kịp thời khi u
cầu cơng chứng đó khơng vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội;
Sẵn sàng tiếp nhận và giải quyết kịp thời yêu cầu công chứng của người u cầu
cơng chứng bằng cách ln có mặt tại trụ sở tổ chức hành nghề công chứng
trong giờ làm việc theo quy định của pháp luật; Có nghĩa vụ giải thích cho người
u cầu cơng chứng hiểu rõ về quyền, nghĩa vụ, hậu quả pháp lý phát sinh của

hợp đồng, giao dịch được yêu cầu công chứng; giải đáp một cách rõ ràng những
thắc mắc của người yêu cầu công chứng nhằm đảm bảo cho hợp đồng, giao dịch
đúng với ý chí của các bên giao kết hợp đồng, giao dịch; đảm bảo các bên có
nhận thức đúng về pháp luật có liên quan và giá trị pháp lý của văn bản công
chứng trước khi công chứng viên công chứng; Có trách nhiệm cung cấp cho


người u cầu cơng chứng các thơng tin có liên quan về quyền, nghĩa vụ và
trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên trong hành nghề công chứng theo
yêu cầu của người yêu cầu công chứng.
- Bảo mật thông tin, bảo quản hồ sơ cơng chứng.
- Đối xử bình đẳng giữa những người yêu cầu công chứng.
- Thu đúng, thu đủ và cơng khai phí, thù lao cơng chứng theo quy định đã
được niêm yết.
- Những việc công chứng viên không được làm trong quan hệ với người yêu
cầu công chứng: Sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu cơng chứng;
Nhận, địi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người u cầu cơng
chứng ngồi phí cơng chứng, thù lao cơng chứng và chi phí khác đã được quy
định, xác định, thoả thuận; Sử dụng thông tin biết được từ việc công chứng để
mưu cầu lợi ích cá nhân; Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và
nội dung của hợp đồng, giao dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội…
1.3. Quan hệ với đồng nghiệp, tổ chức hành nghề công chứng, tổ chức
xã hội nghề nghiệp công chứng, tổ chức, cá nhân khác
Tôn trọng, bảo vệ danh dự của đồng nghiệp; giữ gìn và phát huy tinh thần
đồn kết, thân thiện, hợp tác giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ;
Khi phát hiện đồng nghiệp có sai sót trong hành nghề, cơng chứng viên có
nghĩa vụ góp ý thẳng thắn nhưng khơng được hạ thấp danh dự, uy tín của đồng
nghiệp và báo cáo với người có trách nhiệm nếu đó là hành vi vi phạm pháp luật
hoặc gây tổn hại đến nghề nghiệp.
Lợi dụng tư cách là công chứng viên hướng dẫn để buộc người tập sự phải

làm những việc không thuộc phạm vi tập sự hoặc những hành vi vi phạm pháp
luật trái đạo đức xã hội nhằm đạt được những lợi ích cho mình…
1.4. Kiểm tra, giám sát, khen thưởng, xử lý vi phạm.
Tổ chức hành nghề cơng chứng có trách nhiệm giám sát việc thực hiện Quy
tắc đạo đức hành nghề công chứng đối với công chứng viên tại tổ chức mình.
Cơng chứng viên thực hiện khơng đúng Quy tắc đạo đức hành nghề cơng
chứng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị nhắc nhở, phê bình, khiển
trách, xử lý kỷ luật theo Điều lệ của tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng


viên, bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
pháp luật….
2. Quy định về xử lý vi phạm trong hoạt động công chứng
2.

1. Xử lý vi phạm hành chính

- Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính Phủ quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hơn nhân
và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
- Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính Phủ sửa đổi, bổ
sung một số điều của nghị định số số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm
2013 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ
tư pháp, hành chính tư pháp, hơn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản
doanh nghiệp, hợp tác xã.
- Văn bản 462/VBHN-BTP ngày 22/02/2016 của Bộ tư pháp hợp nhất Nghị
định số 110/2013/NĐ-CP và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP.
- Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính.

- Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ
sung một số điều của nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013
của chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi
phạm hành chính.
- Luật cơng chứng 2014.
- Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính Phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật công chứng.
- Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp Quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật công chứng.
- Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính Phủ về cấp bản sao
từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực
hợp đồng, giao dịch.
- Thông tư số 20/2015/TT-BTP ngày 29/12/2015 của Bộ Tư Pháp quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày
16 tháng 02 năm 2015 của chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản


sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.


CHƯƠNG 2: MỘT SỐ TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN VỀ VI PHẠM ĐẠO
ĐỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
Quy tắc Đạo đức hành nghề công chứng được ban hành kèm theo Thông tư số
11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp (gồm 4 chương, 15
điều) quy định các chuẩn mực đạo đức, hành vi ứng xử của công chứng viên trong
hành nghề công chứng, là cơ sở để công chứng viên tự giác rèn luyện, tu dưỡng
đạo đức trong hành nghề và trong đời sống nhằm nâng cao trách nhiệm nghề
nghiệp, nâng cao uy tín của cơng chứng viên, góp phần tơn vinh nghề công chứng
trong xã hội.. Sau đây là các hành vi vi phạm tại các văn phịng cơng chứng.
2.1. Vi phạm hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng

-

Hiện nay một số Văn phịng cơng chứng hoạt động khơng đúng trụ sở đã

đăng ký, có tình trạng tổ chức hành nghề công chứng liên kết với ngân hàng tổ
chức hành nghề luật sư, văn phòng thừa phát lại, doanh nghiệp để đặt bàn làm
việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công
chứng. Cụ thể tại quận 9, thành phố Hồ Chí Minh VPCC Minh Lan đã ký hợp
đồng hợp tác với một chi nhánh ngân hàng nhằm mục đích phục vụ nhu cầu
công chứng, chứng thực cho khách hàng của ngân hàng khi đến làm thủ tục vay
vốn. Sau khi ký hợp đồng, VPCC đã cử công chứng viên và nhân viên đến trực
tiếp làm việc tại địa chỉ này. Có thể thấy một số Văn phịng cơng chứng (VPCC)
tự động bố trí kho lưu trữ hồ sơ cơng chứng đặt ngoài trụ sở đăng ký hoạt động
của VPCC và chuyển hồ sơ công chứng lưu trữ đến kho mà chưa có văn bản
đồng ý của Sở tư pháp, dễ dẫn đến tình trạng mất mát, hư hỏng, khó kiểm sốt,
quản lý được hồ sơ cơng chứng theo quy định tại Điều 17
Một số văn phịng cơng chứng trong cơng tác tiếp dân có một số cán bộ,
cơng chức có hành ứng xử không đúng với chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, có
thái độ cửa quyền, hách dịch gây khơng ít những phiền tối, khó khăn cho người
dân, gây mất lòng tin đối với nhân dân, làm ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của
Đảng, của các cấp, các ngành. Những bài học thực tế cho thấy, nhiều sự việc yêu
cầu của người dân rất đơn giản nhưng do thái độ làm việc thiếu tinh thần, trách
nhiệm khơng giải thích cho người dân rõ ràng thấu đáo gây bức xúc cho nhân dân,
có những trường hợp dẫn đến khiếu kiện khơng đáng có.


- Nhiều tổ chức hành nghề công chứng (TCHNCC) sai phạm về hồ sơ công
chứng đánh trùng số công chứng, chưa thực hiện đánh số hồ sơ công chứng theo
thứ tự thời gian theo quy định tại Khoản 2, Điều 63 Luật Cơng chứng năm 2014.
Gây ra tình trạng khó khăn trong tra cứu số hồ sơ và tồn tại cùng lúc hai hồ sơ

trùng số công chứng. Nguyên nhân là do lập và sử dụng cùng lúc nhiều loại sổ
công chứng hợp đồng giao dịch theo từng loại việc, từng loại hợp đồng, giao
dịch và khơng có sự thống nhất trong việc kiểm soát cấp số, ghi chú vào sổ số
công chứng.
Để lưu trữ và quản lý hồ sơ cơng chứng, nhiều hồ sơ cơng chứng của các văn
phịng công chứng thiếu bản sao hộ khẩu chứng minh nhân dân, cá biệt có
trường hợp hồ sơ thiếu bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất, thiếu biên bản họp hội đồng thành viên,
báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc Điều lệ công
ty, vi phạm quy định tại Điểm d, Khoản 2, Điều 56 Luật Doanh Nghiệp năm
2014, lưu nhiều hồ sơ vi phạm Điều 63 và Điều 64 Luật Công chứng năm 2014.
2.2. Vi vi phạm về thủ tục công chứng
- Các công chứng viên tuy đã được trang bị kiến thức nhưng vẫn bị mắc
những lỗi kỹ thuật khơng đúng như viết đè, chưa ký và đóng dấu của tổ chức
hành nghề công chứng vào chỗ đã được sửa, tự thêm hoặc cắt những nội dung
không thuộc trường hợp lỗi kỹ thuật mà thuộc về phần nội dung của hợp đồng
giao dịch dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Tại điều 50 luật Công chứng đã quy
định. Cụ thể trường hợp bà A và bà H đến Văn phòng công chứng Quận Liên
Chiểu, TP Đà Nẵng làm hợp đồng ủy quyền. Theo hợp đồng này, bà A được
quyền liên hệ với ngân hàng và các cơ quan chức năng để tất toán khoản tiền vay
của bà H và được quyền mua bán, chuyển nhượng đối với căn nhà trên. Khi hai
bên ký kết xong, bà A giao cho bà H 500 triệu đồng. Cuối tháng 10/2020 vừa
qua, bà A hay tin bà H đã đi tất toán ngân hàng và bán căn nhà đó cho người
khác. Q trình điều tra cho thấy khi công chứng ở VPCC quận Liên Chiểu hợp
đồng ủy quyền có nội dung “mua bán, chuyển nhượng” nhưng sau đó, nhân viên
văn phịng cơng chứng đã sửa và bỏ nội dung này trong bản sao y. Người ủy
quyền (bà H) đã dùng bản sao y không đúng với bản lưu cơng chứng trước đó
đến Văn phịng công chứng Nhà Rồng để tiến hành làm hợp đồng mua bán và



xảy ra tranh chấp
- Một số hồ sơ công chứng của Các văn phịng cơng chứng thiếu giấy xác
nhận tình trạng hôn nhân hoặc giấy tờ để chứng minh quyền sở hữu riêng, sử
dụng riêng đối với tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân đặc biệt là đối với
hợp đồng thế chấp, hợp đồng chuyển nhượng tặng cho quyền sử dụng đất quyền
sở hữu nhà ở mà trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng sở hữu tài sản chỉ đứng
tên một người. Việc thực hiện công chứng các hợp đồng giao dịch trong trường
hợp này là chưa chặt chẽ và chưa đảm bảo đầy đủ căn cứ theo quy định của pháp
luật.
- Các văn phịng cơng chứng thực hiện công chứng đối với các hợp đồng mà
đối tượng của hợp đồng là quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình nhưng hồ sơ
cơng chứng chỉ có bản sao trang hộ khẩu của vợ chồng mà khơng có các trang
hộ khẩu của các thành viên trong hộ. Do đó, chưa có căn cứ để xác định đầy đủ
các thành viên hộ gia đình ký kết hợp đồng theo quy định của pháp luật.
- Nhiều hồ sơ của Các văn phịng cơng chứng thiếu chữ ký của ngân hàng
vào từng trang hợp đồng thế chấp tài sản theo quy định tại Khoản 8 Điều 40,
Khoản 3, Điều 41 và Khoản 1, Điều 48 Luật công chứng năm 2014.
- Nhiều cơng chứng viên ở các văn phịng cơng chứng thực hiện ký tắt vào
các trang hợp đồng giao dịch trong các hồ sơ công chứng và không đăng ký mẫu
chữ ký này dẫn đến vi phạm quy định tại Khoản 8, Điều 40 và Khoản 3, Điều 41
Luật công chứng năm 2014.
- Một số hồ sơ công chứng hợp đồng thế chấp thiếu chữ ký của các thành
viên hộ gia đình theo quy định tại Khoản 1, Điều 102, Điều 101 và Điều 212 của
Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Một số hồ sơ công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thiếu chữ
ký của một trong những người đồng sử dụng trong hợp đồng và trong hồ sơ
cơng chứng khơng có các văn bản quyền theo quy định của pháp luật.
- Công chứng phụ lục sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp khơng có sự thỏa
thuận cam kết bằng văn bản của người đồng sở hữu tài sản đã tham gia hợp
đồng thế chấp ký trước đó vi phạm Điều 51 Luật Cơng chứng năm 2014.



- các văn phịng cơng chứng thực hiện cơng chứng văn bản khai nhận và văn
bản phân chia di sản thừa kế nhưng chưa thực hiện việc niêm yết hoặc có niêm
yết nhưng chưa hết thời hạn niêm yết theo quy định tại Điều 18 Nghị định số
29/2015 NĐ-CP, vi phạm Khoản 3, Điều 57, Khoản 2,3, Điều 58 Luật công
chứng năm 2014.
- Thực hiện công chứng văn bản phân chia di sản thừa kế theo pháp luật
nhưng chưa xác định đầy đủ hàng thừa kế thứ nhất, chưa xác định được bố mẹ
người để lại di sản chết trước hay chết sau người để lại di sản để xác định đầy đủ
những người được hưởng di sản thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự về
thừa kế. Nội dung văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, văn bản khai
nhận di sản thừa kế không ghi nhận cụ thể người thừa kế
2.3. Vi phạm hành chính về chứng nhận hợp đồng giao dịch có nội
dung vi phạm phápnluật
-

Hiện nay tại các văn phịng cơng chứng việc chi tiền hoa hồng trong

hoạt động này đã trở thành “điều kiện cần” để có hợp đồng cơng chứng, nhất là
trong bối cảnh các tổ chức hành nghề công chứng mọc lên như nấm, đặc biệt là
ở các thành phố lớn. tại Khoản 9, Điều 9 Quy tắc đạo đức hành nghề công
chứng ban hành kèm Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ
trưởng Bộ Tư pháp quy định một trong những công việc công chứng viên không
được làm là trả tiền hoa hồng, chiết khấu cho người yêu cầu công chứng hoặc
người môi giới. Cụ thể hiện nay tỷ lệ % trích lại dao động từ 10 - 30% tiền phí,
thù lao cơng chứng, chi phí khác tùy theo thỏa thuận giữa công chứng viên, tổ
chức hành nghề cơng chứng với tổ chức tín dụng, nhân viên tổ chức tín dụng
hoặc người mơi giới. Chính vì số tiền % này mà các tổ chức tín dụng thường
giới thiệu khách hàng là người vay vốn lựa chọn tổ chức hành nghề công chứng

đã “liên danh, liên kết” với tổ chức tín dụng mà khơng được lựa chọn tổ chức
hành nghề công chứng khác. Điều này trái quy định của pháp luật.
- Tình trạng cơng chứng ngồi trụ sở của cơng chứng viên hoặc sử dụng
nhân viên của văn phịng công chứng để lấy chữ ký của khách hàng sau đó đem
về văn phịng
cơng chứng cho cơng chứng viên ký diễn ra hầu hết các tổ chức hành nghề công


chứng. Khơng đảm bảo đúng trình tự, thủ tục và tính pháp lý của việc chứng
nhận hợp đồng, giao dịch, dễ dẫn đến tình trạng tranh chấp.
- các văn phịng công chứng thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng
thế chấp quyền sử dụng đất trong trường hợp đất cấp cho hộ gia đình, khi người
chủ hộ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chết các con của người
đã chết ủy quyền định đoạt phần di sản thừa kế được hưởng cho chồng vợ của
người đã chết đó theo biên bản họp gia đình có xác nhận của chính quyền địa
phương, chưa thực hiện niêm yết theo điều 18 Nghị định 29 năm 2015 NDCP
nhưng người vợ chồng của người để lại tài sản đã đứng tên ký Hợp đồng thế
chấp, hợp đồng chuyển nhượng.
- Hồ sơ công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giao cho hộ gia
đình khi người chủ hộ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chết
không để lại di chúc. Gia đình có thỏa thuận cử người đại diện cho các thành
viên hộ gia đình để thế chấp, nhưng chưa thực hiện khai nhận di sản thừa kế và
làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- các văn phịng cơng chứng thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất nhưng không có đơn xin tách thửa
theo quy định tại Điều 75 Nghị định số 43/2014 NĐ-CP ngày 15/05/2014 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai 2013; Khơng
có bản vẽ được duyệt nội nghiệp của cơ quan có thẩm quyền về việc có thể
chuyển nhượng một phần thửa đất đó và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng.
- các văn phịng cơng chứng thực hiện công chứng hợp đồng vay tài sản, các

bên chỉ xác định mức lãi suất theo thỏa thuận nhưng không xác định rõ mức lãi
suất tối đa theo thỏa thuận đó có vượt quá mức lãi suất tối đa theo quy định của
Pháp luật hay không. Nhưng công chứng viên vẫn chứng nhận nội dung hợp
đồng đúng quy định pháp luật là chưa có căn cứ.
- Nhiều hợp đồng thế chấp, chuyển nhượng mà đối tượng của hợp đồng là
quyền sử dụng đất và nhà ở nhưng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
chưa chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, vi phạm quy định tại Điều 118 Luật nhà
ở năm 2014.
2.4. Vi phạm quy định về thu chi phí cơng chứng thù lao cơng chứng
- Theo Điểm b, Khoản 2, Điều 14 Thông tư số 64/2013/TT-BTC của Bộ Tài


chính ngày 15/5/2013 và Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của
Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa.Nhiều tổ chức hành nghề cơng
chứng thực hiện lập hóa đơn giá trị gia tăng theo bảng kê khách hàng lẻ đối với
các khoản thu trên 200.000 đồng mà không lập riêng từng hóa đơn là vi phạm
- các văn phịng cơng chứng thu phí khơng đúng mức phí theo quy định tại
Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức
thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cơng chứng, phí chứng thực, phí
thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề cơng chứng, phí thẩm định điều kiện
hoạt động văn phịng cơng chứng, lệ phí cấp thẻ cơng chứng viên được sửa đổi
bổ sung theo Thông tư số 111/2017/TT-BTC.

CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN, ĐỀ XUẤT VÀ HỒN THIỆN QUY TẮC
ĐẠO ĐỨC HÀNH NGHỀ CƠNG CHỨNG HIỆN HÀNH


1. Nguyên nhân
- Theo khoản 4, Điều 4 Luật công chứng 2014 công chứng viên phải tự “chịu
trách nhiệm trước pháp luật và người yêu cầu công chứng về văn bản công

chứng” ) , phải tiếp nhận, tự quyết định xử lý và thực hiện việc công chứng từ đầu
đến cuối, do vậy sức ép về kiến thức pháp luật, về kinh nghiệm áp dụng pháp luật,
kinh nghiệm phân tích các mối quan hệ xã hội và cả sức ép về tâm lý đối với công
chứng viên khi thực hiện công chứng là rất lớn.
-

Hiện nay với việc phát triển rộng các văn phịng cơng chứng cả chiều rộng

lẫn chiều sâu, các công chứng viên cũng tăng lên rất nhanh và được phân bổ
khá dễ dàng do vậy các văn phịng cơng chứng đã khơng ngừng đẩy mạnh cạnh
tranh, thu hút lợi nhuận, dẫn tới sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các văn
phịng cơng chứng, cũng như nhằm mục đích trục lợi có chủ ý của cơng chứng
viên khi thực hiện việc cơng chứng. Từ đó xuất hiện nhiều vụ việc công chứng
viên công chứng hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu vi phạm pháp luật một cách
cố ý, nghiêm trọng như: công chứng “treo”, công chứng “khống”, ủy quyền bán
một tài sản cho nhiều người, công chứng hợp đồng giao dịch khi chưa có đầy đủ
điều kiện theo quy định của pháp luật, coi nhẹ các quy định của pháp luật, coi
nhẹ việc tuân theo đạo đức xã hội, thiếu cẩn trọng trong thẩm định hồ sơ, thu thù
lao công chứng chưa thống nhất, thu không theo quy định hoặc có sự khuất tất
trong thu thù lao, phí công chứng…
- Theo khoản 2 điều 43 Với việc khống chế cả thời hạn công chứng không
quá 02 ngày làm việc đối với hợp đồng, giao dịch có nội dung phức tạp thì thời
hạn cơng chứng có thể kéo dài hơn nhưng khơng q 10 ngày làm việc do đó
việc tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu công chứng đòi hỏi phải được thực hiện
gần như là tức thời, nếu khơng có các quy định khống chế thời gian của pháp
luật. Với sức ép về thời gian, kỹ năng làm việc cần đạt hiệu suất cao thì cơng
chứng viên phải đạt những tiêu chuẩn cao tuy nhiên trong Luật cịn q sơ sài,
khó đáp ứng được với những diễn biến vô cùng phức tạp trong thực tiễn xã hội,
dễ đẩy công chứng viên, nhất là các công chứng viên mới vào nghề mắc phải
những sai phạm do thiếu kinh nghiệm, thiếu bản lĩnh nghề nghiệp.

- Với hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong hoạt động công chứng còn
quá “nhẹ tay”, còn quá chú trọng đến xử lý vi phạm hành chính. Quy định về


việc kiểm tra, thanh tra, giám sát, khen thưởng, xử lý vi phạm còn chung chung,
chưa đề ra được lịch trình, tiêu chí và thành phần những người tham gia vào
đoàn thanh tra, kiểm tra, giám sát, khen thưởng, xử lý vi phạm. Quy định “Công
chứng viên thực hiện không đúng Quy tắc đạo đức hành nghề cơng chứng thì tùy
theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị nhắc nhở, phê bình, khiển trách, xử lý kỷ
luật theo Điều lệ của tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên, bị xử phạt
hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật” trên
thực tế chưa được xử lý nghiêm minh và triệt để. Cịn mang nặng tính hình thức,
thủ tục trong việc xử phạt vi phạm.
Hiện nay, trong quá trình thự hiện luật cơng chứng bên cạnh những mặt đạt
được thì pháp luật về công chứng hiện đang bộc lộ những hạn chế trong điều
chỉnh mơ hình tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng, chưa
phù hợp với thực tiễn hoạt động công chứng đang diễn ra. Một số quy định của
Luật không rõ ràng dẫn đến việc áp dụng khơng thống nhất và thiếu chính xác,
chưa có cơ chế ràng buộc trách nhiệm của các công chứng viên đối với tổ chức
hành nghề công chứng nơi đăng ký hành nghề, chế tài xử lý đối với các hành vi
vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động của các tổ chức hành nghề công
chứng chậm được quy định và còn nhiều kẽ hở để các cơ quan quản lý nhà nước
cũng như các công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng lợi dụng để
thực hiện các hành vi vi phạm…
2. Giải pháp hoàn thiện quy tắc đạo đức hành nghề công chứng
2.1. Quản lý nhà nước nghiêm đối với các tổ chức hành nghề công chứng
Hiện nay việc hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề
cơng chứng đang góp phần vào việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nói
chung, quản lý cơng chứng nói riêng , bên cạnh đó việc quản lý nhà nước
nghiêm đối với các văn phòng cơng chứng sẽ phịng ngừa, ngăn chặn quan hệ

“lợi ích nhóm”; chống đặc quyền, đặc lợi; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải
cách tư pháp; khắc phục tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức
hành nghề công chứng, hạn chế các tiêu cực trong quản lý đối với lĩnh vực cơng
chứng nói chung, quản lý các tổ chức hành nghề cơng chứng nói riêng, đảm bảo
u cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp.
Với việc hồn thiện bộ máy quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành


nghề công chứng đang làm chất lượng phục vụ đối với người dân ngày càng
được nâng cao, đảm bảo sự quản lý chặt chẽ, hiệu quả đối với quá trình hoạt
động hành nghề của công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng; đồng thời
kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật của công chứng
viên, tổ chức hành nghề công chứng; cải thiện chất lượng bồi dưỡng kiến thức
pháp luật, kỹ năng hành nghề cho công chứng viên; đảm bảo cho các tổ chức
hành nghề công chứng hoạt động lành mạnh, đi vào nề nếp, phát triển đúng đúng
định hướng, mang lại hiệu quả cao đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
2.2. Tạo sự thống nhất chung trong quá trình giải quyết hồ sơ công
chứng cho công dân
- Việc áp dụng Luật cơng chứng hiện nay đã được chính phủ hướng dẫn
tường tận qua các Thơng tư, nghị định, vì vậy đối với mỗi công chứng viên việc
vận dụng và áp dụng quy định của pháp luật nhất quán trong giải quyết hồ sơ
giữa các tổ chức hành nghề công chứng khác nhau, không tận dụng những kẽ hở
của Luật để lách luật tạo ra sự tùy tiện trong quá trình giải quyết hồ sơ giữa các
tổ chức hành nghề cơng chứng, cạnh tranh khơng lành mạnh, khơng đảm bảo
tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, đem lại nhiều rủi ro cho khách
hàng. Ví dụ tại Khoản 2, Điều 44 Luật Công chứng 2014: “Việc công chứng có
thể được thực hiện ngồi trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trong trường
hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại được, người
đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng

khác khơng thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng” được cơng chứng
ngồi trụ sở tổ chức hành nghề công chứng để đảm bảo cho việc thực hiện được
chặt chẽ, chấn chỉnh tình trạng cơng chứng ngồi trụ sở dẫn đến cạnh tranh
không lành mạnh giữa các tổ chức hành nghề cơng chứng, khơng đảm bảo an
tồn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch.
2.3. Ban hành văn bản quy định rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn của
các cơ quan của Hội Công chứng viên tỉnh, thành phố
Cácquy tắc đạo đức hành nghề công chứng được phát hành bằng văn bản
quy định rõ rang về nhiệm vụ, quyền hạn, nên Hiệp hội công chứng viên Việt


Nam và Hội công chứng viên các tỉnh, thành phố sẽ dễ dàng thực hiện việc giám
sát hội viên trong việc tuân thủ quy định của pháp luật về công chứng
Thơng qua hồn thiện các quy định này sẽ góp phần nâng cao vị trí, vai trị
của Hiệp Hội cơng chứng viên Việt Nam và Hội công chứng viên tỉnh, thành
phố trong quan hệ hỗ trợ, phối hợp với Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp trong quản lý
nhà nước về cơng chứng nói chung và quản lý nhà nước đối với các tổ chức
hành nghề cơng chứng nói riêng.
Đồng thời các văn bản pháp luật cần nêu rõ trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể
của Hội công chứng viên Việt Nam trong việc triển khai, phổ biến các quy định
liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công chứng Việt Nam để nâng cao ý thức
trách nhiệm nghề nghiệp cho các công chứng viên; làm cho các công chứng viên
nhận thức được trách nhiệm của bản thân đối với việc nâng cao trình độ chun
mơn nghiệp vụ, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp.
2.4. Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cơng chứng
Hiện nay với hình thức bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ công chứng cho các
công chứng viên đang thực hiện kết hợp giữa bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp
vụ với bồi dưỡng về chính trị tư tưởng, giữa giảng dạy lý thuyết và thực hành để
nâng cao trách nhiệm của cơ quan thực hiện bồi dưỡng kỹ năng hành nghề công
chứng và chất lượng đội ngũ công chứng viên.

Đồng thời, cần có chính sách để các Sở Tư pháp và Hội công chứng viên
các tỉnh, thành phốluôn xác định phải luôn nâng cao chuyên môn nghiệp vụ của
công chứng viên và luôn được được Bộ Tư pháp hỗ trợ, giúp đỡ trong việc bồi
dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm cho các công chứng viên của địa
phương để đảm bảo việc bồi dưỡng đạt kết quả, góp phần nâng cao chất lượng
đội ngũ công chứng viên cho các địa phương, đảm bảo an toàn pháp lý cho các
hợp đồng, giao dịch.
Các tổ chức quản lý nhà nước cần thường xuyên bồi dưỡng về chính trị, tư
tưởng cho đội ngũ công chứng viên, nhân viên tổ chức hành nghề công chứng
trực tiếp thực hiện việc công chứng, chứng thực đã hạn chế tình trạng cơng
chứng viên, nhân viên tổ chức hành nghề công chứng thiếu bản lĩnh trước cám
dỗ của đồng tiền, thực hiện hành vi vụ lợi, lợi dụng chức năng, nhiệm vụ tham


mưu xây dựng các cơ chế, chính sách về cơng chứng tạo ra lợi ích nhóm như
hiện nay hoặc dùng chính chức vụ, quyền hạn của bản thân để thực hiện hành vi
vi phạm, đem lại lợi ích cho bản thân. Qua đó xây dựng đội ngũ cơng chứng
viên, nhân viên tổ chức hành nghề công chứng thật sự trong sáng, gương mẫu,
khách quan, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, phục vụ tốt cho hoạt động cơng
chứng.
2.5 Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật
về quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề công chứng
- Cơ quan quản lý nhà nước về công chứng ở các địa phương cần tăng
cường hơn nữa hoạt động thanh, kiểm tra tổ chức và hoạt động của các tổ chức
hành nghề công chứng tại địa phương để kịp thời phát hiện, xử lý và chấn chỉnh
các hành vi vi phạm pháp luật công chứng của các công chứng viên và tổ chức
hành nghề công chứng, đảm bảo cho quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành
nghề công chứng đạt hiệu quả.
- Đồng thời, cần có cơ chế giám sát lẫn nhau giữa các tổ chức hành nghề
công chứng và các công chứng viên trong quá trình hoạt động hành nghề để hạn

chế tình trạng cơng chứng ngồi trụ sở của cơng chứng viên hoặc sử dụng nhân
viên của văn phịng cơng chứng để lấy chữ ký của khách hàng sau đó đem về
văn phịng cơng chứng cho cơng chứng viên ký.


KẾT LUẬN
Có thể thấy để quy tắc Đạo đức nghề hành nghề công chứng được thi hành
nghiêm túc và tôn trọng trong hành nghề cơng chứng địi hỏi mỗi cơng chứng viên
phải không ngừng phấn đấu, trau dồi phẩm chất, chú trọng nâng cao trình độ,
thường xuyên học tập, nghiên cứu kiến thức về các lĩnh vực liên quan đến hoạt
động nghiệp vụ chun mơn; tích cực tham gia các hoạt động, trao đổi kiến thức,
kinh nghiệm với đồng nghiệp trong hoạt động công chứng; Tôn trọng, bảo vệ danh
dự, uy tín cho đồng nghiệp, có thái độ thân thiện, giúp đỡ nhau hồn thành nhiệm
vụ; Giữ gìn mối quan hệ hợp tác, bình đẳng giữa cơng chứng viên với nhân viên
nghiệp vụ, với những người giữ vị trí lãnh đạo và đồng nghiệp trong hoạt động
công chứng.
Hiện nay, cùng với xu thế phát triển của lĩnh vực công chứng đã có rất nhiều
tổ chức hành nghề cơng chứng được ra đời và đi vào hoạt động. Nhiều công chứng
viên có kinh nghiệm và tâm huyết với nghề, hết lịng phục vụ nhân dân, được đồng
nghiệp và nhân dân tin tưởng - Đó là vốn quý, là chỗ dựa cho các thế hệ đi sau, là
những công chứng viên gạo cội không chỉ am hiểu các quy định của pháp luật để
vận dụng xử lý tốt các tình huống phức tạp mà họ còn tận tâm với nghề nghiệp, say
mê nghiên cứu và sẵn sàng chia sẻ với đồng nghiệp, tham mưu có hiệu quả giúp cơ
quan quản lý đưa ra các chủ trương chính sách phù hợp góp phần thúc đẩy sự phát
triển của nghề công chứng.
Việc nghiên cứu để tìm ra các sai phạm trong Quy tắc đạo đức hành nghề
cơng chứng và đề xuất hồn thiện Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng hiện
hành phải được thực hiện một cách đồng bộ cả về lý luận và thực tiễn. Trên cơ
sở các quy định của Luật Công chứng 2014, Quy tắc đạo đức hành nghề công
chứng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và thông qua thực tiễn

hoạt động công chứng cả nước (chủ yếu ở Thành phố Hồ Chí Minh) đã nêu lên
những sai phạm trong Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng. Đồng thời, đưa ra
được những giải pháp, ý tưởng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập và hồn
thiện Quy tắc đạo đức hành nghề cơng chứng.
Hy vọng rằng kết quả Báo cáo của học viên sẽ góp một phần nhỏ bé vào


việc đổi mới, hoàn thiện Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng và phát triển
nghề công chứng ở nước ta trong giai đoạn mới.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
2. Luật cơng chứng năm 2014.
3. Luật quản lý thuế năm 2006.
4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế năm 2012.
5. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế năm 2014.
6. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế
tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế năm 2016.
7. Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hơn nhân và gia đình, thi hành
án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã ngày 24/9/2013 của Chính phủ.
8. Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của
Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư
pháp, hành chính tư pháp, hơn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản
doanh nghiệp, hợp tác xã.
9. Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính.
10.Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ

sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy
định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành
chính.

2
7



×