Tải bản đầy đủ (.pdf) (130 trang)

(Luận văn thạc sĩ) lý luận và thực tiễn việc công nhận các bản án và quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại tòa án nhân dân thành phố hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.01 MB, 130 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ XUÂN HUY

Lý luËn và thực tiễn việc CÔNG NHậN
CáC BảN áN Và QUYếT ĐịNH DÂN Sự CủA TòA áN NƯớC NGOàI
TạI TòA áN NHÂN DÂN THàNH PHố Hà NộI

Chuyờn ngnh: Lut Quc t
Mó số: 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN LAN NGUYÊN

HÀ NỘI – 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng
tôi, những số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng, những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
công bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
Tác giả

Ngơ Xn Huy


MỤC LỤC


Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH
BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TỊA ÁN NƯỚC
NGỒI TẠI VIỆT NAM ......................................................................... 9
1.1.
1.1.1.

Khái qt lý luận về công nhận và cho thi hành bản án, quyết
định dân sự của tịa án nước ngồi .......................................................... 9
Khái niệm bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngồi ..................... 9

1.1.2.

Khái niệm cơng nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của
tòa án nước ngồi ..................................................................................... 12

1.2.
1.2.1.

Đặc điểm của pháp luật cơng nhận và cho thi hành bản án, quyết
định dân sự của tịa án nước ngồi ........................................................ 15
Khái qt pháp luật quốc tế về công nhận và cho thi hành bản án,

1.2.2.


quyết định dân sự của tịa án nước ngồi .................................................. 18
Ý nghĩa của việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân
sự của tịa án nước ngồi .......................................................................... 24

Chương 2: PHÁP LUẬT VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG
NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN,
QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TỊA ÁN NƯỚC NGỒI .................... 27
2.1.
2.1.1.

Khái quát lịch sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về công nhận
và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tịa án nước ngồi.......... 27
Giai đoạn trước khi có Bộ luật tố tụng dân sự .......................................... 27

2.1.2.

Giai đoạn sau khi có Bộ Luật tố tụng dân sự ............................................ 31

2.2.

Nguyên tắc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án,
quyết định dân sự của tòa án nước ngồi.............................................. 31
Tịa án Việt Nam xem xét cơng nhận và cho thi hành tại Việt Nam

2.2.1.

bản án, quyết định dân sự của tịa án nước ngồi mà Việt Nam và
các nước đó đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề này ....... 31



2.2.2.

Bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngồi được pháp luật Việt

2.2.3.

Nam quy định cơng nhận và cho thi hành ................................................. 32
Bản án, quyết định dân sự của tịa án nước ngồi cũng có thể được tịa

2.2.4.

án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ
sở có đi có lại mà khơng địi hỏi Việt Nam và nước đó phải ký kết hoặc
gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề đó ...................................................... 33
Bản án, quyết định dân sự của tịa án nước ngồi khơng có u cầu thi
hành tại Việt Nam và khơng có đơn u cầu thi hành tại Việt Nam khơng
cơng nhận thì đương nhiên được cơng nhận tại Việt Nam theo điều ước
quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập .................................................. 34

2.2.5.

2.2.6.

Tòa án Việt Nam chỉ xem xét việc không công nhận bản án, quyết
định dân sự của tịa án nước ngồi khơng có u cầu tại Việt Nam
khi có đơn u cầu khơng cơng nhận ........................................................ 34
Bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngồi sẽ khơng được
cơng nhận và cho thi hành tại Việt Nam nếu việc công nhận và cho
thi hành đó trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật VIệt Nam và


2.2.7.

trật tự công cộng ...................................................................................... 35
Nguyên tắc quyền miễn trừ quốc gia ........................................................ 37

2.2.8.
2.2.9.

Thẩm quyền của tòa án Việt Nam ............................................................ 39
Các điều ước quốc tế ................................................................................ 43

2.3.

Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam........................................................ 45

2.4.

Quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định
dân sự của Tịa án nước ngồi ............................................................... 48

2.5.

Thủ tục cơng nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự
của Tịa án nước ngồi ........................................................................... 49

2.5.1.

Bản án, quyết định dân sự của Tịa án nước ngồi được xem xét
cơng nhận và cho thi hành ........................................................................ 49


2.5.2.

Đơn yêu cầu và hồ sơ kèm theo đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tịa án nước ngồi ........................... 51

2.5.3.

Thủ tục cơng nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết dân
sự của Tịa án nước ngồi ......................................................................... 53

2.6.
2.6.1.

Thủ tục công nhân và cho thi hành bản án quyết định trọng tài
của TANN tại Việt Nam ......................................................................... 76
Nộp đơn yêu cầu ...................................................................................... 76


2.6.2.

Thụ lý đơn yêu cầu................................................................................... 77

2.6.3.

Chuẩn bị xét đơn yêu cầu ......................................................................... 77

2.6.4.

Phiên họp xét đơn yêu cầu........................................................................ 77


2.7.

Thủ tục xét đơn yêu cầu không công nhận và thi hành tại Việt Nam
các bản án, quyết định dân sự của TANN khơng có u cầu thi
hành tại Việt Nam ................................................................................... 78

2.7.1.

Nộp đơn yêu cầu không công nhận .......................................................... 78

2.7.2.

Thụ lý đơn yêu cầu không công nhận. Sau khi nhận được đơn yêu
cầu và các giấy tờ tài liệu kèm theo, Bộ tư pháp sẽ kiểm tra tính hợp
pháp của các giấy tờ, lập hồ sơ và gửi đến TAND cấp tỉnh có thẩm
quyền. Khi nhận được hồ sơ, Tịa án sẽ tiến hành kiểm tra xem xét
vào sổ thụ lý. ............................................................................................ 78

2.7.3.

Xét đơn yêu cầu không công nhận. Thủ tục này được tiến hành qua
hai bước ................................................................................................... 79

2.7.4.

Lệ phí....................................................................................................... 79

2.8.

Thủ tục kháng cáo kháng nghị như quy định của việc công nhận và

cho thi hành bản án quyết định dân sự theo quy định của pháp............. 79

Chương 3: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ CÔNG NHẬN VÀ CHO THI
HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TỊA ÁN NƯỚC NGỒI
TẠI VIỆT NAM CŨNG NHƯ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ................................. 80
3.1.

Thực trạng .............................................................................................. 80

3.1.1.

Tình hình công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài
tại Việt Nam trong xu hướng phát triển sắp tới ......................................... 81

3.1.2.

Những thuận lợi và khó khăn khi cơng nhận và thi hành bản án, quyết
định Tòa án nước ngồi của Tịa án nhân dân thành phố Hà Nội. ............... 90

3.2.

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật về công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tịa án
nước ngồi .............................................................................................. 92

3.2.1.

Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật
trong nước về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự

của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài ................... 92


3.2.2.

Sửa đổi, bổ sung, ký kết các điều ước quốc tế mới, đồng thời tiếp tục
việc “nội luật hóa” các điều ước quốc tế về công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tịa án nước ngồi,

3.2.3.

quyết định của Trọng tài nước ngồi ...................................................... 106
Sửa đổi, bổ sung các điều ước quốc tế hiện hành về công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài. .................................. 108

3.3.

Tiếp tục việc “Nội luật hóa” các điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự
của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài .............. 111

3.4.

Đề cao trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc triển khai các
giải pháp xây dựng và áp dụng pháp luật về công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài ........................................... 112

KẾT LUẬN ........................................................................................................ 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 120


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS:

Bộ luật tố tụng dân sự

TAND:

Tịa án nhân dân

TTTP:

Tương trợ tư pháp

TANN:

Tịa án nước ngồi


M U
1. Tớnh cp thit ca ti
Trong thời đại ngày nay, hợp tác quốc tế là yêu cầu khách quan cho sự tồn tại
và phát triển của mỗi quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Quá trình hợp tác phát sinh
nhiều mối quan hệ khác nhau không chỉ có các mối quan hệ giữa các quốc gia này
với các quốc gia khác mà còn có mối quan hệ giữa công dân, pháp nhân của nước
này là vấn đề quan trọng được nhiều nước quan tâm.
Nước ta đang tham gia vào quá trình giao lưu và hợp tác quốc tế iều đó sẽ
nảy sinh ngày càng nhiều các mối quan hệ có yếu tố nước ngoài thuộc các lĩnh vực

kinh tế, dân sự, lao động, hôn nhân gia đình và hình sự đòi hỏi phải được điều chỉnh
bằng pháp luật và các hiệp định tương trợ tư pháp giữa các nước với nhau. Một trong
các lĩnh vực đó là việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết dịnh
dân sự của tòa án nước ngoài, quyết của trọng tài nước ngoài.
Song song tồn tại bên cạnh hƯ thèng ph¸p lt cđa tõng qc gia, Lt qc
tÕ có những nhiệm vụ cơ bản như: Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, đảm bảo sự
phát triển tiến bộ của các quan hệ xà hội trên quy mô khu vực và toàn cầu, thúc đẩy
sự phát triển hợp tác trên tất cả các mặt của đời sống qc tÕ.
Trong thêi gian qua, cïng víi viƯc më réng quan hệ hợp tác quốc tế, công
cuộc đổi mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xà hội của Đất nước ta hiện nay đang
diễn ra sôi động. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân
đÃ, đang và sẽ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Muốn xây dựng thành công
chủ nghĩa xà hội ở Việt Nam cần phải có được nhà nước pháp quyền xà hội chủ
nghĩa và không ngừng tranh thủ sự hợp tác quốc tế trên tất cả các lính vực của đời
sống xà hội, đây là một đòi hỏi mang tính tất yếu, khách quan. Trước hết đó là viƯc
tham gia th¶o ln, tháa thn ký kÕt gia nhËp các điều ước quốc tế, giành cho nhau,
đảm bảo cho nhau, công nhận lẫn nhau về địa vị pháp lý cũng như những quyền và
lợi ích hợp pháp khác trên cơ sở hữu nghị, hợp tác toàn diện, cùng chung sống hòa
bình ổn định, phát triển bền vững hai bên cùng có lợi.
Về vấn đề công nhận nhau về địa vị pháp lý, việc công nhận và thi hành các vÊn
®Ị cđa ®êi sèng kinh tÕ x· héi qc tÕ nói chung cũng như việc công nhận và cho thi

1


hành các bản án và quyết định của Tòa án nói riêng là vấn đề pháp lý cơ bản và chuyên
sâu của lĩnh vực tư pháp của mỗi quốc gia cũng như quốc tế. Đây vừa là vấn đề chủ
quyền vừa là vấn đề pháp lý quốc tế trong quan hÖ bang giao, các vụ việc ngày càng đa
dạng về hình thức, thể loại, phức tạp cả về tính chất làm nảy sinh ra nhiều vấn đề pháp
lý đòi hỏi các quốc gia cần xây dựng một cơ chế pháp lý để giải quyết những vấn đề

này, trong đó các tranh chấp phát sinh chủ yếu giữa các quèc gia, cá nhân, pháp nhân
các nước trong lĩnh vực dân sự theo nghÜa réng có yếu tố nước ngồi.
Để giải quyết vấn đề nay, trên thế giới hiện nay có hai phương thức chủ yếu
là giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải và phương thức giải quyết
tranh chấp tại các thiết chế tài phán Toà án hoặc Trọng tài.
Hiện nay, việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN là
một trong những nội dung quan trọng của hoạt động tương trợ tư pháp, một thủ tục
đặc biệt của hoạt động tố tụng dân sự quốc tế. Thực tiễn hiện nay cho thấy, số lượng
các bản án, quyết định của Tịa án nước ngồi cần được công nhận và thi hành tại
Việt Nam ngày càng tăng, điều đó dẫn đến nhu cầu hợp tác giữa các quốc gia để
thoả thuận công nhận và thi hành tại lãnh thổ của nhau các bản án, quyết định của
Tịa án nước ngồi là một địi hỏi tất yếu khách quan.
Nếu pháp luật của nước ta thơng thống và đồng bộ trong việc thi hành và
công nhận bản án, quyết định của Tịa án ngồi tại Viêt Nam sẽ thu hút nhiều nhà
đầu tư nước vào Việt Nam hợp tác làm ăn cũng như thúc đẩy giao lưu thương mại
quốc tế giữa nước ta và các nước khác trên thế giới ngày càng được mở rộng hơn.
Một trong những yếu tố đảm bảo cho tính có thể thi hành của Tịa án nước ngồi là
ngồi các quy định về công nhận và cho thi hành quyết định phải rất hợp lý và chặt
chẽ, tránh trường hợp bản án, quyết định của Tịa án nước ngồi có thể bị bên thua
kiện yêu cầu huỷ một cách tuỳ tiện. Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết
định của Tịa án ngồi tại Việt Nam là một trong những động thái thể hiện tinh thần
hợp tác hữu nghị sẵn sàng trợ giúp pháp lý đối với các nước hữu quan. Nếu việc
công nhận và thi hành các quyết định đó khơng trái với pháp luật quốc gia cũng như
các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết,chưa thể quy định một cách rõ
ràng khái niệm trật tự công cộng, hoặc nếu không chấp nhận xu hướng phân định

2


“trật tự công cộng quốc gia” và “trật tự công cộng quốc tế” tại các văn bản quy

phạm pháp luật tài phán tịa án và về trọng tài, thì cũng cần phải thống nhất. Ở một
chừng mực nào đó, về cách hiểu, giải thích và áp dụng các quy định này trong thực
tiễn xét xử của Toà án Việt Nam nói chung và thực tiễn cơng nhận và thi hành quyết
định của trọng tài nước ngồi tại Hà Nội nói riêng.
Mặc dù vấn đề về công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tịa
án nước ngồi đã được thiết lập và vận hành một cách có hiệu quả, nhưng nó vẫn
khơng thể tránh khỏi những tồn tại nhất định trong thực tiễn cuộc sống. Rất nhiều
điểm bất cập của các Điều ước quốc tế đã đến lúc cần được loại bỏ để thay thế bằng
những quy định mới phù hợp hơn. Trong khi việc sửa đổi Điều ước quốc tế chưa
được tiến hành, thì sự thống nhất và tìm ra các phương pháp và cơ chế khác trong
việc giải quyết các quan hệ quốc tế giữa các nước thành viên về cách hiểu và áp
dụng những điều khoản của Điều ước quốc tế trong giải quyết quan hệ quốc tế là rất
cần thiết. Việc hiểu đúng, đồng thời áp dụng phần nào linh hoạt những quy định của
Điều ước cũng đặc biệt quan trọng với Việt Nam, nhất là trong khi pháp luật nước
ta vẫn còn nhiều điểm chưa tương đồng với nhau và chưa phù hợp với quy tắc
chung của quốc tế.
ë n­íc ta trong lĩnh vực hoạt động tư pháp Đảng và nhà nước ta rÊt quan t©m
tró träng thĨ hiƯn rÊt râ ë các chủ trương chính sách trong những năm gần đây coi
Tòa án có vai trò trung tâm quan trọng trong hệ thống cơ quan tư pháp và cải cách tư
pháp, tòa án là cơ quan duy nhất nhân danh Nhà nước tiến hành hoạt động xét xử
các loại án nói chung và các quyết định tư pháp nói riêng [7]. Trong những năm qua,
việc công nhận và cho thi hành các bản án cũng như các quyết định dân sự của tòa
án và vấn đề ủy thác tư pháp ngày càng nhiều về số lượng, đa dạng về loại việc. Tại
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bên cạnh hoạt động xét xử trên địa bàn thì việc
cho công nhận và cho thi hành các bản án của Tòa án nước ngoài lại có ý nghĩa quan
trọng là thủ đô, trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa của cả nước, lại có nhiều các cơ
quan đại diện ngoại giao, các tổ chức quốc tế, pháp nhân và cá nhân nước ngoài đảm
bảo cho hợp tác, hữu nghị và hòa bình. Những quan hệ, việc yêu cầu được giải quyết
nhanh chóng đúng quy định của luật pháp quốc tế cũng như pháp luật trong nước là


3


nhiƯm vơ hÕt søc nỈng nỊ nh­ng cịng rÊt vinh dự. Đây vừa thể hiện sự hợp tác cũng
như đảm bảo về mặt chủ quyền quốc gia cũng như quyền năng chủ thể quốc tế của
Việt Nam. Ngoài những mặt đà đạt được thì việc công nhận và cho thi hành các bản
án cũng như các quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài ở Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội còn những hạn chế, do nhiều nguyên nhân khách quan của tình hình
quốc tế ngày càng phức tạp đan xen thách thức và cơ hội, thì cũng còn nguyên nhân
chủ quan duy ý chí, đặc biệt là về cái tâm cũng như cái tầm của mỗi chúng ta vẫn
chưa đáp ứng được xu thế hội nhập của thế giới, ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ
ngoại giao của đất nước.
Đây không chỉ là hạn chế của Hà Nội mà còn là hạn chế chung của cả nước do
không được trang bị nền tảng về ngoại ngữ, văn hóa, khoa học kỹ thuật, ứng dụng các
thành tựu tiên tiến của thế giới, không đầu tư về thời gian cũng như về cơ sở vật chất
cho việc chuyên sâu nghiên cứu về văn hóa quốc tế và đặc biệt là về Luật quốc tế, với
Tôi là một cán bộ trong ngành tòa án Tôi cũng không là ngoại lệ hạn chế chung đó.
L mt vn cũn khỏ mi mẻ, nên thời gian qua, việc công nhận và cho thi
hành các bản án và quyết định dân sự quy định này đã phát sinh một số vướng mắc,
cả về mặt quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thi hành. Chính vì lý do này
Tơi đã chọn đề ti: Lý luận và thực tiễn việc công nhận các bản án và quyết định
dân sự của tòa án nước ngoài tại tòa án nhân dân thành phố Hà Nội làm đề tài
nghiên cứu của luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu
ViƯc c«ng nhËn và cho thi hành các bản án và quyết định dân sự của tòa án
nước ngoài đà được giới khoa học pháp lý trong nước nghiên cứu, nhất là những
người trực tiếp làm trong ngành Tòa án quan tâm. ĐÃ có nhiều công trình nghiên
cứu, bài viết đề cập đến một số khía cạnh về những vấn đề liên quan đến đề tài
Qua nghiên cứu những công trình:
- Nhng vn đề lý luận và thực tiễn của công nhận và cho thi hành tại Việt

Nam bản án, quyết định dân sự của Tịa án nước ngồi, quyết định của Trọng tài
nước ngồi (Cơng trình nghiên cứu khoa học của Viện Khoa học xét xử - Tòa án
nhân dân tối cao nm 2009. Mó s: TPT/K-09-03)...
- Tòa án nhân dân tối cao – ViƯn khoa häc xÐt xử “Ph¸p lt vỊ công nhận và

4


cho thi hành tại Việt Nam Bản án, quyết định Dân sự của Tòa án nước ngoài, Quyết
định của Trọng tµi n­íc ngoµi- tËp 4”, 2009 Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội.
- PGS. TS. Hoàng Phước Hiệp ‘ Mấy vấn đề về công nhận và thi hành tại
Việt Nam các bản án, quyết định của Tòa án và trọng tài nước ngồi’’, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, Năm 2000.
- Các báo cáo tổng kết ngành Tòa án nhân dân hàng năm.
- Ngoài ra, một số báo cáo của Bộ Tư pháp cũng đã tổng kết các vấn đề có
liên quan đến việc cơng nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân
sự của Tịa án nước ngồi. Bên cạnh các cơng trình nghiên cứu khoa học, vấn đề
luận án nghiên cứu cũng được đề cập trong nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa
học pháp lý chuyên ngành của Việt Nam
- Đặc biệt là đề tài nghiên cứu khoa học cấp NN, chuyên đề 09 “ công nhận”
bản án, quyết định dân sự của Tịa án nước ngồi để làm cơ sở “ thi hành” việc ghi
vào sổ sự thay đổi hộ tịch”.
Các đề tài và các báo cáo đã cho thấy các tác giả mới chỉ đề cập mặt này hay
mặt khác; Tng kt rỳt kinh nghim ca cỏc ch số thống kê số liệu cđa viƯc ¸p dơng
ph¸p lt trong nước mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy
đủ, cụ thể Việc công nhận và cho thi hành các bản án và quyết định dân sự của tòa
án nước ngoài tại Thành phố Hà Nội trong những năm gần đây.
3. i tng v phm vi nghiên cứu
-Vấn đề “ Lý luận và thực tiễn việc công nhận các bản án và quyết định dân
sự của tịa án nước ngồi tại tịa án nhân dân thành phố Hà Nội” trong khuôn khổ

những quy đinh cơ bản của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan
để hồn thành đề tài.
- Thời gian nghiên cứu: đề tài nghiên cứu trong thời gian từ năm 2009 đến
năm 2013
4. Mục đích và nhiệm vụ ca lun vn
- Mục đích của luận văn
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn việc công nhËn vµ cho thi

5


hành các bản án và quyết định dõn s của tòa án nước ngoài tại TAND thành
phố Hà Nội.
+ Đánh giá thực tiễn của việc công nhận và cho thi hành các bản án và quyết
định dõn s của tòa án nước ngoài tại TAND thành phố Hà Nội.
+ Đề ra những giải pháp bảo đảm việc nâng cao hiệu quả của sự hợp tác quốc
tế của Hà Nội trên mọi phương diện của công tác xét xử và thi hành án, nú chung
việc công nhận cho thi hành các bản án và quyết định dân sự của tòa án nước ngoài
tại TAND thành phố Hà Nội nói riêng.
- Nhiệm vụ của luận văn
+ Xây dựng cơ sở lý luận cho viƯc hiĨu biÕt Lt qc tÕ nãi chung cđa việc
công nhận và cho thi hành bản án và quyết định của tòa án nước ngoài và việc công
nhận và cho thi hành các bản án và quyết định của tòa án nước ngoài tại TAND
thành phố Hà Nội nói riêng.
+ Đánh giá kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế của việc công nhận và
cho thi hành các bản án và quyết định của tòa án nước ngoài tại TAND thành phố
Hà Nội và rút ra các nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan của hạn chế.
+ Nêu ra các quan điểm, yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể như:
Tăng cường sự lÃnh đạo của Đảng đối với hoạt động ngành tòa án; Đóng góp
hoàn thiện các quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo ¸p dơng giao l­u hỵp t¸c trong

lÜnh vùc t­ ph¸p; Kiện toàn tổ chức, nâng cao ý thức tin thần học hỏi nghiên cứu,
trách nhiệm, đạo đức, năng lực hiểu biết pháp luật quốc tế trong việc công nhận và
cho thi hành các bản án và quyết định của tòa án nước ngoài nhằm bảo đảm việc
áp dụng Luật qc tÕ cịng nh­ lt trong n­íc viƯc c«ng nhËn và cho thi hành các
bản án và quyết định của tòa án nước ngoài tại TAND Thành phố Hà Nội.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- C¬ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật,
trong đó có vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xà hội chủ nghĩa và viÖc më réng

6


giao lưu hợp tác quốc tế nói chung cũng như trong công tác Tòa án nói riêng. Nghiờn
cu qua sỏch báo và tập chí, những bài bình luận khoa hoc pháp lý về việc cho công
nhận và thi hành bản án quyết định dân sự của Tịa án nước ngồi ti Tũa ỏn nhõn dõn
thnh ph H Ni.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa Mác-Lênin về Duy
vật biên chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và logic, phương pháp kết hợp
giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra,
khảo sát, phương pháp lược hóa, áp dụng và dịch thuật việc thực thi lược hóa các điều
ước quốc tế ; phương pháp định danh ký kết công nhận, gia nhập phê chuẩn thùc thi
theo lt ph¸p qc tÕ.
6. Đóng góp của luận vn
- Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động áp dụng Luật
quốc tế trong việc công nhận cho thi hành các bản án và quyết định dõn s của tòa
án nước ngoài, làm rõ những đặc thù của việc công nhận và cho thi hành các bản án
quyết định dõn s của tòa án nước ngoài tại TAND Thành phố Hà Nội.

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, nêu ra những bất cập trong hoạt động áp
dụng Luật quốc tế và pháp luật trong nước, đề ra các giải pháp có tính khả thi nhằm
đảm bảo áp dụng pháp luật nói chung và tại TAND Thành phố Hà Nội nói riêng có
hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách nền tư pháp nước ta.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn là một trong những công trình nghiên cứu hợp lý về hoạt động ¸p
dơng Lt Qc tÕ vµ Lt trong n­íc vỊ viƯc công nhận và cho thi hành các bản án
quyt nh dõn s. Góp phần nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc
công nhận và cho thi hành các bản án và quyết định dõn s của tòa án nước ngoài tại
TAND Thành phố Hà Nội, làm phong phú những lý luận trong lĩnh vực này.
- Kết quả nghiên cứu của luật văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn
cho những người trực tiếp làm trong ngành tòa án về việc công nhận và cho thi hành các
bản án và quyết định dõn s của tòa án nước ngoài tại TAND Thành phố Hµ Néi.

7


- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu thảm khảo cho công tác nghiên cứu
giảng dạy, học tập trong các trường đại học chuyên ngành luật và không chuyên
ngành luật, hệ thống các trường chính trị của Đảng, cho những người đang trực tiếp
làm công việc công nhận và cho thi hành các bản án và quyết định dõn s của tòa án
nước ngoài tại TAND Thành phố Hµ Néi.
8. Kết cấu luận văn
Ngồi phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Luận văn
chia làm 3 chương.

8


Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH BẢN ÁN,
QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TỊA ÁN NƯỚC NGỒI TẠI VIỆT NAM
1.1. Khái quát lý luận về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định
dân sự của tịa án nước ngồi
1.1.1. Khái niệm bản án, quyết định dân sự của Tịa án nước ngồi
Trong tư pháp quốc tế, việc xác định Tịa án có thẩm quyền tài phán cũng
đồng nghĩa với việc xác định được “quốc tịch” của pháp quyết do Tịa án dó ban
hành. Xuất phát từ nguyên tắc “Tôn trọng chủ quyển quốc gia” và nguyên tắc
“quyền tài phán lãnh thổ” (Teritoral Jurisdiction) mà phán quyết của Tòa án của
một quốc gia sẽ được xác định là phán quyết của Tịa án nước ngồi tại một quốc
gia khác. Vậy, quốc tịch cho phán quyết của tịa án được xác định căn cứ vào hai
tiêu chí “lãnh thổ” nơi phán quyết được ban hành và tiêu chí “luật tịa án” (tiêu chí
“luật tịa án”- “lex fori” có nội dung là: nơi có trụ sở tịa án là nơi pháp luật của
quốc gia đó được áp dụng giải quyết).
Như vậy, phán quyết của tòa án là phán quyết của tịa án nước ngồi nếu như
nó được xem xét bởi một quốc gia khác không ban hành phán quyết đó. Điều này có
nghĩa rằng nguyên tắc “quyền tài phán lãnh thổ” đã được áp dụng để xác định phán
quyết của một tịa án có phải là phán quyết của tịa án nước ngồi hay khơng. Đối
với mỗi một quốc gia thì bất kỳ một phán quyết nào của tịa án khơng phải do tịa án
của quốc gia đó ban hành đều là phán quyết của tòa án nước ngồi mà khơng phân
biệt phán quyết đó được tun ở đâu.
Theo nghĩa thuần túy, phán quyết của tòa án nước ngồi bao gồm tất cả các
phán quyết mà khơng phân biệt phán quyết đó có hiệu lực hay chưa có hiệu lực.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của
tòa án thì chỉ những phán quyết đã có hiệu lực pháp luật mới được xem xét công
nhận và cho thi hành. Trong một số trường hợp đặc biệt, phán quyết của tịa án tuy
chưa có hiệu lực nhưng cũng có thể được xem xét công nhận và cho thi hành tại một
quốc gia khác (quy định tại Khoản 3 Điều 21 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa

9



Cộng hòa Pháp và Việt Nam) [51]. Theo pháp luật một số nước, việc phán quyết
của tịa án nước ngồi được công nhận và cho thi hành tại quốc gia đó được xác
định trên hai căn cứ đó là phán quyết đó có mang tính tài sản hay khơng? Và phán
quyết đó có cần cưỡng chế thi hành hay khơng?
Bản án, quyết định dân sự của tịa án nước ngồi có thể bao gồm nhiều loại
phán quyết khác nhau tùy thuộc và tiêu chí phân loại. Căn cứ vào nội dung của phán
quyết, phán quyết của tịa án nước ngồi có thể chia thành các loại như: các phán
quyết về dân sự, hơn nhân gia đình, lao động, thương mại, hành chính, hình sự,…
Căn cứ vào tính chất cần phải thi hành của phán quyết, phán quyết của tòa án nước
ngoài được chia thành hai loại: phán quyết chỉ cần công nhận mà không cần thi
hành và phán quyết cần được cơng nhận và thi hành. Căn cứ vào tính chất tài sản
của phán quyết, phán quyết của tòa án nước ngồi được chia thành hai loại: phán
quyết mang tính chất tài sản và phán quyết khơng mang tính chất tài sản.
Trên thực tế, quy định của pháp luật về công nhận và cho thi hành bản án,
quyết định dân sự của tịa án nước ngồi chỉ bao gồm các bản án, quyết định dân sự
của tịa án nước ngồi mang tính chất tài sản mà khơng bao gồm tất cả các bản án,
quyết định dân sự được tòa án nước ngồi ban hành. Đối với những bản án khơng
mang tính chất tài sản thì thơng thường, chỉ cần tiến hành thủ tục công nhận là đủ
mà không cần tiến hành thủ tục cho thi hành. Điều này được lý giải bởi bản thân các
phán quyết đó khơng có nội dung phải thi hành tại các quốc gia không ban hành
quyết định đó và cũng khơng cần phải tiến hành cưỡng chế thi hành tại quốc gia
không ban hành phán quyết đó. Do đó, thực tế thì những bản án, quyết định dân sự
của tịa án nước ngồi được cơng nhận và cho thi hành tại một quốc gia nơi bản án,
quyết định dân sự đó được yêu cầu thi hành không bao gồm tất cả các bản án, quyết
định dân sự mà chỉ bao gồm những bản án, quyết định dân sự của tịa án nước ngồi
mang tính chất tài sản hoặc những bản án, quyết định dân sự cần phải tiến hành thủ
tục cưỡng chế thi hành.
Pháp luật quốc tế về phán quyết của tòa án cũng quy định rất khác nhau về

nội hàm của khái niệm phán quyết. Theo quy định tại Điều 25 Công ước La Hay về
công nhận và cho thi hành các phán quyết về những vấn đề dân sự và thương mại
năm thì phán quyết của tòa án được xác định như sau:

10


“Trong Cơng ước này, phán quyết có nghĩa là phán quyết được ban hành bởi
tòa án hoặc Trọng tài của bất kỳ một quốc gia liên quan nào, bất kể phán quyết đó
có thể bao gồm bản án, quyết định dân sự, hoặc lệnh thi hành (including a decree,
order, decision or writ of execution), cũng như quyết định của tòa án về án phí, chi
phí (Điều 25 Cơng ước La Hay về công nhận và cho thi hành các phán quyết về
những vấn đề dân sự và thương mại) [20].
Pháp luật của các quốc gia khác nhau cũng quy định rất khác nhau về nội
hàm khái niệm phán quyết của tịa án nước ngồi. Ví dụ: Khoản 1 và 2 Điều 409 Bộ
luật tố tụng dân sự Liên bang Nga quy định:
- Bản án, quyết định của tòa án nước ngồi bao gồm cả quyết định cơng nhận
sự thỏa thuận của các đương sự được công nhận và cho thi hành tại Liên bang Nga
trong trường hợp hiệp định quốc tế của Liên bang Nga có quy định.
- Bản án, quyết định dân sự của tịa án nước ngồi là bản án, quyết định dân
sự về vụ việc dân sự, trừ tranh chấp kinh tế và những vụ việc khác liên quan đến
hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác và phần quyết định trong bản án
kết tội về bồi thường thiệt hại gây ra do hành vi phạm tội [10].
Theo pháp luật của Pháp, các quyết định thuộc diện công nhận và cho thi
hành bao gồm các quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài
trong lĩnh vực tư pháp ban hành bao gồm:
- Bản án, quyết định dân sự của tòa án;
- Quyết định của trọng tài nước ngoài;
- Quyết định của cơ quan hành chính nước ngồi có hiệu lực như bản án,
quyết định dân sự của tịa án (ly hơn theo thủ tục hành chính);

- Các văn bản do các viên chức cơng quyền nước ngồi lập (văn bản hành chính…).
Theo quy định trong các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các
nước nội hàm khái niệm phán quyết của tịa án nước ngồi cũng rất khác nhau.
Chẳng hạn, Điều 51, 52 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam và Liên bang Nga
quy định: “Bản án, quyết định dân sự của tịa án nước ngồi gồm hai loại: bản án,
quyết định dân sự khơng mang tính chất tài sản; và bản án, quyết định dân sự mang
tính chất tài sản” [50].

11


Khoản 2 Điều 15 Hiệp định tương trợ tự pháp giữa Việt Nam và Trung Quốc
quy định: “Các quyết của tịa án nói trong hiệp định này ở Cộng hịa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam bao gồm: bản án, quyết định dân sự và biên bản hòa giải của tòa
án; Cộng hòa nhân dân Trung Hoa bao gồm: phán quyết, tài định và biên bản hòa
giải của tòa án” [53].
Pháp luật Việt Nam quy định việc xác định phán quyết của tịa án nước ngồi
tại Khoản 1 Điều 342 Bộ luật tố tụng dân sự, theo đó, bản án, quyết định dân sự của
tịa án nước ngồi là bản án, quyết định dân sự về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh
doanh và thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định về dân
sự, hình sự, hành chính của tịa án nước ngồi và bản án, quyết dịnh dân sự khác của
tịa án nước ngồi mà theo pháp luật Việt Nam được coi là bản án, quyết định dân sự.
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, bản án, quyết định của tịa án nước ngồi chỉ bao
gồm các bản án, quyết định dân sự trong lĩnh vực dân sự hay mang tính chất dân sự
(hay còn được gọi là bản án, quyết định về dân sự theo nghĩa rộng) [26]...
Tóm lại, việc xác định “quốc tịch” phán quyết của tịa án nước ngồi đã có
sự thống nhất cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm
phán quyết của tòa án nước ngoài hay bản án, quyết định dân sự của tịa án nước
ngồi lại đang có cách hiểu và quyết định rất khác nhau trong pháp luật các nước
cũng như trong các điều ước quốc tế.

Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia trong luật quốc tế, quyết định
của tịa án một nước chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của nước đó. Tuy nhiên,
trong quan hệ quốc tế, các tranh chấp phát sinh trong quan hệ giữa các cá nhân và
pháp nhân của các nước được tòa án giải quyết đặt ra nhiều trường hợp phải cơng
nhận và thi hành các quyết định của tịa án quốc gia này tại lãnh thổ quốc gia khác.
1.1.2. Khái niệm công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của
tịa án nước ngồi
Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt [44] thì “cơng nhận” là việc thừa
nhận trước mọi trường hợp với sự thật, với lẽ phải hoặc hợp với thể lệ luật pháp và
“thi hành” là làm cho thành có hiệu lực điều đã được chính thức quyết định. Đặt
trong lĩnh vực pháp luật về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của

12


tịa án nước ngồi thì khái niệm này có sự thay đổi. Theo định nghĩa trong từ điển
Luật học của Viện khoa học pháp lý Bộ tư pháp thì cơng nhận và cho thi hành bản
án, quyết định dân sự của tịa án nước ngồi là việc thừa nhận và cho phép thi hành
bản án, quyết định dân sự về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định
dân sự về hình sự, hành chính của tịa án nước ngồi theo những ngun tắc và trình
tự pháp lý nhất định [54].
Ngay trong bản thân khái niệm “công nhận” và khái niệm “thi hành” bản án,
quyết định của tịa án nước ngồi đã có nội hàm khác nhau. Điều này xuất phát từ
chính mục đích của cơng nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tịa án
nước ngồi. Nếu mục đích của cơng nhận là ngăn ngừa một bên tranh chấp tiếp tục
khởi kiện vụ việc đã được giải quyết thì mục đích của thi hành là cơng cụ hữu hiệu
để buộc bên có trách nhiệm thi hành phải thi hành. Do đó, nếu tách việc “công
nhận” và việc “thi hành” ra thành hai chế định khác nhau thì vẫn có ý nghĩa thực
tiễn. Bởi khái niệm “công nhận” đơn giản dược hiểu là công nhận giá trị pháp lý của
bản án hay quyết định nào đó; cịn khái niệm “thi hành” hay “cho thi hành” là thừa

nhận hiệu lực cưỡng chế thi hành của bản án, quyết định dân sự đó. Tuy vậy, bản
thân khái niệm “cơng nhận và cho thi hành” thì lại không thể được hiểu với nghĩa
tách biệt như vậy mà khái niệm này cần được hiểu theo hướng kết hợp cả nội dung
“công nhận” và nội dung “thi hành”. Bởi, đối với mỗi nhà nước thì khơng thể thi
hành bản án, quyết định dân sự một cách cưỡng chế nếu bản án, quyết định dân sự
đó chưa được cơng nhận. Nếu tòa án chỉ ra phán quyết quyết định công nhận giá trị
pháp lý của bản án, quyết định dân sự của tịa án, thì khơng có nghĩa là quyết định
của tòa án đã bao gồm cả việc thi hành quyết định trên. Nói một cách khác, cơng
nhận là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận bản án, quyết định
dân sự đã có hiệu lực pháp luật còn thi hành được hiểu là việc cơ quan nhà nước có
thẩm quyền làm cho quyết định, bản án đó được thực thi trên thực tế. Như vậy,
chúng ta có thể tạm định nghĩa khái niệm cơng nhận và cho thi hành bản án, quyết
định dân sự của tịa án nước ngồi như sau:
Cơng nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài
là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của một quốc gia thừa nhận giá trị

13


(hiệu lực) pháp lý của bản án, quyết định dân sự của một quốc gia khác và làm cho
bản án, quyết định dân sự đó có hiệu lực cưỡng chế thi hành trên thực tế trên lãnh
thổ quốc gia đó [40].
Từ định nghĩa này có thể xác định được thủ tục công nhận và cho thi hành
bản án, quyết định của tịa án nước ngồi là thủ tục mà theo đó, tịa án của một quốc
gia sẽ xem xét, quyết định trao hiệu lực thi hành tại quốc gia đó cho bản án, quyết
định dân sự của tòa án nước ngồi có u cầu cơng nhận và cho thi hành.
u cầu công nhận và cho thi hành đối với bản án, quyết định dân sự của tịa
án nước ngồi bao gồm ba loại như sau:
- Yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tịa án
nước ngồi: chỉ có quyền cơng nhận và cho thi hành hay không công nhận và

không cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngồi; hoặc cơng
nhận và cho thi hành một phần của bản án, quyết định dân sự của tịa án nước
ngồi [26, Điều 355, Khoản 5].
- Yêu cầu không công nhận hiệu lực thi hành của bản án, quyết định dân sự
của tịa án nước ngồi. Mục đích của loại đơn yêu cầu này là nhằm yêu cầu tòa án
tuyên bố vô hiệu đối với bản án, quyết dịnh dân sự của tịa án nước ngồi trước khi
có đơn u cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự đó. Nếu đơn
được giải quyết thì bản án, quyết dịnh dân sự của tịa án nước ngồi khơng được
công nhận hiệu lực thi hành. Trong trường hợp đơn bị bác, thì việc bản án, quyết
định dân sự của tịa án nước ngồi có được cơng nhận hiệu lực thi hành tại quốc gia
đó hay khơng cịn tùy thuộc vào pháp luật của từng quốc gia.
- Yêu cầu công nhận hiệu lực thi hành bản án, quyết định dân sự của tịa án
nước ngồi là u cầu bổ sung trong một vụ kiện khác. Khi đương sự viện dẫn một
bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngồi làm chứng cứ trong vụ kiện thì bản
án, quyết định dân sự của tịa án nước ngồi đó phải được tòa án kiểm tra hiệu lực
thi hành trước khi sử dụng.
Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia thì lĩnh vực pháp luật cơng nhận
và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngồi là một lĩnh vực
pháp luật quan trọng. Thơng thường, nó thường đóng vai trị là một chế định trong

14


hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng dân sự của quốc gia đó. Chế định pháp luật
cơng nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài bao gồm tổng
thể các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan tới
việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tịa án nước ngồi.
1.2. Đặc điểm của pháp luật công nhận và cho thi hành bản án, quyết
định dân sự của tịa án nước ngồi
Pháp luật công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tịa án

nước ngồi vừa là một chế định của pháp luật tố tụng dân sự vừa là một chế định về
tương trợ tư pháp. Do đó, chế định này vừa mang những đặc điểm của pháp luật tố
tụng dân sự, vừa mang đặc điểm của tư pháp quốc tế. Bên cạnh đó, chế định cơng
nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngồi cịn có những
đặc điểm đặc thù như sau:
Thứ nhất: Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tịa án
nước ngồi chỉ được đặt ra sau khi bản án, quyết định dân sự đó đã có hiệu lực pháp
luật (chỉ trong một số trường hợp đặc biệt, bản án, quyết định dân sự cần phải thi
hành ngay mới được xem xét cho thi hành khi bản án, quyết định dân sự về thực chất
vụ việc chưa có hiệu lực pháp luật). Tịa án chỉ tiến hành thủ tục công nhận và cho thi
hành nếu bản án, quyết định dân sự đó đã có hiệu lực hoặc cần phải được thi hành
ngay để đảm bảo thi hành bản án, quyết định dân sự sau này. Mặt khác, pháp luật
công nhận và cho thi hành của nhiều nước cịn có quy định nếu bản án, quyết định
dân sự có yêu cầu thi hành mà theo pháp luật của nước nhận yêu cầu, vụ việc đó
thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của tịa án nước đó thì tịa án của nước được
u cầu sẽ từ chối việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự đó.
Thứ hai: pháp luật về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự
của tịa án nước ngồi khơng chỉ đặt ra khi bên phải thi hành bản án, quyết định dân
sự không tự nguyện thi hành. Mà trong cả những trường hợp đương sự có u cầu
khơng cơng nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự thì tịa án vẫn can thiệp
để xem xét quyết định công nhận và cho thi hành hay không công nhận và không
cho thi hành. Đối với yêu cầu công nhận và cho thi hành thì tịa án có thể xem xét ra
quyết định công nhận và cho thi hành hoặc quyết định không công nhận và không

15


cho thi hành. Ngược lại, với yêu cầu không công nhận và không cho thi hành bản
án, quyết định dân sự khơng có nhu cầu thi hành thì tịa án có thể tiến hành xem xét
quyết định khơng cơng nhận và không cho thi hành hoặc quyết định công nhận và

cho thi hành. Như vậy, trong mọi trường hợp, dù đương sự là người được thi hành
hay người phải thi hành bản án, quyết định dân sự thì vẫn nhận được sự trợ giúp của
tịa án có thẩm quyền để yêu cầu xem xét việc công nhận và cho thi hành hay không
công nhận và không cho thi hành. Tùy thuộc vào mục đích của đương sự mà họ có
thể u cầu tịa án “cơng nhận” hay u cầu tịa án “công nhận và cho thi hành”.
Đối với “công nhận”, mục đích ở đây thể hiện ở chỗ, sự cơng nhận được sử dụng
nhằm ngăn ngừa trường hợp một bên tranh chấp tiếp tục khởi kiện về chính vụ việc
đã được giải quyết. Đối với “khơng cơng nhận”, mục đích là ngăn cản việc bên
thắng kiện nộp đơn yêu cầu thi hành bản án, quết định dân sự đã có hiệu lực pháp
luật. Trong khi đó, việc cơng nhận và cho thi hành lại đóng vai trị như một cơng cụ
hữu hiệu để buộc bên thua kiện phải thực hiện những hành vi bất lợi cho mình mà
bên đó đã không tự nguyên thi hành. Việc cưỡng chế đối với bên phải thực thi quyết
định có thể bằng nhiều cách khác nhau (như tịch thu tài sản, phong tỏa tài khoản
ngân hàng… [35].
Thứ ba: công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tịa án nước
ngồi là thủ tục xem xét, quyết định trao hiệu lực thi hành tại quốc gia nào đó cho
bản án, quyết định dân sự được yêu cầu. Do đó, thủ tục xem xét yêu cầu (nếu không
được quy định trong các điều ước quốc tế) sẽ phải tuân thủ theo quy định trong
pháp luật của quốc gia nơi bản án, quyết định dân sự đó được yêu cầu. Bản án,
quyết định dân sự chỉ được xem xét công nhận và cho thi hành nếu tuân thủ đầy đủ
các điều kiện trong các điều ước quốc tế cũng như pháp luật quốc gia. Để bản án,
quyết định dân sự phát huy hiệu lực tại một quốc gia khác thì bản án, quyết định
dân sự phải chịu sự kiểm tra của tòa án có thẩm quyền của quốc gia đó theo những
điều kiện và thủ tục nhất định. Nội dung, điều kiện và thủ tục kiểm tra sẽ so pháp
luật của từng quốc gia quy định cụ thể. Nội dung và phạm vi kiểm tra có thể là kiểm
tra tồn diện hoặc kiểm tra hạn chế tùy thuộc vào quy định pháp luật của từng quốc
gia trong từng thời kỳ. Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới đa số các quốc gia đều áp

16



dụng phương thức kiểm tra hạn chế nhằm giảm thiểu chi phí và rút ngắn thời gian.
Kiểm tra tồn diện là kiểm tra cả mặt nội dung và hiệu lực về hình thức của bản án,
quyết định dân sự. Bao gồm cả khả năng sửa đổi nội dung bản án, quyết định dân
sự. Và có thể từ chối cơng nhận và cho thi hành nếu vi phạm các điều kiện đó. Kiểm
tra hạn chế là chỉ kiểm tra hiệu lực quốc tế của bản án, quyết định dân sự đó theo
những tiêu chí và nội dung nhất định mà khơng bao gồm việc sửa đổi nội dung của
bản án, quyết định dân sự đó.
Thứ tứ: bản án, quyết định dân sự của tịa án nước ngồi nếu được cơng nhận
và cho thi hành tại một quốc gia thì nó có giá trị chứng cứ và chứng minh tại quốc
gia đó. Hay nói cách khác, với tư cách là một văn bản viết, bản án, quyết định dân
sự của tòa án nước ngồi khi được cơng nhận hiệu lực thi hành được coi là một
nguồn chứng cứ, chứng minh. Ví dụ: Có thể sử dụng bản án, quyết định dân sự đã
được công nhận và cho thi hành làm chứng cứ trọng vụ kiện về phá sản; có thể dùng
nó làm căn cứ thực tế cho vụ kiện đòi thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm đối với tài sản bị
đòi lại theo bản án của tòa án nước ngài; quyết định dân sự của nước ngồi…
Thứ năm: thơng thường trong các điều ước quốc tế hoặc hiệp định tương trợ tư
pháp giữa các quốc gia về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của
tòa án nước ngồi thì việc áp dụng pháp luật tố tụng của quốc gia nơi bản án, quyết
định dân sự cần được công nhận và thi hành theo hướng không được đặt ra các điều
kiện nặng hơn hoặc các chi phí cao hơn với việc thi hành bản án, quyết định dân sự
trong nước. Quy định tương tự cũng được quy định tại Điều 3 Công ước New York.
Nếu các quy định của một quốc gia nào đó ghi nhận các điều kiện nặng hơn hoặc các
phí hay chi phí cao hơn nhiều so với việc công nhận và thi hành bản án, quyết định
dân sự của tịa án trong nước thì điều ấy là vi phạm công ước [23].
Các quy định nêu trên thể hiện đặc điểm áp dụng pháp luật tố tụng của
quốc gia nơi quyết định của tòa án cần được công nhận và thi hành phải trên cơ
sở ngun tắc bình đẳng mà khơng được có sự phân biệt đối xử giữa các quốc
gia với nhau. Nói cách khác, nguyên tắc áp dụng pháp luật khi yêu cầu công
nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tịa án nước ngồi là ngun

tắc luật quốc gia tòa án.

17


Bên cạnh các đặc điểm chung nêu trên, công nhận và cho thi hành bản án,
quyết định dân sự của tịa án nước ngồi cũng có những đặc thù riêng:
- Nội dung tranh chấp trong bản án, quyết định dân sự của tịa án nước ngồi
khơng chỉ giới hạn trong lĩnh vực thương mại mà bao gồm cả tranh chấp trong lĩnh
vực dân sự theo nghĩa rộng và tranh chấp về quyền nhân thân, về sở hữu trí tuệ…
Do đó, yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tịa án
nước ngồi có nội dung rộng hơn.
- Các điều kiện xem xét công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự
của tịa án nước ngồi khơng địi hỏi có sự thống nhất ý chí của các bên vê thỏa
thuận giải quyết tranh chấp tại tòa án.
- Xuất phát từ nguyên tắc công nhận quốc tế bản án, quyết định dân sự của
tịa án nước ngồi sẽ đương nhiên được cơng nhận tại một quốc gia ngay cả khi
khơng có u cầu cơng nhận.
- Thủ tục và trình tự xét đơn u cầu công nhận và thi hành bản án, quyết
định dân sự của tòa án thường dài về mặt thời gian.
1.2.1. Khái quát pháp luật quốc tế về công nhận và cho thi hành bản án,
quyết định dân sự của tòa án nước ngồi
Pháp luật về cơng nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án
nước ngồi hình thành từ nhu cầu hợp tác về tư pháp giữa các quốc gia. Nghiên cứu
pháp luật của các nước và các điều ước quốc tế về vấn đề này sẽ cho chúng ra cái
nhìn khái quát về nội dung và thực trạng pháp luật trên thế giới về vấn đề đã nói.
Nhìn chung, pháp luật về cơng nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của
ịa án nước ngồi được chia thành các nhóm chính như sau:
1.2.1.1. Pháp luật các nước theo hệ thống cấp phép
Chủ yếu ở các nước thuộc hệ thống pháp luật của Pháp, hệ thống pháp luật

Cộng hòa Liên bang Đức, hệ thống pháp luật Nhật Bản, hệ thống đăng ký bản án
dân sự nước ngoài của Anh (Foreign Judgment Reciprocal Eforcement Act 1993),
và của một số nước Châu Âu, châu Mỹ,… Pháp luật các nước này quy định việc cấp
phép công nhận và thi hành bản án dân sự của nước ngồi.
Theo pháp luật của Cộng hịa Pháp, để cơng nhận và thi hành bản án, quyết
định dân sự của tịa án nước ngồi trên cơ sở chế độ cấp phép của nhà nước, trước

18


×