Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Các yếu tố kinh tế - xã hội tác động tới tỷ lệ tội phạm: Một cách tiếp cận so sánh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (36.75 MB, 9 trang )

KINH NGHIÏåM QËC TÏË

CẤC ËU TƯË KINH TÏË - XẬ HƯÅI TẤC ÀƯÅNG TÚÁI T LÏå TƯÅI PHẨM:
MƯÅT CẤCH TIÏËP CÊÅN SO SAÁNH
nguyễn Duy Minh*

Đây là một nghiên cứu cụ thể về lĩnh vực kinh tế học pháp luật1, với sự vận dụng
các cơng cụ phân tích của kinh tế học nhằm lý giải cho sự tác động của các yếu tố
kinh tế và các yếu tố xã hội tới tỷ lệ tội phạm trên phạm vi 56 quốc gia2 và lãnh
thổ; trong giai đoạn 2003-2010. Bài viết này sử dụng nguồn dữ liệu tin cậy của Tổ
chức Liên hiệp quốc về tội phạm và ma túy (UNODC) và Ngân hàng Thế giới (WB).
Kết quả cho thấy GDP/người, tỷ lệ đơ thị hóa, tỷ lệ lực lượng lao động có tác động
cùng chiều tới tỷ lệ tội phạm; trong khi chi tiêu cho an ninh/quốc phịng có tác động
ngược chiều. Ngoài ra, các yếu tố kinh tế - xã hội có thể giải thích 46,64% sự thay
đổi của tỷ lệ tội phạm; 53,36% cịn lại được giải thích bởi các yếu tố pháp lý và
các yếu tố kinh tế - xã hội khác khơng có trong mơ hình.
1. Tổng quan về tội phạm
Tội phạm và
mức độ tội phạm
là những vấn đề
được quan tâm
nhất trong bất cứ
xã hội hiện đại
nào. Ngày nay, từ
các nước phát
triển sang các
nước đang phát
triển, từ các nước
có thể chế xã hội
chủ nghĩa tới các
nước có thể chế tư



56

*

ThS. Trường ĐH Tài chính - Marketing

1

Để dễ hiểu, bài viết này đã được tác giả lược bỏ một cách tối đa những phần viết về toán và thống kê so với nghiên cứu
gốc.

2

Albania, Argentina, Armenia, Úc, Áo, Azerbaijan, Belarus, Bulgaria, Canada, Chile, Colombia, Costa Rica, Croatia, Cyprus,
Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Pháp, Georgia, Đức , Guatemala, Hồng Kông, Hungary, Ấn Độ, Israel, Italy,
Nhật Bản, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Latvia, Lithuania, Mauritius, Mexico, Moldova, Mông Cổ, Hà Lan, New Zealand, Na Uy,
Panama, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Romania, Nga, Nam Hàn Quốc, Serbia, Slovakia, Slovenia, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy
Sĩ, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Ukraina;

NGHIÏN CÛÁU

LÊÅP PHẤP

Sưë 24 (328) T12/2016


KINH NGHIÏåM QUÖËC TÏË
bản đều phải đối mặt với nhiều vấn đề pháp lý như giết người, cố ý gây thương tích, cướp
tài sản, hiếp dâm, trộm cắp, ma túy, lừa đảo, trốn thuế... Các vụ hiếp dâm tập thể xảy ra tại

Ấn Độ trong thời gian qua là hồi chuông cảnh báo về sự gia tăng của tội phạm trong những
năm gần đây.

Ngoài ra, tỷ lệ tội phạm ở những quốc gia khác nhau là rất khác nhau. Sự khác nhau đó
có thể xuất phát từ việc từng nước nhìn nhận (định nghĩa) các loại tội phạm là khác nhau,
thể chế kinh tế - chính trị khác nhau3; nhưng lý do cũng có thể xuất phát từ các đặc điểm cụ
thể về yếu tố kinh tế - xã hội ở mỗi nước là khác nhau.
Để kiểm soát và quản lý xã hội, nhà nước sử dụng nhiều hình phạt như phạt tiền, tù có
thời hạn, chung thân, tử hình, trục xuất, hạn chế về di chuyển, hạn chế một số quyền cơng
dân Tuy nhiên, việc gia tăng hình phạt khơng phải khi nào cũng hiệu quả. Thay vào đó, việc
cải thiện các yếu tố kinh tế - xã hội hứa hẹn mang lại những kết quả tốt hơn. Ví dụ, một
người nghèo và vơ gia cư có thể khơng từ bỏ ý định trộm cắp tài sản khi các nhà làm luật
tăng khung hình phạt này lên gấp hai lần bởi vì hoặc họ khơng có thơng tin hoặc họ khơng
quan tâm tới mức hình phạt hoặc họ hy vọng mình sẽ khơng bị bắt. Tuy nhiên, nếu nhà nước
tạo điều kiện để họ có việc làm và thu nhập thì có thể họ sẽ từ bỏ ý định trộm cắp ngay cả
khi khơng cần tăng hình phạt. Cách tiếp cận thứ hai có thể mang tính bền vững hơn việc
tăng hình phạt bởi vì nó mang lại lợi ích cho xã hội, giảm tổn thất cho nạn nhân tiềm năng
và mang lại lợi ích lâu dài cho chính người có ý định thực hiện hành vi phạm tội. Đó là cách
tiếp cận phúc lợi và phần nào bảo vệ quyền con người, chứ không phải là cách tiếp cận trừng
phạt về tội phạm.
Ở Việt Nam, cụ thể ở thành phố Hồ Chí Minh, tội phạm ln là vấn đề nhức nhối trong
những năm gần đây. Dù lãnh đạo thành phố, lực lượng công an và cả người dân đều mong
muốn và đã thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để giảm số vụ và số nạn nhân. Tuy nhiên,

3

Mơ hình kinh tế lượng được sử dụng trong nghiên cứu này có thể kiểm sốt được sự khác nhau về đặc điểm giữa các
nước, trong đó có thể chế chính trị-kinh tế.
NGHIÏN CÛÁU


Sưë 24 (328) T12/2016

LÊÅP PHẤP

57


KINH NGHIÏåM QËC TÏË
thực tế cho thấy tình hình tội phạm khơng có nhiều biến chuyển, thậm chí tăng ở nhiều loại
hình tội phạm khác nhau. Đã đến lúc chúng ta đặt câu hỏi, liệu giảm tội phạm theo cách tiếp
cận trấn áp và hình phạt có phải lúc nào cũng có hiệu quả? Liệu có cách giảm tội phạm nào
mang tính bền vững hơn, nhân văn hơn, mang tính bảo vệ quyền con người hơn không?
2. Tiếp cận kinh tế học về tội phạm
Kinh tế học pháp luật (hay phân tích kinh tế về pháp luật) áp dụng phương pháp kinh tế
để giải thích những tác động của pháp luật hay chính sách của nhà nước. Phân tích kinh tế
về pháp luật giúp đánh giá các quy tắc pháp lý có hiệu quả về mặt kinh tế khi chuẩn bị áp
dụng hay đã áp dụng trên thực tế hay không. Một số phương pháp phổ biến trong cách tiếp
cận này là lý thuyết lựa chọn hợp lý, chi phí xã hội, tối ưu hóa, lý thuyết lựa chọn cơng cộng.
Becker4 (1968) đề xuất một khung lý thuyết để phân tích tội phạm như một sự lựa chọn
kinh tế thơng thường của một chủ thể duy lý. Trong nghiên cứu này, người phạm tội được
phân tích dưới góc độ có sự cân nhắc giữa chi phí và lợi ích trước khi thực hiện các hoạt
động phạm pháp. Becker đã tìm ra rằng, xác suất bị bắt và mức độ của hình phạt là các biến
quan trọng nhất quyết định số lượng tội phạm.
Ehrlich (1973, 1975, 1996) đã kết luận rằng, tác động của sự hiện diện của cảnh sát, xác
suất bị bắt và mức độ trừng phạt tác động tới tỷ lệ tội phạm.
Chúng ta xem xét trường hợp người phạm tội lựa chọn giữa hai hoạt động, một là hợp
pháp và một là bất hợp pháp. Lợi ích kỳ vọng của người phạm tội tiềm năng được thể hiện
thông qua phương trình sau:
EUi = pi.Ui(Yi - fi) + (1 - pi)Ui(Yi)
Trong đó: EUi: hàm lợi ích kỳ vọng

pi: xác suất bị bắt
Yi: thu nhập từ việc phạm tội
fi: giá trị tương đương tiền (quy đổi) của hình phạt
3. Dữ liệu về tội phạm và phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu về tội phạm
Nghiên cứu này đề cập tới tội phạm nói chung và 5 loại tội phạm cụ thể:
- Số tội phạm bị kết án (CRIME) bởi tòa án hoặc bị xem là có tội bởi cơ quan khác.
- Trộm cắp (LBUR)
- Cướp tài sản (LROB)
- Giết người (LHOM)
- Tội phạm về ma túy (LDRUG)
- Tội phạm về mại dâm (LSEX)
Mơ hình phân tích
Yit = β1 + β2Yi,t -1 + βkXit + uit
Trong đó:
Yit : là tỷ lệ tội phạm loại i vào năm t
Yi,t-1: tỷ lệ tội phạm i vào năm t-1 (năm trước đó)
X :các biến kinh tế - xã hội; uit : sai số

4

58

Gary.S.Becker đạt giải Nobel Kinh tế năm 1992

NGHIÏN CÛÁU

LÊÅP PHẤP

Sưë 24 (328) T12/2016



KINH NGHIÏåM QUÖËC TÏË

4. Kết quả nghiên cứu
Tội phạm chung:
Yếu tố quyết định chính ảnh hưởng đáng kể5 tỷ lệ tội phạm bao gồm tăng trưởng GDP
bình quân đầu người (LGDPG), tỷ lệ dân số đô thị (LURB); tỷ lệ lực lượng lao động (LLAB);
tỷ lệ chi tiêu an ninh - quốc phịng từ chính quyền trung ương (LMEXP). Hồi quy của mơ
hình Random Effect Model (REM) được thể hiện như phương trình sau đây:
5

Những biến số có hệ số trong dấu ngoặc đơn bé hơn 0.10 là những biến có ý nghĩa thống kê.
NGHIÏN CÛÁU

Sưë 24 (328) T12/2016

LÊÅP PHẤP

59


KINH NGHIÏåM QUÖËC TÏË
LCRIME = - 22.81 + 0.00004DCRIME + 0.08LU + 0.032LGDPG - 0.025LGDPP +
(0.088)
(0.205)
(0.041)
(0.922)
0.0022LINF + 0.314LEDU + 0.014LPOPG - 0.07LPOPD - 0.04LTAX +
(0.908)

(0.287)
(0.570)
(0.500)
(0.610)
1.63LURB + 5.1LLAB - 0.21LMEXP - 0.06LNET + 0.05LSUB + 0.32LFER
(0.030)
(0.020)
(0.050)
(0.358)
(0.807) (0.213)
Tóm lại, các yếu tố kinh tế - xã hội có thể giải thích khoảng 46,64% thay đổi của tỷ lệ tội
phạm. Phần còn lại 53,36% được giải thích bởi các yếu tố phi kinh tế - xã hội như pháp lý.
Tội phạm cụ thể:

60

NGHIÏN CÛÁU

LÊÅP PHẤP

Sưë 24 (328) T12/2016


KINH NGHIÏåM QUÖËC TÏË

Tội phạm về tài sản (trộm cắp và cướp tài sản)
Thứ nhất, mức độ tác động tỷ lệ thất nghiệp chỉ có ý nghĩa giải thích đối với cướp, nhưng
lại khơng có ý nghĩa với trộm cắp. Nói cách khác, câu “nhàn cư vi bất thiện” đúng với hành
vi phạm tội liên quan đến cướp/cướp giật chứ khơng có bằng chứng đối với tội trộm cắp.
Ngồi ra, tỷ lệ tội phạm về trộm cắp sẽ giảm nếu GDP/người tăng và trình độ giáo dục tăng.

Điều này khá phù hợp với thực tế và logic thông thường.
Thứ hai, một điểm thú vị là mật độ dân số có tác động ngược chiều tới cả trộm cắp và
cướp giật. Tức là những nơi có dân số càng đơng thì tỷ lệ xảy ra cướp càng ít hơn. Điều này
thoạt nhìn tưởng mâu thuẫn với thực tế vì các vụ trộm cắp, cướp giật thường xảy ra ở khu
đông dân cư, khu trung tâm. Tuy vậy, nếu tính số vụ phạm tội trên mật độ dân số thì những
khu đơng dân hoặc trung tâm lại có tỷ lệ thấp hơn những nơi khác. Trên thực tế, mật độ dân
số vừa tạo điều kiện/cơ hội để thực hiện tội phạm; tuy nhiên nó cũng có thể giúp việc phát
giác tội phạm được dễ dàng hơn.
Thứ ba, tỷ lệ đơ thị hóa và tỷ lệ trợ cấp tác động cùng chiều đến tỷ lệ của tội phạm trộm
cắp, và cướp tài sản. Thực vậy, đơ thị hóa kéo theo việc di cư/nhập cư của người dân từ vùng
nông thôn tới các thành phố. Điều này có thể dẫn tới các hệ quả như số người và tỷ lệ người
thất nghiệp gia tăng. Thông thường tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đô thị cao hơn so với khu
vực nơng thơn.
Tóm lại, yếu tố kinh tế - xã hội giải thích những thay đổi trong mức độ của tội phạm về
tài sản với khả năng giải thích cho tội trộm cắp và cướp giật lần lượt là 71,05% và 45,72%.
Giết người
Thứ nhất, GDP/người, trình độ giáo dục tăng có xu hướng làm giảm tỷ lệ tội phạm giết
người. Thơng thường người có trình độ giáo dục cao thường có thu nhập cao, những người
này có xu hướng phạm tội giết người ít hơn so với những người có trình độ giáo dục thấp
hơn hoặc có thu nhập thấp hơn.
Thứ hai, sự gia tăng lạm phát và tỷ lệ lực lượng lao động làm tăng tỷ lệ tội phạm giết
người. Lạm phát là một loại chi phí đánh vào mọi người dân trong một nền kinh tế cụ thể.
Nó khơng chỉ có tác động chi phí về mặt kinh tế mà cịn có tác động gây ra sự căng thẳng về
mặt tâm lý, xã hội cho nhiều người dân. Tới lượt nó, những căng thẳng tâm lý - xã hội này
có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc thực hiện các hành vi phạm tội.
Tóm lại, các yếu tố kinh tế - xã hội có thể giải thích 35,22% sự thay đổi của tỷ lệ tội
phạm giết người.
Tội phạm về ma túy
Thứ nhất, tỷ lệ tội phạm về ma tuý gia tăng khi tỷ lệ thất nghiệp, trình độ giáo dục, tỷ
suất sinh tăng. Điều này có nghĩa là, những người phạm tội về ma túy không nhất thiết phải

là những người có trình độ giáo dục thấp. Kết quả này dường như trái với nhận thức thực tế
nên cần được kiểm chứng thông qua các nghiên cứu cụ thể hơn. Ngồi ra, nghiên cứu cho
thấy việc kiểm sốt tỷ lệ sinh có thể dẫn tới việc giảm tỷ lệ thất nghiệp, từ đó giảm tỷ lệ tội
phạm về ma túy.
NGHIÏN CÛÁU

Sưë 24 (328) T12/2016

LÊÅP PHẤP

61


KINH NGHIÏåM QËC TÏË
Thứ hai, mật độ dân số có tác động ngược chiều với tỷ lệ tội phạm ma túy. Điều này có
thể giải thích là những khu vực ít dân cư sinh sống như biên giới, miền núi thì điều kiện để
trồng, vận chuyển, bn bán ma túy dễ hơn những nơi đông dân cư như ở các đô thị. Một
lần nữa kết quả về mặt tỷ lệ số vụ phạm tội so với dân số (tương đối) có thể khác với kết quả
về mặt số vụ (tuyệt đối).
Tóm lại, các biến kinh tế - xã hội có thể giải thích tới gần 69% tỷ lệ tội phạm về ma tuý.
Tội phạm về mại dâm
Thứ nhất, trình độ giáo dục có tác động ngược chiều với những người phạm tội về mại
dâm. Nói cách khác, những người phạm tội về mại dâm có trình độ giáo dục thấp hơn so với
những người không phạm tội. Cụ thể, nếu tỷ lệ học sinh học cấp 2 (THCS) tăng lên 1% thì
tỷ lệ tội phạm về mại dâm sẽ giảm 1,7%.
Thứ hai, chi tiêu cho quốc phòng/an ninh dường như tác động cùng chiều với tỷ lệ tội
phạm về mại dâm. Điều này có thể do các chi tiêu về quốc phòng/an ninh thường nhắm tới
các loại tội phạm khác thay vì mại dâm.
Tóm lại, yếu tố quyết định kinh tế - xã hội khơng giải thích tốt sự thay đổi của tỷ lệ tội
phạm về mại dâm; tỷ lệ giải thích chỉ ở mức 23,44%. Nói cách khác, tội phạm về mại dâm

thường ít bị chi phối bởi các yếu tố phi kinh tế - xã hội. Điều này có thể lý giải bởi vì động
cơ của những người phạm tội mại dâm không chỉ là thu nhập mà gồm các lý do đa dạng
khác, trong đó có lý do tâm lý, cảm xúc hơn là động cơ về kinh tế như thu nhập.
5. những kinh nghiệm Việt nam có thể tham khảo
Ở nước ta, số lượng các vụ án hình sự xét xử sơ thẩm đã giảm xuống vào năm 2010
(55.221 vụ) so với các năm trước đó; tuy nhiên số vụ án đã tăng nhanh từ năm 2010 trở lại
đây. Năm 2013 số lượng vụ án hình sự xét xử sơ thẩm đã lên tới 68.751 vụ, tính trung bình
tốc độ số vụ hình sự tăng 8,17%/năm trong giai đoạn 2010-2013.
Trong khi đó, tỷ lệ tội phạm đã tăng trung bình 13%/năm trong giai đoạn 1986-2003.

62

NGHIÏN CÛÁU

LÊÅP PHẤP

Sưë 24 (328) T12/2016


KINH NGHIÏåM QUÖËC TÏË

Mặc dù tỷ lệ tội phạm chịu hình phạt tù đã tăng lên trong giai đoạn 1986-2003; tuy nhiên
mức độ tội phạm không hề giảm. Từ số liệu thực tế này, một lần nữa, một câu hỏi có thể
được nêu lên là liệu tăng mức độ hình phạt có là giải pháp tốt để giảm mức độ tội phạm hay
không?
Thứ nhất, một cách tiếp cận khác để giảm sự gia tăng của tội phạm có thể gián tiếp thông
qua việc cải thiện các điều kiện về kinh tế - xã hội, thay vì trực tiếp tăng hình phạt nhưng
chúng ta vẫn làm trong gần 20 năm qua. Kết quả nghiên cứu từ 56 quốc gia ở trên cho thấy
yếu tố kinh tế - xã hội có vai trò rất quan trọng để làm giảm mức độ tội phạm bao gồm tội
phạm tài sản (trộm, cướp), giết người, tội phạm ma tuý và tội phạm mại dâm.

Thứ hai, các dữ liệu thực tế tại Việt Nam cho thấy, trộm cắp và tội phạm ma túy là hai
loại tội phạm phổ biến nhất. Đây cũng là hai loại tội phạm mà các yếu tố kinh tế - xã hội có
khả năng giải thích tốt nhất. Trộm cắp và tội phạm ma tuý là hai tội phạm cụ thể được giải
thích tốt nhất bởi các yếu tố kinh tế - xã hội với mức độ giải thích là 68,95% và 71,05%.
NGHIÏN CÛÁU

Sưë 24 (328) T12/2016

LÊÅP PHẤP

63


KINH NGHIÏåM QUÖËC TÏË
Điều này gợi ý rằng, Việt Nam
nên tập trung vào tội phạm trộm
cắp và tội phạm ma tuý như là
trọng tâm trong việc đấu tranh,
phòng ngừa tội phạm hiện nay
thông qua việc cải thiện các điều
kiện kinh tế - xã hội. Điều này
khơng có nghĩa chúng ta xem nhẹ
các loại tội phạm khác.
Thứ ba, tập trung vào tội
phạm cá nhân, xem đây là trọng
tâm trong công tác phòng, chống
tội phạm. Trong giai đoạn 1986 2008, số người phạm tội đã tăng
từ mức 39.923 lên 114.045, gấp
2,86 lần. Tuy nhiên số bị cáo
trong mỗi vụ án gần như khơng

thay đổi, ở mức 1,51,7 người phạm
tội/vụ. Nói cách khác,
chúng ta có thể giảm
tỷ lệ tội phạm cá
nhân/đơn lẻ thơng qua
tập trung cải thiện các
điều kiện kinh tế - xã
hội. Đối với tội phạm
có tổ chức có thể kết
hợp việc cải thiện này
với các biện pháp về
pháp lý, an ninh,
nghiệp vụ khác.
Tóm lại, nghiên
cứu này cho thấy tỷ lệ
tội phạm có thể giải
tích tốt bởi các yếu tố
kinh tế -xã hội, từ đó
đưa ra gợi ý là chúng
ta có thể tác động vào các khía cạnh kinh tế - xã hội này, qua đó có thể giảm tỷ lệ tội phạm.
Dù bài viết phân tích dữ liệu tội phạm từ 56 nước khác nhau trên thế giới, nhưng những kết
quả rút ra có thể mang lại những hàm ý chính sách và pháp lý nhằm giảm tỷ lệ tội phạm ở
Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu này không đủ căn cứ để đưa ra kết luận về tính hiệu quả của
hình phạt, mà chỉ gợi ý, bên cạnh hình phạt chúng ta có thể cải thiện các điều kiện kinh tế xã hội để giảm tội phạm một cách bền vững và hài hịa ■

64

NGHIÏN CÛÁU

LÊÅP PHẤP


Sưë 24 (328) T12/2016



×