BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
Buổi thảo luận thứ sáu: Bồi Thường Thiệt
Hại Ngoài Hợp Đồng (phần chung).
Phạm Thanh Quang
Ngô Thị Kim Quyên
Nguyễn Thanh Thảo
Nguyễn Thị Thanh Thảo
Vũ Thanh Thảo
Nguyễn Hoàng Anh Thư
Lê Quốc Tính
Hoàng Ngọc Anh Thư
Lục Thủy Tiên
Vũ Thanh Thảo
1853801012161
1853801012163
1853801012173
1853801012176
1852801012179
1853801012187
1853801012192
1853801012185
1853801012190
1853801012179
Lớp 91DS43.3 – nhóm 4
GVHD: ThS Nguyễn Tấn Hoàng Hải
Năm học 2019-2020
1
Mục lục
VẤN ĐỀ 1: CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG.....................................................................................4
1.1: Cho biết các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng ( Thiệt hại do người gây ra) trong BLDS 2015?................................4
1.2: Thay đổi về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng giữa BLDS 2005 và BLDS 2015?............................................5
1.3: Trong bản án về bồi thường thiệt hại do dùng facebook nêu trên, theo Tòa
án, các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
đã hội đủ chưa? Vì sao?....................................................................................7
1.4: Theo anh/chị, trong vụ việc trên, đã hội đủ các căn cứ làm phát sinh trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chưa? Vì sao ? (anh/chị đánh giá
từng điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã
được đáp ứng chưa)...........................................................................................7
VẤN ĐỀ 2: XÁC ĐỊNH TỔN THẤT VỀ TINH THẦN ĐƯỢC BỒI THƯỜNG. 8
2.1: Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về tổn thất tinh thần
được bồi thường?..............................................................................................9
2.2:Theo pháp luật hiện hành, tổn thất về tinh thần khi tài sản bị xâm phạm có
được bồi thường không? Vì sao?.......................................................................9
2.3: Đoạn nào cảu bản án cho thấy Tòa án đã áp dụng các quy định định về
tổn thất về tinh thần của BLDS 2015 trong các vụ việc trên..............................9
2.4: Cho biết suy nghĩ của anh chị về việc Tòa án không áp dụng BLDS 2005
mà áp dụng BLDS 2015 trong các vụ việc trên liên quan đến tổn thất tinh thần.
......................................................................................................................... 10
VẤN ĐỀ 3:: THAY ĐỔI MỨC BỒI THƯỜNG ĐÃ ĐƯỢC ẤN ĐỊNH.............10
3.1: Cho biết những khác biệt cơ bản giữa thay đổi mức bồi thường không còn
phù hợp với thực tế và giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả
năng kinh tế.....................................................................................................11
3.2: Nêu rõ từng điều kiện được quy định trong BLDS để thay đổi mức bồi
thường không còn phù hợp với thực tế.............................................................12
2
3.3: Trong tình huống nêu trên, yêu cầu bồi thường thêm 70.000.000đ của phía
bị thiệt hại có được chấp nhận không? Vì sao?...............................................13
VẤN ĐỀ 4: XÁC ĐỊNH NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG (CÙNG
GÂY THIỆT HẠI)...............................................................................................14
4.1: Trong phần “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của
BLDS, trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh trong những
trường hợp nào?..............................................................................................14
4.2: Trong Bản án số 19, bà Khánh bị thiệt hại trong hoàn cảnh nào? Có xác
định được chính xác người gây thiệt hại cho bà Khánh không?......................15
4.3: Đoạn nào của Bản án số 19 cho thấy Tòa án đã theo hướng chị Tám, chị
Hiền và anh Hải liên đới bồi thường ?............................................................16
4.4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án về trách nhiệm
liên đới............................................................................................................. 16
4.5: Trong quyết định số 226, ai là người trực tiếp gây thiệt hại cho bà Hộ?..16
4.6: Trong quyết định số 226, ai là người phải liên đới bồi thường thiệt hại cho
bà Hộ?.............................................................................................................16
4.7: Hướng giải quyết trong quyết định số 226 đã có tiền lệ chưa? Nếu có nêu
tóm tắt tiền lệ đó..............................................................................................17
4.8: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến
trách nhiệm liên đới.........................................................................................19
4.9: Bản án số 19, bà Khánh đã yêu cầu bồi thường bao nhiêu và yêu cầu ai
bồi thường?.....................................................................................................20
4.10: Bản án số 19, Tòa án đã yêu cầu anh Hải bồi thường bao nhiêu?.........20
4.11: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến anh
Hải................................................................................................................... 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................21
3
VẤN ĐỀ 1: CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG.
Tóm tắt bản án số 20/2018/DS – ST ngày 23/4/2018 của Tòa án nhân dân Quận
2 thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Trần Quang Huy và bà Phạn Thị Bích Ngọc là giáo viên môn Ngữ Văn
tại trường THPT Thủ Thiêm. Vào lúc 02 giờ 14 phút ngày 03/03/2017 ông Huy đã
đăng dòng trạng thái trên facebook với những lời lẽ có ý xúc phạm bà Ngọc. sau đó
bà Ngọc có nhờ luật sư hỗ trợ pháp lý, gửi văn bản yêu cầu ông Huy gỡ những nội
dung này xuống nhưng ông Huy không thực hiện. nên bà Ngọc kiện yêu cầu ông
Huy bồi thường thiệt hai do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, số tiền bồi
thường là 30.160.000đ (ba mươi triệu một trăm sáu mươi ngàn đồng).
1.1: Cho biết các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng ( Thiệt hại do người gây ra) trong BLDS 2015?
Căn cứ phát sinh trách nhiệm Bồi thường thiệt hại là cơ sở pháp lý mà dựa
vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách nhiệm Bồi thường
thiệt hại.
BLDS 2015 (bộ luật Dân sự 2015) đã quy định rõ ràng về các căn cứ phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại
thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định
khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của
bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
4
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản
phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo
quy định tại khoản 2 Điều này”1.
1.2: Thay đổi về các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng giữa BLDS 2005 và BLDS 2015?
Dựa vào Điều 604 BLDS 2005 và Điều 584 BLDS 2015, ta thấy được một số
điểm mới như sau:2
Thứ nhất: Loại bỏ yếu tố “Lỗi”:
Nếu như trong BLDS 2005, yếu tố lỗi (kể cả lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý) được sử
dụng như là căn cứ đầu tiên để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng thì trong BLDS 2015, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đầu
tiên lại là hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại.
Thay đổi này được hiểu là BLDS 2015 đã quy định theo hướng người bị thiệt
hại không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại nữa, họ chỉ cần xác định
được hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại là đã có thể yêu cầu bồi thường
(Trách nhiệm chứng minh lỗi giờ đây sẽ thuộc về người gây thiệt hại trong trường
hợp muốn được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại (khoản 2 Điều 585 BLDS
2015) hoặc được giảm mức bồi thường (khoản 2, 4 Điều 586 BLDS 2015).
Thứ hai: Bổ sung căn cứ “tài sản gây thiệt hại”:
BLDS 2015 đã bổ sung thêm căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
hại là “tài sản gây thiệt hại”. Cụ thể, theo khoản 3 Điều 584 BLDS 2015: Chủ sở
hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản
của mình gây ra. Đây là một sự bổ sung hoàn toàn hợp lý bởi trên thực tế, trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng có thể phát sinh khi có sự kiện tài
sản gây ra thiệt hại.
Thứ ba: Bao quát định nghĩa về chủ thể được bồi thường:
1 Điều 584 BLDS 2015 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
2 tham khảo ngày 29/10/2019.
5
Khi xác định chủ thể được bồi thường thiệt hại, BLDS 2015 đã quy định theo
hướng khái quát hơn, không còn chia ra trường hợp cá nhân và pháp nhân hoặc chủ
thể khác như BLDS 2005 nữa. khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 chỉ quy định: “Người
nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản,
quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
“Người khác” ở đây có thể được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả cá nhân, pháp
nhân hoặc chủ thể khác và như vậy đã bao hàm được tất cả các loại chủ thể được
bồi thường thiệt hại như quy định tại BLDS 2005 trước đây.
Thứ tư: Mở rộng chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường:
BLDS 2005 quy định người nào thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại
cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, BLDS 2015 lại
quy định thêm trường hợp ngoại lệ, đó là “trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có
liên quan quy định khác”. Đây là một quy định rất phù hợp, bởi vì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng về nguyên tắc là được đặt ra cho chính chủ thể có
hành vi gây thiệt hại, nhưng có khi lại là người khác.
1.3: Trong bản án về bồi thường thiệt hại do dùng facebook nêu trên, theo Tòa
án, các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã
hội đủ chưa? Vì sao?
Theo Tòa án, các căn cứ là phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã đủ
rồi vì trong bài đăng facebook của ông Huy nói về việc đề thi bị lộ và khẳng định bà
Lẽ và bà Ngọc cho học sinh của mình chép đề và lời giải phần Đọc - Hiểu trong đề
thi vào hai ngày trước khi thi. Từ cách dùng từ của ông đủ để người đọc hiểu rằng
chính bà Lẽ và bà Ngọc là những người làm lộ đề thi. Và việc ông Huy đăng tải các
thông tin chưa được kiểm chứng trên facebook đã làm ảnh hưởng danh dự của bà
Ngọc. Vấn đề này đã rơi vào trường hợp khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 quy định về
căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: “Người nào có hành vi xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp
khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật
này, luật khác có liên quan quy định khác”.
6
1.4: Theo anh/chị, trong vụ việc trên, đã hội đủ các căn cứ làm phát sinh trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chưa? Vì sao ? (anh/chị đánh giá
từng điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã
được đáp ứng chưa).
Theo quy định của pháp luật, căn cứ tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015
(BLDS 2015). Căn cứ làm phát sinh bổi thường thiệt hại ngoại hợp đồng có thể hiểu
như sau: Thứ nhất, đã có thiệt hại cụ thể xảy ra. Thứ hai, thiệt hại do hành vi trái
pháp luật gây ra. Thứ ba, thiệt hại là hậu quả của hành vi trái pháp luật. Căn cứ vào
các sự kiện pháp lý đã xảy ra trong bản án cho thấy đã đủ căn cứ làm phát sinh trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Ông Huy là chủ thể đã thực hiện hành
vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín đối với người khác (cụ thể là bà
Ngọc) căn cứ tại Điều 584 BLDS 2015.
Thứ nhất, thiệt hại cụ thể đã xảy ra đối với bà Ngọc.
Thứ hai, thiệt hại do hành vi trái pháp luật của ông Huy là hành vi xâm
phâm, danh dự nhân phẩm, uy tín của bà Ngọc.
Thứ ba, thiệt hại là hậu quả của hành vi trái pháp luật của ông Huy.
VẤN ĐỀ 2: XÁC ĐỊNH TỔN THẤT VỀ TINH THẦN ĐƯỢC
BỒI THƯỜNG.
Tóm tắt bản án 08/2017/DS-ST ngày 30/6/2017 Tòa án huyện IA Grai tỉnh Gia
Lai.
Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Nhị (bà Nhị)
7
Bị đơn: Anh Vũ Minh Hiếu (anh Hiếu)
Nội dụng: Anh Hiếu đánh gãy tay bà Nhị, với tỷ lệ thương tích 23%.Qua
những chứng cứ mà bà Nhị cung cấp Tòa sơ thẩm buộc anh Hiếu phải bồi thường
thiệt hại cho bà Nhị gồm: chi phí khám chữa bệnh, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe,
chức năng bị mất bị giảm sút, thu nhập thực tế bị mất, chi phí hợp lý và phần thu
nhập thực tế của người chăm sóc người bị thiệt hại. khoản tiền bù đắp về mặt tinh
thần.
Tóm tắt bản án 26/2017/HSST ngày 29/5/2017 Tòa án nhân dân Tỉnh Vĩnh
Phúc.
Bị cáo: Nguyễn Văn A (anh A)
Bị hại: Anh Chu Văn Đ (anh Đ)
Nội dung: Do mâu thuẫn trong buồng giam. Anh A đã đá vào ngực anh Đ dẫn
đến anh Đ tử vong. Căn cứ vào chứng cứ Tòa án yêu cầu:
Về trách nhiệm dân sự: Anh A phải có trách nhiệm bồi thường đối với anh Đ: tiền
chi phí mai táng, tiền cấp dưỡng cho con anh Đ, tiền bù đắp về tinh thần đối với gia
đình anh Đ.
2.1: Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về tổn thất tinh thần
được bồi thường?
Trong BLDS 2005 bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần quy định ở
khoản 2 Điều 609, khoản 2 Điều 610, khoản 2 Điều 611.
Trong BLDS 2015 bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần quy định ở
Khoản 2 Điều 590, khoản 2 Điều 591, khoản 2 Điều 611.
Thứ nhất, BLDS 2005 quy định về mặt chủ thể là “người xâm phạm” đã
được thay thế bằng “người chịu trách nhiệm bồi thường”, sự thay đổi đã mở
rộng các đối tượng phải bồi thường, bao hàm cả các đối tương không phải là
người xâm hại nhưng lại là đối tượng phải chịu trách nhiệm bồi thường trên
thực tế.
8
Thứ hai, so với BLDS 2005 thì ở BLDS 2015, mức phạt bồi thường thiệt hại
ở các trường hợp đều có chiều hướng tăng lên nhằm nâng cao sự mạnh mẽ và
tính răn đe của pháp luật3.
2.2:Theo pháp luật hiện hành, tổn thất về tinh thần khi tài sản bị xâm phạm có
được bồi thường không? Vì sao?
Không. Tại vì, BLDS 2015 không quy định bồi thường thiệt hại về mặt tinh
thần khi tài sản bị xâm phạm. Nhưng thưc tế, tổn thất về mặt tinh thần là hoàn toàn
có đối với mồ mả ông, bà của người có mồ mả bị người khác xâm phạm, thay đổi vị
trí mồ mả. BLDS 2015 quy định tại Điều 607. Bồi thường thiệt hại xâm phạm mồ
mả. Có thể hiểu BLDS 2015 đã thừa nhận tổn thất về mặt tinh thần đối với người có
mồ mả bị xâm phạm4.
2.3: Đoạn nào cảu bản án cho thấy Tòa án đã áp dụng các quy định định về tổn
thất về tinh thần của BLDS 2015 trong các vụ việc trên.
Tại bản án số 08/2017/DS – ST ngày 30/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện
La Grai tỉnh Gia Lai: theo quy định tại khoản 2 Điều 590 BLDS 2015 quy định “…
mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa
thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không qua năm
mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”. Và đoạn “căn cứ theo quy định
tại khoản 3 Điều 156 của Luật Ban hành văn bản quy phạm phám luật, Hội đồng xét
xử sẽ áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 590 BLDS 2015 để xác định mức bù đắp
tổn thất về tinh thần”.
Tại bản án số 26/2017/HSST ngày 29/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Phúc thì: “áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 584; Điều 585; Điều
586; Điều 589 và Điều 591 BLDS 2015: Buộc bị cáo Nguyễn Văn A bồi thường chi
phí mai táng phí đối với người bị hại, bồi thường tổn thất về tinh thần do tính mạng
bị xâm phạm cho gia đình người bị hại Chu Văn D là 151.000.000đ. xác nhận gia
3 tham khảo ngày 03/11/2019.
4 tham khảo ngày 03/11/2019.
9
đình bị cáo nguyễn văn A đã bồi thường cho gia đình người bị hại Chu Văn D số
tiền 23.000.000đ; do vậy số tiền còn lại bị cáo Nguyễn Văn A phải bồi thường là
128.000.000đ”.
2.4: Cho biết suy nghĩ của anh chị về việc Tòa án không áp dụng BLDS 2005 mà
áp dụng BLDS 2015 trong các vụ việc trên liên quan đến tổn thất tinh thần.
Theo em, trong bản án 08/2017/DS-ST đây là cách xử lí hợp tình, hợp lý và
đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong bản án 26/2017/HSST vẫn chưa nêu
rõ số tiền bồi thường là do thoả thuận hay được tính như thế nào là một thiếu sót
của Toà án.
VẤN ĐỀ 3:: THAY ĐỔI MỨC BỒI THƯỜNG ĐÃ ĐƯỢC ẤN
ĐỊNH.
Tình huống: nghĩa vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ gây thiệt hại cho bà Muối. Sau khi thương lượng khắc phục hậu quả với
số tiền 60.000.000đ, phía bị thiệt hại đã cam kết: “bãi nại dân sự không yêu cầu thắc
mắc khiếu nại gì về sau”, “không yêu cầu khiếu nại gì về sau”. Tuy nhiên, nay phía
bị thiệt hại yêu cầu bồi thường thêm 79.000.000đ, chi phí điều trị phát sinh phải
thay khớp.
10
3.1: Cho biết những khác biệt cơ bản giữa thay đổi mức bồi thường không còn
phù hợp với thực tế và giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng
kinh tế.
Đối với giảm mức bồi thường5: khoản 2 Điều 585 BLDS quy định:
“Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi
thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh
tế của mình”.
So với BLDS 2005 trước đó thì BLDS 2015 bổ sung điều kiện “không có
lỗi” để có thể giảm mức bồi thường . Cụ thể, trước đó về điều kiện để có thể giảm
mức bồi thường tại BLDS 2005 chỉ đề cập tới người có “lỗi vô ý” trong khi đó thực
tiễn xét xử tại Tòa án theo hướng cho giảm mức bồi thường cả trong trường hợp
“không có lỗi” (có nhiều trường hợp một người chịu trách nhiệm bồi thường nhưng
không có lỗi). Thực ra, người “có lỗi vô ý” đã được yêu cầu giảm mức bồi thường
thì người “không có lỗi” nhưng phải bồi thường cần được quyền yêu cầu giảm mức
bồi thường. Hay nói cách khác, người gây thiệt hại không có lỗi thì cần được xem
xét trách nhiệm với mức độ nhẹ hơn so với trường hợp người gây thiệt hại với lỗi
vô ý. Và chúng ta cần nhìn nhận rằng chỉ người có lỗi cố ý mới không xứng đáng
được yêu cầu giảm mức bồi thường. Hướng thay đổi mới tại BLDS 2015 này là
hoàn toàn phù hợp và thiết thực.
Như vậy, khi đáp ứng đủ cả hai điều kiện: gây thiệt hại do lỗi vô ý hoặc
không có lỗi và;thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu
dài thì người chịu trách nhiệm bồi thường sẽ được giảm mức bồi thường
Đối với thay đổi mức bồi thường khoản 2 BLDS năm 2005 xác định đối
tượng được xem xét giảm mức bồi thường là người gây thiệt hại, nhưng khoản 2
Điều 585 BLDS năm 2015 đã sửa lại đối tượng này là “người chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại”. Sự thay đổi này đã kịp thời tháo gỡ được vướng mắc của thực tiễn
trong trường hợp “người gây thiệt hại” không phải là “người chịu trách nhiệm bồi
5 tham
khảo ngày 03/11/2019.
11
thường thiệt hại” (người gây thiệt hại là người dưới 15 tuổi, người bị mất năng lực
hành vi dân sự, người sử dụng bất hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ….). Cũng cần
chú ý là việc xem xét giảm mức bồi thường ở điều luật mới không còn xác định
“khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài nữa” nên khi tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động chứng minh khả năng kinh tế của người gây thiệt hại – chủ yếu là khả năng
kinh tế trước mắt.
Điều kiện được xem xét giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại
Điều 585 BLDS năm 2015 được mở rộng hơn so với Điều 605 BLDS năm 2005. Cụ
thể, ngoài yếu tố lỗi vô ý được xác định là điều kiện để xem xét giảm trách nhiệm
bồi thường ở quy định cũ, khoản 2 Điều 585 còn quy định thêm yếu tố “không có
lỗi” là điều kiện để giảm trách nhiêm bồi thường. Trước đây, trong thực tiễn giải
quyết, xét xử các vụ án liên quan, cơ quan thẩm quyền có căn cứ pháp lý để quyết
định giảm trách nhiệm cho người chịu trách nhiệm bồi thường khi có lỗi vô ý nhưng
lại lúng túng, thiếu cơ sở pháp lý để xem xét giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong trường hợp không có lỗi vì điều luật không quy định, mặc dù theo lẽ công
bằng, người gây thiệt hại không có lỗi hiển nhiên được ưu tiên xem xét miễn, giảm
trách nhiệm bồi thường hơn người gây thiệt hại có lỗi vô ý6.
3.2: Nêu rõ từng điều kiện được quy định trong BLDS để thay đổi mức bồi
thường không còn phù hợp với thực tế.
Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 585 BLDS 2015: “Khi mức bồi thường không
còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu
Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.”
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc mức bồi thường đã được ấn định không
còn phù hợp với thực tiễn (ví dụ như sự thay đổi của vật giá, sự thay đổi hay diễn
biến khác đi của thiệt hại theo hướng tốt hơn hoặc xấu hơn…) . Nghị quyết 03/2006
đã có quy định về nguyên nhân mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế:
6 tham khảo ngày 03/11/2019.
12
“Mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế, có nghĩa là do có sự thay
đổi về tình hình kinh tế, xã hội, sự biến động về giá cả mà mức bồi thường đang
được thực hiện không còn phù hợp trong điều kiện đó hoặc do có sự thay đổi về tình
trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại cho nên mức bồi thường
thiệt hại không còn phù hợp với sự thay đổi đó hoặc do có sự thay đổi về khả năng
kinh tế của người gây thiệt hại...”.
Việc thay đổi mức bồi thường do bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại yêu
cầu. Tức là việc điều chỉnh dựa vào yêu cầu của các bên, nếu không có bên nào yêu
cầu thì vẫn giữ nguyên mức bồi thường.
Cơ quan có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường là Tòa án hoặc cơ quan nhà
nước có thẩm quyền khác.
3.3: Trong tình huống nêu trên, yêu cầu bồi thường thêm 70.000.000đ của phía
bị thiệt hại có được chấp nhận không? Vì sao?
Trong tình huống nêu trên, yêu cầu bồi thường thêm 70.000.000đ của phía
bị thiệt hại được chấp nhận. Bởi vì mức bồi thường trước đó đã không còn phù hợp
với thực tế. Số tiền phía bị thiệt hại yêu cầu được bồi thường thêm sau này chính là
chi phí điều trị phát sinh phải thay khớp .
Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 585 BLDS 2015, Nghị quyết 03/2006
Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
“ 3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại
hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác
thay đổi mức bồi thường.”
Nghị quyết 03/2006 quy định:“Mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp
với thực tế, có nghĩa là do có sự thay đổi về tình hình kinh tế, xã hội, sự biến động
về giá cả mà mức bồi thường đang được thực hiện không còn phù hợp trong điều
kiện đó hoặc do có sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của
người bị thiệt hại cho nên mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với sự thay
đổi đó hoặc do có sự thay đổi về khả năng kinh tế của người gây thiệt hại...
13
VẤN ĐỀ 4: XÁC ĐỊNH NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM BỒI
THƯỜNG (CÙNG GÂY THIỆT HẠI).
Tóm tắt bản án số 19/2007/DS – ST ngày 16/4/2007 của Tòa án nhân dân thành
phố pleiku tỉnh Gia Lai.
Vào lúc 17 giờ 15 phút ngày 23/02/2001 chị Trương Thị tám bán hàng hàng
bánh kẹo và xả rác bừa bãi trước nhà anh Ngô văn Lễ. Khi đi làm về anh Lễ yêu cầu
chị Tám dọn dẹp thì chị Tám không nghe mà còn có thái độ xúc phạm, và chị Tám
có dùng thanh gỗ chống xe hàng đánh vào tay anh Lễ và hai bên xảy ra giằng co.
sau đó, ai về nhà nấy đến 18h cùng ngày anh Hải (em vợ anh Lễ) đến chơi và có
mua thuốc tại hàng của chị Hiền sau đó hai bên đôi co với nhau và có làm bể trứng
và gãy hai cái ghế gỗ của nhà bà Khánh. Sau đó, chị Hiền đi khám bệnh. Nay chị
kiện yêu cầu anh Hải, chị Hà, anh Lễ liên đới chịu bồi thường cho chị
Tóm tắt quyết định giám đốc thẩm số 226/2012/DS – GĐT ngày 22/5/2012 của
Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
14
Bà hộ kiện bà Nguyễn Huệ Lan và các đồng bị đơn yêu cầu các bị đơn bồi
thường thiệt hại cho bà do các bị đơn có hành vi gây thương tích cho bà.
4.1: Trong phần “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của BLDS,
trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh trong những trường
hợp nào?
Theo quy định tại Điều 587, BLDS 2015 về Bồi thường thiệt hại do nhiều
người cùng gây ra: “Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó
phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng
người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ nhận lỗi của mỗi
người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo
phần bằng nhau.”
Như vậy, theo BLDS thì trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại phát
sinh trong trường hợp nhiều người gây thiệt hại. Cụ thể;
Thứ nhất, cùng cố ý gây ra thiệt hại, tức là có cùng ý chí, cùng nhau thực
hiện một hành vi hoặc là những người này không cùng ý chí nhưng đều có thể nhận
thức được hành vi đó là trái pháp luật, có thể gây ra thiệt hại nhưng vẫn thực hiện
hành vi đó. Trường hợp này nếu người bị gây ra thiệt hại không có lỗi thì đương
nhiên những người gây ra thiệt hại phải bồi thường, còn trong trường hợp người bị
thiệt hại cũng có lỗi thì sẽ bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 585 BLDS
2015.
Thứ hai, cùng cố ý gây ra thiệt hại, trong trường hợp này người bị hại cũng
có lỗi thì những người gây ra thiệt hại bồi thường theo quy định tại Điều 585 BLDS
2015. Nhưng nếu người gây ra thiệt hại hoàn toàn không có lỗi thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng của những người cùng gây thiệt hại được xác định
trong hai trường hợp liên đới bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu nguồn hủy hiểm
cao độ khi chủ sở hữu để người khác chiếm hữu sử dụng trái pháp luật nguồn nguy
hiểm cao độ (khoản 4 Điều 601 BLDS 2015) và trách nhiệm liên đới bồi thường
thiệt hại của chủ sở hữu súc vật và người thứ ba khi họ cùng có lỗi để súc vật gây ra
thiệt hại cho người khác (khoản 3 Điều 603 BLDS 2015).
15
Thứ ba, vừa cố ý vừa vô ý gây ra thiệt hại, trường hợp này là gộp lại giữa hai
trường hợp trên, hướng giải quyết sẽ tách ra thành từng bên có lỗi vô ý và có lỗi cố
ý để giải quyết.
4.2: Trong Bản án số 19, bà Khánh bị thiệt hại trong hoàn cảnh nào? Có xác
định được chính xác người gây thiệt hại cho bà Khánh không?
Theo Bản án số 19, bà Khánh bị thiệt hại trong khi chị Tám và chị Hiền phản
ứng lại lúc anh Hải (em vợ anh Lễ) hỏi: “Nhà có đàn ông không ?”. Hai bên đôi
chối qua lại dẫn đến xô xát, giằng co với nhau.
Không xác định được chính xác người gây thiệt hại cho bà Khánh. Vì trong lúc
xô xát hỗn độn, các bên giằng co với nhau rất khó để biết được chính xác người gây
thiệt hại. Hơn nữa, đây là thiệt hại xảy ra do chị Tám, chị Hiền xô xát với anh Hải.
Do vậy, cả ba người đều là người gây thiệt hại cho bà Khánh.
4.3: Đoạn nào của Bản án số 19 cho thấy Tòa án đã theo hướng chị Tám, chị
Hiền và anh Hải liên đới bồi thường ?
“Về phần thiệt hại tài sản, bà Khánh trước đây yêu cầu 324.000đ (ba trăm hai
mươi bốn ngàn đồng), nhưng sau đó bà yêu cầu 800.000đ (tám trăm ngàn đồng) và
yêu cầu anh Hải phải bồi thường cho bà toàn bộ số tiền này. Xét thiệt hại về tài sản
của bà Khánh do xô xát giữa chị Tám và chị Hiền với anh Hải đã dẫn đến là 02
chiếc ghế gỗ bị gãy chân và các loại bánh, trứng tại quán bà Khánh bị đổ, bể…
trong quá trình xô xát là có thật. Do vậy, cần buộc những người này phải liên đới
bồi thường bồi thường cho bà Khánh, tuy nhiên bà Khánh chỉ khởi kiện yêu cầu đối
với anh Hải, do đó Tòa án chỉ xem xét phần trách nhiệm của anh Hải, buộc anh Hải
phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Khánh bằng 1/3 số tiền bà yêu cầu là
267.000đ (hai trăm sau mươi bảy ngàn đồng).”
4.4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án về trách nhiệm
liên đới.
16
Theo em, hướng giải quyết trên của Tòa án về trách nhiệm liên đới là hoàn
toàn hợp lí vì trên thực tế cả anh Hải, chị Hiền, Chị Tám đều có lỗi trong việc gây ra
thiệt hại cho bà Khánh.
4.5: Trong quyết định số 226, ai là người trực tiếp gây thiệt hại cho bà Hộ?
Trong quyết định số 226, bà Trần Thị Lan là người trực tiếp gây thiệt hại cho
bà Hộ. “Bị đơn là bà Trần Thị Lan trình bày: Bà thừa nhận thương tích cả bà Hộ là
do bà gây ra, các đồng bị đơn khác không đánh bà Hộ,...”
4.6: Trong quyết định số 226, ai là người phải liên đới bồi thường thiệt hại cho
bà Hộ?
Trong quyết định số 226, ông Trần Thúc Bảo là người phải liên đới bồi
thường thiệt hại cho bà Hộ. Đoạn trong quyết định cho thấy: “… song cũng cần
phải xem xét trách nhiệm dân sự của người khởi xướng trong vụ án cố ý gây thương
tích là ông Trần Thúc Bảo, người đã kêu các con đánh bà Hộ, việc bà Hộ bị 19
thương tích dẫn đến hỏng mắt có quan hệ nhân quả của ông Bảo. Do đó cần buộc
ông Bảo phải chịu trách nhiệm dân sự cùng với Nguyễn Huệ Lan”.
4.7: Hướng giải quyết trong quyết định số 226 đã có tiền lệ chưa? Nếu có nêu
tóm tắt tiền lệ đó.
Hướng giải quyết trong Quyết định 226 đã có tiền lệ.
Theo Quyết định số 114/2006/DS-GĐT ngày 26-5-2006 của Tòa dân sự Tòa
án nhân dân tối cao: Tại đơn khởi kiện ngày 21-09-2004 thì anh Nguyễn Hiền yêu
cầu Tòa án nhân nhân huyện Nghĩa Hành buộc bồi thường thiệt hại vì gây thương
tích cho anh. Theo đó thì do xảy ra xích mích với bố anh Hiền là ông Nguyễn Mông
và ông Hân đã có hành vi chủ mưu, rủ rê, lôi kéo con và các cháu của mình là
Nguyễn Đình Bằng và các anh Nguyễn Nam, Nguyễn Phòng, Nguyễn Gặp đến
đánh lại ông Nguyễn Mông. Anh Hiền can ngăn thì bị Nguyễn Nam, Nguyễn
Phòng,Nguyễn Gặp và Nguyễn Đình Bằng khống chế và đánh anh bằng một cây
gậy bạch đàn, anh Hiền sau đó đã vào bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi để điều trị vết
17
thương. Sau khi gây thương tích cho anh Hiền thì anh Bằng đã chết do bị tai nạn
giao thông. Khi ra viện anh Hiền đã khởi kiện yêu cầu ông Ân phải bồi thường cho
anh tổng số tiền mà anh yêu cầu ông phải bồi thường là 3.381.000đ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 39/DSST ngày 29- 12- 2004 Tòa án nhân dân
huyện Nghĩa Hành đã quyết định: “Buộc ông Nguyễn Hữu Ân (Một Nhỡ) phải bồi
thường cho ông Nguyễn Hiền (em) 3.181.000 đồng trong đó tiền thuốc, tiền xe đi
bệnh viện, tiền chụp Ci ti sọ não là 2.681.000 đồng, tiền công người theo nuôi là
200.000 đồng, tiền công lao động mất thu nhập là 300.000 đồng. Ngày 12/1/2005
ông Nguyễn Hữu Ân kháng cáo tại Bản án dân sự phúc thẩm số 09/2005/ DSPT
ngày 24/5/2005 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi quyết định: “Hủy toàn bộ bản án
dân sự sơ thẩm số 39 ngày 29-12-2004 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành và
đình chỉ giải quyết vụ án. Sau khi xét xử phúc thẩm, ngày 3/6/2005 anh Hiền có đơn
khiếu nại. Tại quyết định kháng nghị số 37/2006/DS – KN ngày 23/3/2006 Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao đã khán phúc thẩm số 09/2005/DSPT ngày 24/5/2005
với lý do: Trong quá trình giải quyết vụ án lời khai của anh Bằng, ông Ân và nhiều
nhân chứng khác phù hợp với kết luận điều tra của Công an huyện Nghĩa Hành tỉnh
Quảng Ngãi đã xác định ông Ân là chủ mưu, khởi xướng rủ rê con cháu gây thương
tích cho anh Hiền. Vì vậy ông Ân là người cùng gây thiệt hại cho anh Hiền phải có
nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Hiền. Do anh Hiền chỉ khởi kiện ông Ân nên
Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Ân tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn là đúng.
Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng ông Ân không thể là bị đơn trong vụ án nên đã
quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng pháp
luật. Đề nghị Tòa án dân sự Tòa án nhân dân tối cao xét xử Giám Đốc thẩm hủy bản
án dân sự phúc thẩm số 09/2005/DSPT ngày 24/5/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc
thẩm lại theo quy định của pháp luật. - Tại phiên tòa Giám Đốc thẩm, vị đại diện
Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao.
Xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận
ông Ân là người chủ mưu, khởi xướng, rủ rê con cháu cùng gây thương tích cho anh
Hiền. Tại đơn khởi kiện, anh Hiền yêu cầu ông Ân phải bồi thường thiệt hại, do đó
18
theo quy định của BLDS thì ông Ân là người có lỗi cố ý cùng gây thiệt hại nên phải
có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Hiền. Anh Hiền có thể khởi kiện yêu cầu
một trong số những người cùng gây thiệt hại phải bồi thường. Cùng tham gia gây
thương tích cho anh Hiền còn có anh Bằng (con trai ông Ân), sau khi gây thương
tích cho anh Hiền anh Bằng đã bị chết nên anh Hiền chỉ khởi kiện yêu cầu ông Ân
bồi thường. Vì vậy, căn cứ vào đơn khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Ân
là bị đơn dân sự là đúng. Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng anh Bằng là bị đơn nhưng
do anh Bằng đã chết không để lại thừa kế nghĩa vụ cho ông Ân nên ông Ân không
là bị đơn trong vụ án là không đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp phúc thẩm
quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án là không có căn cứ pháp
luật, vì vậy kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là có căn cứ, cần chấp
nhận.
Bởi các lẽ trên và căn cứ vào khoản 2 điều 291, khoản 3 Điều 297, Điều 299
Bộ luật tố tụng dân sự.
Quyết định: 1. Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 09/20005/DSPT ngày 24-52005 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Hiền với bị đơn là ông Nguyễn Hữu Ân.
2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm
lại theo quy định của pháp luật.
4.8: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến
trách nhiệm liên đới.
Hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến trách nhiệm liên đới là hợp
lý
Trong trường hợp trên, tuy bà Nguyễn Huệ Lan là người trực tiếp gây thương
tích cho bà Hộ, tuy nhiên ông Bảo cũng đã có hành vi kêu gọi các con đánh bà Hộ
nhằm gây thương tích cho bà Hộ. Do đó, ông Bảo đã gián tiếp và có lỗi trong việc
gây thương tích cho bà Hộ. Việc Tòa giám đốc thẩm xác định ông Bảo phải chịu
trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà Hộ là thỏa đáng.
19
Theo quy định của BLDS thì trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại được
quy định tại Điều 587 BLDS 20157 (hay Điều 616 BLDS 2005) bên cạnh việc quy
định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại còn quy định
phương pháp xác định mức bồi thường thiệt hại của các chủ thể trong trách nhiệm
liên đới, căn cứ vào mức độ lỗi của mỗi người, nếu không xác định được mức độ lỗi
của mỗi người thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau. Ở đây, Tòa án
đã xét theo tính chất mức độ phạm tội của từng bị cáo cũng là mức độ lỗi đối với
người bị thiệt hại để xác định số tiền phải bồi thường cho người bị thiệt hại là hợp
lý, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người bị hại.
4.9: Bản án số 19, bà Khánh đã yêu cầu bồi thường bao nhiêu và yêu cầu ai bồi
thường?
Trong bản án số 19 /2007/DS – ST ngày 16/4/2007 của Tòa án nhân dân
thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai tại phần xét thấy có đoạn: “về phần thiệt hại tài sản,
bà Khanh trước đây yêu cầu 324.000đ (ba trăm hai mươi bốn ngàn đồng), nhưng
sau đó bà yêu cầu 800.000đ (tám trăm ngàn đồng) và yêu cầu anh Hải phải bồi
thường cho bà toàn bộ số tiền này”.
4.10: Bản án số 19, Tòa án đã yêu cầu anh Hải bồi thường bao nhiêu?
Bản án số 19, Tòa án đã yêu cầu anh Hải bồi thường 267.000 đồng.
Đoạn của Bản án cho thấy điều đó: “Do đó, cần buộc những người này phải
liên đới bồi thường cho bà Khánh, tuy nhiên bà Khánh chỉ khởi kiện yêu cầu đối với
anh Hải, do đó toà án chỉ xem xét phần trách nhiệm của anh Hải phải bồi thường
thiệt hại về tài sản cho bà Khánh bằng 1/3 số tiền bà yêu cầu là 267.000đ (hai trăm
sáu mươi bảy ngàn đồng)”.
7 Điều 587 BLDS 2015: Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra:Trường hợp nhiều người cùng gây
thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng
người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được
mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.
20
4.11: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến anh
Hải.
Việc Tòa án quyết định để anh Hải chỉ bồi thường 1/3 số tiền thiệt hại của bà
Khánh là chưa thực sự thỏa đáng.
Bởi vì theo trong quá trình xô xát có xảy ra lỗi của cả 3 người là: chị Tám,
chị Hiền và anh Hải nên theo Điều 288 và Điều 587 BLDS 2015 thì trách nhiệm bồi
đó thuộc về cả ba người. Nhưng bà chỉ yêu cầu anh Hải thực hiện trách nhiệm bồi
thường, do vậy anh Hải chỉ chịu 1/3 số tiền gây thiệt hại cho bà Khánh.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp Tòa án cần xác định trách nhiệm lỗi do
ai gây thiệt hại nhiều hơn thì phải bồi thường nhiều hơn. Không phải mọi lúc ta phải
chia phần tách nhiệm theo số người gây ra thiệt hại cho người bị hại.
Đồng thời đối với vụ việc của chị Hiền thì các lời khai của các nhân chứng
khác nhau và bà Khánh (người được chị Hiền ủy quyền) không xuất trình được các
tài liệu chứng minh được chính anh Hải là người gây thương tích cho chị Hiền nên
không có cơ sở buộc anh Hải phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về phần
thương tích hiện có của chị Hiền.
21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
1. Bộ luật Dân Sự năm 2015.
2. Bộ luật Dân sự năm 2005.
GIÁO TRÌNH
1. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Pháp luật về hợp
đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật
Gia Việt Nam.
SÁCH
1. Đỗ Văn Đại (2017), Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án
(xuất bản lần thứ sáu, có sửa chữa, bổ sung), Nxb. Hồng Đức – Hội Luật
Gia Việt Nam.
2. Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh, Sách Tình Huống pháp luật
về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức – Hội
Luật Gia Việt Nam.
BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH TÒA ÁN
1. Bản án số 20/2018/DS – ST ngày 23/4/2018 của Tòa án nhân dân Quận 2
thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bản án 08/2017/DS-ST ngày 30/6/2017 Tòa án huyện IA Grai tỉnh Gia Lai.
22
3. Bản án 26/2017/HSST ngày 29/5/2017 Tòa án Tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Bản án số 19/2007/DSST ngày 16.4.2007 của Tòa án nhân dân thành phố
Pleiku tỉnh Gia Lai.
5. Quyết định số 226/2012/DS – PT ngày 25/5/2012 của Tòa dân sự Tòa án
nhân dân tối cao.
WEBSITE
1.
/>
2.
ngoai-hop-dong-quy-dinh-tai-bo-luat-dan-su-nam-2015.html.
/>
3.
/>
tham
khảo
ngày
03/11/2019.
4.
/>
5.
san-bi-xam-pham-va-khi-mo-ma-bi-xam-pham-143916.aspx.
/>
23