MỤC LỤC
Trang
1
MỞ ĐẦU
Chương 1: TỈNH UỶ BẾN TRE LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC PHỤ NỮ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
9
1.1. Khái quát tình hình tỉnh Bến Tre và quan niệm về công tác phụ
nữ của Tỉnh ủy Bến Tre trong giai đoạn hiện nay
1.2. Tỉnh uỷ Bến Tre lãnh đạo công tác phụ nữ - quan niệm, nội dung,
phương thức và quy trình lãnh đạo
9
33
Chương 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA TỈNH UỶ BẾN TRE ĐỐI VỚI CÔNG
TÁC PHỤ NỮ - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ
KINH NGHIỆM
49
2.1. Thực trạng phụ nữ và công tác phụ nữ tỉnh Bến Tre từ năm 2001
đến nay
2.2. Thực trạng, nguyên nhân và những kinh nghiệm lãnh đạo của
Tỉnh uỷ Bến Tre đối với công tác phụ nữ
49
64
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA TỈNH UỶ BẾN TRE
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHỤ NỮ TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY
81
3.1. Mục tiêu, phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ
Bến Tre đối với công tác phụ nữ
3.2. Những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ
Bến Tre đối với công tác phụ nữ trong giai đoạn hiện nay
KẾT LUẬN
KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
81
88
108
111
113
117
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH, HĐH
:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNXH
:
Chủ nghĩa xã hội
DS/SKSS/BĐG
:
Dân số, sức khoẻ sinh sản, bình đẳng giới
HĐND
:
Hội đồng nhân dân
LHPN
:
Liên hiệp phụ nữ
UBND
:
Uỷ ban nhân dân
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đó khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam, do
phụ nữ ta trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” [35, tr.432].
Thật vậy, phụ nữ giữ vai trũ rất quan trọng đối với sự phỏt triển của xó hội. Trong
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, qua mọi thời kỳ, phụ nữ
luôn là lực lượng hùng hậu, có nhiều đóng góp to lớn trong công cuộc đấu tranh
chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng đất nước.
Ngay từ những buổi đầu lập nước, khi gặp nạn ngoại bang xâm lược, bà
Trưng, bà Triệu đó dấy binh khởi nghĩa đánh đuổi quân thù. Thế kỷ XX, qua
hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lịch sử lại ghi nhận hàng vạn
tấm gương phụ nữ, các chị, các mẹ không ngại gian khổ, không tiếc máu
xương, sẵn sàng chiến đấu, lao động, hy sinh, cống hiến không chỉ cuộc đời
mỡnh mà cả con em cho độc lập tự do của Tổ quốc xứng đáng với danh hiệu
tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” mà Đảng, Bác Hồ
phong tặng.
Phụ nữ Việt Nam không chỉ chiến đấu anh hùng mà đó lao động cần cù,
gian khó để vượt lên cảnh đói nghèo và lạc hậu, góp phần xây dựng đất nước
ngày càng to đẹp hơn, đàng hoàng hơn, xứng danh “Trung hậu, đảm đang, tài
năng, anh hùng” trong thời kỳ đổi mới. Những danh hiệu này không chỉ là sự
khích lệ, động viên mà cũn là sự thừa nhận và đánh giá vai trũ to lớn của phụ
nữ Việt Nam trong cụng cuộc dựng nước cũng như giữ nước.
Từ sự nhận thức đúng đắn vai trũ của phụ nữ, trong suốt quỏ trỡnh lónh
đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác phụ nữ nhằm phát huy
vai trũ, tiềm năng to lớn của phụ nữ. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, trước
yêu cầu đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH, Đảng ta nhấn mạnh: “Phải tăng
cường sự lónh đạo của Đảng, tiếp tục đổi mới công tác phụ nữ để phụ nữ
tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn
2
cho sự phát triển của gia đỡnh, cộng đồng, đất nước và thực hiện bỡnh đẳng giới”
[19, tr.3] và ban hành những chủ trương, nghị quyết đổi mới, tăng cường công tác
phụ nữ tạo điều kiện cho phụ nữ bỡnh đẳng về quyền và cơ hội phát triển,
phát huy vai trũ, khả năng sáng tạo, nâng cao địa vị xó hội, cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần.
Phụ nữ Việt Nam núi chung, phụ nữ Bến Tre núi riờng với truyền thống
anh hựng, bất khuất đó đi vào lịch sử như một huyền thoại. Ở đâu có phong trào
cách mạng, thỡ ở đó phụ nữ tham gia với tinh thần bất khuất, kiên cường, bất chấp
tù ngục, súng gươm, bất chấp sự đàn áp dó man của kẻ thự. Họ chứng tỏ rằng, khi
quờ hương, đất nước bị kẻ thù xâm lược thỡ “anh hùng đâu chỉ có mày râu”.
Để phát huy tinh thần của phụ nữ và phong trào phụ nữ trong “Đồng
Khởi” năm xưa vào công cuộc “Đồng Khởi mới” hôm nay, hơn lúc nào hết
Tỉnh uỷ Bến Tre càng quan tâm hơn nữa đến công tác phụ nữ. Trước những
khó khăn, thách thức của công cuộc đổi mới đặt ra cho Tỉnh nhà đối với công
tác phụ nữ, Tỉnh uỷ đó cụ thể hoỏ quan điểm, chủ trương, đường lối của cấp
trên phù hợp với đặc điểm, tỡnh hỡnh ở Bến Tre và lónh đạo các cấp, các
ngành thực hiện công tác phụ nữ.
Nhỡn chung, công tác phụ nữ của Tỉnh uỷ trong thời gian qua đó đạt
được những thành tựu đáng kể. Cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể, các cấp,
các ngành đó nõng cao nhận thức về vị trớ, vai trũ cụng tỏc phụ nữ; tạo điều
kiện cho Hội phụ nữ cùng cấp tham gia các hoạt động quản lý, giám sát; quan
tâm cất nhắc, đề bạt cán bộ nữ vào vị trớ lónh đạo, quản lý các cấp, các
ngành. Bản thân phụ nữ đó nhận thức đầy đủ hơn vị trí, vai trũ, trỏch nhiệm
của mỡnh trước tỡnh hỡnh mới, đó tự tin, chủ động khắc phục khó khăn, nỗ
lực phấn đấu vươn lên, phát huy truyền thống cách mạng, tỡnh đoàn kết gắn
bó, tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, lao động, công tác, hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn cũn tồn tại những hạn
chế nhất định: sự lónh đạo của cấp uỷ có đôi khi chưa sâu sát, thường xuyên,
3
công tác tuyên truyền cũn yếu; trong lónh chỉ đạo cũn thiếu kiểm tra, đôn đốc;
khâu sơ kết, tổng kết, đề ra những giải pháp cụ thể mang tính khả thi cũn nhiều
vướng mắc; một số cấp uỷ cũn tư tưởng thiên kiến, hẹp hũi, thiếu tin tưởng vào
khả năng của phụ nữ; chế độ, chính sách cho cỏn bộ Hội cũn quỏ thấp; thêm vào
đó, một bộ phận phụ nữ cũn biểu hiện tự ti, an phận, thiếu ý chớ vươn lên, thậm
chí cũn biểu hiện hẹp hũi, kốn cựa lẫn nhau; trỡnh độ học vấn, chuyên môn
nghiệp vụ cũn thấp, cơ hội có việc làm và thu nhập cũn nhiều khú khăn...
Những tồn tại trên đó làm hạn chế vai trũ của tầng lớp “phõn nửa của
xó hội”. Muốn phát triển tỉnh nhà, đất nước thỡ phải quan tõm đến tầng lớp
người này. Điều đó phần lớn phụ thuộc vào vai trũ lónh đạo của Đảng. Vỡ
vậy, Tỉnh uỷ cần tăng cường vai trũ lónh đạo đối với công tác phụ nữ thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH để tạo điều kiện cho phụ nữ ngày càng tham gia nhiều
hơn, chủ động hơn trong phát triển gia đỡnh, cỏc cụng việc xó hội gúp phần
xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới tỉnh nhà, phát huy truyền thống phụ nữ Bến
Tre, xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xó hội cụng bằng,
dõn chủ, văn minh” đó trở thành một yờu cầu cấp thiết.
Từ những vấn đề trỡnh bày trên, đặc biệt là sự trăn trở trước những khó
khăn của phong trào vận động phụ nữ, những hạn chế trong lónh đạo công tác
phụ nữ tỉnh nhà hiện nay cùng với lũng tự hào về truyền thống phụ nữ quờ
hương, bằng kiến thức được học tập tại lớp Cao học Xây dựng Đảng Khóa 15,
tôi chọn nghiên cứu đề tài “Tỉnh uỷ Bến Tre lónh đạo công tác phụ nữ trong
giai đoạn hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp khoá học.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu liờn quan đến đề tài
Cụng tỏc phụ nữ và sự lónh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ là
một trong những nội dung quan trọng của cụng tỏc dõn vận. Trong những năm
gần đây, ở nước ta có nhiều công trỡnh nghiờn cứu liờn quan đến vị trí, vai trũ
của phụ nữ, cụng tỏc phụ nữ; sự lónh đạo của Đảng nói chung và đối với công
tác phụ nữ nói riêng. Kết quả nghiờn cứu cỏc cụng trỡnh đó đó được nghiệm thu,
công bố và đăng tải trên các sách, báo, tạp chí như:
4
* Những cụng trỡnh nghiờn cứu khoa học được viết thành sách:
- Đỗ Ngọc Bỡnh, Lờ Ngọc Lõn (1996), Phụ nữ nghèo nông thôn trong
điều kiện kinh tế thị trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội: Khái quát thực
trạng đời sống và các khả năng tham gia phát triển kinh tế của gia đỡnh phụ
nữ nghốo, nờu lờn những nhu cầu cơ bản của phụ nữ nông thôn, đề ra một số
giải pháp để người phụ nữ có điều kiện tham gia phỏt triển kinh tế.
- Phạm Hoàng Điệp (2008), Chủ tịch Hồ Chớ Minh với sự tiến bộ của
phụ nữ, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội: phân tích và trích dẫn một cách có hệ
thống những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trũ, vị trớ và những
đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dõn tộc.
- Nguyễn Đức Hạt (2007), Nâng cao năng lực lónh đạo của cán bộ nữ
trong hệ thống chính trị, Nxb Chớnh trị quốc gia, Hà Nội: Trỡnh bày quan
điểm Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta về vị trí vai trũ phụ nữ núi
chung và vị trớ, vai trũ phụ nữ trong hệ thống chớnh trị núi riờng; quan niệm
về giới, bỡnh đẳng giới; đưa ra những quan điểm, giải pháp nâng cao năng lực
lónh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị.
- Học viện Chớnh trị quốc gia Hồ Chớ Minh - Viện Xây dựng Đảng
(2003), Giỏo trỡnh Xõy dựng Đảng, Nxb Chớnh trị quốc gia, Hà Nội.
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Xây dựng Đảng (2006),
Giỏo trỡnh Cụng tỏc quần chỳng của Đảng, Nxb Lý luận chớnh trị, Hà Nội.
- Hội LHPN Việt Nam (2002), Phụ nữ Việt Nam bước vào thế kỷ XXI,
NXB Chớnh trị quốc gia, Hà Nội.
- Phạm Ngọc Quang (2008), Đổi mới, hoàn thiện phương thức lónh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội: đề cập
phương thức lónh đạo của Đảng đối với một số tổ chức chớnh trị - xó hội
trong hệ thống chớnh trị, trong đó có trỡnh bày phương thức lónh đạo của
Đảng đối với Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam, đổi mới phương thức lónh đạo
của cấp uỷ đảng đối với chính quyền, Mặt trận, đoàn thể cấp tỉnh.
5
- Lê Văn Lý (1999), Sự lónh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng
yếu của đời sống xó hội nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội: nêu lên
những căn cứ chủ yếu để xác định nội dung, phương thức lónh đạo và đặc
điểm, nội dung, phương thức lónh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng
yếu của đời sống xó hội nước ta hiện nay.
- Dương Thị Minh (2004), Gia đỡnh Việt Nam và vai trũ người phụ nữ
trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chớnh trị quốc gia, Hà Nội: Nhấn mạnh phỏt
huy vai trũ phụ nữ trong gia đỡnh với những xu hướng biến đổi vai trũ phụ nữ
trong giai đoạn hiện nay.
- Trần Đỡnh Nghiờm (2002), Đổi mới phương thức lónh đạo của Đảng,
Nxb Chớnh trị quốc gia, Hà Nội: Giới thiệu quỏ trỡnh hỡnh thành, đổi mới
phương thức lónh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị, trong đó có đề cập
đổi mới phương thức lónh đạo đối với các đoàn thể chính trị xó hội.
- Lờ Minh Thụng (2008), Một số vấn đề về xây dựng đảng trong Văn
kiện Đại hội X, Nxb Chớnh trị quốc gia, Hà Nội: tổng hợp một số bài viết của
các nhà nghiên cứu khoa học như “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đổi
mới phương thức lónh đạo của Đảng”, “Đổi mới và hoàn thiện phương thức
lónh đạo của Đảng”.
* Luận văn:
- Trần Thị Thanh Bỡnh (1998), Đảng bộ Bến Tre lónh đạo phong trào
phụ nữ thời kỳ từ Đồng Khởi đến Mậu Thân(1960 - 1968), Luận văn thạc sĩ,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Trỳc Hạnh (2005), Vấn đề kế thừa giá trị đạo đức truyền
thống của phụ nữ Bến Tre hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh.
- Trần Thị Lan (2007), Sự lónh đạo của Đảng đối với Hội LHPN Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh.
6
- Lờ Thị Nguyệt (2009), Tỉnh uỷ Vĩnh Phỳc lónh đạo công tác phụ nữ giai
đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
* Bỏo, tạp chớ:
- Trần Chớ Lập, “Thành tựu và kinh nghiệm trong công tác phát triển
phụ nữ của Trung Quốc sau ba mươi năm tiến hành cải cách”, Tạp chớ Cộng
sản số 27 thỏng 3/2009.
- Nguyễn Thị Thanh Hoà, “Hội LHPN Việt Nam với đội ngũ nữ doanh
nhân thời hội nhập”, Tạp chớ Cộng sản thỏng 10/2008.
- Nguyễn Thị Thanh Hoà, “Hoạt động và đóng góp của phụ nữ Việt
Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH”, Tạp chớ Cộng sản thỏng 3/2009.
- Hà Thị Khiết, “Cụng tỏc cỏn bộ nữ trong tỡnh hỡnh mới”, Tạp chớ
Cộng sản thỏng 3/2006.
- Minh Nhật, “Thành tựu chủ yếu 10 năm thực hiện “Cương lĩnh hành
động Bắc Kinh của Hội LHPN Việt Nam””, Tạp chớ Cộng sản thỏng 6/2006.
- Lờ Thi, “Vị thế và vai trũ của người phụ nữ ở cơ sở hiện nay”, Tạp
chớ Cộng sản thỏng 3/2009.
- Lờ Trọng, “Phụ nữ và quyền chủ động trong cuộc sống”, Tạp chớ
Cộng sản thỏng 3/2009.
Các bài viết xoay quanh những vấn đề về vị trí vai trũ của phụ nữ; sự
quan tõm của Đảng, Nhà nước về vấn đề bỡnh đẳng giới, vấn đề giải phóng
phụ nữ, nâng cao vị thế phụ nữ trong xó hội và đề cập đến vai trũ lónh đạo
của Đảng đối với công tác phụ nữ nhằm phát huy sức mạnh, sự chủ động,
sáng tạo của phụ nữ trên mọi lĩnh vực.
Mặc dù có nhiều bài viết về phụ nữ, phong trào phụ nữ, Đảng lónh đạo
công tác phụ nữ, tuy nhiên cho đến hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu
một cách hệ thống, cụ thể đề tài: “Tỉnh uỷ Bến Tre lónh đạo công tác phụ nữ
trong giai đoạn hiện nay”.
7
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm rừ những vấn đề lý luận và thực tiễn liờn quan đến đề tài,
khảo sát đánh giá đúng thực trạng lónh đạo của Tỉnh uỷ Bến Tre đối với công
tác phụ nữ, luận văn đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu tăng
cường sự lónh đạo của Tỉnh uỷ Bến Tre đối với công tác phụ nữ giai đoạn
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rừ những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự lónh đạo của Tỉnh ủy
Bến Tre đối với công tác phụ nữ trong giai đoạn hiện nay.
- Khảo sát đánh giá thực trạng lónh đạo của Tỉnh uỷ Bến Tre đối với
công tác phụ nữ giai đoạn hiện nay, chỉ ra nguyờn nhõn của thực trạng và rỳt
ra những kinh nghiệm.
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu có tính khả thi
nhằm tăng cường sự lónh đạo của Tỉnh uỷ Bến Tre đối với công tác phụ nữ
trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự lónh đạo của Tỉnh uỷ Bến Tre
đối với công tác phụ nữ.
4.2. Phạm vi nghiờn cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động lónh đạo
công tác phụ nữ của Tỉnh uỷ Bến Tre từ năm 2001 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
- Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan
điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về phụ nữ, công tác phụ nữ của Đảng.
- Kế thừa cỏc kết quả nghiờn cứu của cỏc cụng trỡnh khoa học liờn quan
đến đề tài.
8
5.2. Cơ sở thực tiễn
- Tham khảo thực trạng về truyền thống phụ nữ Bến Tre và công tác vận
động phụ nữ của Đảng bộ trong khỏng chiến.
- Thực trạng về phụ nữ, cụng tỏc phụ nữ và sự lónh đạo của Tỉnh uỷ Bến
Tre đối với công tác phụ nữ từ năm 2001 đến nay.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin.
- Luận văn sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn
dịch, phương pháp lôgíc và lịch sử, phương pháp tham khảo ý kiến chuyờn
gia, thống kờ, so sỏnh và đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn.
6. Những đóng góp của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về sự lónh đạo của Đảng
đối với công tác phụ nữ.
- Luận văn góp phần đánh giá đúng thực trạng sự lónh đạo công tác phụ
nữ của Tỉnh uỷ Bến Tre thời gian qua và đề xuất những giải pháp chủ yếu để
tham khảo trong lónh đạo công tác phụ nữ.
- Luận văn làm tài liệu tham khảo cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các
ban ngành nâng cao chất lượng công tác phụ nữ góp phần phát huy vai trũ của
phụ nữ trong giai đoạn hiện nay.
- Luận văn cũn làm tài liệu tham khảo cho bộ mụn Dõn vận ở Trường
Chính trị.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết.
9
Chương 1
TỈNH ỦY BẾN TRE LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC PHỤ NỮ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. KHÁI QUÁT TèNH HèNH TỈNH BẾN TRE VÀ QUAN NIỆM VỀ CễNG
TÁC PHỤ NỮ CỦA TỈNH ỦY BẾN TRE TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1.1. Khái quát đặc điểm, tỡnh hỡnh tỉnh Bến Tre và đặc điểm, vai
trũ, chức năng, nhiệm vụ của Tỉnh ủy Bến Tre
1.1.1.1. Khái quát đặc điểm, tỡnh hỡnh tỉnh Bến Tre
- Đặc điểm địa lý - chính trị
Bến Tre là một trong 12 tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long, được hợp
thành bởi 3 cự lao lớn: An Húa, Bảo và Minh do phự sa 4 nhỏnh sụng Cửu
Long (sụng Tiền, sụng Ba Lai, sụng Hàm Luụng, sụng Cổ Chiờn) bồi tụ nờn
qua nhiều thế kỷ. Nhỡn trờn bản đồ, tỉnh Bến Tre có hỡnh rẻ quạt, đầu nhọn
nằm ở thượng nguồn, các nhánh sông lớn giống như nan quạt xũe rộng ra ở
phớa đông.
Bến Tre có địa hỡnh bằng phẳng, ruộng vườn phỡ nhiờu xen kẽ rói rỏc
những giồng cỏt, trũng, bói cồn, đầm mặn, bói thủy triều, cồn sụng... Là một
tỉnh chõu thổ nằm sỏt biển, bốn bề sụng nước, hệ thống kênh rạch chằng chịt
đan vào nhau như những mạch máu chảy khắp ba dải cù lao rất thuận tiện cho
giao thông vận tải cũng như thủy lợi. Cùng với hệ thống đường thủy thuộc
loại lý tưởng, năm 2009 với sự kiện khánh thành cầu Rạch Miễu, 2010 khánh
thành cầu Hàm Luông, giao thông đường bộ Bến Tre phát triển mạnh mẽ, phá
thế cô lập và là điều kiện giúp cho những tiềm năng kinh tế - văn hóa - xó hội
của tỉnh được khơi dậy và phát triển mạnh mẽ.
Tỉnh Bến Tre cú 9 huyện và 1 thành phố với 164 xó, phường, thị trấn;
dân số Bến Tre là 1.352.472 người, mật độ dân số 532 người/km 2. Diện tớch
tự nhiờn của tỉnh cú 2.360,2 km 2, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây và
10
Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, phía đông giáp biển Đông với chiều
dài bờ biển là 65 km và cách thành phố Hồ Chí Minh hơn 80 km. Là một tỉnh
nằm trong vùng tam giác châu thổ sông Cửu Long, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà
Vinh hỡnh thành địa bàn quan trọng của chiến trường Nam Bộ trong kháng
chiến chống Mỹ cứu nước. Với vị trí là bản lề giữa miền Đông và miền Tây
Nam Bộ, Bến Tre luôn là cái gai nhọn trước mắt kẻ thù, vỡ vậy ớt cú vựng đất
nào bị các loại kẻ thù chú ý đánh phá như ở nơi đây. Nhưng nhờ vào địa hỡnh
sụng rạch chằng chịt hiểm trở, vựng đất ba dải cù lao này đó trở thành nơi thuận
lợi cho chiến tranh nhân dân phát triển và gặt hái được nhiều thắng lợi to lớn.
- Tỡnh hỡnh kinh tế, văn hóa - xó hội
Giai đoạn 2001 - 2010, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre thực hiện Nghị
quyết Đại hội IX, Đại hội X của Đảng và Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ
VII, VIII, trong bối cảnh tỡnh hỡnh chớnh trị, xó hội trong nước ổn định, kinh
tế tiếp tục phát triển; tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó, tỡnh hỡnh kinh
tế cũng gặp khụng ớt khú khăn do tác động từ sự suy giảm kinh tế thế giới,
lạm phát tăng cao, giá cả nguyên, nhiên vật liệu, hàng tiêu dùng thiết yếu tăng
nhanh, thiên tai, dịch bệnh liên tục xảy ra. Song, nhờ sự nỗ lực phấn đấu của
toàn Đảng, toàn quân, toàn dân dưới sự lónh đạo của Đảng, Bến Tre đó đạt
được những thành tựu đáng kể.
Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khỏ cao và phát triển tương đối toàn
diện. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bỡnh quõn giai đoạn 2005 - 2010 ước đạt
9,41%, tăng 0,33% so bỡnh quõn 5 năm trước (2001 - 2005); thu nhập bỡnh
quõn đầu người đạt 866 USD, tăng 76% so với nhiệm kỳ trước (462 USD).
Đây là phấn đấu lớn của Đảng bộ và nhân dân Bến Tre trước tỡnh hỡnh khủng
hoảng tài chớnh và suy thoỏi kinh tế toàn cầu [9].
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH. Nét nổi
bật của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cơ cấu cây trồng, vật nuụi tiếp tục
chuyển dịch theo hướng chất lượng, hiệu quả, khai thác tốt tiềm năng, lợi thế
11
từng vùng; lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ được chú trọng đầu tư phát triển và
tăng dần tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế. Cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ lệ lao động nông nghiệp
từ 78,56% năm 2005 giảm cũn 55,64%, cụng nghiệp - xõy dựng từ 7,48%
tăng lên 18,23% và dịch vụ từ 13,96% tăng lên 26,13% [29].
Cơ cấu thành phần kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, phát huy
tính chủ động trong sản xuất kinh doanh, phù hợp với cơ chế thị trường. Kinh
tế trang trại được mở rộng, có nhiều quy mô đạt hiệu quả kinh tế cao góp
phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Năm 2005, toàn tỉnh có
3.300 trang trại, hiện nay số trang trại đó lờn tới 4.100 chủ yếu tập trung vào
các lĩnh vực như: trồng cây ăn trái, sản xuất giống, hoa kiểng, nuôi thủy sản,
chăn nuôi gia súc, gia cầm và kinh doanh tổng hợp.
Cùng với sự phát triển kinh tế, hoạt động văn hóa - xó hội cú nhiều tiến
bộ, kết hợp khỏ đồng bộ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - xó hội
và chăm lo đời sống nhân dân. Huy động được lượng vốn khá lớn từ nhiều
nguồn cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xó hội, nhất là hạ tầng
giao thụng với nhiều cụng trỡnh, dự ỏn trọng điểm như cầu Rạch Miễu, cầu
Hàm Luông, cầu Bến Tre 2, phà Hưng Phong, phà Tam Hiệp…
Các hoạt động văn hóa - xó hội, khoa học - cụng nghệ, bảo vệ mụi
trường có chuyển biến, chất lượng được nâng lên. Giáo dục - đào tạo có tiến
bộ trên một số mặt, mạng lưới trường lớp phát triển đều khắp các địa bàn,
khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa thành thị và nông thôn được thu
hẹp. Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố và phát triển. Các chương
trỡnh an sinh và cụng tỏc xó hội được chú trọng, đời sống các tầng lớp nhân
dân được cải thiện, vấn đề giải quyết việc làm, giảm nghèo, thực hiện chính
sách với người có công được quan tâm thực hiện đạt kết quả tốt.
Bến Tre là vùng đất giàu truyền thống văn hóa với các khu di tích được
Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia như:
12
khu di tích Nguyễn Đỡnh Chiểu, di tớch nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên
của Bến Tre, di tích mộ nhà giáo Vừ Trường Toản, đền thờ lónh binh Nguyễn
Ngọc Thăng, đỡnh Bỡnh Hũa, đỡnh Phỳ Lễ, chựa Tuyờn Linh, di tớch Đồng
khởi, di tích đầu cầu tiếp nhận chi viện Bắc Nam… và các đền thờ - khu lưu
niệm Phan Văn Trị, Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản, Huỳnh Tấn Phỏt, nữ
tướng Nguyễn Thị Định. Từ đó, chúng ta có thể khẳng định rằng đất Bến Tre
là vùng đất “địa linh nhân kiệt”; những tên đất, tên người đều in đậm dấu ấn
lịch sử truyền thống - văn hóa của quê hương.
- Truyền thống tỉnh Bến Tre và vai trũ phụ nữ Bến Tre
Lịch sử đất và người Bến Tre gắn liền lịch sử đấu tranh lâu dài chống
giặc ngoại xâm với truyền thống yêu nước, tự lực, tự cường, kiên trung, bất
khuất, lũng tin yờu vào sự lónh đạo của Đảng và Bác Hồ. Người Bến Tre xưa
cũng như nay luôn coi trọng lũng yờu nước như là chuẩn mực và nguyên lý
cao cả nhất của đạo làm người. Nó giống như một mạch suối ngầm chảy trong
lũng đất, được luân lưu, kế thừa một cách xuất sắc trong suốt chiều dài lịch sử
chống ngoại xâm. Lũng yờu nước của con người nơi đây, ngoài những nét
phổ biến vốn có của người Việt Nam nói chung, cũn được pha thêm chất
ngang tàng, nghĩa hiệp, vừa có chút lóng mạn, phóng khoáng. Dường như họ
không bị ràng buộc bởi những tín điều, công thức xơ cứng của Nho giáo,
không bị giằng kéo bởi những định kiến hẹp hũi, cổ hủ. Cỏi đạo làm người
“kiến ngói bất vi vụ dừng dó” đó trở thành tiờu chuẩn đạo lý và phương châm
ứng xử của nhiều người.
Trong cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ ấy, với truyền thống đánh giặc
“lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy mưu trí dũng cảm thông minh đối
chọi với kẻ thù có sức mạnh vật chất hơn mỡnh”, quân và dân Bến Tre đó lập
được những chiến công xuất sắc. Nhưng chúng ta có thể khẳng định “Phong
trào Đồng khởi” là trang sử hào hùng, là mốc son chói lọi nhất, đó tạo ra một
“Quê hương Đồng khởi” - niềm tự hào của toàn quõn và dõn Bến Tre.
13
Trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, Bến Tre đó cú hơn hai
nghỡn Bà mẹ Việt Nam Anh hựng; trờn 35.000 liệt sĩ, 18.379 thương binh và
hưởng chính sách như thương binh, hơn một trăm địa phương, đơn vị Anh
hùng; hơn 50 anh hùng và 19 tướng lĩnh sinh ra trên quê hương Đồng khởi.
Những con số trên đây đó minh chứng rằng: Bến Tre là vùng đất “cỏch mạng
nũi”, vùng đất “hễ ra ngừ là gặp anh hựng” và nơi nào cũng đầy những chiến
tích oai hùng.
Nhân dân Bến Tre anh hùng. Phụ nữ Bến Tre cũng rất anh hùng đó tạo
nờn một “dáng đứng Bến Tre” vô cùng đặc sắc không pha lẫn vào bất cứ hỡnh
ảnh người phụ nữ Việt Nam nào khác. Chính những con người đó đó tạo nờn
cảm hứng để nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý viết nờn những lời ca bất hủ:
“Ai đứng như bóng dừa tóc dài bay trong gió
Có phải Người cũn đó là con gái của Bến Tre?
Năm xưa đi trong đi trong đạn lửa
Đi như nước lũ tràn về
Ơi ! những con người làm nên Đồng khởi”…
Quả đúng như vậy, phụ nữ Bến Tre đó đóng góp một vai trũ vụ cựng to
lớn làm nờn Đồng khởi hôm nay và cả trên con đường mở đất năm xưa.
Từ trong sự nghiệp khai hoang, chinh phục thiên nhiên, dân gian có
cách ứng xử khá công bằng, ghi công bằng bia miệng với sức bền vượt thời
gian và được in đậm trong ký ức của nhân dân công lao đóng góp của phụ
nữ. Họ đó khắc họa tờn tuổi những người phụ nữ giỏi giang trong khai
hoang, tạo lập nên xóm làng, chợ búa…với những địa danh gắn liền tên
đất, tên người. Từ rất sớm, một số ngành nghề ở Bến Tre ra đời gắn liền với
đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ: Lụa Ba Tri nổi tiếng một thời, chiếu
Nhơn Thạnh, cau Xẻo Sâu, thuốc lá Mỏ Cày, dưa hấu Cửa Đại, bánh dừa
Giồng Luông, bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, nem Cầu Mống,
mắm cũng Chõu Bỡnh…
14
Trong sự nghiệp “trồng người”, bao hàm cả việc dạy chữ và việc truyền
thụ những kiến thức tự nhiờn về xó hội, đạo làm người… người phụ nữ Bến
Tre đó đóng góp một vai trũ khụng nhỏ. Bà Lờ Thị Mẫn giàu lũng nhõn ỏi,
đức độ, nổi tiếng ở việc dạy con rất nghiêm. Bà tỏ ra không bằng lũng khi con
thành tài trờn đường trấn nhậm ghé thăm quê trong linh đỡnh cờ xớ, trống
chiờng rộn rịp; bà đó đốt lụa quý của con tặng ra tro và hoàn lại cho con để
dạy con làm quan thanh bạch, trung trinh, liêm khiết trên vỡ vua, dưới vỡ dõn
và cụng dưỡng nuôi của mẹ. Bà được vua Tự Đức phong bức trướng có bốn
chữ vàng “Hảo nghĩa khả phong”. Bà Trần Thị Dưỡng, kế mẫu của tiến sĩ
Phan Thanh Giản nuôi con chồng học thành tài, trở thành vị tiến sĩ đầu tiên
của Nam kỳ lục tỉnh và làm quan đến bậc đại thần. Bà Nguyễn Thị Châu, góa
chồng khi con mới 6 tuổi, đó tần tảo nuôi dạy thành tài một con người mà
theo Nguyễn Văn Tố đó túm tắt sự nghiệp của của ông, nhà văn hào Trương
Vĩnh Ký, trong 3 tiếng “Bỏc học, Tõm thuật, Khiờm tốn”. Bà Lê Thị Điền,
một người “nội tướng” trong gia đỡnh, đồng thời là người “thư ký” trung thành
ghi chép lại những câu thơ đầy nghĩa khí, hơn thế nữa, với đụi mắt sỏng của
mỡnh Bà đó cung cấp những chất liệu làm nờn những sỏng tỏc bất hủ của
chồng, nhà thơ Nguyễn Đỡnh Chiểu. Một “bà đồ” Sương Nguyệt Anh, con
gái cụ Đồ Chiểu, chủ bút tờ báo “Phụ nữ” đầu tiên ở Việt Nam, sắc sảo, thông
minh, đoan trang, nề nếp, cú lối sống dung dị, từ chối danh vọng, quyền quý
với quan niệm “Lọng sườn dù rách cũn kờu lọng. ễ bịt vàng rồng vẫn tiếng ụ”.
Trong hai cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc có biết bao tấm
gương oanh liệt của phụ nữ. Ngay từ buổi đầu, những người phụ nữ Bến Tre
đó cú mặt trong hàng ngũ những người cộng sản. Chị Nguyễn Trung Nguyệt
đó cắt túc ngắn, cải nam trang trốn xuống tàu xuất dương sang Trung Quốc và
là người phụ nữ Nam Bộ đầu tiên đi dự lớp huấn luyện của Hội Việt Nam
cách mạng thanh niên. Đồng chí Nguyễn Thị Thâm một trong số 11 đảng viên
trong chi bộ Đảng đầu tiên ở Bến Tre.
15
Trong các phong trào yêu nước chống ngoại xõm thời kỳ chống Phỏp,
phong trào đấu tranh cho dõn chủ, dõn sinh, giải phúng dõn tộc, phụ nữ Bến
Tre luụn cú mặt, kề vai sỏt cỏnh cựng với cỏc tầng lớp nhõn dõn trong những
lỳc thuận lợi cũng như khó khăn và tỏ ra kiên cường, bất khuất, bất chấp tù
ngục, bất chấp mọi thủ đoạn, mọi sự đàn áp, khủng bố dó man của kẻ địch.
Thời kỳ chống Mỹ, trong số hàng vạn đồng bào yêu nước và những
người cộng sản bị bắt, bị tù, bị tra tấn dó man, bị giết mà khụng cần xột xử cú
hàng ngàn phụ nữ. Trong những tỡnh thế khú khăn, ngặt nghèo nhất, những
năm tháng cách mạng rơi vào hoàn cảnh đen tối thỡ khụng ai khỏc hơn là phụ
nữ đó đứng ra gánh trách nhiệm nuụi giấu cán bộ. Họ đó khụng hề sợ cỏi tội
danh “chứa chấp Việt cộng”, các má, các chị đó đào hầm bí mật, làm vách hai
ngăn trong nhà và bằng mọi cách khôn khéo để nuôi giấu, che chở cán bộ
bằng cơm gạo, của cải của chính bản thân mỡnh làm ra.
Bà mỏ Trần Thị Kế, chị Nam ở Phỳ An Hũa, Chị Mười Bỡnh, em gỏi
Nguyễn Thị Chi mới 14 tuổi - bị giặc bắt, tra tấn dó man đến chết đi sống lại,
thậm chí đi đến chỗ chết nhưng các má, các chị, các em vẫn giữ vững được
khí tiết, tinh thần gan gúc, ý chớ sắt đá của một người yêu nước bảo vệ cách
mạng, một mực không khai báo.
Tinh thần kiên trung, bất khuất của đồng chí Trần Thị Tiết (Út Hạnh)
trước những đũn tra tấn dó man, tàn nhẫn và những thủ đoạn tâm lý chiến
thâm độc của kẻ thù; chị thoát khỏi nhà lao đâu cũn là một thanh nữ, chỉ cũn
da bọc xương, thân hỡnh tàn phế, khụng cử động được. Chị trở thành hỡnh
ảnh tiêu biểu về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của người chiến sĩ cộng sản,
thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.
Tấm gương má Vừ Thị Phũ, trải qua bao nhiờu đợt khủng bố, càn quét,
nhà má bị đốt đi, đốt lại 7 lần, má đào hầm trong cát để ở, vừa để tránh bom
đạn, vừa để làm chỗ dừng chân cho cán bộ, du kích. Ngọn đèn dầu ám hiệu
đêm đêm vẫn cháy sáng và tồn tại trong suốt những năm tháng chiến tranh
16
chống Mỹ ác liệt nhất. Bom tấn, phỏo bầy, kể cả bóo giông vẫn không thể dập
tắt được ngọn đèn của má Tư, không dập tắt được ánh lửa của trái tim yêu
nước, không dập tắt được ý chớ bất khuất của một bà mẹ kiờn cường. Giờ má
Tư Phũ đó ra người thiên cổ, hai bên cửa ngôi mộ Má có ghi câu đối khắc họa
hỡnh ảnh một bà Mỏ kiờn trung: “Sống, bám đất, giữ quê bảo tồn kỷ cương.
Thác, giáo dục cháu con giữ gỡn cỏch mạng” và tờn mỏ vẫn cũn mói với
mónh đất quê hương. Cái tên Cồn Trẹt bỗng dưng chỡm vào quờn lóng và
một tờn gọi mới được thay vào đó: cồn Bà Tư.
Mẹ Vừ Thị Biện cú 9 người con đều theo cách mạng. Có đau đớn nào
bằng “bảy lần tiễn con đi, bảy lần khóc thầm lặng lẽ”, bảy đứa con của Mẹ ra
chiến trường, rồi mói mói khụng về; nỗi đau chồng chất nỗi đau, chồng Mẹ
mất vỡ những đũn roi tra tấn khốc liệt của kẻ địch nhưng người Mẹ kiên
cường ấy vẫn trọn niềm tin ở ngày mai, vẫn ân cần nuôi quân đánh giặc.
Mẹ Bùi Thị Tư, chỉ trong vũng 10 năm cuối thời kỳ chiến tranh ác liệt
(1965 - 1975), đó tham gia khõm liệm, chụn cất trờn một trăm tử sĩ từ việc lau
rửa sạch từng xác người mới chết, uốn nắn chân tay đến khâm liệm những xác
bị sỡnh, thối, nhặt những mảnh thi hài. Mỏ tõm niệm: mỡnh coi anh em như
con đẻ của mỡnh, khỳc ruột của mỡnh, nú làm xong bổn phận với nước non,
thỡ đến lượt mỡnh phải biết xử sự cho đúng cái nghĩa ở đời.
So với thời kỳ kháng chiến chống Pháp, trong hơn 20 năm chống Mỹ,
phụ nữ Bến Tre đó cú một bước tiến dài, vượt bậc. Chị em đó cú mặt hầu
hết trong cỏc lĩnh vực hoạt động chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, văn
nghệ, giỏo dục, y tế, quốc phũng - an ninh… Phụ nữ Bến Tre trong những
năm kháng chiến chẳng những động viên chồng, con tũng quõn xõy dựng
lực lượng vũ trang, mà cũn tự mỡnh tham gia vào cỏc thứ quõn, kể cả quõn
chủ lực của khu, miền. Số nữ du kớch xó, ấp đó lờn đến con số 3.086
người, chiếm 1/9 số nữ du kích trong toàn miền Nam lúc bấy giờ và đó lập
nờn những chiến cụng oanh liệt, nổi tiếng là đội du kích mật Mỏ Cày với
17
những đội viên du kích xuất sắc như chị Tạ Thị Kiều, chị Nguyễn Thị
Tuyết… tay khụng hạ bút.
“Đội quân tóc dài”, biểu tượng đầy tự hào của phụ nữ Bến Tre nói
riêng, phụ nữ miền Nam nói chung trong lịch sử giải phóng dân tộc. Đội quân
chính trị này có sự chặt chẽ về mặt tổ chức, có tuyển lựa, có huấn luyện, có
chỉ huy, hiệp đồng chiến đấu, biết tiến thoái, hợp tan khi cần thiết. Vũ khí của
họ không phải là súng đạn mà là tinh thần, ý chớ, lý và lẽ; khụng cú tất sắt
trong tay nhưng có sức mạnh phi thường phá vỡ nhiều thủ đoạn thâm độc của
kẻ thù, buộc chính quyền ngụy phải nhượng bộ, chấp nhận yờu sỏch.
“Bộ đội Thu Hà”, đơn vị vũ trang nữ đầu tiên của tỉnh, từ đội viên đến
việc tổ chức, chỉ huy đều do phụ nữ tự đảm nhiệm, mang phiờn hiệu C.710
thực hiện chức năng vừa làm công tác vũ trang tuyên truyền đi vào vùng yếu,
vùng sâu, phát động quần chúng chống lại âm mưu tập trung dân lập ấp chiến
lược của địch, vận động thanh niên tũng quõn vừa cầm sỳng chiến đấu diệt ác,
trừ gian, tạo nên những trận đánh xuất quỷ nhập thần ngay giữa hang ổ địch
làm cho kẻ thù phải khiếp sợ, kiêng nể. Tiếng tăm của Bộ đội Thu Hà đó trở
thành một điểm sáng trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ của Bến Tre.
Với sự ra đời của đội nữ xung phong, một lần nữa phụ nữ Bến Tre lại
phải đảm đương nhiệm vụ khi lực lượng trai trẻ đều cầm súng ra trận. Những
người con gái ở độ tuổi đôi mươi đó cống hiến tuổi xuõn cho sự nghiệp giải
phúng quờ hương, vừa có mặt ở tuyến trước lại vừa có mặt ở tuyến sau; hứng
chịu bom, pháo phản kích, đương đầu với xe tăng, thiết giáp, trực thăng, máy
bay… như một người lính thực thụ. Họ đó xụng pha lửa đạn, băng đồng, vượt
sông, lội rạch với đôi vai nặng trĩu nhiệm vụ: cung cấp, vận chuyển vũ khí, tài
liệu, thuốc men, giải quyết hậu quả chiến trường như thu gom chiến lợi phẩm,
sơ cứu vận chuyển thương binh, chôn cất tử sĩ.
Có biết bao tấm gương cao đẹp đó xõy dựng nờn hỡnh tượng cao đẹp
của người phụ nữ Bến Tre nhưng cái tên Nguyễn Thị Định đó trở thành hỡnh
18
tượng đẹp nhất của người phụ nữ xứ sở này. Chị không những chỉ là niềm tự
hào cho quê hương Bến Tre mà cũn là niềm tự hào cho cả dõn tộc đúng như
lời Bỏc Hồ khen ngợi: “Phó Tổng tư lệnh Quân giải phóng miền Nam là cô
Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ có nước ta có vị tướng quân gái như vậy.
Thật là vẻ vang cho cả miền Nam và cho cả dân tộc ta” [20, tr.26]. Là vị tướng
quân gái “độc nhất vô nhị”, song hỡnh ảnh của Chị trong lũng mọi người
không phải là hỡnh ảnh uy nghi của vị nữ tướng mà là hỡnh ảnh dịu dàng, đôn
hậu của người phụ nữ Nam Bộ với chiếc áo bà ba và khăn rằn quấn cổ. Với
những cái tên gọi thân quen như Cô Ba, Dỡ Ba, Chị Ba…, đó khẳng định tỡnh
cảm yêu thương, kính trọng, gần gũi, trỡu mến của đồng chí, đồng đội, quần
chúng nhân dân đối với Chị, người phụ nữ mộc mạc, chân chất, đằm thắm,
nhân ái, phúc hậu. Con người Chị là sự kết hợp hài hũa giữa đức tính can
trường dũng cảm với lũng nhõn ỏi, bao dung, giữa ý chớ quyết liệt và sự mau
nước mắt, giữa chất hùng của người lính chiến với nữ tính dịu dàng, đồng thời
cũng rất rạch rũi, phõn minh giữa cỏi đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm
giận. Cả cuộc đời cống hiến cho cách mạng, Chị đó gắn chặt hoạt động của
mỡnh với số phận của nhõn dõn. Chị đó trở thành người phụ nữ tiêu biểu nhất
của đất Bến Tre và được nhân dân truyền tụng xếp Chị vào hàng những bậc
người “sống làm tướng, chết làm thần”.
Những tấm gương tiêu biểu nêu trên chỉ mới là những chũm cõy cao
trong một dóy rừng dừa bạt ngàn. Đây chỉ là phần nổi của một tảng băng,
cái phần chỡm khuất bờn dưới mới là vĩ đại. Đó chính là cái phần đa số
thầm lặng, cái phần anh hùng của hàng trăm, hàng ngàn và của biết bao bà
mẹ, cỏc chị, em gỏi cú tờn hoặc vụ danh khỏc; mỗi người một vẻ đó gúp
phần tụ bồi những nột đẹp truyền thống của phụ nữ xứ Dừa. Tỡnh yờu
nước mênh mông, đức hy sinh và lũng nhõn hậu thủy chung của cỏc mỏ,
cỏc chị, sự gan gúc, dũng cảm của cỏc em gỏi nhỏ đó tạo nờn một thứ
chiến lũy bền hơn sắt thép, mà mọi bạo lực của kẻ thù không thể nào phá
19
vỡ nổi. Những tấm lũng ấy, những con người ấy, những tấm gương kiên
cường bất khuất ấy cũng rất đáng “tượng đồng, bia đá”.
Nhỡn chung, truyền thống của quõn và dõn Bến Tre núi chung và phụ
nữ Bến Tre nói riêng chính là sự không lùi bước trước khó khăn, không nản
chí trước thách thức, anh hùng, bất khuất, gan dạ, dũng cảm, luôn suy nghĩ,
tỡm tũi, sỏng tạo và đưa ra nhiều sáng kiến, giải pháp để khắc phục khó khăn,
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
1.1.1.2. Khái quát đặc điểm, vai trũ, chức năng, nhiệm vụ của Tỉnh
ủy Bến Tre
- Đặc điểm, vai trũ
Quỏ trỡnh hỡnh thành và lónh đạo cách mạng.
Vào tháng 4 năm 1930, tại xó Tõn Xuõn, huyện Ba Tri, chi bộ cộng sản
đầu tiên ở Bến Tre được thành lập, gồm 11 đảng viên do đồng chí Trần Văn
An làm Bí thư. Từ hạt nhân lónh đạo ban đầu này, các đồng chí đảng viên đó
phõn cụng phụ trỏch xõy dựng đảng ở khắp ba cù lao Bảo, Minh và An Hóa.
Tháng 6 năm 1930, theo sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Kỳ, Liên Tỉnh ủy Mỹ Tho
- Bến Tre được thành lập, lónh đạo phong trào cách mạng làm cho khí thế đấu
tranh lên cao. Từ tháng 3 đến tháng 5 - 1931, phong trào cách mạng lên đến
đỉnh cao. Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đũi hỏi phải cú sự lónh
đạo kịp thời, thống nhất, vỡ vậy, thỏng 5 - 1931, tại một cửa hiệu thợ bạc ở thị
xó Bến Tre, Tỉnh ủy Bến Tre được thành lập gồm có 9 đồng chí.
Sự ra đời của Tỉnh ủy đó đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong phong
trào đấu tranh của nhân dân Bến Tre. Từ đây, những người cộng sản và nhân
dân Bến Tre đó cú riờng một cơ quan đầu nóo để trực tiếp lónh đạo phong
trào cách mạng trong tỉnh. Tỉnh ủy đó lónh đạo Đảng bộ nhanh chóng ăn sâu,
bắt rễ trong quần chúng nhân dân tạo được phong trào cách mạng rộng khắp
và mạnh mẽ. Trong các cuộc đấu tranh đó, khí tiết của những đồng chí tỉnh ủy
viên nói riêng và đảng viên nói chung luôn nêu cao vai trũ tiờn phong, gương
20
mẫu, kiên cường, bất khuất, được tôi luyện vững vàng trong đấu tranh cách
mạng đó bền bỉ vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh, phấn đấu cho lý tưởng,
cho sự nghiệp cách mạng. Mặc dù đó nhiều lần bị đàn áp, khủng bố khốc liệt,
Tỉnh ủy tan ró, cỏn bộ, đảng viên bị bắt, bị tù đày, có lúc Đảng bộ Bến Tre lâm
vào hoàn cảnh tưởng chừng không thể đứng dậy nổi nhưng các đồng chí cũn lại
vẫn tỡm cỏch liờn lạc với cấp trờn, củng cố tổ chức, khụi phục phong trào.
Dưới sự lónh đạo của Tỉnh ủy, những con người kiên trung, mưu trí,
dũng cảm, sáng tạo, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre đó giành những thắng lợi
vẻ vang, viết nờn trang sử hào hựng của quờ hương Đồng khởi. Đó là kết quả
của sự lónh đạo thể hiện sự sáng tạo, vận dụng phù hợp đường lối, chủ trương
của Đảng qua các thời kỳ cách mạng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương:
cuộc mở đường ra Bắc trên biển mở đầu cho việc thiết lập “Đường Hồ Chí
Minh trên biển”; một phong trào Đồng khởi với qui mô toàn tỉnh đầu tiên của
toàn Miền; những chủ trương bám đất, bám dân; chủ trương xó giải phúng xó,
huyện giải phúng huyện, tỉnh giải phúng tỉnh; sự kết hợp đấu tranh chính trị
của quần chúng - đội quân tóc dài nổi tiếng - với đấu tranh quân sự và binh
vận… Những sỏng tạo này khụng chỉ cú ý nghĩa địa phương mà cũn cú ý
nghĩa đối với toàn miền Nam và cả nước.
Phỏt huy tinh thần “Anh dũng, đồng khởi, thắng Mỹ, diệt ngụy”, Tỉnh
ủy đó lónh đạo Đảng bộ, quân và dân Bến Tre vượt qua biết bao thử thách đạt
được những thành tựu trong công cuộc xây dựng quê hương và làm trũn nghĩa
vụ trờn chiến trường Tây Nam, từng bước phát triển tỉnh nhà trong sự nghiệp
đổi mới của đất nước. Trên mỗi chặng đường cách mạng, dưới sự lónh đạo
của Tỉnh ủy, Đảng bộ đó từng bước lớn mạnh, trưởng thành trong lũng nhõn
dõn và khẳng định được vai trũ là cơ quan đầu nóo.
- Về tổ chức bộ mỏy
Đại hội đại biểu Bến Tre lần thứ VIII đó bầu Ban Chấp hành Đảng bộ
gồm 49 đồng chí. Trong đó, có 7 nữ, chiếm tỉ lệ 14,28%. Về trỡnh độ: văn
21
hóa, tốt nghiệp cấp III 48 đồng chí, tỉ lệ 98%; lý luận chính trị, cao cấp, cử
nhân 46 đồng chí, tỉ lệ 94%, trung cấp 3 đồng chí, chiếm tỉ lệ 6%; chuyên
môn nghiệp vụ, cao đẳng, đại học là 32 đồng chí, tỉ lệ 65,30%, thạc sĩ 2 đồng
chí, chiếm tỉ lệ 4,08%, tiến sĩ 2 đồng chí, tỉ lệ 4,08%. Về tuổi đời, dưới 40 có
1 đồng chí, tỉ lệ 2,04%, từ 40 - 50, 25 đồng chí, tỉ lệ 51,02%, từ 51 - 55 có 20
đồng chí, tỉ lệ 40,81%, trên 55 có 3 đồng chí, tỉ lệ 6,12%; tuổi đời thấp nhất là
32, tuổi đời cao nhất là 56 tuổi, tuổi đời bỡnh quõn là 49,43 tuổi.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy có 13 đồng chí, là cơ quan thay mặt Ban Chấp
hành lónh đạo và chỉ đạo mọi mặt công tác của Đảng bộ giữa hai kỳ hội nghị
Ban Chấp hành.
Cơ quan tham mưu và giúp việc cho Tỉnh ủy bao gồm: Văn phũng Tỉnh
ủy, Ban Tổ chức tỉnh ủy, Ban Tuyờn giỏo tỉnh ủy, Ban dõn vận tỉnh ủy, Ủy ban
kiểm tra tỉnh ủy cựng cỏc đơn vị sự nghiệp là Trường Chính trị, Báo Đồng Khởi.
- Chức năng, nhiệm vụ
Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bến Tre (Tỉnh ủy Bến Tre) là cơ quan lónh
đạo cao nhất của Đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ Đại hội đại biểu, có chức năng, nhiệm
vụ được quy định căn cứ vào Chương IV Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X thông qua, cụ thể như sau:
Tỉnh ủy lónh đạo toàn diện các mặt công tác của Đảng bộ, cả hệ thống
chính trị của tỉnh, theo quy định tại điều 18, 19, 20 Chương IV, Cơ quan lónh
đạo của Đảng ở các cấp địa phương, của Điều lệ Đảng, và chịu trách nhiệm
trước Đảng bộ, nhân dân địa phương và Ban Chấp hành Trung ương.
Quyết định chương trỡnh làm việc và Quy chế làm việc của Ban Chấp
hành Đảng bộ tỉnh, Ban thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy, Quy chế làm việc
của ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2005 - 2010.
Quyết định chủ trương, chính sách để thực hiện Nghị quyết Đại hội X
của Đảng, Nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh và các nghị quyết, chỉ thị của
Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư.
22
Quyết định phương hướng, nhiệm vụ, quy hoạch, kế hoạch, dự án lớn
về phát triển kinh tế, xó hội, an ninh quốc phũng, xõy dựng hệ thống chính trị
hàng năm; thống nhất về chủ trương giải quyết các vấn đề nảy sinh phức tạp
liên quan đến đông đảo nhân dân.
Cho ý kiến cỏc phương án tổng thể về tổ chức bộ máy của hệ thống
chính trị trong tỉnh và quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, điều chỉnh
địa giới hành chính các huyện, thị trong tỉnh.
Quyết định về nhân sự các chức danh Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch Hội
đồng nhân dân, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh và ủy viên Ban Thường vụ
Tỉnh ủy. Quyết định việc bổ sung Tỉnh ủy viên khi Ban Chấp hành khuyết số
lượng. Quyết định đề nghị Trung ương tặng Huân chương sao vàng và Huân
chương Hồ Chí Minh. Quyết định kỷ luật và xem xét giải quyết khiếu nại kỷ
luật Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng.
Tỉnh ủy kết luận một số vấn đề quan trọng về lịch sử Đảng bộ tỉnh.
Chuẩn bị và triệu tập Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh theo nhiệm kỳ và
Đại hội bất thường; thảo luận và thông qua các văn kiện trỡnh Đại hội và giới
thiệu nhân sự để Đại hội bầu cấp ủy mới, bầu Ban Thường vụ, Bí thư, các Phó
Bí thư Tỉnh ủy; bầu Ủy ban Kiểm tra và Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy;
xác định phương hướng chỉ đạo Đại hội Đảng bộ 3 cấp trong tỉnh.
Định kỳ 6 tháng nghe báo cáo về hoạt động của Ban thường vụ Tỉnh ủy
về việc lónh đạo thực hiện các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương,
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, những quyết định quan trọng của Ban Thường
vụ Tỉnh ủy; xem xét báo cáo của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy. Xây dựng chương
trỡnh cụng tỏc kiểm tra của Tỉnh ủy hàng năm. Giữa nhiệm kỳ, Tỉnh ủy đánh
giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội và quyết định các chủ trương, nhiệm
vụ, giải pháp cần thiết để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh.
Thảo luận và quyết định những vấn đề khi có một số ủy viên Ban Chấp
hành Đảng bộ tỉnh kiến nghị.
23
Sơ kết, tổng kết, kiểm điểm công tỏc lónh đạo, chỉ đạo và tiến hành tự
phê bỡnh và phờ bỡnh trong Tỉnh ủy theo định kỳ 6 tháng, cuối năm.
Ngoài ra, trong Quy chế, quy định của Tỉnh ủy Bến Tre khóa VIII cũn
xỏc định trách nhiệm và quyền hạn cụ thể của từng thành viên như: ủy viên
Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, ủy viên Ban thường vụ, Thường trực tỉnh ủy,
Bí thư Tỉnh ủy, Phó Bí thư Trường trực Tỉnh ủy, Phó Bí thư - Chủ tịch UBND
để tạo sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các thành viên của Ban Chấp
hành nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mỡnh.
1.1.2. Cụng tỏc phụ nữ - Quan niệm, nội dung, hỡnh thức
1.1.2.1. Quan niệm về cụng tỏc phụ nữ
Cụng tỏc phụ nữ (công tác vận động phụ nữ) gắn liền với vai trũ người
phụ nữ. Muốn tỡm hiểu về cụng tỏc phụ nữ trước hết phải nghiên cứu về vai
trũ phụ nữ. Lý luận và thực tiễn đó khẳng định rằng, trong xó hội loài người,
phụ nữ là cái nôi nối tiếp cho sự sống muôn đời, là người thầy đầu tiên của
con người, là một trong những nguồn lực chính để phát triển xó hội và đó cú
những đóng góp rất lớn lao vào sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc.
C.Mác đó từng khẳng định: Ai đó biết lịch sử thỡ biết rằng muốn sửa sang xó
hội mà khụng cú phụ nữ giỳp vào, thỡ chắc khụng làm nổi. Xem tư tưởng và
việc làm của đàn bà con gái, thỡ biết được sự tiến bộ của xó hội.
Lờnin khi nói về chính quyền Xô viết và địa vị của phụ nữ đó khẳng
định: không thể có và sẽ không bao giờ có “tự do” thực sự chừng nào phụ nữ cũn
chưa được giải phóng khỏi đặc quyền mà luật phỏp giành riờng cho nam giới.
Chừng nào mà phụ nữ không những chưa được quyền tự do
tham gia đời sống chớnh trị núi chung, mà cũng chưa được quyền
gánh vác một công vụ thường xuyên và chung cho hết thảy mọi
người, thỡ chừng ấy khụng những chưa có thể nói đến chủ nghĩa xó
hội được, mà cũng chưa có thể nói đến ngay cả một chế độ dân chủ
đầy đủ và bền vững được [32, tr.201].